Thư Chân Hành Giả

(Phần 2)

Phần 1

Phần 2

(Những lá thư hai Thầy Hằng Thật và Hằng Triều viết cho Hòa Thượng Tuyên Hóa trong thời gian đi "Ba Bước Một Lạy" hơn 700 dặm trong 2 năm 6 tháng từ chùa Kim Luân ở Los Angeles đến Chùa Vạn Phật tại Talmage, California)

 

tbnb_a.jpg (106582 bytes)

(Nguyên Tác: News From True Cultivators published by the Buddhist Text Translation Society, Dharma Realm Buddhist University, City of Ten Thousand Buddhas, Talmage, California - 2003) 

Nhất Tâm Đảnh Lễ

 

Full-sized slideshow

Three Step One Bow Song

 

Welcome Dharma Master Heng Sure and Dharma Master Heng Chau - 7/1979

 

Phần 1

Phần 2

San Francisco !

Đừng dính mắc mầm bệnh

Kinh “Tự ngã”

Chỉ nhìn xem nó phát triển như thế nào!

Các con chỉ là những đứa trẻ, đương nhiên là không tin rồi

Đừng nghĩ!

Phụng sự Phật pháp

Từ bi là vô thượng

Bồ Đề đạo tràng nơi hoang dã

Nhất Thiết Duy Tâm Tạo

Bồ Tát Đạo là nhà

“Vật bay” xâm nhập Trái đất

Vở Kịch Lớn

Tất cả đều là thử thách

Một người phụ nữ già dành cả cuộc đời trong bóng đêm

Tư tánh của con chứa hết thảy các pháp

Tôi đã tu tập Tham Sân Si

Ngũ Vị Làm Tê Lưỡi

Thế Giới Hiện Đại Đã Huấn Luyện Người Ta Tranh Giành

Xììì..." Như Tiếng Bánh Xe Bị Xẹp

Lão Khờ

Pháp Hội !

Một Người Phải Trải Qua Rất Nhiều Thay Đổi

Họ Đang Làm Gì Đó và Chẳng Làm Gì Cả!

Không Giết Hại

Làm Sao Có Thể Cắt Cỏ Hết Được?

Ẩn Mình Trong Phòng Kín, Quan Sát và Chờ Đợi

Tôi Cá Rằng Không Trở Thành Người Xuất Gia Là Điều Khó

Những Kẻ Nói Thị Phi Sẽ Đoạ Địa Ngục

Sắc Đẹp và Sức Khoẻ Sẽ Tàn Phai

Là Thầy Tu hay Là Con Chồn Hôi

Không Có Chỗ Nào Để Chạy Trốn Hay Ẩn Nấp

Căn Bản Thì Ngay Cả Một Vị Phật Cũng Chẳng Có

Tại Sao Tôi Lại Bị Ném Bong Bóng Nước?

Tuân Thủ Giới Luật

Những Gì Chúng Con Cho Đi Chính Là Bản Thân Mình

Cách Nhà 13 Dặm

Con Có Thể Đi Trên Con Đường Của Thiên Đường

Lễ Lạy Là Để Từ Bỏ Tánh Ích Kỷ

 

Phụ lục:

Thông cáo báo chí – Chuyến hành hương Phật Giáo của người Mỹ”

Các bài nói chuyện trong buổi lễ chào đón Thầy Hằng Thật và Thầy Hằng Triều về đến VPTT (7/1979)

 

 

********

San Francisco !

21 tháng Hai, 1979

 

Kính thưa Sư Phụ,

Khi đến nơi vô cầu, sẽ không còn phiền não.

Hôm qua thầy Hằng Triều và con đã lên được đỉnh đồi – phóng tầm mắt về phía Nam , chúng con thấy Dốc Ác Quỷ (Devil’s Slide) và thành phố Pacifica. Hướng về phía Bắc, thật không tưởng tượng nổi, chúng con thấy những cột tháp màu cam của Cầu Cựu Kim Sơn ( Golden Gate ), ngọn núi Tamalpais, tháp TV trên ngọn núi Sutro - San Fransisco! Dường như chỉ mới hôm qua chúng con còn ở Santa Monica suy nghĩ về Xa Lộ số 1 và cuộc hành trình dị thường còn ở phía trước. Vậy mà giờ đây, chưa đầy một cái búng ngón tay, chúng con đã lạy vào tận vùng Vịnh (Bay Area) và rời Xa Lộ số 1 để đi qua thành phố này. Cuộc đời quả thật như một giấc mộng. Như trong Kinh có nói:

Quá khứ, hiện tại, vị lai đều bất khả thuyết.

Hôm qua có th là ngày hành hương thứ nhất của người đệ tử này. Con đã được một bài học từ tận đáy lòng mà phải mất 21 tháng học tập và kiên nhẫn để thực hành cho tới khi hoàn toàn nắm được. Bây giờ có thực là con đã nắm được không ? Con hy vọng là không, bởi vì mỗi lần con chấp trước vào mt cảnh giới là lúc con lại vấp ngã. Bài học như thế nào? Nó có tên là "không mong cầu".

Sư phụ đã chỉ dạy hàng chục lần theo bng những phương tiện thiện xảo nhng điu này : "Đừng mong cầu bất cứ điều gì. Đừng cầu chứng quả Phật, đừng cầu đại trí huệ, đừng cầu giác ngộ. Mong cầu là đặt một cái đầu lên trên đầu của quý vị. Đó chỉ là lòng tham. Chỉ nhất tâm tu hành. Thế là đủ. Tu hành mà không nghĩ tới tự lợi. Tu hành như mình ăn, mặc, và ngủ. Chỉ cần như vậy là đủ rồi. Và đừng nên có cái niệm th hai. Hãy nhất tâm!".

Kinh Hoa Nghiêm đặc biệt chỉ dạy Bồ tát không tham cầu.

Bồ tát chỉ bền giữ tịnh giới. Bồ tát chẳng cầu oai-thế, chẳng cầu chủng-tộc địa vị cao sang, chẳng cầu giàu có, chẳng cầu sắc-tướng, chẳng cầu ngôi vua, tất cả đều không nhiễm trước.

"Phẩm Thập Hạnh"

Lại nữa:

Bồ-Tát này làm đại-thí-chủ, phàm có vật gì đều bố-thí được cả, lòng bình-đẳng không hề hối tiếc, chẳng trông quả báo, chẳng cầu tiếng tăm, chẳng tham lợi lộc.

"Phẩm Thập Hạnh"

Thông điệp trên thật quá rõ ràng, không hiểu sao lại không kết nối được với phần sâu thẳm nhất trong trái tim con. Con đã tưởng mình kiểm soát được lòng tham. Thực ra, con lại bị lòng tham khống chế.

Tuần trước chúng con có nói chuyện với Chùa Kim Sơn qua đin thoại. Thầy Hằng Triều cho văn phòng Chùa biết về lộ trình mới của chúng và con dịch lại câu chuyện đã xảy ra với chúng con vào sáng hôm đó. Thật quá vui mừng khi gần về đến nhà. Nhưng trở lại con đường để l lạy, đột nhiên con thấy bồn chồn và lo lắng. Tại sao? Con nghĩ "Chà, mình đã làm vic này gần hai năm và mình đã có cái gì để biểu lộ sự thành tựu thật sự ? Mình có thay đổi chút nào không?"

Tóm lại, con đã tìm cầu trong Phật pháp. Nhưng vì đối tượng mà con tìm kiếm là trí huệ giác ngộ và từ bi nên con đã cho phép ý nghĩ của mình trụ vào, cảm thấy đó là "mong muốn thanh tịnh".

Con tự quán chiếu càng lâu thì phiền não tăng trưởng càng sâu.

Sau đó con hiểu được bài học của con. Có ba cậu bé đi ngang qua con trên đường Monterey khi chúng con lạy lên đồi dưới mưa. Lúc đi ngang qua, my cậu bé rạng rỡ và tươi cười. Nhưng vừa trông thấy khuôn mặt con, cả ba lập tức mất đi sự rạng rỡ. Những nụ cười biến thành những vẻ buồn bã và đầy lo lắng. Con nhìn thấy sự cố gắng gượng gạo của mình, sự tham cầu của mình được phản chiếu qua đôi mắt của chúng. Con hoàn toàn khiến chúng thất vọng. Khuôn mặt của chúng lặng lẽ nói lên rằng "Này, người này chẳng có gì đặc biệt. Cho du ông ta là mt tu sĩ, nhưng ông ta cũng không hạnh phúc như những người khác. Ông ta đang tìm điều gì đó và chưa thấy. Thật đáng thất vọng! Ông ta là ai chứ? Một Phật tử? Xì!

Con thật hổ thẹn. Sự mong cầu kết quả tu hành của con đã làm tổn thương ba đứa nhỏ và có lẽ đã khiến chúng quay mặt đi với Pht Pháp.

Không mong cầu sẽ không lo nghĩ.

Thực hiện một việc thánh thiện để đạt điều gì đó sẽ làm ô nhiễm sự thanh tịnh tột cùng của các Pháp. Nếu cầu giác ngộ vì đó là điều lợi tốt nhất thì chuyện đó sẽ không xảy đến. Việc muốn có kết quả lại ngăn cản chúng. Con nhận ra rằng chướng ngại khổng lồ mà con mang trên đỉnh đầu chỉ là bản ngã, cái tôi, sự cầu lợi. Con buông xả chúng ra và đột nhiên cảm thấy như một đám mây đen khổng lồ được nhấc ra khỏi đôi vai con. Con làm điều này không vì bản thân mình, con sẽ thả lỏng và sẽ đón nhận khi nó đến. Trong Kinh nói: 

Khi công phu đầy đủ,

Thành tựu đến tự nhiên.

Chẳng vì thân mình cầu lợi ích,

Muốn khiến tất cả đều an vui.

Chưa từng tạm khởi tâm hí luận,

Chỉ quán các pháp không vô ngã.

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Hồi Hướng

 

Thay vì khởi vọng tưởng về tự lợi, sẽ tốt hơn biết bao nếu đem nguồn năng lượng này tin tưởng dùng vào phương pháp thực hành. Thật là một chân lý dễ hiểu và thật lâu biết bao để con có thể thấy được điều đó.

***

Kính thưa Sư Phụ,

Bồ-Tát lại nghĩ: "Từ lâu tôi vì mến chấp thân nầy muốn cho nó được no đủ nên ăn uống. Nay tôi đem thức ăn nầy ban cho chúng-sanh. Nguyện tôi đối với thân thể dứt hẳn sự tham chấp. "  

Kinh Hoa Nghiêm - Phm Vô-Tận-Tạng

Ai cũng thích một hương vị nào đó. Cho tới lúc bắt đầu chuyến bái hương, con đã rất thích đồ ngọt. Mọi thứ thay đổi khi việc bái lạy bắt đầu sinh ra nhiều khí dương hơn. Con nhận thấy đường ngọt làm phân tán sự tập trung của con. Thậm chí giờ đây con không thể nhìn vào đồ ngọt mà không cảm thấy đỏ mặt. Đó là trạng thái tạm thời của con – những người khác có lẽ không có vấn đề gì trong việc ăn đồ ngọt. Cuối cùng, tất cả những sự phân biệt có thể gây trở ngại cho một cá nhân thấy được sự thống nhất cơ bản của pháp thân.

Hai bài thơ rác:  

Bài Ca Bi Ai Của Người Hám Ngọt

hay "Đắng hơn thì Tốt hơn" (với con lúc này)  

 

Đường là thuốc độc của tỳ kheo này,

Chỉ một miếng làm mờ tâm trí.

Miếng bánh qui tan chảy xương sống,

làm tôi mê mẩn như người rượu say.

Điên đảo bởi đồ ngọt ăn vào,

Tôi quên hết thảy việc tu hành.

Khuôn mặt đỏ và hơi thở dốc,

Tôi chẳng thiết gì chuyện tử sinh.

Đường ngọt khiến tôi mun nhảy nhót,

Khiến lưỡi tôi muốn nhảy liên hồi.

Khiến tôi cười và muốn đùa giỡn,

Và dn xa con đường Phật đạo.

Đường ngọt khiến ming tôi không nghỉ,

Cho đến lúc Định mất đi rồi.

Tỳ kheo này ăn miếng sau rốt,

Đường nho, nước ngọt và mía đường.

Liếm chút đường có lẽ ổn thôi,

Nhưng tham ái làm tôi phát bệnh.

Đường tôi từng nếm quả là tuyệt,

Giờ tôi lại thích chú tâm hơn.

Đường là bạn của kẻ đang yêu,

Ngọt và dính cho tới cui.

Đường là keo dính của gia đình,

Gắn tôi với anh và anh với tôi.

Trong mọi hương vị, tôi thú nhận,

Tôi gắn chặt với vị đắng cay.

Nên khi được thiết đãi đồ ngọt,

Xin thứ lỗi nếu tôi bỏ qua.

Rồi một ngày, tr thành rt thật,

Tôi cũng phải buông bỏ đường ngọt.

Cho tới lúc đó tôi thích là,

Ngọt ngào, cay đắng và không đường.

 

Thức Ăn Là Một Trong Ngũ Dục  

Đồ ăn thật ngon; tôi thích ăn

Nhưng lòng tham thì thật thông thường.

Ăn quá nhiều khiến tôi thỏa mãn,

nhưng chỉ được một lúc mà thôi.

Quỳ trên lửa,

lửa dục phá thiền định của tôi.

Bữa trưa chỉ ăn nhiu thêm chút ít

là cản trở việc tôi tu hành.

Không quá ít, giữ gìn Trung Đạo.

Đừng tham dục.

Thật hổ thẹn, ham muốn đồ ăn

không cho tôi đến bờ giải thoát

Khi bụng tôi đã no nê rồi,

là lúc tâm Bồ đề thối thất

Thức ăn ngon, nhưng là cái giá

Tôi phải trả vì quá ham ăn  

***  

Cảnh ngũ-dục này là thứ chướng đạo, nhẫn đến chướng ngại chứng đắc vô-thượng bồ-đề. Do đây nên Bồ-Tát chẳng có một niệm dục-tưởng, lòng thanh-tịnh như Phật. Chỉ trừ phương-tiện giáo-hóa chúng-sanh, nhưng vẫn không rời tâm nhứt-thiết-trí... 

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Hạnh

 

Đệ tử của Phật,

Quả Chân (Hằng Thật)

Cung kính đảnh lễ

 

Đừng dính mắc mầm bệnh

12 tháng Ba, 1979

Sausalito , California

 

Kính thưa Sư Phụ,

Dường như trong khoảng một niệm mà chúng con đã đi được hàng bao nhiêu dặm. Cúi xuống lạy, thấy cát vùng Pacifica tung bay dưới chân. Đứng lên, phía sau là những cột tháp màu cam của cầu Bay Bridge khuất sau những ngọn đồi vùng Marin (*). Chúng con đã gần tới chân núi Tamalpais rồi. Qua ngọn núi này là chúng con sẽ lên Xa lộ số 1, tiến về hướng bắc cho tới khi rẽ sang hướng đông để về Vạn Phật Thành. Thật vậy, trong kinh có nói “Tam thời đều bình đẳng”

Chúng con thường nghe,  

Chuyên nhất thì linh ứng

Tán loạn thì vô hiệu.

(Chuyên nhất tất linh,

Phân chi tất tệ.)  

Hôm nay trên đường Bridgeway Drive , thành phố Sausalito , con nhận thấy trong tất cả những việc mà con người làm thì tu hành Phật đạo đòi hỏi sự chuyên tâm nhiều hơn cả. Muốn thực sự chuyên tâm phải dùng hết khả năng của con và thậm chí còn nhiều hơn thế. Bái lạy trên xa lộ giúp chuyên chú cao độ bởi vọng tưởng ứng hiện tức khắc trong những ngày này. Thật kỳ lạ!  

Bí ẩn về những tiếng còi xe hơi vẫn đang diễn ra là một thí dụ. Kể từ khi cuộc hành trình bắt đầu, mỗi khi tâm con lang thang trong những ý niệm của bản ngã, về những việc mình đã làm hoặc dự định sẽ làm – mỗi lần con dính mắc vào hoàn cảnh chung quanh - là dường như con nghe thấy tiếng còi xe hơi ngay lúc khởi tâm niệm . Thật kỳ lạ! Khi con chuyên chú vào việc bái lạy và tâm niệm không tán loạn thì con đường hoàn toàn tĩnh lặng. Ngày nào cũng hiệu nghiệm như vậy. Đây không thể là trùng hợp ngẫu nhiên được.  

Rõ ràng hơn nữa là ở San Francisco vào tháng trước. Buổi chiều đó, lúc con mang mắt kính để bái lạy trên đại lộ Point Lobos, phía bên ngoài quán trọ Seal Rock, thì vọng tưởng khởi lên: "Nhìn vẻ mặt mọi người thay đổi sẽ vui đây”. Không nhận ra đây là một bước đi xuống con đường tâm tán loạn, con để nó ngự trị trong tâm trí.  

Thêm hai lạy nữa, một người phụ nữ trông khác lạ đi qua. Vẻ bên ngoài của bà ta không có điểm nào ăn khớp với nhau cả. Bà ta có thể là con người được chế tạo vội vàng. Bà ta trông như một sản phẩm làm vội vàng từ nhà máy chế tạo người. Từ mái tóc tổ ong cong lệch cho đến đôi giày te-nít vàng, trông bà ta thật kỳ lạ.

Bà ta cất lên một giọng nói như máy "Coi chừng. Hãy cẩn thận, đừng dính mắc mầm bệnh" và đi về phía Cliff House.  

Con lập tức hiểu rằng việc con để lậu thoát quang minh qua nhãn quang theo đuổi hình sắc không ổn chút nào. Con tháo mắt kính và tiếp tục chuyên chú vào công việc.

Tâm chng luyến thích tt c thế gian, cũng chng nhim trước nơi công hnh ca mình tht hành, chuyên tâm th trì giáo pháp ca Chư Pht.

Kinh Hoa Nghiêm  

Một hành giả phải chuyên chú như vật cắt kim cương: tâm cứng và sáng như vậy. Mỗi mặt bóng của nó đều phát sáng. Chuyên chú như thủ môn khúc côn cầu: dục vọng và tập khí bất thiện bay đến từ mọi phía giống như quả bóng cao su cứng.  Chuyên chú như chuyên gia tháo gỡ bom mìn: để cho một ý nghĩ sân hận và ích kỷ bám trụ và thế là có thể bị lon Pepsi làm cho mất cái mũi, con đã gần giống như vậy khi ở Pacifica .  

