Lục Tổ Pháp Bảo Đàn Kinh

 

Hòa Thượng Tuyên Hoá thiển giảng

 

   

Nhị Tổ Huệ Khả, họ Cơ, tên Thần Quang, người thời Bắc Tề. Lúc Ngài giáng sanh, cha mẹ Ngài nhìn thấy Kim Giác Thần Nhân, hộ pháp Vi Đà Hộ Pháp, phóng đại hào quang, lại bảo hộ vị Tổ Sư mới ra đời này, cho nên tên của Ngài gọi là Thần Quang. Ngài thiên tánh thông minh, trí nhớ rất dai, cho nên được người khen ngợi: “Mục hạ thập hàng tự, nhĩ thính bách nhân âm”. Không phải vừa nhìn là có thể xem được mười hàng chữ, mà là người thường xem một hàng chữ, thì Ngài vừa có thể xem mười hàng chữ, rất nhanh như vậy; một trăm người cùng nói chuyện cùng một lúc, Ngài đều nghe rất rõ ràng, năng lực phân biệt rất nhạy.

          Nhưng vị Tổ Sư này rất nóng tính, nói chuyện không hợp liền muốn đánh người. Bốn mươi năm về trước, ngay lúc giảng Kinh thuyết pháp cũng mang xâu chuỗi bằng sắt để đi hành hiệp trượng nghĩa. Vì thế lúc gặp Tổ sư Đạt Ma đã dùng xâu chuỗi đánh Ngài Đạt Ma, kết quả phải quỳ chín năm, phải tự chặt đứt một cánh tay của mình. Các vị nghĩ xem nếu không có nóng tính như vậy làm sao có thể tự mình chặt đứt cánh tay, mà không cảm thấy đau nhức, đợi đến lúc đắc pháp xong mới cảm thấy nhức nhối. Điều này bởi vì Ngài rất nóng tính, nếu không nóng tính, chặt đứt cánh tay cũng không cảm thấy đau nhức. Đau nhức chính là phiền não.

          Tổ sư Huệ Khả lúc bốn mươi tuổi gặp Sơ Tổ Bồ Đề Đạt Ma, sau khi đắc pháp bèn ẩn trốn bốn mươi năm, vì đương thời Bồ Đề Lưu Chi và Luật sư Quang Thống, chuyên gây khó dễ với các đệ tử của Tổ sư Đạt Ma, thậm chí nhìn thấy là muốn giết. Bồ Đề Đạt Ma đã bị hai vị ấy dùng thuốc đầu độc, huống chi là đệ tử của Ngài! Đại sư Huệ Khả vì nghe theo lời Thầy dạy bảo đã ẩn núp, trốn tránh những người gây khó dễ này. Cho đến lúc Đại sư Huệ Khả tám mươi tuổi, Ngài mới bắt đầu, hoằng dương Phật pháp, giáo hóa chúng sanh. Cho đến khi gặp Tam Tổ Tăng Xán, sau khi phú pháp, dặn dò Tam Tổ phải cẩn thận bảo hộ giữ gìn y bát làm chứng cứ và cần phải ẩn trốn để tránh những sự tật đố và bức hại.

          Đại sư Huệ Khả lúc đó giả dạng điên khùng, nhưng khi gặp chúng sanh hữu duyên, Ngài liền phổ độ giáo hóa họ. Tuy Ngài giả dạng điên khùng, nhưng vì có duyên với chúng sanh cho nên có rất nhiều người tin tưởng Ngài. Tuy Ngài đã giả dạng điên khùng, nhưng bè nhóm của Bồ Đề Lưu Chi vẫn đem lòng ganh ghét, bèn đi đến quan phủ vu cáo Đại sư, nói Ngài là yêu quái mê hoặc dân chúng, để dân chúng sùng bái. Đương thời Hoàng đế lại tin tưởng điều này bèn hạ thánh chỉ, ra lệnh quan phủ bắt Đại sư thẩm vấn:

- Ngươi là người hay là yêu quái?

Huệ Khả Đại sư trả lời:

- Tôi là yêu quái.

Viên quan thẩm vấn vừa nghe Ngài nói như vậy, liền biết Ngài bị oan ức, nên hỏi lại:

- Ông nên nói cho rõ ràng, ông là người hay yêu quái?

- Tôi thiệt đúng là yêu quái.

          Vì quốc pháp không cho phép yêu quái mê hoặc thế gian, cho nên đành phải tâu lên Hoàng đế, đem Ngài đi chém, tức chém đầu thị chúng. Ôi, thế gian này có chân lý không vậy! Ngài là Tổ sư đời thứ hai mà quan phủ nói Ngài là yêu tinh.