Chuyên chú như người huấn luyện sư tử: không cho phép sợ hãi hay hoài nghi cản bước hay làm nhụt chí. Chuyên chú như hoa tiêu bến cảng: biết chỗ nào nước cạn, chỗ nào có đá trong tự tánh của mình, hướng con thuyền Bát nhã qua sông an toàn.  

Chuyên chú như người leo núi: đi theo móc leo núi và dấu chân an toàn của những người leo trước để lại. Chuyên chú như bác sĩ phẫu thuật não: hiểu rõ đặc điểm của tâm, lấy ra những bộ phận hỏng mà không làm hư hại những bộ phận lành.  

Chuyên chú như người lính phía sau phòng tuyến: tự ngã không muốn bị sai bảo phải chết đột ngột. Phải lừa và hàng phục nó mà không cần đối đầu. Chiến đấu với tâm sẽ chỉ có thiệt mà thôi. Chuyên chú như đức Phật: an nhiên, nhẫn nại, dũng mãnh, với sức mạnh và lòng từ vô thượng. Chuyên chú như một hành giả:

Lấy cảnh giới của Phật
Chuyên niệm không ngừng nghỉ
Người đó thấy chư Phật
Nhiều bằng số tâm niệm.


Dĩ Phật vi cảnh giới,

Chuyên niệm nhi bất tức,
Thử nhân đắc kiến Phật,
Kỳ số dữ tâm đẳng

Kinh Hoa Nghiêm

(Phẩm Đâu Suất Cung Kệ Tán)  

 

Đệ tử của Phật,

Quả Chân (Hằng Thật)

Cung kính đảnh lễ

 

Ghi chú của ban Phiên Dịch Việt Ngữ:

Pacfica là thành phố phía nam San Francsco, Marin là vùng kế cận phía bắc San Francisco. 

 


 

Kinh “Tự ngã”

Tháng Ba, 1979

Đỉnh Tamalpais, California

 

Kính thưa Sư Phụ,

Tâm con đã có chuyển biến lớn. Trong vài tuần qua, con bắt đầu thấy được những vọng tưởng sâu kín nhất cùng những thói hư tật xấu thâm căn cố hữu của mình. Con thấy rõ bài “Kinh tự ngã” về “tôi và của tôi” mà con đã tụng hết ngày này qua ngày khác, kiếp này sang kiếp khác. Con gọi đó là “Bài kinh của vị đế vương”. Từng chút, từng chút một, sự thật này lần lượt diễn ra trong con trong suốt cả tháng. Khi con tịnh khẩu và bắt đầu không đọc gì ngoài Kinh Hoa Nghiêm thì thấy sáng suốt hơn. Kinh Hoa Nghiêm được mở ra và trở nên sống động, luôn cả căn bệnh cũ – tâm cho mình là số một – cũng vậy.  

Rồi một đêm, ngay sau cái lạy cuối cùng trong ngày, vạn vật đều đứng yên. Trong cái khoảng lặng đó, con chưa bao giờ thấy được chính mình như vậy. Con thấy cái tâm vọng tưởng của mình, chưa được thanh lọc và rõ ràng. Nó không đẹp đẽ gì. Con thấy mình luôn kiếm tìm vị trí số một ra sao, rồi còn luôn vạch lỗi người và hạn chế của họ để thấy mình là số một – luôn ganh đua, tranh giành, ganh ghét và gây khó dễ. Niệm này nối niệm kia như những hạt chuỗi kết thành xâu chuỗi “Ta mới tuyệt vời làm sao!” “Chỉ có ta là số một”. Dường như cả thế gian đều lặng im, chỉ có một âm thanh duy nhất : cái tâm điên cuồng bé nhỏ của con đang tụng “Kinh Hoàng Đế”, âm thanh vang như sấm. Nó cứ lơ lửng trong khoảng không trống rỗng. Nó chỉ là quả bóng nhỏ ồn ào, giống như một đứa trẻ đang gào thét trong hư không vậy.  

Con xấu hổ đến phát khóc lên được. Thật xấu, thật không tốt chút nào. Làm sao một “bài ca tự ngã” nhỏ bé, ích kỷ lại đang điều khiển sinh mệnh con như vậy! Rồi con ngồi thiền trên một khoảnh đất trống gần khu nhà trọ Howard Johnson lớn. Con nghĩ “Được rồi, vậy là giờ ngươi đã biết. Ngươi đã thấy con người tồi tệ của mình, đã biết bài kinh của mình rồi. Ngươi định tính sao với nó đây?” THAY ĐỔI. Con biết mình có thể thay đổi. Tâm con thực sự chán ngấy việc cứ ngạo mạn, cứ thổi phồng rồi. Làm thế nào? Con không cần phải nghĩ ngợi về nó. Con biết. Chỉ nhất tâm chuyên chú, không sinh một niệm nào tới khi vọng tưởng của con được độ thành những tư tưởng thiện. Giữ giới thanh tịnh và hồi quang phản chiếu. Tu đạo vô trụ, không sao lãng một giây phút nào. Bản thân không được theo đuổi dù chỉ một ý niệm về cái tôi. Không nhọc công mang vác cái thùng rác chứa toàn danh tiếng và ngũ dục thêm nữa. Nhất tâm lễ lạy, làm “Vô tâm Đạo nhân”. Để mọi thứ qua đi.  

Không có vọng tưởng, mọi chuyện đều tốt. Nhất tâm sẽ chẳng còn phiền não. Thanh tịnh và hạnh phúc, tất cả đều đến đi theo lẽ tự nhiên. Không có thì giờ để khởi vọng tưởng thì làm sao con còn bắt lỗi người được? Dọn sạch những thứ tạp nham của chính mình và chỉ lo việc của mình mà thôi.

Con thấy hạnh phúc hòa cùng hổ thẹn, khiêm nhường và mới lạ. Thật sự rất khó. Vọng tưởng và tập khí bất thiện của con quá nhiều. Nhưng không sao, cốt yếu là buông bỏ được vỏ bọc hư dối. Chỉ cần chân thật, thành tâm là đủ.  

Đêm đó chúng con đọc Kinh Hoa Nghiêm, trong đó có nói làm thế nào mà bồ-tát “trong một niệm có thể biết được tất cả các niệm”. Vì sao vậy? Vì mọi thứ đều từ cái tâm phân biệt mà ra. Chỉ một niệm về ngã khởi lên là sinh ra tất cả. Biết được cái tâm chân thật của mình là biết toàn thể pháp giới. Nhưng con chỉ thấy được tất cả vọng tưởng của mình vào lúc này. Con thấy được chúng. Con biết mình không là người nào, nhưng con không biết mình là ai. Con thấy trống rỗng như một đứa trẻ, nhưng chưa được hoàn toàn.  

Vài ngày sau, Sư Phụ cùng thầy Hằng Lai và một số cư sĩ trên đường về Vạn Phật Thành có ghé qua. Hôm đó là vào trước ngày vía Quan Thế Âm Đản Sanh. Con nói “Bạch Sư Phụ, trong vài tuần qua, con đã thực sự thấy được vọng tưởng và lỗi lầm của mình. Con thật hổ thẹn quá!”  

Sư Phụ: “Vậy là tâm con đã có chuyển biến lớn phải không?” rồi chuyển hướng sang các cư sĩ “Đây là em gái của Quả Ngộ, con có nhận ra không? Có nhận ra Quả Ngộ không? Nhất định là con nhận ra hai người họ rồi. Thế con có nhận ra anh ta không? Con có nhận ra sư phụ không? Có tự nhận ra mình không?”  

Con cứng miệng không nói nên lời.  

Sư Phụ: “Vậy là con có nhiều vọng tưởng phải không?”  

Con: “Dạ rất nhiều. Rất nhiều…”  

Sư Phụ: “Nhất định rồi. Từ vô thủy vô chung cho đến giờ, con từng làm hoàng đế trong vô số kiếp nên có vọng tưởng cũng là chuyện đương nhiên thôi. Được rồi, thấy được lỗi mình rồi thì con có thể thay đổi.” Lời Sư Phụ đầy khích lệ và lạc quan. Rồi Sư Phụ nói kệ:  

Tự tánh chúng sinh biên thệ nguyện độ;

Tự tánh phiền não vô tận thệ nguyện đoạn;

Tự tánh pháp môn vô lượng thệ nguyện học;

Tự tánh Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.  

và hỏi “Con hiểu không?”  

Con: “Dạ con hiểu”. Những lời ấy đi thẳng vào tim con và đánh vào những điểm trống. Những giọt nước mắt lĩnh hội tuôn trào nơi khóe mắt.  

Sáng hôm sau, khi đang bái lạy, con nhớ lại lời Sư Phụ, nó bắt đầu lớn dần trong tâm con. Tựa hồ như Sư Phụ đang nói “Con có thấy được tất cả là một? Tất cả chúng ta đều có cùng chân như bổn tánh, một pháp cũng bất khả đắc chứ đừng nói đến một cái tôi hay một vị hoàng đế. Giờ con thấy chưa? Không anh, không tôi. Không ta, không người. Con có thấy tự tánh của mình không?“  

Toàn thân con chấn động, xương sống ớn lạnh. Con cũng bắt đầu hiểu được đôi chút. Cuối cùng, những câu kệ trong Kinh Hoa Nghiêm mà con đang suy ngẫm vài tuần nay giờ đã sáng tỏ.  

Pháp thân Như Lai hin công hnh

Tt c thế gian như tướng đó

Nói các pháp tướng đu vô tướng

Biết tướng như vy là biết pháp.

 

Các Pht t kia biết như vy

Tt c pháp tánh thường trng lng

Không có mt pháp hay to tác

Ðng vi Chư Pht ng vô ngã.

Rõ biết tt c các thế gian

Cùng chơn như tánh tướng bình đng…  

Nguyn tt c chúng sanh khéo vào tt c pháp bình đng, rõ biết pháp gii t tánh không hai.

Kinh Hoa Nghiêm

 

Nhưng cái tôi của con mạnh lắm, còn vọng tưởng thì như bão tuyết vậy. Làm thế nào để thay đổi và mở rộng tâm lượng thành “pháp giới tự tánh không hai”? Từ bi. Từ bi độ kiêu căng. Là một với tất cả sẽ chuyển hóa được cái tâm nghĩ mình là số một. Có lẽ đây là lần đầu kể từ khi xuất gia con hiểu được pháp danh của mình, Hằng Triều. Nó không mang nghĩa “luôn là Hoàng đế” mà là “luôn hạ thấp Hoàng đế xuống”. Khiêm nhường và từ bi. Hạ thấp “cái tôi” xuống. Nhất tâm bái lạy tất cả chúng sanh. Làm một người tốt với tâm khiêm nhường và không gây não hại cho bất kỳ ai.  

 

An lành trong Đạo 

Đệ tử Quả Đình (Hằng Triều) 

Cung kính đảnh lễ 

 

Tái bút: Bạch Sư Phụ, 120 đô này là của một người mới đến, ông ta nói rằng “Tôi muốn giúp đỡ, ủng hộ việc các thầy làm”. Ông ta dốc cạn túi và thành tâm nói “cảm ơn các thầy” rồi đi.

 


 

Chỉ nhìn xem nó phát triển như thế nào! 

Mt. Tamalpais, ngày 18 tháng 3 năm 1979.

Kính thưa Sư Phụ,

"Chúng ta đang có Thất Quán Âm. Thầy chắc các con có khởi niệm tham, muốn được về Vạn Phật Thành tham gia phải không? Nhưng đừng lo, đối với hai con đang đi Ba Bước Một Lạy, mỗi ngày đều là ngày Đản sanh của Bồ Tát Quán Âm, và mỗi ngày các con đều ở Vạn Phật Thánh Thành ..."

... Sư Phụ đã nói với như vậy khi đến viếng thăm chúng con vào hôm thứ Sáu. Ngài nói rất đúng. Thất Quán Âm là những ngày rất đặc biệt. Vị Bồ tát Đại Bi ban vui bạt khổ bằng những phương cách vi diệu. Nhất tâm niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Âm chuyển hóa mọi nơi thành Vạn Phật Thánh Thành.

Mỗi ngày, hành giả đều cảm nhận một kho tàng học hỏi phong phú đó là học hỏi và hành trì Phật giáo. Cốt tủy của việc học hỏi, bài học lớn nhất là học làm con người tốt. 

Chư Pht t ! B tát này ly đi bi làm trước … lòng tin tăng thượng… phát sanh lòng bi mn… thành tu đc đi từ… lòng h thn trang nghiêm…

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Địa


Dầu Phật Pháp chứa đựng trí huệ vô thượng, vi tế, thâm sâu, viên mãn diệu trí, nhưng sự áp dụng cao nhất là ngay trong cõi giới chúng sanh. Bằng cách hằng ngày đều hướng về điều thiện, bằng cách dùng lòng từ để làm chúng sanh vui vẻ, dùng tâm bi để chấm dứt đau khổ của chúng sanh, thì mỗi ngày đều là Thất Quán Âm .

Trong ngày Sư Phụ ghé thăm, chúng con đang lạy trên xa lộ Shoreline đầy nước mưa bùn lầy ở vùng Thung Lũng Tamalpais. Một bà lão đi trên đường lộ, đầu trần và đơn độc . Bà mang đôi giày lôi thôi, thụt cổ vào đôi vai chống lại cơn mưa phùn lạnh lẽo. Xe cộ chạy quá nhanh trên con đường hẹp, suýt đụng bà chỉ trong gang tấc. Bà đi mua đồ tại một tiệm thực phẩm "thuận tiện", sau đó lại lê bước ngang qua chúng con một lần nữa trên con đường về nhà đơn độc. Tâm con thật thương xót cho bà. Sao bà lại liều lĩnh sanh mạng và sức khỏe của mình trên con đường hiểm trở này chỉ để mua thực phẩm để ăn? Gia đình bà ở đâu? Con biết bà có thể đã từng là quyến thuộc của con trong đời quá khứ. 

Có hàng triệu người già trên thế gian này nằm trong hoàn cảnh như bà hoặc còn tệ hại hơn nữa . Con nghĩ rằng việc thiết lập Phật Pháp ở Tây phương này chắc chắn sẽ đem lại rất nhiều sự thay đổi thái độ của chúng ta đối với người già. Bà lão này cần được chăm sóc. Bà cần những tiện nghi căn bản như thức ăn và chỗ ở để tránh mưa nắng. Bằng cách làm nhà ở cho các vị cao niên và chăm sóc những người già yếu cô đơn trên thế giới, chúng ta làm những việc thiện và đền đáp phần nào sự từ bi của chư Phật, của cha mẹ, và của các bậc trưởng thượng. Đây là công việc của Bồ tát Quán Âm. Đây cũng là sự hứa hẹn của Vạn Phật Thánh Thành.

Con nhớ lại gia đình họ Hyatt tại Cambria, cặp vợ chồng trẻ dành riêng chỗ trong nhà họ cho ông già Pappa Joe, người cha bệnh tật của họ. Gia đình họ Hyatt đến thăm chúng con và dẫn theo ông già Joe. Ông được cuốn tròn trong một tấm chăn dầy cộm, khuôn mặt tràn đầy nụ cười. Ông vui sướng mặc dầu tật bệnh, sức khỏe yếu kém . Gương từ bi của gia đình họ Hyatt tỏa tràn ánh sáng thiện lành làm cho ngày ấy rất đặc biệt. Mỗi ngày đều là ngày Bồ tát Quán Âm đối với gia đình họ Hyatt.

Khi con thấy bà lão kia trên đường lộ, con nghĩ sẽ tốt biết bao khi mang tất cả những người già cô độc lại với nhau và dạy họ Pháp môn Tịnh Độ, chia sẻ với họ niềm hỷ lạc của niệm danh hiệu Phật A Di Đà cùng Bồ tát Quán Thế Âm. Làm được công việc này thì Phật giáo đồ sẽ đóng góp rất lớn cho thế giới.

Sáng nay con có một giấc mơ, giống như quảng cáo trên T.V., giống như thông điệp của Liên Hiệp Quốc. Một người đàn ông và một bé trai đứng cạnh nhau. Cặp mắt bé trai đó mở to đầy kinh ngạc. Người đàn ông nói, dường như đang nói với thầy giáo vào ngày khai trường: "Đây, con trai tôi. Xin hãy uốn nắn nó cho tốt. Xin hãy dạy dỗ nó cho tốt trong ngôi trường của quý vị và hãy chỉ cho nó làm thế nào để trở thành con người tốt."

Theo sau ông ta là bốn người đàn ông nữa, mỗi người cũng dẫn theo một đứa con trai và cũng lập lại thông điệp trên. Một người nói bằng tiếng Anh, một người nói bằng tiếng Trung Hoa, một người nói bằng tiếng Nhật, một người nói bằng tiếng Pháp.

Sư Phụ luôn nhấn mạnh tầm quan trọng của nền giáo dục và làm trường học trở thành nơi cung cấp những dạy dỗ thiện tánh căn bản để các em trở thành con người tốt. Đây là con đường dẫn đến quả Phật.

"Bồ-tát… có chí nguyn rng ln không có gì tr hoi được. Li thêm siêng tu tt c thin căn mà được thành tu… ngày đêm tu tp các căn lành không nhàm đủ… ." 

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Địa .

Trường Bồi Đức, Đại học Phật Giáo Pháp Giới, các trường trung tiểu học sẽ được thành lập tại Vạn Phật Thành sẽ rất quan trọng cho thế giới. Các em nhỏ mà chúng con được gặp trên con đường lễ lạy này vẫn còn ánh sáng thanh tịnh và sự tin cậy nhiệt thành. Nếu các em trưởng thành với sự hướng dẫn của các Đạo lý chân thật trong nền giáo dục, nếu các em có thể vượt qua những năm khó khăn của tuổi mới lớn trong một cộng đồng mà mọi người đều tin tưởng thực hành nhân, nghiã, lễ, trí, tín, thì thế giới này sẽ tự nhiên chuyển đổi thành một nơi tốt đẹp hơn. Bằng cách nương theo ánh sáng của Bồ tát Quán Âm và tu hành Pháp Đại Bi, chúng ta có thể hoàn toàn chuyển hóa cốt tủy và tinh thần của nền giáo dục hiện đại về lại đường hướng nên có.

Khi người già vui sướng cầu nguyện hòa bình; người trẻ thích thú khám phá về thế giới, về những tư tưởng vĩ đại, và về những đạo lý chân thật; và khi những người trung niên bận rộn như những vị Bồ tát đang hành Đạo và hồi hướng thiện căn cho toàn Pháp Giới, thì lúc đó mỗi ngày đều là Thất Quán Âm và khắp nơi đều là Vạn Phật Thánh Thành.

Đây không phải chỉ là một giấc mơ mà chân thật như một niệm kế tiếp trong tâm của chúng ta. Chẳng bao lâu thế giới sẽ biết Chánh Pháp đã tìm ra căn nhà mới tại Tây phương. Những người như người nông dân tiểu bang Iowa mà chúng con gặp trên xa lộ gần sở thú San Francisco sẽ không còn nói rằng: "Đạo Phật? Tôi nghĩ đó là một tôn giáo ở Á châu. Nhưng các ông là người Hoa Kỳ có phải không ? Các ông có bao giờ đi qua tiểu bang Iowa chưa ?" Con muốn nói: "Vâng, thưa ông. Tôi trưởng thành tại tiểu bang Ohio. Chẳng bao lâu ông sẽ hãnh diện nói với những người láng giềng ở thành phố River rằng con cháu mình đã quy y Tam Bảo, hoặc ngay cả đã xuất gia học Đạo. Chẳng bao lâu các bạn ông sẽ tìm hiểu về ăn chay và tu thiền. Ông có thể sẽ niệm danh hiệu Quán Âm lúc nào không hay. Hãy nhìn xem Phật giáo sẽ phát triển như thế nào!"

Cuộc Đối Thoại Chúng Ta Muốn Nghe: 1984

"Phật giáo đồ hả? Ồ! Vâng, họ là những người có tấm lòng rộng lớn phải không ? Họ là những nhà giáo dục phải không? Họ lo lắng cho người già, tôi hiểu điều đó. Họ là những người không tranh phải không? Vâng, tôi đã từng nghe về họ. Thực sự tôi đang nghĩ sẽ đặt mua báo dài hạn tờ báo đó để tự mình tìm hiểu. Báo đó gọi là gì? 'Mỹ Phật Hải (Yankee Buddha Sea)', hay tên gì tương tự như thế. Tôi nghe về báo đó trên đài radio mà họ thường đọc hàng tuần. Nghe rất hay, tôi có thể nói như vậy! Tôi thích nhất phần để hát theo mà họ thường tụng theo điệu Nam Mô vị Bồ tát nào đó. Vâng, tôi thường nghĩ Đức Phật là vị Thượng đế Đông phương (Oriental God), nhưng từ bi hỷ xả sao lại mang màu sắc Hoa kỳ giống như bánh mảnh bắp như thế! Vâng, rất đúng."

"Bồ-tát vì nhớ có thể làm lợi ích cho chúng sanh nên sanh vui mừng.

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Địa

Những Bảng Hiệu Chúng Con Thích Nhìn:
(treo trên hàng rào, bên ngoài ngọn hải đăng Bồ Câu (Pigeon Point Lighthouse)

CHÚ Ý: CCấm săn bắn, câu cá, giết chóc, đặt bẫy, hay quấy rầy bất cứ sinh vật nào.
Thừa lệnh Tư lệnh bảo vệ vùng duyên hải 
(by order of the Commandant, U.S. Coast Guard).

******


Kính thưa Sư Phụ,

Hôm nay tâm con bị kinh ngạc ba lần vì Kinh Hoa Nghiêm và báo Kim Cang Bồ Đề Hải. Mỗi lần con cầm kinh hay báo lên để trích một đoạn kinh văn thêm vào bài viết thì lại lật đến đúng đoạn kinh văn phản ảnh chính xác tư tưởng của con. Dường như lời kinh trên trang giấy đang nói chuyện với con, dùng chính tư tưởng của con. Cảm giác vô cùng kỳ lạ. Đệ tử chúng con thường quen với việc không thể nghĩ bàn là bậc Thiện tri thức có thể biết tư tưởng chúng con ngay cả trước khi chúng con suy nghĩ; nhưng khi những tờ báo khởi sự phản chiếu tâm của chúng con thì đó là một điều khác!

Vòng Hoa Nghiêm (Flower Garland Round)

Tất cả đều do tâm tạo,
Tất cả đều hiện hữu trong Pháp Giới,
Pháp Giới nằm trong Kinh Hoa Nghiêm.
Kinh điển từ miệng Phật xuất ra,

Phật sống trong tâm của tất cả chúng sanh,
Tất cả chúng sanh sống trong mười Pháp Giới,
Mười Pháp Giới không rời một tâm niệm.
Tất cả đều do tâm tạo!
(lập lại cho đến khi tâm yên tĩnh)

"Từ từ bi và nguyện lực,
Thị hiện thâm nhập các hạnh của tâm địa,
Từ từ tâm được viên mãn,
Các hạnh của trí tuệ không phải cõi giới ảnh hiện."

Kinh Hoa Nghiêm.

Chúng con đã học hỏi được rằng không có tư tưởng, câu viết hay lời nói nào quan trọng bằng một cái lạy yên lặng, thành tâm. Cái thấy, trực giác, giấc mơ, và những phát hiện do hành trì Pháp thực sự cũng giống như diêm quẹt phản ảnh trên mặt trời. Chính hành động, sự cố gắng, niềm tin trong việc tuân theo lời dạy, và sự bố thí nói lên câu chuyện, một cách không lời. Thật là một sự khám phá! Thực tế hoàn toàn trống rỗng, chân thật. Nhưng đó cũng hoàn toàn là Pháp, sự thật của thực tế giống như là một món quà từ tâm đại từ của Đức Phật..

Con tôn kính quay về và nương tựa trong Tam Bảo của tất cả thời gian và không gian. Nguyện hết thảy chúng sanh đều nhớ đến căn nhà bổn lai trong Chánh Pháp. Nguyện tất cả chúng sanh, phản bổn hoàn nguyên về lại cội nguồn thanh tịnh nguyên thuỷ.

 

Đệ tử của Phật,

Quả Chân (Hằng Thật)

Cung kính đảnh lễ

 

Các con chỉ là những đứa trẻ, đương nhiên là không tin rồi.

Đầu Xuân 1979

Muir Beach

 

Kính thưa Sư Phụ,

Lúc còn ở Dốc Ác Quỷ, con đã phát nguyện vĩnh viễn không bao giờ tìm cầu những mối quan hệ riêng tư hay bất cứ thứ gì để bài xích, cự tuyệt người khác. Đêm đó con mơ thấy Sư phụ đang lâm chung. Con nhìn thấy một con mãnh long. Lúc Sư Phụ quay lại Pacifica thăm chúng con, Người có hỏi “Có mơ thấy gì không?”. Người nghe con thuật lại giấc mơ rồi nói “Ô… vậy là con muốn Sư Phụ chết đấy hả?”.  

Con quả quyết: “Không, bạch Sư Phụ, hoàn toàn không phải như vậy!” .  

Sư phụ nói: “Sư Phụ sẽ chết thay con”.  

Con đáp: “Con phải tự mình chết lấy” .  

“Vậy Sư Phụ sẽ sống thay con”.  

“Việc này con cũng phải tự mình làm lấy”.  

“Được rồi, vậy một người thầy như ta thì có tác dụng gì chứ?” Rồi Sư Phụ nói kệ:  

Ăn để chính mình no

Giải quyết sinh tử cũng do chính mình.  

Sau đó, con nghĩ thầm “Có thực là mình muốn Sư Phụ chết không?”. Con không thực sự chắc lắm. Nhưng con cứ để mọi chuyện qua đi, hoặc giả con đã nghĩ vậy. (Cái “chết” này phải đi cùng với “tâm tham dục” chết. Đây chính là cái chết mà Hòa Thượng muốn ám chỉ khi nói rằng Người hi vọng con sẽ chóng chết, đó là “mau diệt trừ ngã kiến và tâm tham dục ích kỷ của mình”).    

Lần tới Sư Phụ đến thăm là lúc chúng con đang trên đỉnh Tamalpais. Trong con đã có rất nhiều biến chuyển. Chưa bao giờ con thấy được những thói hư tật xấu của mình như lúc bấy giờ. Con thấy sau 2 năm bái lạy mà mình mới chỉ bắt đầu đối diện với những lỗi lầm nghiêm trọng và đại ngã kiến của mình. Con thấy ô nhục, thấy hổ thẹn. Hơn nữa, cũng nhờ có Sư phụ kịp thời chỉ dạy và cứu giúp nên con mới có thể thấy được như vậy chứ đó không phải là kiến giải của con. Đặc biệt là Sư Phụ đã khuyên con tịnh khẩu. Và khi miệng khép lại, mắt con mở được đôi chút.  

Khi Sư Phụ thăm chúng con tại Pacifica, ngay lúc Người chuẩn bị ra về, còn con đã sẵn sàng “tự mình đứng vững”, đột nhiên có hai người đàn ông tiến lại gần với vẻ hận thù. Con tự tin mình có thể khiến họ thay đổi thái độ. Con bắt đầu nói huyên thuyên, rồi tranh luận với họ. Sư Phụ tựa người ra ngoài cửa xe, nói lớn “Không cần phải nói. Đừng nói quá nhiều!” Không hiểu sao con cảm thấy khí lực hao tổn khi nói chuyện với hai người này. Nghe Sư Phụ nói, hai “người đàn ông” tái mặt rồi chạy mất hút vào con đường. Họ hoàn toàn không phải là người. Sư Phụ cười nói “Con thấy đó, Sư Phụ đã đuổi những con quỷ khỏi con rồi đó. Ha ha. Tạm biệt” Bài học đó con sẽ mãi mãi bao giờ quên.  

Lúc này đây, trên đỉnh Tamalpais, con đã thấy được sự quả quyết ngu ngốc của mình, quả quyết rằng “Con có thể tự đứng vững” (Để thực sự đứng vững, con cần phải nhận biết chính mình và không còn ngã kiến). Trong suốt chuyến viếng thăm, Sư Phụ nhìn thẳng vào mắt con, cười nói “Vậy là giờ con có thể đứng trên đôi chân mình rồi hả?” Hôm sau, con đã hiểu được giấc mơ chết kia trong khi đang bái lạy. Thực tế con đã hi vọng Sư Phụ sẽ “chết”. Một cách vô thức, tự ngã của con muốn sống, cho nên con mơ thấy Sư Phụ chết. Lần đầu thấy Kinh Kim Cang, con đã chạy trốn và né tránh. Tại sao? Vì con biết Kinh nói lên sự thật của vô-ngã. Lần đầu gặp Sư Phụ, con đã không lạy và sẽ không lạy. Con đã quá kiêu ngạo. “Hoàng đế” không lạy bất kỳ ai cả. Giờ đây, sau hai năm bái lạy và thấy được sự trống rỗng của đại ngã, con vẫn chống cự “cái chết”, thay vào đó là mơ thấy Sư Phụ chết. Ẩn sau giấc mơ là vọng tưởng : “Nếu Sư Phụ chết, sẽ không còn ai ở bên để điều phục mình nữa. Sẽ không còn ai soi đường chỉ lối và hiểu cho mình nữa”. Con căn bản là không muốn đối diện với điều này. Con không muốn thừa nhận rằng mình đã có những suy nghĩ đáng xấu hổ như vậy về Sư Phụ. Con muốn giấu tội, muốn che đậy những cái xấu. Nhưng con đã từng làm thế, giấu giếm và không ngay thẳng. Việc đó chỉ mang lại khổ đau cho mọi người. Con biết mình mắc trọng tội, nhưng con vĩnh viễn sẽ không bao giờ giả tạo để rồi lại mắc tội thêm nữa.

Đã quá muộn để tạ lỗi với Sư Phụ. Người đã đi rồi. Do không thẳng thắn, con lại bỏ lỡ cơ hội. Con luôn che dấu chính mình. Chính vì thế, con cần một vị “Thiện Tri Thức” làm y chỉ.    

Tuần này Sư Phụ lại ghé qua.  

Sư Phụ: “Có gì muốn nói không?”  

Hằng Triều :”Có rất nhiều thay đổi. Bạch Sư Phụ, kể từ lần trước Sư Phụ tới thăm, giờ con đã biết giấc mơ Sư Phụ chết chính là tự ngã của con không muốn chết.”  

Sư Phụ: “Chắc chắn rồi, sau đó thì không ai có thể điều khiển con được nữa”  

Hằng Triều: “Con hổ thẹn lắm, thưa Sư Phụ, con sẽ thay đổi”  

Sư Phụ và con cùng ngồi xuống nói chuyện. Sư Phụ ngồi trên thanh giảm va chạm xe.  Trời vừa mưa trước khi Sư Phụ tới. Lúc này trời đang nắng, nhưng mặt đất còn ướt. Chiếc mũ của con nằm trên mặt đất, ngay cạnh chân Sư Phụ. Tình cờ Sư Phụ nhấc chân, dẫm lên mũ con, và bắt đầu chà xuống đống bùn rồi lau vết đất bết ở giày lên đó. Con đã muốn nói “Ơ kìa, Sư Phụ, đừng!!!! Đó là mũ con mà!”.    

Nhưng rồi một ý nghĩ chợt đến: “Lẽ ra Sư Phụ nên giẫm lên đầu mình. Mình đáng bị như vậy.” Con nghĩ có lẽ Sư Phụ tưởng đó chỉ là một chiếc mũ cũ kỹ bên đường. Rồi Sư Phụ nhặt chiếc mũ lên, tử tế phủi sạch bùn đất, gấp lại gọn gàng rồi đưa cho con. Con nghĩ thầm “Ơ! Sư Phụ biết đó là mũ của mình. Vậy là sao?"

Sau khi Sư Phụ đi, con đã thấu hiểu được lời dạy vô ngôn của Người bằng cách dùng chiếc mũ này. Lần đầu tới Kim Sơn tự, con cảm thấy khá tốt. Con thấy như đang ở nhà  ngoại trừ việc lễ lạy, đặc biệt là thực tập lễ lạy. Thế rồi trong một buổi giảng Kinh khuya, Sư Phụ nói “Hình như có người luôn muốn mình là đệ nhất. Họ luôn muốn tìm kiếm một chiếc mũ cao để đội… muốn tất cả mọi người đưa họ một chiếc mũ cao và mọi người sẽ tung hô “Thầy ấy thật vĩ đại. Thầy ấy là số một” Chẳng phải thế này sao?” Những lời đó đi thẳng vào tâm con. Chính xác đó là thái độ của con và Sư Phụ đã nhìn thấy, đã đọc được. Đêm đó con đã lạy Sư Phụ, chỉ có điều chiếc mũ cao của con vẫn không rơi xuống trong lúc lạy.    

Con cảm nhận rằng, bằng việc chà sát chiếc mũ xuống bùn, Sư Phụ đang nói “Vậy là giờ đây con thấy được chút ít rồi đó. Tất cả đều được sám trừ nếu con có thể thay đổi để tốt hơn. Đây, đội mũ lên, nhưng nhớ rằng đó không phải là vương miện đâu. Đừng  chạy ra ngoài và làm hoàng đế nữa”.    

Tu Di xô đổ giữ tâm bình

Ganh tỵ kiêu căng tuyệt bóng hình

Tu Phật phải đâu cầu diệu quyết

Buông tâm xả tướng đạo viên thành (*).  

Hòa Thượng Tuyên Hóa

 

Một chiếc mũ bẩn và một bài học về vạn vật bình đẳng. Không ai là số một cả. Cái bản chất thì phẳng bằng như mặt đất. Hãy khiêm nhường. Giữ tâm tàm quý và từ bi. Hãy buông bỏ tất cả, thành  Phật sẽ tự biết. Kệ rằng:    

Tội từ tâm khởi, đem tâm sám.

Tâm đã tịnh rồi tội cũng không.

Tâm tịnh, tội diệt, thảy đều không.

Ðó gọi là chân sám hối.  

Bạch Sư Phụ, con vô cùng hổ thẹn về cái ngu si của mình và về những rắc rối con đã gây ra. Con sẽ thay đổi. Con không muốn “quay lại lâu đài” làm một vị hoàng đế nữa. Ngôi nhà của con là Phật, Pháp, Tăng thập phương thường trụ. Con sẽ quay lại trần tục và giác ngộ. Con sẽ gắng hết sức, lạy sám hối.  

An lành trong Đạo  

Đệ tử Quả Đình (Hằng Triều)

cung kính đảnh lễ

* * *

“…đứng trên đôi chân mình”

Đã có lúc con nghĩ rằng tự mình có thể nghênh ngang lên núi tu giác ngộ. “Ai cần một người thầy chứ?!” Con đã nghĩ vậy. Nhưng ở một nơi nào đó trong thâm tâm, con biết rằng con cần một vị Thiện Tri Thức. Thật khó để tự mình nhận thấy những trò gạt gẫm của bản ngã và tất cả cảnh giới của tâm hiện ra khi tu tập. Con ma lớn nhất chính là tự ngã của mình và rất khó để vượt qua. Nó giống như việc một con dao cố tự cắt chuôi mình. Nhưng việc  có được một vị Thiện Tri Thức không đảm bảo thành công. Cần phải tuân theo sự chỉ dạy mới được.    

Tháng này Sư Phụ đã thăm chúng con. Trước khi đi, Ngài nhắc nhở chúng con thận trọng về việc tiếp nhận đồ cúng dường. “Phải hết sức cẩn thận” Chúng con đã không cẩn thận và bị ngộ độc thức ăn. Vào thời điểm chúng con bệnh nặng nhất, Sư Phụ trở lại. Ngài hỏi. “Có gì đặc biệt xảy ra không?”  

Con đáp “Có thưa Sư Phụ, chúng con bị bệnh 3 ngày nay rồi. Thức ăn không tốt.”  

“Ồ, thấy chưa?” Sư Phụ đáp với một nụ cười hiểu biết và cái nhìn chứng tỏ “Thầy đã cảnh cáo rồi mà, thấy chưa?”  

Trong suốt chuyến viếng thăm bên đường, Sư Phụ và con nói về thức ăn, dục tính và tu hành. Con nói “Thưa Sư Phụ, hai năm trước ở Los Angeles , Sư Phụ bảo chúng con rằng hành giả ăn đồ ăn ngon có thể gây cản trở cho đạo nghiệp của mình do chứa quá nhiều năng lượng. Con đã không tin, nhưng giờ con biết đó là sự thật”  

Sư Phụ: “Các con chỉ là những đứa trẻ. Đương nhiên là không tin rồi”.  