          Đại sư Huệ Khả rơi nước mắt, nói với đồ chúng của Ngài rằng:

- Quả báo này ta phải thọ mà thôi!

Nhị Tổ rất nóng tính, cái gì cũng không sợ, nếu sợ chết Ngài đã không tự nhận là yêu quái. Ngài cảm thấy thương tâm là vì Phật pháp lúc Ngài còn tại thế, chưa được người ta hiểu biết rộng rãi. Ngài nói Phật pháp đến thời Tứ Tổ sẽ rơi vào danh tướng, có danh, có tướng, liền chấp vào danh tướng. Khóc xong, Ngài liền nói với tên đao phủ:

- Ngươi lại giết ta đi!

Đao phủ cầm đao chém vào đầu Ngài nhưng lạ thay lại không có máu tuôn ra, chỉ tuôn ra dòng nước trắng như sữa. Quý vị nói đây có phần nào hoang đường không? Ai tin thì tin, không tin thì thôi, đây không có lý do gì có thể giải thích. Quý vị tin tưởng, tôi có thể dùng lý do rất đơn giản để giải thích. Đây là lúc người tu hành đạt đến thể thuần dương, tất cả máu huyết trong người đều biến thành màu trắng. Quý vị không tin, đương nhiên quý vị đã không tin rồi, tôi không cần phải giải thích gì cả! Quý vị cần phải tin, quý vị cũng có thể trở thành Nhị Tổ.

          Viên quan chấp hành nhìn thấy tình hình như thế bèn y như sự thật tâu lên Hoàng đế:

- Người đó thiệt là yêu quái, tôi đã giết ông ta nhưng không thấy máu chảy ra, chỉ   chảy ra dòng nước trắng như sửa vậy, gương mặt lúc chết giống như lúc sống, điều này chứng minh ông ta chính thiệt là yêu quái.

          Nhưng Hoàng đế biết rằng đã giết lầm một bậc Thánh nhân, vì ở Ấn Độ Tổ thứ hai mươi bốn là Tôn giả Sư Tử, bị người chặt đầu, không chảy máu chỉ chảy nước sữa màu trắng. Điều này chứng minh nhân thể thuần dương vô âm, vì vô lậu không có vô minh, âm đều biến thành dương.

          Có người hỏi

- Bạch Pháp sư, vừa rồi Ngài nói Đại sư Huệ Khả tính rất nóng, làm sao không có vô minh?

Cần biết rõ, tính nết của Đại sư Huệ Khả là tính nết Đại Nhẫn, Đại Dũng, Đại Trí, Đại Huệ, hoàn toàn không giống ông và tôi tính tình giống như bom nổ. Ông cần nghe cho rõ ràng, tính tình của mỗi người không giống nhau. Tính nết của trí huệ là có thể nhẫn với nhân quả tuần hoàn, không có làm ngược lại với đạo lý.

Hoàng đế sau khi biết Đại sư Huệ Khả là vị nhục thân Bồ tát, bèn sanh lòng sám hối, nói:

- Có một vị Bồ tát ở nước ta, mà Trẫm không biết bảo hộ lại đem Ngài giết đi.

Bèn ra lệnh văn võ đại thần đều phải quy y Nhị Tổ Huệ Khả. Tuy Ngài chết đi nhưng vẫn có thể thâu được một số đệ tử như thế.

Đời Tùy, Tam Tổ Tăng Xán, không ai biết thân thế tánh danh của Ngài. Lúc Ngài gặp Nhị Tổ, toàn thân Ngài đều là ghẻ lác giống như người mắc bệnh phong cùi. Nhị Tổ hỏi:

- Ông từ đâu đến đây? Đến đây làm gì?

- Con đến quy y Hòa Thượng cầu học Phật pháp.

- Ông mắc bệnh như vậy thật không có thanh tịnh, làm sao có thể học được Phật pháp.

Tam Tổ vốn rất thông minh, còn thông minh hơn Nhị Tổ nữa. Tam Tổ nói:

- Con là người có bệnh, mà Ngài là một bậc Hòa Thượng, nhưng tâm Ngài và con không có gì sai khác.

Nhị Tổ nghe nói liền biết người này không phải bình thường, liền nói:

- Không cần nói nữa, ta đã biết rồi.