Con tự nghĩ “Sẽ không bao giờ con không tin và con sẽ luôn tuân theo chỉ dạy của Sư phụ”    

Sư Phụ nói  “Hãy nắm giữ  năng lực dư thừa đó và nhẫn nại khi nó muốn phóng chạy ra ngoài - chính đó là tu hành. Nếu không… (Hòa Thượng tả một quả bóng căng phồng khi thấy một thứ gì đó hấp dẫn và ngay lập tức xì hơi). Cái con thấy khiến con điên đảo và hốt nhiên con xả ra. Rồi sẽ không còn rắc rối, không còn sức ép nào nữa. Nếu con không thể xả ra, đó chính là tu hành. Nó ở ngay ‘đây’”.    

Ngày hôm sau ấy, sức ép trong con thật  dữ dội và dao động rất mạnh. Chúng con nghỉ giải lao để thiền. Con chộp lấy cái chậu rửa để dọn dẹp. Khi con quay ra cửa, có một người phụ nữ đẹp đứng ngay trước mặt chặn đường, vừa cười vừa nhìn con chằm chằm. Cô ta nhẹ nhàng hỏi  “Chào thầy, thầy đang làm gì vậy?” Con bắt gặp ánh mắt cô  ta và mất chánh niệm trong một thoáng giây. Như một quả bóng đầy hơi…. ”đột nhiên không còn rắc rối nào nữa, không còn sức ép nào nữa”. Gắng một lần nữa, và lần này làm theo lời Sư Phụ dạy.

Nguyn tt c chúng sanh thừơng được gp g chư thin tri thc, phụng hành chng trái li dy.  

Kinh Hoa Nghiêm – phẩm Thập Hồi Hướng

Con không thể tin được! Sao con lại có thể chậm chạp và ngu si đến vậy! Hôm trước đã nhận được lời dạy rõ ràng đến thế, vậy mà con lại không thể “phụng hành” được. Những lời dạy đúng lúc và chân thật của Sư Phụ lọt vào tai này rồi lại  ra tai kia và lần nào con cũng vấp ngã.    

“Con có thể đứng trên đôi chân mình” không phải là sự khẳng định của một sức mạnh thực sự. Nó đến từ vọng tưởng, không phải do điều phục tự ngã mà do tự ngã không muốn bị điều phục. Con đã vội vã, đã gượng gạo độc lập – hành động của một bản ngã nổi loạn, không phải giải thoát chân chánh. Con vừa chấp cảnh giới liền bị vọng tưởng làm cho điên đảo. Tự ngã kháng cự cái chết bằng các cách thật khó tin và khó nhìn thấu được. Đây chính là sự quan trọng của Thiện Tri Thức: dù con có tuổi đời bao nhiêu đi nữa thì tuổi trí huệ của con vẫn chỉ là của một đứa trẻ mà thôi. Có  câu rằng không thể tin vào tâm ý mình cho đến chừng nào chứng tứ quả A La Hán… huống gì chỉ mới là sa di tập sự?  Ngay khi nghĩ rằng mình đạt được cái gì đó cũng chính là thời điểm chín muồi để mất. Lên thì khó, mà xuống thì dễ. Có một vị Thiện Tri Thức là điều rất quan trọng.

 

Đệ tử Quả Đình

cung kính đảnh lễ

 

Ghi chú của ban Phiên Dịch Việt Ngữ:

 

(*) Tam tâm tứ tướng: ba tâm - quá khứ, hiện tại, vi lai; bốn tướng - tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả.

 


 

Đừng nghĩ!

28 tháng Ba, 1979

 

Kính thưa Sư Phụ,

 

Hãy nhận thật lỗi mình,

Chớ bàn tới lỗi người.

Lỗi người là lỗi mình,

Đồng thể, tức Đại Bi. 

Hòa Thượng Tuyên Hóa

 

Bạch Sư Phụ, thật buồn cười, con không còn có thể chỉ trích ai được nữa. Trong những ngày này, hễ thấy có gì để chỉ trích là ngay lập lức tâm con phản hồi “Khoan đã, ta không nhớ chính ta cũng đã từng vậy sao? Sao ta có thể đứng tách biệt với mọi người và phán xét họ chứ? Hãy hồi quang. Ta đang thấy và chê trách lỗi lầm của chính mình đó. Lấy thí dụ chẳng hạn, trông thấy một tay đua tăng tốc trên khúc quanh, con nghĩ “Sao hắn có thể gây nguy hiểm cho mình, cho người như thế, chỉ vì hào hứng cảm giác mạnh thôi sao?” Rồi con nhớ lại mình cũng đã từng phóng xe thế nào – đâu có khác gì. Hãy hồi quang. Không gây chiến.  

Con trông thấy những người khách du lịch nhảy ra khỏi xe, chạy lên và chụp hình cầu Cổng Vàng (Golden Gate), chụp bờ biển đẹp rồi nhảy trở lại xe và phóng đi mà chưa bao giờ thực sự ngắm cảnh, chưa bao giờ ở đó. Có vẻ như đó là một việc làm vô nghĩa. Sau đó con lại nhận được tiếng chuông cảnh báo: “Đừng chỉ trích! Hãy hồi quang. Ta đã từng sống rời xa hiện tại. Mắc kẹt với những ưu lo, những giấc mơ, những ảo tưởng tương lai, chân ta hiếm khi chạm đất. Ta là ai mà đòi chỉ trích người khác? Chỉ là ta đang thấy và bác bỏ tập khí bất thiện của mình mà thôi”. Chuyện gì đang xảy ra vậy? Đó gọi là “chấp tướng” và bị vọng tưởng làm cho mê loạn. Kinh giải thích điều này như sau:  

Tất c thế gian trong mười phương

Đều là chúng sanh tưởng phân bit

Nơi tưởng, phi tưởng không ch được

Vi các tưởng Bồ Tát rõ thu như vy.  

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Hồi Hướng

 

Con bị vọng tưởng lừa gạt hàng bao năm rồi! Con cảm thấy việc gì cũng phải có kế hoạch trước. Con lập ra một danh sách các kế hoạch và ấn định chi tiết trước khi hành động. Tất nhiên con không bao giờ thấy vui lắm. Con bị ràng buộc bởi những suy tính trong tâm trí. Con tìm tự lợi từ mọi hướng. Con biết kết quả trước cả khi thi đấu. Thua cuộc ư? Không bao giờ!  

Tại sao con luôn thấy mệt mỏi và nặng nề? Đó là vì tâm phân biệt đúng sai, cầu lợi và trốn chạy nỗi sợ thua cuộc đã làm hao tổn khí lực, để rồi cuối cùng là tuyệt vọng. Các việc đúng sai không bao giờ chấm dứt. Chỉ có từ bỏ tìm cầu tự lợi thì tâm mới bình an được.  

Về hành trình Tam bộ nhất bái, Sư phụ đã khai thị “Đừng khởi bất kỳ vọng tưởng nào” “Đừng nghĩ.” Tại sao? Vì Bản ngã, vì cái Tôi cầu lợi là ảo tưởng trú trong vọng tưởng của chúng ta. Ngã là ông chủ, đẩy chúng ta vào cuộc truy đuổi danh lợi lố bịch. Khi niệm ngừng bặt và Ngã không còn thì nơi đâu cũng an bình. Các pháp đột nhiên đều phằng lặng rỗng rang. Mọi hình tướng, đúng sai đều biến mất vì tâm không còn cần tách biệt và gán danh tự cho mọi thứ nữa, không còn cái Tôi để bảo vệ. Ma quỷ bị chế phục và mỗi ngày đều an lạc.

 


 

Phụng sự Phật pháp

30 tháng 3, 1979

Phía Trên Bãi Biển Stison

 

Kính thưa Sư Phụ,

Sự nhiệm màu của Kinh Hoa Nghiêm luôn khiến cho chúng con phải ngạc nhiên. Những thay đổi diễn ra thật rõ ràng vào lúc chúng con tụng Kinh sau mỗi thời công phu khuya. Nếu chúng con có căng thẳng và lo lắng vì vọng tưởng và thói xấu thì Kinh xoa dịu và tiếp thêm dũng khí để chúng con tiến bước. Nếu chúng con có cáu kỉnh hay cảm thấy lệch lạc thì Kinh lại làm cho tâm lắng xuống và đưa chúng con quay trở về nhà. Còn nếu chúng con hoan hỷ thì Kinh phóng hào quang tán dương.  

Cách đây vài tuần, có một đêm con thấy đầu nặng trịch, thân thể đau nhức đến từng khớp xương. Con sẵn sàng gây chiến hoặc làm bất kỳ điều gì để xả cái khí này ra. Nhưng khi con mở Kinh để dịch phần Hồi Hướng Thứ Tám thì cái hỏa khí ấy lại chuyển thành một thứ cảm giác của lòng từ bi, sáng rõ như ngọc lưu ly. Nhận ra cảnh giới của mình, con thu lại ánh sáng mà mình chuẩn bị phóng ra. Đọc Kinh xong, khi con đang với tay lấy cây hương để bắt đầu tụng chú Lăng Nghiêm thì hốt nhiên con thấy hiện ra  một cảnh tượng về thời đại và tầm quan trọng của Kinh. Thời gian dường như ngừng trôi khi cảnh tượng lóe lên. Đây là những gì con nhìn thấy, nó giống một cuốn phim, cứ như Hollywood đã quay một câu chuyện để làm sáng tỏ một kho báu hiếm có, đó là Phật pháp.  Phật pháp rộng sâu rất nhiệm mầu

Một đoàn người thuộc mọi độ tuổi và chủng tộc đang đi qua những hang động sâu và nhiều nguy hiểm. Con đường dài, hẹp và lắm gian truân. Hành trình của họ đòi hỏi sự can đảm, sức chịu đựng và cả niềm tin. Có rất nhiều khảo nghiệm và chướng ngại, nhưng họ vẫn đi mà không hề nhàm mỏi. Họ được một luồng ánh sáng vàng thanh tịnh dẫn lối qua mọi hiểm nguy. Trên vách hang là dấu tích của các nền văn minh cổ đại. Đoàn người đi qua các nấc thời gian vô tận. Từng lớp, từng lớp thế giới cứ đi qua cùng với những câu chuyện về sự sống và cái chết được tạc lại trên đá.  

Cuối cùng, đoàn lữ khách cũng tới được nguồn sáng vàng. Đó là một pháo đài bí mật, che giấu bên trong là một thư viện. Thư viện làm bằng kim cương và được phép thuật khóa lại.  Chỉ những người có phước báu và thiện căn mới vào được. Có Trời, rồng, quỷ thần giữ cửa.  

Vào được bên trong rồi, đoàn người đi về phía những kệ sách đặt ở những phòng ngoài. Trên đó chứa những cuốn sách về tri thức cổ đại: hành tinh, cây cỏ, toán học, âm nhạc, ngôn ngữ, văn học, và bộ sách bách khoa thủ công và lễ nghi. Đoàn người đi qua những kệ sách của tri thức thế gian này. Tri thức ấy quý giá và đáng bảo tồn, nhưng luồng ánh sáng dẫn họ  tới một cánh cổng khác bị khóa ở giữa thư viện. Những ng sĩ uy nghi, cao lớn và thuần khiết bảo vệ hầm mộ này. Họ bày tỏ lòng tôn kính sâu nặng với nó. Trong hầm là một rương châu báu phát ra ánh sáng ngọc ngà chói lọi. Đây là nơi trang nghiêm tối thượng, nơi các vị thánh linh thiêng ẩn náu, là đỉnh cao của trí tuệ vĩnh hằng.  

Nắp rương cót két mở và tỏa hào quang thanh tịnh rực rỡ. Đoàn người nín thở quan sát bên trong: những cuộn giấy bị nhàu và một tấm giấy da nát như mạng nhện. Chữ đã mờ, các dấu không còn, khó có thể đoán được nghĩa. Không có ai học hỏi trí tuệ này từ rất lâu rồi, rất ít người thực hành theo. Nhưng có một sự  cảm nhận chung quanh rương. Đoàn người nhận ra đây là một bảo vật vô giá, một kho tàng quý giá cần phải được giữ gìn và bảo vệ bằng mọi giá. Kho tàng quý giá này phải được trân quý và tất cả mọi nơi đều phải biết đến. Chân lý của nó phải được mọi người thực hành.  

Nhóm người ngồi xuống phía dưới chân của người lãnh đạo, một người có trí huệ và kinh nghiệm. Ông chỉ cho mọi người biết làm thế nào để tôn kính kho tàng quý giá này cho đúng. Ông giảng cho họ nghe về nó. Ông gọi đó là Pháp, những nguyên lý tối thượng, con đường chấm dứt khổ đau, những phương pháp để đạt đến an lạc vĩnh hằng chân thật.  

Con nay nghe thấy chuyên trì tụng

Nguyện rõ Như Lai nghĩa nhiệm mầu  

Đoàn du hành rất hoan hỷ. Họ đã nhận chân được giá trị của điều mà họ khám phá được và vận may này khiến họ hết sức ngạc nhiên. Họ cùng lập đại nguyện quy mạng Pháp để bảo vệ, truyền đạt, thực tập và khiến cho Pháp được tuyên lưu ở bất kỳ lúc nào, bất kỳ nơi đâu trong tương lai. Khi họ lập nguyện, luồng ánh sáng tỏa ra từ chiếc rương chói sáng gấp đôi. Những câu văn lại có sự thay đổi: chữ trên các trang giấy cổ xưa càng lúc càng rõ hơn. Những cuốn sách có được sinh khí mới và năng lực mới.  Các vị Bồ-tát hộ pháp, trời, rồng đều hoan hỷ. Những lời  nguyện của nhóm người đã phục hồi lại chánh Pháp và giữ cho lưu truyền trên thế gian.  

Luồng sáng từ hầm mộ trong thư viện bí ẩn kia chiếu xuyên qua các vách hang, chiếu sáng cả vũ trụ và mọi nền văn minh trong vô lượng thời gian. Bỗng đoàn người thấy chân mình không còn chạm đất. Giờ họ đứng trên mt đỉnh núi thanh khiết, tráng lệ.  

Họ có được vô số phương tiện thiện xảo để truyền Pháp tới tất cả chúng sanh trong đại gia đình của mình. Người lãnh đạo nhóm giải thích rằng thư viện bí mật kia cũng đồng ở trong tâm họ. Nhưng cần có chuyến đi xuyên qua hang động và đương đầu với những hiểm nguy gian truân để tìm ra. Đoàn người vui mừng khôn xiết, và với tinh thần đại tinh tấn, họ xuống núi để làm hoàn mãn thệ nguyện của họ. Họ biết rồi sẽ còn gặp lại nhau.  

Đó là cảnh tượng, và khi con nhìn kệ Kinh sách trong chiếc xe Plymouth của chúng con chứa đựng những quyển Kinh tiếng Anh và tiếng Hoa in rõ ràng được bọc gọn gàng, con hiểu rõ chúng con không được xem thường s may mn của mình.  

Các đệ tử của Phật được thấm nhuần chánh Pháp thanh tịnh nhất. Trách nhiệm tối cao của chúng con đó là giữ cho những nhận thức về bảo vật của chúng ta được tồn tại. Sự có mặt của chánh pháp trong chúng con, con đưng chân tht đi đến Pht qu,  là những châu báu hiếm có nht. Không có gì không huyền diệu cả.  

Cũng giống như các thành viên trong đoàn người trong tâm cảnh con thấy kia, hạnh phúc của con khi được phụng sự Phật pháp và đem thân mạng hiến cho Tam Bảo thật vô cùng vô tận.  

Đệ tử của Phật,

Quả Chân (Hằng Thật)

Cung kính đảnh lễ

 


 

Từ bi là vô thượng

Tháng Tư, 1979
Xa lộ Shoreline, Stinson Beach
 

 

Kính thưa Sư Phụ,

Đây là một kinh nghiệm của con trong suốt mùa lễ năm ngoái mà đến giờ con mới có thời giờ để viết.  

Tôi phải cứu vớt tất cả chúng sanh này đặt họ ở chỗ rốt ráo an lạc.Vì vậy Bồ Tát liền phát trí tuệ đại từ bi.

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Địa

Tâm từ bi là vô thượng, có thể khiến ta luôn hoan hỷ bởi có được nhờ việc bố thí và khiến người hoan hỷ. Bố thí khiến mọi người đều hoan hỷ. Muốn thực sự từ bi thì phải cho đi bản thân, cho đi phiền não, buông xả tất cả.  

Cáu kỉnh, hà khắc thì dễ thôi

Can đảm mới có được lòng từ

Keo kiệt và ích kỷ tự nhiên

Đến với kẻ nhu nhược kém cỏi

Có sức mạnh mới có lòng bi

Chấp ngã không phải là trí tuệ

Cần có niềm tin để giải thoát

Nghi ngờ, sợ hãi thì hám lợi

Muốn hạnh phúc thì phải cho đi.

 

Giáng Sinh năm ngoái, khi con đang lạy dưới bóng lạnh lẽo  của những tảng đá, bỗng văng vẳng bên tai giọng nói của người thầy từ bi và trí tuệ, đã cho con niềm tin và sức mạnh. Người nói “Lẹ lên, hãy buông xả hết đi. Sư phụ sẽ đỡ nếu con trượt ngã.” Trong thâm tâm, con nhắm mắt bước qua vực thẳm, và thấy mình đã sang bờ bên kia.  Tâm con không mảy may một niệm, an lạc và  nhẹ nhàng là niềm vui tinh khiết. Mọi thứ đều ổn. Tâm con muốn trao tặng niềm hạnh phúc con đã cảm nhận này đến mọi chúng sanh. Con cảm thấy từng nguyên tử thô cứng và ích kỷ vi tế trong thân con tràn ngập ánh sáng của lòng từ bi.

An tr tâm x, các căn thơ thi, công đc tăng trưởng, phát chí nguyn lành, thường ưa tu hành hnh b thí rng ln.  

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Hồi Hướng

Ngay sau đó con ra khỏi bóng râm và lạy dưới ánh nắng. Và con đã nhìn thấu vào cái tâm ích kỷ, sợ sệt này, cái tâm mà bấy lâu nay con đã hằng sống với nó.  Khi con cầu lợi từ người khác, khi con mong họ  chấp thuận, đó là lúc con không thể có lòng từ. Khi con chấp ngã và làm người khác sợ, đó là lúc con không thể có lòng từ.  Mong cầu sự chấp thuận và sợ  đau khổ là nguyên nhân của khổ đau. Chính tâm con đã tạo ra tất cả. Sự sợ hãi chính là độc tố và nỗi đau, không phải đối tượng gây sợ hãi đã gây ra nỗi đau. Hãy từ bỏ sự phóng chiếu thói quen sợ hãi, ngừng mong cầu tự ngã, hãy hồi quang và hạnh phúc sẽ ngập tràn thế gian.  

Nương tựa lời Thầy, con thêm sức mạnh

Sức mạnh tiếp dũng khí để tu hành

Dũng khí giúp con cởi bỏ sợ hãi

Không còn sợ hãi, an vui tự đến.  

Ngày hôm đó con nghỉ ngơi trong tâm hoan hỷ. Con cảm thấy luồng hắc khí tan biến khỏi cơ thể. Lòng từ bi đến thật tự nhiên khi thực hành bố thí. Càng xả thí, tâm từ bi càng tăng trưởng; càng từ bi, tâm càng hoan hỷ. Giữ tâm hoan hỷ là chuyện dễ làm khi chúng ta bố thí khiến người an vui. Với thiện niệm, ta luôn hạnh phúc và mong chia sẻ để người khác cũng được hạnh phúc. Như vậy làm đầy tràn lại nguồn hạnh phúc nguyên thủy mà không bao giờ vơi cạn.    

Bố thí pháp là bố thí tối thượng và nhận được trở lại hạnh phúc tối thượng.  

Xuất gia tu đạo là từ bi tối thượng vì khiến một người có thể bố thí Pháp không ngừng nghỉ.  

Khi bái lạy trên con đường đầy đá, con nhận thức được việc thực hành Phật Pháp tốt đẹp thâm sâu biết bao.  Niệm danh hiệu Phật là đại từ và đại thiện. Khi bái lạy, chúng  con niệm danh hiệu Kinh Hoa Nghiêm và Hoa Nghiêm Hội Thượng Phật Bồ-tát. Mỗi một lần lạy, chúng con  niệm chữ “Phật” hai lần và “Bồ-tát” một lần. Chỉ riêng việc đơn giản này là một hành vi hạnh phúc, là một cách bố thí cho người khác. Đó là một thiện hạnh. Nó đủ để làm thế gian và trái tim (không phân biệt) tràn đầy ánh sáng, hoan hỷ và an lạc. Tất cả hạnh phúc đều bắt đầu bằng bố thí, bỏ đi cái tôi, quán sát giải thoát.  Thật tốt đẹp biết bao khi biết đủ và không mong cầu, không còn bị trói buộc bởi phiền não do chúng ta tạo nên chỉ vì Bản Ngã.  

Đạt  vô cầu xứ tiện vô ưu. (Đạt đến chỗ “không mong cầu” tất hết lo)  

Hãy biết đủ, buông bỏ phiền não, lòng nghi và sợ hãi.  

Tri túc thường lạc,

Năng nhẫn tự an  

(Biết đủ, luôn vui.

Nhẫn được, tất yên)  

Đánh tan mọi ý niệm về Ngã. Dừng khởi niệm và sanh tâm hoan hỷ. Sau đó rải tâm từ và ban vui cho người. Bằng cách nào đây?  Bố thí Phật pháp bằng cách tu tập.  

Bồ tát nguyện rằng tất cả chúng sanh sẽ thành tựu nói lên Phật đạo đi đến Bồ Đề, và luôn hoan hỷ bố thí tối thượng Pháp.

Kinh Hoa Nghiêm - Phm Thp Hi Hướng  

Sáng hôm đó, gia đình một đạo hữu đến tham gia lễ lạy và “hiện thân thuyết Pháp.” Người qua đường nhìn bảy đệ tử Phật lễ lạy trên xa lộ, tu tập con đường Bồ đề với tâm hoan hỷ.  

Bồ tát tu hạnh bố thí , khiến cho tất cả chúng sanh đều hoan hỉ.

Kinh Hoa Nghiêm

 

Tu hành xả thí

Xả sinh hỷ

Hỷ sinh từ bi và xả

Từ bi khiến tu hành

 

Trạng thái này có tồn tại không? Không. Đó là một cảnh giới, mà cảnh giới thì do tâm tạo, chúng thay đổi như thời tiết vậy. Đó là lẽ tự nhiên. Con không mong cầu mà tự nó đến. Con không bám chấp mà tự nó đi. Phải nói rằng trong suốt 29 năm sống trên đời này, đây là niềm hạnh phúc lớn nhất mà con có được. Chừng nào chưa hoàn toàn buông bỏ được tự ngã, con vẫn sẽ bị chuyển và trôi trong dòng chấp trước và khởi vọng tưởng. Khi thì hoan hỷ, khi thì phiền não. Con không muốn thế này và cũng không muốn thứ khác đi. Con chỉ muốn nhất tâm tu Đạo và thật sự học bố thí. Con muốn hợp nhất trí tuệ của mình với trí tuệ của Kinh.

 

Bồ tát trong mỗi niệm đều tăng trưởng viên mãn hạnh bố thí.

Kinh Hoa Nghiêm

 

Đệ tử của Phật,

Quả Chân (Hằng Thật)

Cung kính đảnh lễ

 


 

B Đ đo tràng nơi hoang

Tháng Tư, 1979

Gần bờ biển Stison , California

Kính thưa Sư Phụ,

Tâm nguyện chúng con lại thêm sâu mỗi ngày. Mỗi lần chúng con đương đầu với ma chướng là một lần mạnh hơn và hoan hỷ hơn trong Đạo. Cả ngày hôm qua, con đã vật lộn với “con quỷ hoài nghi”. Con quỷ này không đến từ bên ngoài mà lại chính là vọng tưởng của con. Con nương nhờ nguyện lực và trí tuệ của Sư Phụ để hàng phục nó. Hôm nay thấy vạn vật dường như đổi khác. Thế gian chẳng đổi, mà chính là tâm con thay đổi.

Sức nặng và bụi bẩn của tất cả sự hoài nghi, của vọng tưởng đều được nhấc bổng lên giống như những đám mây đen sau cơn bão miền duyên hải. Thứ con nhìn thấy rất đơn giản. Trong muôn dặm, vạn vật đều sáng trong, vắng lặng. Là tu sĩ đã được 2 năm rồi nhưng tu viện duy nhất nơi con sống chính là tâm con.  

Tại Hồng Kông,  Sư phụ đã nói “Trực tâm là đạo tràng” khi cùng mọi người leo lên ngọn đồi dốc để lên thăm một đạo tràng giản dị, Tây Lạc Viên. Câu nói đó luôn ở trong con. Hôm nay con thấy mình quay về đó giống như trở về nhà vậy. Tây Lạc Viên để lại nhiều ấn tượng. Rừng thô, đá gồ ghề, tĩnh lặng, ánh nắng chiếu rọi qua cây và xuyên qua những khung cửa.  Ở đây không có gì dư thừa mà cũng không có gì được trang trí cả. Nó giống như một nơi chốn giản dị trong miền hoang vắng chỉ với mục đích che mưa nắng và để ngộ Đạo bên trong.

Tu viện của con, tâm con, nên tự nhiên không tô điểm và đơn giản như thế. Cái gì thực sự quan trọng? Việc của con là làm một con người thật sự,  buông bỏ tất cả những vỏ bọc ganh tị, kiêu căng, keo kiệt và phiền não. Việc thiện nhất mà con có thể làm ngay lúc này là dọn dẹp đạo tràng của mình và thực sự thanh lọc tâm ý. Bỏ  lại phía sau mọi vọng tưởng và "vô tâm dụng Đạo” Không nghĩ tưởng về quá khứ, hiện tại hay vị lai. Không tướng ngã, nhân, chúng sanh, thọ mạng. Con nên tu hành tinh tấn, sống giản dị, gần gũi với thiên nhiên và không gây phiền toái chướng ngại cho người. Chỉ cần “thanh tịnh, hỷ lạc”, đó chính là lời Phật dạy. “Tránh làm điều ác. Làm các điều lành. Thanh tịnh tâm ý. Theo lời Phật dạy.”  

Con cảm thấy như mình đang bắt đầu từ đầu: xây dựng một đạo tràng thanh tịnh nơi hoang dã. Cố gắng từng bước trở nên chân thật trong cái chân thật. Trong mỗi một niệm chế phục tham, sân, si, và trở về với đạo lý. Quét tất cả tướng, liệng bỏ tất cả các pháp. “Luôn luôn phải lau chùi, chớ để dính bụi nhơ” .  

Công việc nền tảng là nhất tâm bái lạy. Bái lạy san bằng lâu đài mạ vàng mà con tự giam mình trong đó. Sống gần thiên nhiên là giữ tịnh giới và bảo vệ tâm tránh khỏi các sai lầm. Thật rõ ràng rằng không có gì ở ngoài cả; tất cả đều do tâm tạo.

Nếu người muốn rõ biết

Tất cả Phật ba đời

Phải quán pháp-giới-tánh

Tất cả duy tâm tạo.

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Dạ Ma Cung Kệ Tán  

 

Chúng con đã đọc vài dòng Kinh Hoa Nghiêm vào đêm trước đó, những câu kinh ấy thực sự đi vào tâm con. Con nghĩ “Điều này thật hay và thật đúng. Mình nên như vậy. Nhưng mình không như vậy. Nên bắt đầu từ đâu?” Ngày hôm sau con nhìn thấy điều  này và nhận ra rằng tất cả chư Phật quá khứ, hiện tại, vị lai đều chỉ do tâm tạo. Con nên bắt đầu ngay từ nơi con: thanh tịnh giác địa của chính mình, sửa lại tâm chính mình. Đây chính là Đạo tràng chứ không phải nơi nào khác.

Đây là những câu kệ chúng con đọc từ Kinh Hoa Nghiêm:   

Bồ tát đầy đủ bình đẳng của Chư Phật quá khứ,

thành tựu bình đẳng của Chư Phật vị lai,

an trụ bình đẳng của Chư Phật hiện tại;

đi nơi cảnh giới của  Chư Phật quá khứ,

trụ nơi cảnh giới của Chư Phật vị lai,

đồng với cảnh giới của Chư Phật hiện tại;

được thiện căn của tam thế Chư Phật,

đủ chủng tánh của tam thế Chư Phật,

trụ nơi công hạnh của tam thế Chư Phật,

thuận với cảnh giới của tam thế Chư Phật.

Kinh Hoa Nghiêm

Phẩm Thập Hồi Hướng

 

An lạc trong Đạo,

Đệ tử Quả Đình (Hằng Triều)

cung kính đảnh lễ

 

Tái bút: Tháng trước, khi Sư phụ tới thăm chúng con, Ngài nói: “Ngày mai là ngày vía Quán Âm. Chúng ta sẽ có Thất Quán Âm. Tối nay chúng ta sẽ sái tịnh đạo tràng ( Sư phụ mỉm cười). Các con có khởi niệm tham, muốn được về Vạn Phật Thành tham gia phải không? Nhưng đừng lo, đối với hai con đang đi Ba Bước Một Lạy, mỗi ngày đều là ngày có Thất Quán Âm, và mỗi ngày các con đều ở Vạn Phật Thánh Thành."

Trực tâm là Vạn  Phật Thánh Thành. Khi tâm ngay thẳng thì cho dù đang ở đâu cũng vẫn là ở Thánh Thành. Khi tâm không thẳng thì cho dù có ở Vạn Phật Thành cũng sẽ trở thành Bệnh viện cũ của tiểu bang mà thôi.  

Bồ-tát do người mà thành

Phật là do người tu tập

Trực tâm là đạo tràng, có hành mới hiểu;

Trực tâm là Phật Thành, các đức Phật được làm bằng tay.*

 

Ghi chú: * Tâm ngay thẳng là cõi Phật, chư Phật do thực hành mà thành. Còn ngụ ý Vạn Phật Thánh Thành là nơi tu hành trực tâm, các tượng Phật nhỏ (hơn 10 ngàn tượng trong Vạn Phật Điện tại Vạn Phật Thánh Thành) đều do chính tay Hòa Thượng đúc tạo nên.

 


 

NHẤT THIẾT DUY TÂM TẠO  

Tháng Tư, 1979

Gần Pt. Reyes, Bờ biển quốc gia

 

Kính thưa Sư Phụ,

Bồ tát dắt các chúng sanh đi qua đường hiểm sanh tử, đến thành Nhứt thiết chủng trí một cách an toàn. Vì lẽ trên đây nên Bồ Tát phải thường siêng tu.  

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Địa  

Con ăn, ngủ và đắp y mỗi ngày. Con không hề giải đãi về những công việc này chút nào. Tại sao con ăn, ngủ và mặc? Là để có thể tu hành, chứ không phải để ngày mai lại ăn, ngủ và mặc. Con nỗ lực là để tu hành. Con nên dũng mãnh và khẩn trương, tự giải thoát để có thể dẫn dắt chúng sanh “vượt qua sự hiểm nghèo của sinh tử”

Đêm qua, con tự nhủ: “Hiện ngươi đang đi trên con đường vô thượng, vậy mà ngươi vẫn chùn bước và tự dối lừa. Những lời dạy của Sư Phụ chính là những lời vàng ngọc, ngàn kiếp khó gặp, thế nhưng ngươi lại không thật trân quý. Hãy vượt qua  và phát tâm chân chánh để chấm dứt mọi khổ đau cho tất cả mọi chúng sanh. Đừng có giải đãi! Hãy bắt đầu bằng việc lễ lạy và hành thiền”. 

Vị Thiện Tri Thức bên trong chỉ dạy: “Đừng khởi vọng tưởng. Thứ gì con cho rằng không thể buông thì hãy buông hết ra. Tịnh hóa tâm ý, tâm này. Tất cả có ở trong tâm con chứ không phải bên ngoài. Vắng bặt vọng tưởng và tham độc chính là giác ngộ. Chú tâm đến cực điểm trong khi đi, đứng, nằm, ngồi. Nhất tâm chăm chú, vượt sang bờ bên kia”. Những lời dạy đơn giản thường chứa đựng chân lý thâm thúy nhất.

Đêm qua, trong khi thiền định, con đã đấu tranh với cái đau đớn và tâm bực dọc nhu nhược của mình, nó luôn muốn từ bỏ để làm việc khác. Thật bất ngờ, câu kệ trong Kinh Hoa nghiêm hiện lên:

Lòng chẳng vọng chấp pháp quá khứ

Cũng chẳng tham lấy pháp vị lai

Chẳng thấy hiện tại có pháp trụ

Rõ thấu tam thế đều trống lặng  

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Hồi Hướng  

Tất cả vọng tưởng của con bén sâu trong ba thời. Nếu con nhất tâm thì không có thời cũng không có không (vô) thời. Chỉ là không có gì cả. Tất cả đều “hoàn toàn vắng lặng”. Con động viên mình “Trong việc bái lạy và thiền định, từ giờ trở đi, mi phải thấy như vậy. Chỉ cần “vô niệm/tâm”. Không lo lắng, sợ hãi. Đừng để bị lôi cuốn quá. Hãy buông xả mọi hoài nghi và vọng tưởng.” Thế còn tham chấp thì sao? Con nghĩ những điều con thích và những điều con sợ, những thứ con muốn và những thứ con không muốn. Thứ này, thứ kia, tất cả mọi thứ. Những thứ trong quá khứ con mong có, những thứ con giữ chặt trong hiện tại, và những thứ sẽ đến ở vị lai. Con thầm nghĩ “ngươi định buông bỏ tất cả những thứ trói tâm mình ra sao đây?” Thế rồi, cũng giống như lần trước, Kinh Hoa Nghiêm hiện ra từ nơi trống rỗng của tâm con, với một đoạn mới được phiên dịch.  

Nếu Bồ tát có thể không hệ phược với các pháp, thời đối với các pháp cũng không giải thoát. Bởi vì không có chút pháp nào là hiện sanh, đã sanh, sẽ sanh. Không có pháp nào có thể lấy, có thể chấp.Tất cả các pháp : tự tướng nó là như vậy.

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Hồi Hướng

Bùm! Có gì rõ ràng hơn thế? Trong hai đoạn kinh văn này là tất cả những gì con cần để làm lắng xuống cái tâm rong ruổi đầy lo lắng của mình. Không lý do gì để con có thể tiếp tục những việc như trước đây: tu hành một chút thì vọng tưởng một chút; tu hành bao nhiêu thì chấp bấy nhiêu. Không hiểu sao, đêm qua, Kinh Hoa Nghiêm đã mở ra một cánh cửa trong tâm con. Trí tuệ của kinh tiếp cho con động lực cần thiết để con được “chín chắn”.  Chỉ còn lại sự thực hành duy  trì liên tục “tâm thanh khiết, tiếp tục, tiếp tục”. Nếu cuối cùng con không làm cho mọi hoài nghi và những huyên thuyên ngu ngốc của tâm ngừng nghỉ thì ai sẽ làm đây? Bên ngoài không có nơi nào để dựa dẫm, bên trong không có nơi nào để che giấu. Giờ con đã biết rõ rằng vọng tưởng của mình không ổn, những thứ con chấp không phải là thật. Hầu như trong hai năm và chỉ đến giờ con mới thực sự sẵn sàng để bắt đầu nhất tâm bái lạy Vạn Phật Thành.

Tiết trời đang vào xuân. Toàn thể thế gian đang thuyết pháp. Kinh Hoa Nghiêm khắp nơi nơi và mọi thứ đều thuyết giảng “nhất thiết duy tâm tạo, nhất thiết duy tâm tạo”.

Tri ân và hoan hỷ trong Đạo.

đệ tử Quả Đình (Hằng Triều)

cung kính đảnh lễ

 


Bồ Tát Đạo là nhà

Tháng Tư, 1979

Gần Pt. Reyes, California  

Kính thưa Sư Phụ,

Có người nói: “Đi làm đi! Thật uổng phí tài năng làm sao”. Có người lại nói: “Đúng, nhưng tại sao các ông lại từ bỏ những thứ tốt đẹp trên đời? Các ông có thể sống thật thoải mái… một công việc tốt và mọi thứ”.  

Tại sao chúng con không “thành đạt”? Khi con đang hoc đại học,  số sinh viên còn nhiều hơn số việc cần tuyển. Ai nấy đều căng thẳng, hồi hộp và lo lắng, cạnh tranh khốc liệt đến mức giở trò gian lận và thần kinh suy nhược vì quá lo lắng. Quả thật, đã có nhiều người có thể nói là bị “bệnh lo”.  