          Nói xong bèn truyền pha’p cho Tam Tổ và dạy Tam Tổ phải ẩn trốn để tránh sự sát hại của dư đảng Bồ Đề Lưu Chi, lại nói:

- Không nên để cho người biết ta đã truyền pháp cho ông.

Vì thế Tam Tổ Tăng Xán học cách của Nhị Tổ, giả dạng điên khùng, âm thầm đi các nơi giáo hóa chúng sanh. Lúc đó gặp lúc Bắc Chu Vũ Đế tiêu diệt phá hoại Phật pháp, vì thế Ngài ẩn cư trong núi hơn mười mấy năm. Trên núi vốn có rất nhiều sài lang hổ báo, nhưng khi Ngài vừa đến ở đây các loài động vật đó đều bỏ đi hết

Sau khi truyền pháp cho Tứ Tổ Đạo Tín, Tam Tổ bèn thiết Thiên Tăng Trai. Trai đàn hoàn mãn, Ngài bèn nói với đại chúng:

- Các ông cho rằng kiết già ngồi chết là phương pháp hay nhất, nay ta cho các ông xem một cách chết đặc biệt. Sự sanh tử của tôi rất tự do, không bị hạn chế bởi thời gian.

Nói xong, tay trái cầm lấy cành cây, chân giơ lên và trong bộ dáng như thế mà viên tịch. Lúc Ngài viên tịch, bao nhiêu tuổi, là người ở địa phương nào, thân thế ra sao, đều không ai biết.

Có người nghe xong rất kinh sợ nghĩ rằng:

- Vị Tổ thứ nhất là Bồ Đề Đạt Ma bị đầu độc chết, vị Tổ thứ hai bị giết chết, vị Tổ thứ ba thì nắm lấy cành cây mà thác. Tôi thiệt không dám làm Tổ Sư, nguy hiểm quá!

Ông muốn làm cũng làm không được, và không có khả năng làm, vì ông sợ chết. Làm Tổ Sư có nghĩa là không sợ chết, xem tử và sanh đều giống nhau không có gì sai khác, cho nên nói rằng  “ Phiền não tức Bồ đề, sanh tử tức Niết Bàn. Dạo chơi nhân gian, giáo hóa chúng sanh”. Đó mới có thể làm Tổ Sư. Ông nhát gan như thế, có lòng sợ sệt, ngay làm đồ đệ của Tổ Sư cũng còn không được. Tổ Sư đều không sợ khổ, không sợ tai nạn, không sợ sanh, không sợ chết. Ông không sợ chết mới có thể làm Tổ Sư. Nay nếu ai không sợ chết, tôi liền phong người đó là Tổ Sư.

Tứ Tổ Đạo Tín, lúc nhỏ theo Tam Tổ Tăng Xán xuất gia học đạo, sáu mươi năm ngồi không nằm, đôi mắt thường nhắm, dụng công biện đạo. Không phải Ngài đang ngủ, khi Ngài mở mắt, người thường đều giật mình kinh sợ. Tại sao vậy? Không ai biết được. Nhưng đó chính là uy đức của Ngài.

Đường triều Trinh Quán năm thứ mười bảy (công nguyên năm 644), Thái Tông phái sứ thần mời Ngài đến hoàng cung cúng dường, lạy Ngài làm thầy. Nếu như Pháp sư đời nay, hoàng đế không mời cũng tìm cách gặp hoàng đế, dựa dẫm vào, huống chi nay được lễ bái cung thỉnh? Nhưng Tứ Tổ đã từ chối, lựa lời nói:

- Tôi niên kỷ đã lớn, đi cũng đi không nỗi. Tuổi già sức yếu, cho nên không thể đi đến kinh thành đưọc.

Sứ thần trở về tâu lên hoàng đế, hoàng đế nói:

- Ngươi quay về nói với Tứ Tổ, bất luận là Ngày lớn tuổi đến đâu đi nữa, ta vẫn mời Ngài vào hoàng cung cúng dường.

Sứ giả đành đi đến chỗ Tứ Tổ thưa với Ngài rằng:

- Hoàng thượng nói bất luận là Ngài già yếu đến đâu, cũng dùng kiệu để rước Ngài vào hoàng cung cúng dường.

          Ngày xưa không có máy bay, không giống như bây giờ giao thông rất tiện lợi. Tứ Tổ trả lời:

          - Không được, tôi đã quá già, nếu như ông nhất định muốn tôi đi, thì chặt đầu tôi mà đem đi. Chớ tâm của tôi dù thế nào đi nữa cũng nhất quyết không đi.