Tình trạng này không chỉ xảy ra trong lãnh vực dạy học mà toàn bộ thị trường công việc đều thừa thãi người và rất khó để có được một vị trí tốt đẹp. Các bạn học của con, nhiều người đã kết hôn và phải chăm lo cho gia đình. Xoay sở để sống qua ngày không phải là chuyện đơn giản.  

Con cũng thấy có nhiều công việc được trả lương cao thì lại đòi hỏi rất nhiều thỏa hiệp. Sự thẳng thắn và tự do cá nhân dường như bị xếp sau để không gây xáo trộn và giữ được chỗ đứng tốt, do đó càng khiến người ta thêm lo lắng và bối rối. Họ lo không có được một công việc tốt, còn khi có việc rồi thì lại lo mất việc.  

Con đã tìm những công việc mà không mấy người muốn làm. Phần vì con cảm thấy sẽ bớt đi một người phải lo lắng chuyện kiếm việc hay mất việc, cũng như trợ cấp hay học bổng, cảm thấy như vậy là thành thật và không phải là việc gì to tát. Nó làm giảm đi phần nào sự dằn vặt của người khác và con thích sống một cuộc sống thảnh thơi. Cuộc sống đó cho con nhiều thời gian để nghiên cứu những thứ như yoga, thái cực quyền, đi bộ đường dài (hiking) và thiền định. Những thứ trên tuy không trang trải được mọi thứ nhưng thực sự rất hay.  

Khi bắt đầu giảng dạy, con thấy học sinh phải chịu rất nhiều áp lực và không hoàn toàn chắc chắn về cuộc đời mình. Họ có những câu hỏi: “Ta là ai, ta sẽ đi về đâu, thế giới này có quá nhiều bất công và cảnh bần cùng, ta sẽ làm gì đây?” Cái mà con cần dạy không giải quyết được nhu cầu thực tế của họ. Nó không phù hợp với thực tế. Họ học vì điểm, còn con dạy vì tiền lương. Làm sao cái thứ khiến cho các đồng nghiệp của con quá lo lắng và chẳng giúp ích gì cho các học sinh của con, lại đáng theo đuổi như một nghề nghiệp chỉ để kiếm được 15.000-20.000 đô một năm (1) ?  

Các  bạn sinh viên nhận được hàng trăm lá thư từ chối trên toàn quốc, và ghim chúng trên những cánh cửa văn phòng của họ. Trong các kỳ thi tiến sĩ, anh chàng ngay sát con trong phòng thi hoang mang đến mức đờ người ra. Anh ta chỉ nhìn chằm chằm vào bức tường suốt 8 giờ đồng hồ. Đây là cơ hội cuối cùng để thi đậu, nếu không, anh ta sẽ bị đuổi và mất học bổng đi châu Âu. Anh ta chỉ không chịu nổi áp lực. Khi con chia sẻ cảm tưởng với một vị giáo sư thâm niên trong phân khoa, ông nói một cách thẳng thắn rằng: “Thế nên tôi mới chọn lãnh vực này… anh có thể tránh được những việc này”. Mọi thứ đều như không đúng nữa sau đó.  

Bất cứ khi nào con cố giành được một công việc tốt hoặc một vị trí có tiếng tăm là con lại thấy nặng nề và không thành thật. Trong tâm con, con biết mình đang phan duyên, đang gian lận và đang quay lưng lại với lương tâm mình. Khi đó, chính phủ và các doanh nghiệp đầy dẫy nạn tham nhũng và các vụ bê bối. Gần như bất kỳ một công việc tốt nào cũng đều lôi kéo mình đến thứ tà khí này và càng gây thêm khổ đau cho thế gian. Đạo của thế gian là: “Anh mất thì tôi được, ai cũng vì bản thân mình cả”. Con không thể tham gia khi biết như vậy, và cũng không thể buông bỏ nó. Tại sao? Vì con muốn mình là số một ở tất cả mọi thứ. Ham muốn trở thành nhất, thành số một khiến tâm con không còn chân thật nữa và buộc con vào những nút thắt trong một thời gian dài.  

Ngay cả những công việc nhỏ cũng đòi hỏi phải “chịu nhục” (eating crow) (mà có lần thầy giáo con gọi là rút lại các nguyên tắc đạo đức của bạn để sống được trên đời). Cuối cùng, con làm công việc trực ca đêm tại khoa tâm thần của bệnh viện vì không thể chấp nhận những phương pháp điều trị sốc điện, thuốc phẫu thuật thùy não và vờ như không biết mình đang làm gì. “Chịu nhục” là sự thua thiệt của mỗi người. Không ai sống đơn độc một mình như một hòn đảo trơ trọi.  

Con không còn đủ can đảm hay ảo tưởng để tiếp tục. Con đứng giữa ranh giới của sự cố gắng “tồn tại” và làm những việc phải đạo. Chỉ đến khi tới Kim Sơn Tự (Gold Mountain Monastery), con mới bỏ được cái ranh giới đó và giữ vững lập trường. Bồ Tát Đạo là nhà.  

[Bồ-tát] có thể tự độ và khiến người được độ, tự giải thoát và khiến người giải thoát, tự điều phục và khiến người điều phục, tự được tịch tịnh và khiến người tịch tịnh, tự an ổn và khiến người an ổn, tự ly cấu và khiến người ly cấu, tự thanh tịnh và khiến người thanh tịnh, tự Niết-bàn và khiến người Niết-bàn, tự an lạc và khiến người an lạc.  

Phật tử, Bồ-Tát này lại tự nghĩ rằng : “Tôi phải tùy thuận tất cả Như Lai, rời tất cả hành vi thế gian, trọn nên tất cả Phật pháp, trụ nơi vô thượng bình đẳng, xem chúng sanh bình đẳng, rõ suốt cảnh giới lìa lỗi, dứt phân biệt, bỏ chấp trước, khéo xuất ly, tâm luôn an trụ nơi thậm thâm trí huệ vô thượng, vô thuyết, vô y, vô động, vô lượng, vô biên, vô tận, vô sắc.”

Phật tử, đây gọi là Đại Bồ-tát Nhiêu Ích Hạnh thứ hai. 

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Hạnh  

Giờ đây, chúng con có một “công việc tốt”,  được gọi là “hạnh nhiêu ích”. Cố gắng trở thành số 1 thật vô ích. Ích kỷ làm tổn phước và hao mòn bảo vật bên trong. Truy cầu tự lợi khiến cho toàn thế giới xấu thêm. Chúng ta làm việc cho đức Phật. Đó là công việc tốt nhất ở bất kỳ cõi nào. Bồ tát bố thí (cho tất cả chúng sanh) bằng việc làm Phật sự  (Kinh Hoa Nghiêm).

 

Đệ tử Quả Đình (Hằng Triều)

cung kính đảnh lễ

 

* * *

Tái bút: Chúng con đang ở khu vực để xe của một hiệu giặt tự động. Trong lúc con kết thúc bức thư này, có hai người đàn ông nhìn vào trong xe chúng con. Một người ngó quyển Kinh Hoa Nghiêm đặt trên lòng con và hỏi: “Đang đọc cái gì thế, anh bạn?” Ông ta lắc đầu nói: “Tìm việc mà làm đi chứ!”. Con đang tìm đoạn trích này:  

Không làm dơ nhà Phật

Không lìa giới Bồ Tát

Không vui việc thế gian

Luôn lợi ích thế gian  

Con nghĩ: “Chúng tôi có việc làm rồi. Đó là ‘không ưa thích việc thế gian’ ”.

 

* * *

Kính thưa Sư Phụ,

Người đã nói bài kệ này lúc ở Pacifica :

Lời lẽ chủ hư dối

Là khôn khéo ngụy biện

Bảo quý tinh khí thần

Là nhân thành Phật đạo

Trong mộng tắt lời, tâm dừng niệm

Tỉnh ra một chữ vốn hoàn không.  

Tên con là Quả Chân, Kết quả của sự Chân thật, bởi vì con đã từng là một kẻ dối trá. Khẩu nghiệp của con rất nặng. Chỉ sau khi thực tập “hồi quang phản chiếu”, “phản cầu chư kỷ” thì con mới nhận ra được tập khí bất thiện của mình về nói lời hư vọng sâu dày đến thế nào. Nó thấm vào tận xương tủy con.  

Bồ-tát này thành tựu lời chắc thật đệ nhất... được lời vô nhị của tam thế chư Phật. 

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Hạnh  

Hai tuần qua, con đã viết nửa tá bức thư ngắn cho thầy Hằng Triều nhưng cái nào cũng bị hiểu sai, cũng mang lại kết quả không mong muốn và cần phải viết thêm để làm rõ nghĩa.  

Con nhận ra rằng vị hộ pháp của con không tin những gì con nói! Đây là nghiệp nói dối của con. Con phát nguyện dừng viết hẳn, áp dụng đạo lý “vốn không có ngôn từ”.  

Sau đó, việc tiếp tục hồi quang giúp con hiểu nhiều hơn. Câu trả lời không phải là cắt đứt lưỡi mà là cắt lìa cái ngã và thói quen nói dối để bảo vệ nó.  

Con hỏi: “Bạch Sư phụ, tại sao người ta nói dối?”  

Sư Phụ đáp: “Bởi vì người đó muốn che đậy cái xấu của bản thân. Người đó chỉ muốn người khác thấy những điểm tốt của mình nên mới nói dối để giấu tội. Con không nghĩ vậy sao?”  

Con hiểu ra câu trả lời chính là không tự [mình] lừa dối mình. Con cũng đâu có tin những gì con nói. Tâm con không thật thà.  

“Lời lẽ chủ hư dối

Là khôn khéo ngụy biện”  

Cả ngày, con làm gì cũng là vì tự lợi bằng cách né tránh những đạo lý chân thực. Ngôn từ lởn vởn trong đầu óc con mà không có chút thật tâm. Con không ngừng bào chữa cho mình và cho phép mình có hành vi lừa dối mà không hổ thẹn. Con không giữ mình theo những đạo lý mà con biết là chân chánh. Những gì con viết dường như vô nghĩa. Chúng đến và đi như gió ở Bolinas Lagoon, cạnh nơi chúng con đang lạy.  

Phương pháp để thanh tịnh nghiệp nói dối là bản thân phải trung thực, chọn đạo lý và coi trọng đạo lý ấy hơn sự ích kỷ và lòng tham danh lợi. Làm theo đạo lý và không khoan thứ cho sự chệch hướng dù là nhỏ nhất. Không tha thứ cho những tư tưởng ích kỷ. Bố thí thiện hạnh để cúng dường chư Phật và hồi hướng công đức tới chúng sanh khắp mọi nơi. Để cho cái tôi dơ bẩn và tập khí bất thiện trở về hư không, nơi mà từ đó chúng đến.  

Không ngạc nhiên khi Tự Ngã vẫn đang điều khiển cuộc đời con; con không có chút đức hạnh để có thể chuyển hóa nó. Con không có chút “nội lực” của đức hạnh để chuyển hóa tự tánh chúng sanh theo cái tốt.  

Khi  lòng tin vào chân tánh của con là vô nhị thì người ta sẽ tin lời con nói. Làm thế nào để đạt được điều đó? “Bảo quý năng lực của mình thì con có thể thành Phật. Vẫn còn mơ? Hãy tịnh khẩu và dừng vọng tưởng…” Nói một cách khác, hãy tu hành! Đừng cố gắng giải quyết bằng ngôn từ. Chính ngôn từ là bệnh.  Thay vào đó, tập trung vào kho báu thực sự, phương tiện thực hành vô ngôn: kiếm kim kang, phương pháp lễ lạy, Pháp Luân thanh tịnh thường chuyển. Hồi quang phản chiếu, niệm niệm luôn sám hối. Luôn tin tưởng rằng dương khí mạnh mẽ của Pháp có thể chuyển hóa cái lưỡi gian dối của con thành “lời vô nhị của tam thế chư Phật” (Kinh Hoa Nghiêm – Phẩm Thập Hạnh).  

Và nhớ rằng tu hành là việc gieo trồng những hạt giống trí huệ tự nhiên, khỏe mạnh, mới mẻ vào nơi có những tập khí hủ bại ngày xưa. Bằng tâm từ, hãy dẫn dắt nó phát triển một cách nhẹ nhàng, đừng phá hoại nó. Hãy dùng trí huệ. Hãy để nó co giãn một cách tự nhiên như trái tim, như thủy triều vậy. Gượng ép sẽ làm hỏng, sẽ ngăn chặn Pháp.  

Dầu chẳng y tựa đường ngôn ngữ

Cũng lại chẳng chấp không ngôn thuyết

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Hồi Hướng

Ghi chú:

(1) Tương đuơng 55.000 - 65.000 USD ngày nay (2010).

 


 

“Vật bay” xâm nhập Trái đất

Ngày 2 tháng Một, 1979

Phía nam vịnh Bán Nguyệt ( Half Moon Bay)

Kính thưa Sư Phụ,

Giấc mơ tháng trước đã thực sự thúc giục con phải tinh tấn hơn nữa. Trong mơ con thấy: Nó lặng lẽ lướt đến từ  không gian bên ngoài, đi qua những dải thiên hà và chỉ trong tích tắc đến được những quãng đường vô tận. Nó khổng lồ, đen và là một thứ hoàn toàn xấu ác. Bị thu hút bởi một đám sương khói bẩn thỉu màu hổ phách, nó đang tiến đến dải thiên hà của chúng ta. Đám sương khói kia là một thứ tà khí có màu, mùi, có kết cấu đang tràn ngập cả vũ trụ của chúng ta. “Vật bay” bị nó hút giống như con ong tìm mật vậy.  

Ai cũng tưởng đám sương khói này đẹp như khi ngắm mặt trời lặn đầy màu sắc qua những tầng không khí bị ô nhiễm. Chẳng ai chú ý đến vật bay kia khi nó lặng lẽ tiến vào dải thiên hà của chúng ta, rồi vào Thái dương hệ, và cuối cùng là Trái đất. Trái đất là trung tâm của thứ tà khí thu hút vật bay kia. Vật bay là một thứ xấu xa, đặc, cứng như kim cương và là sự phá hoại. Nó không hề có một chút gì thiện lành cả.  

Nó lượn quanh mặt trăng. Sư phụ có thể nhìn thấy dấu chân của các phi hành gia trên bề mặt của mặt trăng. Họ đang nhảy nhót và chơi đùa như những đứa trẻ đang đào cát trong hộp cát (sandbox). Họ chẳng lúc nào để ý đến vật bay kia. Nó có thể biến hình từ kích thước của dải Ngân hà cho đến kích thước một hạt nguyên tử nhanh hơn cả một niệm.  

Trên cùng của cầu thang, có một người ging như giáo-sư-đãng-trí sống ở một nơi nguy nga và tuyệt vời. Con hỏi đó là ai thì người ta nói “Ồ, đó là Thượng đế, là Chúa Cha”. Con vô cùng kinh ngạc và nghĩ thầm “Mình sẽ quay trở lại công việc để chống lại vật bay kia”. Sức mạnh của nó vượt xa cả tầm ảnh hưởng của Thượng đế. Ngài đang dự tiệc và như một đứa trẻ vô tư lự, đang chờ đợi niềm vui bất ngờ tiếp theo. Ngài chỉ biết đến vui sướng mà thôi.  

Trong một ngôi đền nghĩa trang đầy âm khí kỳ lạ, các tín đồ mặc những tấm áo choàng Hy Lạp - La Mã dài, trắng, tham gia vào các nghi thức kỳ lạ về cái chết và người chết. Nó giống như một nghĩa trang Forest Lawn tà giáo. Họ đang đổ dầu và rượu lên một xác chết, cười đùa như ở nhà. Vật bay vẫn ở đó, điềm nhiên, không một chút xúc cảm.

Một đài phát thanh ở một thành phố lớn: trông bề ngoài thì có vẻ đang phát sóng nhưng bên trong chính là đầu não của vật bay kia. Nó có lẽ hướng dẫn vật bay đi vào với những chương trình phát thanh của nó.  

Một “nhà chính trị gia của công chúng” tao nhã, trẻ tuổi, chưa lập gia đình đang ở đài phát thanh. Đó là trụ sở vận động bầu cử  của anh ta. Những người phụ tá phấn khởi nói với anh ta rằng có một cuộc cách mạng lớn đang diễn ra tại các trường trung học. Đài đang phát thanh tường thuật các trường học bị giành quyền kiểm soát và kích động bạo lực: “Trường Trung học Orange đã bị chiếm... Trường Trung học  Glendale đã bị  lấy…... Phía đông của....” Nhà chính trị gia này là một người lạnh lùng và đầy tính toán. Anh ta sẽ dựa vào  cuộc cách mạng để đi đến  quyền lực chính trị. Đang xảy ra một trận tắm máu - trẻ em đang sát hại cha mẹ và thầy cô của chúng.  

Mọi người đang bị mê cuồng nặng, như bị bùa ám vậy. Con tim và tâm trí của họ đã bị tê liệt và vượt ra ngoài tầm lý luận hay lòng thương xót. Trên một phi trường, tất cả đều đã sẵn sàng vì có một chiếc phản lực 707 với một chiếc hoả tiễn đáng sợ được gắn ở mũi máy bay. Không gì có thể chặn được hoả tiễn này. Nó có thể xuyên thủng bất cứ thứ gì và bắn đi bất kỳ nơi đâu. Hoả tiễn này giống như một mảnh bạc và nó có thể giết một người bằng cách đâm vào mắt, nó cũng có thể xóa sạch một đất nước. Có rất nhiều hoả tiễn như vậy.  

Tăng đoàn đang làm việc cả ngày lẫn đêm theo từng nhóm. Họ không bị mê cuồng và họ có thể thấy được tà khí của vật bay kia ở tất cả các hình dạng của nó. Chúng con đến mọi nơi, chiến đấu với nó và gieo trồng những hạt giống thiện, vô hiệu hóa độc tố. Phương pháp của chúng con là Chú Đại Bi và các Chú khác. Chú Đại Bi tụng ở nơi nào thì nơi đó xuất hiện một vòng hào quang rực rỡ và thanh tịnh. Vòng hào quang rất sáng và chân chánh, giống như màu sắc trên bờ biển  khi mặt trời ló rạng sau cơn mưa. Màu của đám sương-khói-và-vật bay là màu hổ phách đặc của một bức ảnh cũ kỹ, một căn gác ngột ngạt không có cửa sổ.   

Tôi sẽ làm ánh sáng cho tất cả chúng sanh, khiến họ được trí quang diệt si ám; tôi sẽ làm ngọn đuốc cho tất cả chúng sanh để phá tất cả tối vô minh cho họ; tôi sẽ là đèn cho tất cả chúng sanh khiến họ an trụ nơi rốt ráo thanh tịnh.

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Hồi Hướng

Tăng đoàn là ánh sáng tinh khiết, đi đến mọi nơi và không sợ điều gì. Chúng con bảo mọi người chỉ cần thành tâm trì  chú và “minh tâm kiến tánh”. Thần chú giúp được tất cả một cách vô hình. Rất nhiều người nhận được cảm ứng của chú Đại Bi. “Minh tâm” - lời này được khắc sâu bên trong và xuyên thủng đám sương khói kia. Bất cứ nơi nào Chú được tụng lên thì một thứ thiện lực trong sạch xuyên thủng màn u ám. Những ai thấy được đều hồi thiện.  

Chúng con di chuyển bằng xe đạp, xe gắn máy hoặc đi bộ, nói với những người bạn của chúng con và cả với những người có nhân duyên. Nhưng vật bay kia rất to lớn và những nỗ lực của chúng con dường như chỉ là cố gắng ngăn chặn một cơn bão bằng một sợi lông mi. Thế nhưng sức mạnh của Chú là vô thượng và không thể bị phá hủy.

Một người thợ điện đã phối hợp với chúng con và có thể đi qua vài đường dây trong một tấm bảng phía trong của đài phát thanh. Đài này trông có vẻ giống như một công ty dịch vụ công cộng bình thường, nhưng với sự khéo léo của người thợ điện, chúng con đã có thể thấy phía trong là vật bay kia, những nghi lễ tà về cái chết, nhà chính trị gia và một làn sóng của cái ác được phát thanh liên tục.  

Ai cũng biết vật bay kia. Nhưng họ thấy nó là một thứ tốt lành. Họ bị mù quáng không thấy được bản chất thực sự của nó vì còn đang mải đắm chìm trong làn sương khói. Họ nói: "Ồ, thật hấp dẫn - giống như truyện khoa học viễn tưởng vậy!”  Họ đang hợp nhất tâm trí của mình với nó cũng giống như giáo phái nhà xác vậy. Mặc dù vật bay đang ăn tươi nuốt sống và khuấy đảo cuộc đời họ nhưng họ bị thôi miên và cảm thấy hưng phấn với điều đó. Không ai có thể phân biệt phải trái, đúng sai - họ không còn có “đôi mắt chân chánh” nữa. Sự mù quáng tập hợp đó thật ớn lạnh và khủng khiếp.  

Vật bay, phản lực-hỏa tiễn, đài phát thanh, cuộc cách mạng trong trường học, những tôn giáo kỳ lạ và nhà chính trị khôn khéo, tất cả đều có liên hệ với nhau. Vật bay sẽ vào hầm tên lửa ngầm để đẻ trứng. Đài phát thanh và nhà xác là tổ của nó. Phần lớn mọi thứ được diễn ra phía sau màn ảnh. Chỉ cần có người thợ điện bí ẩn đó để thấy xuyên vào đài phát thanh.  

Thượng Đế giống như một người chỉ huy sở chữa cháy đang chơi bài mà không nhận ra mình sẽ bị thiêu bởi một khu rừng bốc cháy. Ngay phía dưới thiên đường của Ngài là tất cả những hoả tiễn hủy diệt trong hầm này đã sẵn sàng để phóng đi. Những hầm hoả tiễn trông giống như các ống đàn phong cầm hay tác phẩm điêu khắc và không ai có thể thấy vật bay đi vào đẻ trứng trong đó.  

Người thợ điện để cho chúng con nghe phần giới thiệu chương trình của đài với một giọng nói âm vang chải chuốt “Và các bạn hãy nhớ... giết, giết, giết...” Hiện dần lên là một ca sĩ nhạc dân gian nổi tiếng đang che đậy thông điệp xấu với một bài hát đơn giản: “Nơi này là của bạn...”  Bài hát khiến thông điệp trở nên dễ nghe.  

Có nhiều người tự treo cổ mình trong một buổi lễ có nhiều màu sắc. Đó là một nhóm tôn giáo. Họ đang tự sát để đạt được một loại cảnh giới và cứu rỗi nào đó. Cái chết và vô minh đang được chuyền sang nhau. Những người này cũng đang bị thôi miên và không có một chút ánh sáng trí tuệ nào.  

Khi tỉnh dậy, lòng quyết tâm của con càng thêm sâu. Lực lượng ma quỷ và bóng tối to lớn tạo bởi nghiệp bất thiện chỉ có thể được ngăn chặn bằng cách tu hành. Thứ thực sự có giá trị là Bốn Mươi Hai Thủ Nhãn, Chú Đại Bi và Chú Lăng Nghiêm.  

Và trên hết, một trái tim thanh tịnh - một trái tim bao la, không vị kỷ, thiện lành và trong sáng. Đó là nơi ánh sáng đến trong giấc mơ của con, những người thanh tịnh, an lạc đang tụng chú và hồi hướng lợi lạc đến toàn thể chúng sanh. Nhà chính trị gia tuy có màu sắc nhưng không có ánh sáng. Nó là thứ màu của thức ăn ngon và mỹ phẩm chứ không phải ánh sáng của trí tuệ và lòng từ bi. Những người có tâm từ bi trong giấc mơ giống như những mặt trời bé nhỏ của từ, bi, hỉ, xả. Dù những nỗ lực của chúng con dường như nhỏ bé so với bóng tối to lớn nhưng chúng trong sạch và được tạo ra bởi những trái tim bao la vì tất cả mọi người.  

Tôi phải như mặt trời, chiếu khắp tất cả mà chẳng cầu báo ân; chúng sanh có kẻ ác hại tôi, tôi đều dung thọ trọn chẳng do đây mà bỏ thệ nguyện; chẳng vì một chúng sanh ác mà bỏ tất cả chúng sanh, tôi chỉ riêng tu tập thiện căn hồi hướng, khiến khắp chúng sanh đều được an lạc. Thiện căn dầu ít, nhưng vì nhiếp khắp chúng sanh tôi dùng tâm hoan hỷ hồi hướng quảng đại. Nếu có thiện căn mà chẳng muốn lợi ích tất cả chúng sanh thời chẳng gọi là hồi hướng.  

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Hồi Hướng

Điều cốt yếu là không ích kỷ và đại từ bi. 

An lạc trong Pháp,  

Đệ tử Quả Đình (Hằng Triều)

cung kính đảnh lễ

 


 

Vở Kịch Lớn

Tháng 5 năm 1979

Bãi biển Stinson, Olema, Nhà ga PT. Reyes và Points North

Kính thưa Sư Phụ,

 

Những ngôn ngữ của các chúng sanh

Trong đó rốt ráo vô sở đắc.

Rõ biết danh tướng đều phân biệt.

Hiểu rõ các pháp đều vô ngã.  

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Hồi Hướng

 

Bái lạy dọc theo một quãng đường quốc lộ dài vắng vẻ - bên phải là Rừng Quốc Gia Mt. Tamalpais, bên trái là Thái Bình Dương – không khí buổi sáng mát lành, tĩnh lặng và thanh tịnh. Trái lại, trong tâm trí con là một rạp xiếc của sự ngụy biện, tranh luận ngu ngốc về việc sẽ tu hành cái gì để chấm dứt tâm phân biệt và đạt tới vô ngã.  

Bước đi nặng trĩu những lời chỉ dẫn, tất cả đều bị hiểu sai. Dùng đạo lý để  kiểm soát từng cử động, từng bước đi, phải làm sao cho đúng. Đúng ư? Sai rồi! Tại sao? Vì nghĩ ngợi không thể trị được vọng tưởng. Hễ con nghĩ mình đã hiểu bản thân và sự tu hành thì cũng là lúc không phải như vậy. Cái hiểu đó là giả. Dùng ngôn từ để phân biệt ngôn từ là một mê cung vô tận, là cái bẫy của phiền não, là đường cùng và là một trở ngại lớn.  

Có gì không ổn ở đây nhỉ? Nó đang gắn với niệm tham ái rằng  trong cảnh giới của ngôn từ và suy nghĩ, có thứ có thể nắm bắt được. Nó đang truy cầu, và trong Kinh có nói “Mọi thứ rốt ráo đều bất khả đắc”.  

Con đưa câu Kinh vào trong khối óc, và ra rồi! Cả cái rạp xiếc rơi vào im lặng. Tâm con bỗng nhiên thấy nhẹ như  một cơn gió thoảng.  

Đạt  vô cầu xứ tiện vô ưu. (Đạt đến chỗ “không mong cầu” tất hết lo)  

Tất cả đều là một vở kịch! Không có gì là thật cả. Ha! Con đã lo lắng tìm kiếm cái lợi ích nhỏ bé và lừa gạt mình đi vào vở kịch. Phiền não tức Bồ đề, nhưng cần phải dụng công mới chuyển được.

Bồ tát biết tất cả chỉ là một vở kịch lớn. Ngài không bị dính vào đạo cụ, Ngài không chấp vào cảnh vật, Ngài không biến hoàn cảnh của mình thành nghiêm trọng.  Ngài muốn mọi chúng sanh biết được rằng đừng chấp pháp, kể cả thân này. Không có gì là tồn tại cả. Ngay khi coi thế giới này là thật thì cũng là lúc nhận lấy khổ đau.

Sự thật căn bản của Phật pháp là: mọi thứ đều là khổ do vô minh và ái dục đã được huân tập. Nó dựa trên tà kiến về sự tồn tại của cái “tôi” và “của tôi”, và con thấy rõ nó trở lại mỗi khi con cố điều khiển thế giới này bằng  sức mạnh của thân, khẩu, ý. Khi con xả bỏ tất cả và chỉ tu đạo với một trái tim hoan hỷ, thanh tịnh thì mọi thứ lại đâu vào đó.  

Các báo, tùy nghiệp sanh

Giả dối như giấc mơ

Luôn luôn thường diệt hoại

Không người tác nghiệp

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Bồ Tát Vấn Minh

  

Đó là bí mật. Bồ tát dùng pháp nói với ngài rằng mọi cảnh giới đều bình đẳng, trống rỗng và vô ngã. Và với trí huệ này, ngài giải thoát khỏi khổ đau. Không còn tự ngã thì ai lo lắng  đây? Không còn tự ngã thì ai cảm giác đau khổ? Còn có gì để tham ái trong khi tự ngã không còn mong cầu cái lợi cho “số 1 của ngày xưa” nữa?  

Một người bình thường, trước khi tu hành, có thể nghe những lời này và nói “Nhưng làm sao có thể như vậy được chứ? Hãy nhìn đống hóa đơn chưa thanh toán trên bàn tôi đi! Hãy nhìn những tờ báo đầy rẫy cái xấu  và nỗi khổ đau bất tận mà xem! Hãy nhìn 2 chỗ húp dưới mắt tôi. Hôm nay tôi phải đầu tắt mặt tối và tôi chán ngán lắm rồi! Kinh lại nói rằng đó là một vở kịch. Làm sao tôi có thể tin được chứ?”  

Như mặt gương sáng sạch

Tùy theo cảnh đối tượng

Hiện bóng sai khác nhau

Nghiệp tánh cũng như vậy.

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Bồ Tát Vấn Minh

 

Vậy thì tại sao lại không buông xuống cái giả và lo tu Đạo? Tại sao con không nhận thấy sự  thanh tịnh, bình đẳng của Phật pháp vô thượng?  Tại sao lại không? Bởi vì từ kiếp vô thủy vô chung con đã bị rơi vào cái bẫy của vở kịch, lang thang qua các màn kịch bất tận của Vở Kịch Lớn.  Bị lòng nghi ngờ che mờ, bị nỗi sợ hãi thúc đẩy, con đã không tin vào con đường giải thoát. Tu tập hoàn toàn tùy thuộc vào mỗi người. Con gieo nhân gì thì sẽ gặt quả nấy.  

Cũng như ruộng gieo giống

Chúng đều chẳng biết nhau

Tự nhiên mọc lên cây

Nghiệp tánh cũng như vậy.

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Bồ Tát Vấn Minh

 

Chư Phật và Bồ tát đã nhẫn nại nói đi nói lại với chúng ta rằng “Mọi chuyện đều ổn cả. Căn bản không hề có rắc rối nào, nhưng chúng ta cứ tự rước rắc rối cho mình. Hãy dừng sự luyên thuyên của tâm trí và mọi sự đều được giải quyết”.  

Hôm nay con có thể viết ra điều này một cách dễ dàng. Nhưng do nghiệp vô minh nặng nề và sự ham cầu, hôm nay con sẽ có khả năng ra ngoài và lại bắt đầu hối  thúc con đường Đạo trong tâm trí. Hôm qua con đã như vậy và bắt được cả lồng ma qủy. Con sẽ tiếp tục làm vậy cho đến khi nhân mà con đã gieo trong quá khứ bị mất hết. Trong khi ấy, con sẽ không có ý định dừng tu tập và than vãn về vận rủi và sự ngu si của quá khứ. Giờ con muốn gieo trồng những hạt giống thiện. Tín tâm của con đối với phước điền của Phật ngày càng lớn.  

Tuần này chúng con bái lạy trong trời gió mạnh, mặt đen kịt vì cát bụi, tập trung vào đan điền ở giữa cơ thể để không bị thổi về phía sau mỗi lần đứng dậy.  

Một người đàn ông dừng xe tải và nói “Thật đáng kinh ngạc. Các Thầy chỉ dùng tâm để vượt qua mọi trở ngại và khổ đau sao?”  

Con nghĩ “Đúng vậy, và không phải buồn cười sao khi tâm cũng chính là nguồn gốc của chướng ngại và khổ đau?” Nếu biết rằng tất cả chỉ là một vở kịch và đừng để tâm bám chấp và cái thiện hay tránh xa cái bất thiện, hãy chỉ ra ngoài và tu tập hạnh thanh tịnh để làm lợi cho người thì chướng ngại và khổ đau không thể cản trở được, và chúng cũng không làm khổ ta được. Tất cả đều bình đẳng. Nó không khiến bạn bớt đau nhưng nó cũng không làm phiền bạn nữa. Không có gì quan trọng cả, kể cả sinh tử. Không còn gì quan trọng nữa. “Nếu con có thể hiểu thực sự rằng mọi việc đều OK, chỉ từng đó nhưng vi diệu không thế nói hết” đó là lời Hòa Thượng nói vào tháng trước, gần Bolinas Lagoon.  

Kinh nói rằng:  

Nếu được nơi thế gian

Trọn xa lìa chấp trước

Vô ngại lòng hoan hỷ

Nơi pháp được khai ngộ.

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Đâu Suất Kệ Tán

 

Người đàn ông kia hỏi “Các Thầy không dùng đồ đạc (tư lương) gì đặc biệt sao?” Con nghĩ “Thực ra thì có đấy”. Y giới này khiến chúng con có thể quay về. Chúng con có cuốn Kinh chỉ đường (Đạo). Chúng con có Thiện tri thức bảo vệ và chỉ dạy. Chúng con đang nuôi dưỡng tín tâm đối với Tam Bảo. Chúng con hổ thẹn vì phải mất rất lâu để thức tỉnh và quay về chân thật tu hành. Đây đều là tư lương. Nhưng nó sẵn có cho tất cả mọi người.

 

Đệ tử của Phật,

Quả Chân (Hằng Thật)

Cung kính đảnh lễ

 

Tất cả đu là th thách!

 

16 Tháng Năm, 1979

Marconi Cove

 

Sư Phụ từ giám,

Con là ai? Cái thân thể này của con là vay mượn và rồi tất cả sẽ sớm về với cát bụi. Dẫu con cố gắng thế nào cũng không thể giữ cho nó khỏi tan rã.  Nó là như  thế . Con có phải là những gì con nghĩ không? Có lẽ như nhà triết học Descartes từng nói, “Tôi tư duy, vì thế tôi tồn tại (Cogito ergo sum).” Nhưng dường như suy nghĩ của con còn không thực bằng thân thể con. Chúng cũng như  sương sớm mai vụt tan rã trước giờ trưa. Tâm là một cơn gió thoảng.

Sáng nay, con thức dậy và bước ra ngoài. Trời vẫn còn tối và tĩnh lặng. Không một chiếc xe, một bóng người –chỉ là hơi sương từ Vịnh Tomales và một vài chú chim. Con bắt đầu cười nhạo quãng thời gian và  sức lực mà con đã phí phạm cho việc chiều chuộng cái tôi này và những gì thuộc về tôi! Thật là một sự lãng phí! Trong bức tranh to lớn ấy chẳng hề có con trong đó. Con thật là ngốc nghếch mà! Con đã rong đuổi vọng tưởng và chấp trước cho đến khi ngập cổtrong biển khổ và phiền não này. Ấy vậy mà con chẳng hề hay biết.

Những gì con đã làm thật điên đảo, “ kết hợp với sự  đảo ngược” như Kinh Hoa Nghiêm đã dạy. Thậm chí con chẳng hề hay rằng nó là sai trái. Thỉnh thoảng, con thấy dường như tu hành chẳng mang lại  kết quả nào. Tất cả những gì con làm chỉ là mắc lỗi. Nhưng, tự bản thân tu hành lại là một lời đáp. Nhận ra những lỗi lầm của mình chính là đang nhận được kết quả.

Tu hành thanh tịnh một lát và rồi có một cách nhìn khác về thế giới này khiến ta thấy rõ ràng hơn đâu là thật, đâu là giả. Sự tương phản rất lớn. Sự tu hành mang đến một cái nhìn sắc bén hơn. Cắt bỏ lớp da và lớp mỡ giả dối này, lộ ra những đốt xương trần trụi. Nhưng  giờ đây trước mắt con, con lại bội giác hiệp trần. Chỉ mỗi một hành vi vô minh, “ mầm đau khổ” lại nảy nở, chỉ trong khoảnh khắc một vài giờ trôi qua, con lại vướng mắc vào  các nhân  liên kết  của sự duyên khởi. Tất cả đều rất thật, không phải là triết lý  trừu tượng, “Vô minh duyên hành, hành duyên thức…cho đến khổ và chết.” Cũng chẳng cần đến thần thông mới có thể hiểu được rằng chúng ta đã trải qua những vòng quay sinh tử không có điểm bắt đầu, “bị bao phủ bởi lớp màng vô minh.”