          Sứ giả không có cách nào, chỉ đành trở về đem sự việc như thế báo cáo với hoàng đế:

          - Vị Hòa Thượng đó thật là kỳ lạ, cũng không hợp với nhân tình. Ông ta nói chặt đầu ông ta, ông ta cũng không đến đây gặp bệ hạ.

- Được, khanh hãy đi đem  đầu ông ta mang về đây.

          Vua dùng một cái hộp, trong hộp có đựng một thanh gươm giao cho sứ thần và nói:

          - Cầm lấy thanh gươm này, chặt đầu ông ta mang về đây.

          Nhưng lúc sắp khởi hành, hoàng đế lại nói với sứ thần:

          - Dù thế nào đi nữa khanh cũng không được làm tổn thương đến vị Hòa Thượng đó.

          Sứ thần hiểu rõ thâm ý của hoàng đế liền quay trở lại đến chỗ của Tứ Tổ và nói:

          - Lão Hòa Thượng! Rốt cuộc Ngài có đi hay không. Nếu không đi, thanh gươm này sẽ dùng để chặt đầu Ngài, đem đầu Ngài đi gặp hoàng thượng.

          Tổ Sư Đạo Tín nói:

          - Tốt lắm, đầu của tôi có thể gặp hoàng thượng, đó là vinh dự của tôi, mời Ngài lại chặt đầu của tôi đi!

          Sứ thần cầm thanh gươm làm điệu bộ như chặt đầu Tứ Tổ. Nhưng nhìn thấy Tứ Tổ quả nhiên giơ đầu ra chịu chém không một chút sợ sệt, bèn lập tức bỏ gươm xuống, bỏ lại vào trong hộp. Tổ Sư Đạo Tín nhắm mắt chờ sứ thần chém đầu, nhưng chờ rất lâu mà không thấy động tĩnh, bèn tức giận la lên:

          - Tại sao ngươi không chặt đầu ta?

          Tình hình lúc này cũng không khác gì trường hợp của Nhị Tổ. Sứ thần nói:

          - Nhà vua sai tôi chỉ được nói như vậy, nhưng không được làm tổn hại đến Ngài.

          Tổ Sư Đạo Tín nghe xong cười lớn nói:

          - Nay ông đã biết, trên thế gian thiệt có người không sợ chết!

          Tứ Tổ họ Tư Mã, xuất gia pháp danh Đạo Tín, là một giòng họ có danh vọng thời bấy giờ. Từ nhỏ xuất gia học đạo, tại thế bảy mươi hai năm, sáu mươi năm lưng không dính chiếu, đã thành tựu cảnh giới bất khả tư nghì. Có lần Ngài đang ở trên núi tu đạo, có một đám giặc cướp bao vây thành khoảng hơn một trăm ngày, lương thực trong thành cùng với nước uống đều dứt tuyệt, khô kiệt. Đại sư nhìn thấy tình hình như thế, bèn đến trong thành dạy tất cả quan quân và dân chúng tụng “Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa”. Niệm không bao lâu, giặc cướp bèn rút lui, giếng nước đang khô cạn tự nhiên tràn ra những dòng nước ngọt, đây là một loại cảnh giới cảm ứng.

          Lúc đó, Ngài dùng Phật nhãn quan sát, thấy núi Phá Đầu ở Hà Bắc, có một đám mây tía xoay quanh, bao trùm cả khu núi đó. Những đám mây tía này là điều báo điềm lành, vì thế Ngài bèn đến trú ngụ tại ngọn núi này, và đổi tên núi là Song Phong Sơn.

          Ngài giáo hóa những chúng sanh cang cường khó độ, mong cho họ bỏ ác làm lành, nhưng họ cứ y theo đường cũ tiếp tục làm ác, không nghe theo lời giáo hóa. Tứ Tổ nhẫn nại áp dụng các loại pháp môn phương tiện quyền xảo, khiến cho họ bỏ tà quy chánh. Trong hơn bốn mươi năm hoằng dương Phật pháp, Ngài giáo hóa chúng sanh nhiều vô số.

          Một ngày nọ Tứ Tổ nói với đồ chúng rằng:

          -Các ông phải làm cho ta một cái tháp, ta sắp đi rồi

Khi Bảo tháp vừa xây dựng xong. Đường Vĩnh Huy năm thứ hai (công nguyên năm 651), ngày hai mươi bốn tháng chín nhuần, Tứ Tổ không bệnh mà viên tịch. Đồ đệ của Ngài liền đặt Ngài vào trong bảo tháp làm bằng đá. Bảo tháp vốn dùng khóa sắt khóa cẩn thận, một năm sau đó, cửa tự nhiên tự động mở ra, đồ chúng thấy Tứ Tổ vẫn đoan nhiên chánh tọa bên trong, sinh động giống như lúc sống, nhưng thịt thì đã khô. Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn, nhìn thấy tướng hảo của Tứ Tổ như vậy rất hoan hỷ. Ngài bèn dùng vải dầu phết vàng, giữ gìn nhục thể của Tứ Tổ, cho đến ngày hôm nay nhục thể của Tứ Tổ vẫn còn lưu lại cho người lễ bái chiêm ngưỡng cúng dường.

          Đường triều Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn, họ Châu, là người Hoàng Mai (huyện Hoàng Mai nay thuộc tỉnh Hồ Bắc, núi Song Phong thuộc huyện Hoàng Mai), bảy tuổi xuất gia, bái Tứ Tổ làm Thầy, mười ba tuổi thọ Sa di giới. Tánh tình hồn hậu ít nói, tuy các bậc đồng học nhiều lần ăn hiếp khinh thưòng Ngài, Ngài vẫn bình thản, xem như không có gì xảy ra. Ban ngày theo chúng công quả, việc gì cũng làm; ban đêm ngồi thiền nhiếp trì thân tâm, không nói chuyện thị phi, đi theo Tứ Tổ ba mươi năm tu học Phật pháp. Ngũ Tổ thân cao tám thước, tướng mạo kỳ đặc. Ngài trú trên ngọn núi Bằng Mậu, phía đông của núi Song Phong, vì thế đương thời gọi là “Đông Sơn pháp môn”. Có lần nhìn thấy một đám giặc cướp bao vây thành Hồ Bắc, ngăn chận tất cả đường xá giao thông. Ngũ Tổ từ Đông Sơn đi vào trong thành, lúc bọn giặc cướp trông thấy Ngài sợ hãi không còn hồn vía. Vì đám giặc cướp thấy không phải là Tổ Sư mà là vị Kim Giáp Kim Cang Vương Bồ Tát, tay cầm bảo khí, oai đức lẫm liệt, hào quang sáng ngời. Giặc cướp tứ tán rút lui, nhờ đó mà thành được giải vây.

          Đại sư làm sao có thể biến hiện thân Kim Cang Vương Bồ Tát đó? Vì Ngũ Tổ là bậc chân tu, lại thường hay tụng chú Lăng Nghiêm. Kinh Lăng Nghiêm nói: “Nếu ai nhất tâm tụng trì chú Lăng Nghiêm, thì sẽ được tám vạn bốn ngàn Kim Cang Tạng Bồ Tát bảo hộ trong bất cứ mọi trường hợp nguy hiểm tai nạn nào.” Vua Cao Tông đời Đường, nhiều lần hạ chiếu mời Đại sư đến hoàng cung cúng dường, nhưng đều bị Đại sư khéo léo từ chối. Sau cùng hoàng đế liền cho người mang nhiều lễ vật, thuốc men quý giá đến cúng dường Ngũ Tổ.

          Đường Hàm Hanh năm thứ năm (công nguyên năm 674), Ngũ Tổ nói với đệ tử rằng: “ Các ông làm cho ta một ngôi tháp, ta sắp đi rồi.”

          Tháng sau vào ngày mười bốn, Ngài lại hỏi:

          - Tháp đã chuẩn bị xong chưa?

          Chúng đệ tử trả lời:

          - Bạch Đại sư, tháp đã xây xong rồi.

          Nhiều năm qua ta giáo hóa chúng sanh, độ hóa người có duyên, và phú pháp cho Lục Tổ Huệ Năng. Nay các ông có mười người là bậc pháp tự, khắp nơi kiến lập đạo tràng, hộ trì Phật giáo, hoằng dương chánh pháp, giáo hóa chúng sanh.

          Mười vị đại đệ tử tức là Thần Tú, Trí Thâm, Huệ Tạng, Huyền Ước, Lão An, Pháp Như, Trí Đức, Nghĩa Lực, Huệ Năng và Lưu Chủ Bộ. Ngũ Tổ đưa tiễn mười vị này đi khắp nơi giáo hóa chúng sanh.

          Không lâu, Ngũ Tổ an tọa mà nhập Niết Bàn. Suốt bảy mươi bốn năm, rộng mở giáo pháp, đồ chúng rất đông, truyền y bát cho Đại sư Huệ Năng.

 

(còn tiếp)


 

Trở về trang nhà | Về đầu trang