Trong vòng  vài giây, nhanh như một niệm, là ta có thể quên hết tất cả Chánh Pháp của Đức Phật và rơi vào tà kiến. Ngay trước mặt con là cả câu chuyện. Mỗi một ý niệm trôi qua, con biết tại sao con không phải là Phật và làm cách nào con có thể là Ngài. Có kệ rằng,

Tất cả đều là thử thách,

Để xem bạn làm gì;

Lầm những gì trước mắt,

Quay làm lại từ đầu.

Đêm qua, sau một ngày dài vất vả trì lạy, con đang pha trà ở phía sau đuôi xe. Trời sẩm tối, vài dặm không có đến một bóng người.  Con thư giãn một tí và để cho tâm trí và đôi mắt con lang thang, đắm mình trong cảnh hoàng hôn trên biển tuyệt đẹp trong khi chờ nước sôi. Con ngừng trì tụng Chú Đại Bi và ” đem tâm phá giới nhìn ngắm sắc đẹp của người” (Kinh Phạm Võng).

Bất chợt, một chiếc xe ngừng  ngay bên cạnh  con. Hai người phụ nữ trẻ bước ra khỏi xe . “Xin chào, thầy có cần chút thức ăn cho ngày mai không?”, họ hỏi chúng con. Con có cảm giác con  “nhận ra” một trong hai người phụ nữ này, mặc dù con chắc chắn chưa hề gặp cô ấy trước đó. Đó là một kiểu nhận biết khác thường. Tâm trí con xao động. Nhanh hơn cả trở bàn tay, con có cảm giác như cả một nghìn con sâu đổ ào và tràn ra khắp mặt đất.

 

            …Lầm những gì trước mắt, Quay làm lại từ đầu.

 Con mất cảnh giác chỉ trong một phút chốc và rơi xuống cả ngàn thước. Trèo lên thì khó, mà trượt xuống thì rất dễ. Đó có phải là  dkhông? Phải  và không. Chúng ta cố gắng tu hành mỗi ngày và không lo lắng về thành công hay thất bại, cao hay thấp. Nếu nó tốt, chúng ta không nhảy lên vì vui sướng. Nếu nó xấu , chúng ta không khóc lóc và nói rằng “D làm sao !” Tất cả mọi thứ đều  nói Pháp chẳng có điều chi là thật. Vì vậy chúng ta nỗ lực nghe theo và hướng thiện và khi điều đó đến thì đón nhận. Chẳng có gì là dở  trừ khi bạn cho  nó là dở  .

Nếu con thất bại hay gục ngã, thì đó là một bài học. Nếu con đạt được chút thành tựu, thì đó là một thử thách. Trong tu hành, mọi thứ đều tự nhiên vận hành theo quy luật tốt nhất. Chẳng cần phải lo lắng hay lập kế hoạch hay tính toán cho điều này điều kia  suốt cả ngày. Hãy thật “thanh tịnh, an bình, và hoan hỷ” là thông điệp của Đức Phật. “Hồi quang phản chiếu.”

Vì vậy, nếu chúng ta tu hành trong một chốc lát và không qua được thử thách, chúng ta không bị trượt quá xa như khi chúng ta chẳng tu hành gì cả. Tu hành là mãi mãi.

Con đã cười nhạo mình vào sáng nay vì con đã thấu được cái nhìn nhỏ nhặt và thiển cận của con nó trông như thế nào. Con cười vì con đã điên đảo và gánh lấy khổ đau, trong khi lúc nào cũng cho  rằng mình rất thông minh và làm mọi việc một cách ổn thoả.

Con đang học đoạn này trong Kinh Hoa Nghiêm được vài tuần rồi, con đã không thể hiểu được nó. Và bây giờ con tiếp tục trở lại với nó giống như mảnh kim loại bị hút bởi nam châm vậy. Đoạn này cảm giác rất thật như điều con tự nhiên biết từ bên trong:

Chư Phật tử ! Bồ tát này lại nghĩ rằng : Chánh pháp của Chư Phật thậm thâm như vậy, tịch tịnh như vậy, tịch diệt như vậy, không, vô tướng, vô nguyện như vậy, vô nhiễm như vậy, vô lượng, quảng đại như vậy, mà hành phàm phu sa vào tà kiến, bị vô minh che lòa, dựng cao tràng kiêu mạn, vào trong lưới khát ái, đi trong rừng rậm dua dối không tự ra được. Lòng luôn đi đôi với tham lam ganh ghét, thường tạo, những nhơn duyên thọ sanh trong các loài, tham, sân, si gây thành những nghiệp ngày đêm thêm lớn mãi, do gió phẫn hận thổi ngọn lửa tâm thức hực hực không tắt, phàm họ nói hay làm đều là điên đảo. Dục lưu, hữu lưu, vô minh lưu, kiến lưu nói luôn phát khởi chủng tử tâm ý thức. Trong ruộng tam giới lại mọc mầm khổ, chính là chẳng rời danh sắc. Danh sắc này thêm lớn, thành tụ lạc của sáu loài. Trong đó đối nhau mà sanh ra xúc, do xúc sanh thọ, nhơn thọ sanh ái, vì ái tăng trưởng nên sanh thủ, vì thủ tăng trưởng nên sanh hữu mà có hữu nảo. Chúng sanh thêm hớn quả khổ, trong đây là trống rỗng lìa ngã và ngã sở, vô tri vô giác, vô giác vô thọ như cỏ cây, đá vách, cũng như vang bóng. Nhưng chúng sanh vẫn không hay không biết.

Bồ Tát thấy chúng sanh không thể thoát khỏi khổ quả như vậy, liền phát sanh đại bi trí huệ tự nghĩ rằng : Tôi phải cứu vớt tất cả chúng sanh này đặt họ ở chỗ rốt ráo an lạc. Do vì suy nghĩ phát tâm như vậy nên sanh trí huệ quang minh đại từ. 

Kinh Hoa Nghiêm Phẩm Thập Địa      

Con mở Kinh Hoa Nghiêm vào sáng nay và đọc lại đoạn này một lần nữa. Bất chợt con bắt đầu hiểu. Nó đã xác nhận những gì mà con thấy từ lỗi lầm của bản thân con và trì lạy trên con đường với người  đồng hành của con. Có  lần, con đã đọc đoạn văn này và nó dường như thật là khó hiểu. Ngày hôm nay, con đọc lại cũng đoạn ấy và nó soi rọi tâm trí con. Con đã mê lầmchứ không phải do Kinh khó hiểu.

Trái tim con được soi sáng. Chậm rãi, từng chút một, con biết rằng con có thể thoát khỏi cái nhà tù thế gian này. Và, nếu con có thể đào thoát được, vậy chắc chắn rằng con sẽ có thể giúp những người khác thoát khỏi và “đặt họ ở chỗ rốt ráo an lạc.” Tu hành rất gian nan và rất hạnh phúc. Hướng thiện thật sự khó. Làm lợi cho người khác là niềm hạnh phúc. Từ bi soi sáng thế giới này.

 

Đệ Tử Quả Đình (Hằng Triều)

Kính lạy

***

 Cũng như nước đục khi tĩnh sẽ trong, nếu chúng ta chân thật tu hành thì nước của tâm sẽ tự trong.         

 

 

Một người phụ nữ già dành cả cuộc đời trong bóng đêm

Tháng năm, ngày 18,1979

Marconie Cove

 

Kính thưa Sư Phụ,

Ngày hôm nay thật yên tĩnh, vắng vẻ. Tiếng chuông của con tàu theo gió thổi từ một trong những chiếc thuyền đánh cả thả neo ở vịnh. Một con rắn chết nằm dài trên đường. Một làn sương mỏng bao phủ bốn ngày đã bay lên. Một quyết tâm dụng công tinh tấn hơn: bái lạy nhất tâm hơn và thật sự dừng bặt vọng tưởng. Trở thành người có tâm thật sự thanh tịnh – lành thay! Nhất tâm bái lạy là nhà. Xuất gia cũng là nhà.

 

Niềm vui sanh khởi vì tôi rời bỏ nhân địa phàm phu. Niềm vui sanh khởi vì tôi đến gần Trí Địa.

          Kinh Hoa Nghiêm

 

Bên trong là một cảm giác bình yên ngay tại lúc này là nơi con đúng ra phải an trụ .

Một bao trái cây và vài bông hoa tươi treo trên cửa xe vào lúc cuối ngày. Bên trong là một bức thư ngắn:

Tôi là một người phụ nữ già nua ngốc nghếch đã lãng phí cả cuộc đời mình trong bóng tối.

Ba năm trước, tôi được cho nhìn thoáng qua sự giác ngộ, và lúc này tôi cố gắng đem chân lý áp dụng vào cuộc sống hằng ngày. Điều đó quả thật không dễ chút nào.  Xin các thầy cầu nguyện cho tôi.

Ký tên,”Baraka Bashad”

 

An lạc trong Đạo,

Đệ tử Quả Đình (Hằng Triều)

kính lạy

 

 

Tư tánh của con chứa hết thảy các pháp

Ngày 13 tháng 5, 1979.

 

Kính thưa Sư Phụ,

Tiết mục Hoa Nghiêm trân trọng giới thiệu bộ phim dài nhất của Pháp Giới: Vở Kch Bồ Đề. Diễn viên chính: Tự Tánh!

Cảnh do tâm hiện

Hòa Thượng Tuyên Hóa giảng tháng 2, 1979

Tâm của người hành giả không cho phép dù chỉ một niệm phiền não. Một niệm ích kỷ sẽ chiêu cảm ma đến, giống như con cá rỉ máu thu hút lũ cá mập vậy. Một niệm sân giận nổ tung như một trái bom, rưới xuống tâm con với những mảnh đau đớn từ các phía.  Một niệm chê bai khiến con thấy mình như bước vào hang nhện - tất cả mọi niệm của con đều quay trở lại và bẫy con vào một cái mạng. Đó là một cảm giác khủng khiếp. Một niệm lo lắng hay hoài nghi khiến con trở nên cô đơn nơi tận cùng của thế giới, nơi không có ánh mặt trời. Những trạng thái này thật như thời tiết bên ngoài vậy. Nếu con để chúng bám trụ trong con, chúng sẽ hiện thành những con quỷ bằng xương bằng thịt ngay trước mắt con.

 

Ví như thấy chư Phật

Nhiều hình sắc sai khác

Tùy tâm hành chúng-sanh

Thấy các cõi cũng khác.

Kinh Hoa Nghiêm – Phẩm Hoa Tạng Thế Giới

 

Nhưng, chỉ cần  hồi quang và vung kiếm trí huệ, rồi mọi cảnh giới đều trở về khởi thủy. Một niệm thiện từ, bi, hỉ, xả đem ánh sáng của Phật về với tâm ta rất nhanh chóng. Sự thư thái, nhẹ nhõm mà ta cảm nhận được là vô lượng vô biên. 

Tự tánh của con chứa hết thảy các pháp. Nó vốn thanh tịnh nhưng con lại phân biệt nơi tâm. Tất cả các pháp đều bình đẳng, nhưng con cứ mặc kệ và khởi niệm phân biệt vì ngu si. Vô minh khởi lên từ dục. Dục niệm tạo nên cái ngã (self) - tồn tại một người muốn đi chệch hướng và muốn đạt được thứ gì đó. Dục tạo ra sự ích kỷ, lòng tham theo ngay sau đó. Lòng tham là chất độc; nó có sức mạnh phá hủy toàn bộ thế giới. Nhưng nó lại không đến từ đâu ngoài tâm niệm của con.

 

Các báo, tùy nghiệp sanh

Giả dối như giấc mơ

Luôn luôn thường diệt hoại

Như trước, sau cũng vậy.

Kinh Hoa Nghiêm -  Phẩm Bồ Tát Vấn Minh

 

Mọi rắc rối và phiền não, và cuối cùng sinh tử đi theo con đường này, ra khỏi tự tánh tịch tịnh, viên mãn. Nó xảy ra từ hết niệm này đến niệm khác.

Nó giống như một bộ phim mà con lúc nào cũng xem ở trong tâm mình. Khi con coi đó là thật và để nó đi ra khỏi các căn (senses), con soi chiếu vào thế giới này. Rồi con mua một tấm vé để xem vở kịch vui về khổ đau. Bất kể bộ phim là hài kịch hay bi kịch thì nó cũng đã tạo nên một cái tôi hư giả để cảm thấy khổ đau hay hạnh phúc và phân biệt các pháp.

Cứ theo nghiệp đã tạo

Sanh quả báu như vậy

Ðều không có tác-giả

Ðây là lời chư Phật.

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Bồ Tát Vấn Minh

Khi con nghe theo lời chỉ dạy và dùng Phật pháp để quay các niệm về lại màn ảnh trước khi chúng chạy qua khỏi các căn (sense-gates) thì mọi thứ đều ổn. Tu hành là thực tập một phương pháp để đưa những niệm này về nơi chúng khởi lên. Sự chú tâm là tấm vé. Tâm niệm của con là toàn bộ cuốn phim. Kéo chúng lại và bộ phim bị gián đoạn. Pháp Giới giải tán vì không còn cái tôi nào để hiểu cả. Tham dục là chất keo kết nối cuốn phim, từng cảnh một. Đoạn dục và chúng ta bước ngay ra khỏi bộ phim, tự do đến đi. Không phải là những niệm đó dừng lại, mà là chúng không còn lôi kéo được chúng ta nữa. Chúng ta điều khiển bộ phim thay vì bị nó điều khiển. Vốn không có gì cần làm cả. Mọi thứ tự diễn ra rất tự nhiên mà không có ngôn từ nào, cái tôi nào và vấn đề nào cả.  

Chúng ta xem loại phim gì? Nó tùy thuộc vào cái nhân mà chúng ta gieo trồng. Phật địa không gì ngoài một niệm của Nhân địa đã viên mãn. Địa ngục đến từ những niệm phiền não và những ý nghĩ ngu si.  

Đêm qua khi con ngồi ở trong chiếc xe hơi Plymouth trong suốt thời công phu khuya, tâm con rơi vào hang rắn của sự hoài nghi. Áp lực và sự không thoải mái về tinh thần đã tăng trưởng đột ngột khiến con không thể chịu nổi. Con kiềm lại và thật vậy con  đã đánh rơi thanh gươm trí huệ và ngừng chú tâm vào việc hồi quang phản chiếu. Con đã để các tư tưởng của con trôi dạt đi. Như con tàu không bánh lái, con đang hướng thẳng đến đá ngầm. Con nghĩ “Trước đây mình đã từng đi qua bộ phim này rồi, đó là một câu chuyện ghê rợn về lòng tham, sự sợ hãi và tham dục ích kỷ. HÃY DỪNG LẠI!” Vung gươm lên. Chém! Nguồn khí sau lưng của sự nghi ngờ tiêu cực này quay trở về tâm điểm và con cười lớn tiếng. Rốt cuộc thì đó là tất cả sự vô minh của con đã đưa đẩy con, khiến con nhảy múa như một con rối được điều khiển bằng những dây.

Nào ngờ tánh mình vốn sẵn đầy đủ.
Nào ngờ tánh mình hay sanh muôn pháp”. 

Pháp Bảo Đàn Kinh

Thật là một bộ phim khôi hài! Có lúc nó là phim hoạt hình Looney Tunes, có khi nó là kịch mê-lô, đôi khi nó là thước phim du lịch đi qua Ba Đường Khổ, có khi nó là một vở thiên trường ca. Đó là tất cả bộ phim của con, nhưng con không thể thấy mình ở bất kỳ đâu. Khi con có công phu, con ngồi và lặng nhìn nó quay. Tuy nhiên, con thường quên rằng đó là một bộ phim, con dừng tu hành, nhặt một cảnh con thích, hoặc chạy ra khỏi cảnh nào con không thích, và Rầm! Chuyến tàu tốc hành của vọng tưởng làm bẹp một chúng sanh vô minh khác. Hãy tĩnh tại, Quả Chân. Hãy an lạc, tu hành và xem màn trình diễn!

Con đã học cách xem mọi thứ là “vô sự”.

Quán sát pháp sanh diệt theo duyên mà không bám chấp. Mọi chuyện đều ok.

Hòa Thượng Tuyên Hóa giảng tháng 11 năm 1977

 

Đệ tử Quả Chân (Hằng Thật)

Cung kính đảnh lễ

 

Tôi đã tu tập Tham Sân Si

Ngày 21 tháng 6 năm 1979
Duncan's Landing, Califonia.

Kính thưa Sư Phụ,


Đến cuối ngày, có một người đàn ông đi đến bằng một chiếc xe tải nhỏ và dừng lại. Anh ta nói: “Tôi đã theo dõi
anh. Tôi nghĩ anh đang sám hối cho những tội lỗi của con người. Tại sao anh không tham gia vào Peace Corps (1) hay giúp đỡ người nghèo? Ồ, cũng tốt thôi, anh đang làm những việc của anh, tôi đoán vậy”

Nhìn bề ngoài thì sự tu hành chỉ là “ làm việc gì đó cho chính mình”, nhưng thực sự, đó là làm cho tất cả mọi người. Tại sao có chiến tranh và khổ đau trên thế giới? Bởi do tâm ích kỷ và luôn mong cầu "thêm nữa". Tại sao có nghèo khổ và bất công? Bởi do vọng tưởng của tham, sân, si (Tham lam, nóng giận và ngu dốt). Mọi rắc rối và các vấn đề của thế giới đều bắt nguồn từ trong tâm. Nếu con không tự làm sạch và chấm dứt nội chiến bên trong chính bản tâm, thì làm sao con có thể giúp thế giới? Bớt dục vọng cũng là dẹp bỏ chiến tranh. Ngừng vọng tưởng trong tâm thực sự là giúp cho toàn thế giới bên ngoài. Bởi vậy có câu:

Tiểu thế-giới tức là đại thế-giới và đại thế-giới tức là tiểu thế-giới, thế-giới rộng tức là thế-giới hẹp và thế-giới hẹp tức là thế-giới rộng, một thế-giới tức là bất-khả-thuyết thế-giới và bất-khả-thuyết thế-giới tức là một thế-giới , bất-khả-thuyết thế-giới vào trong một thế-giới và một thế-giới vào trong bất-khả-thuyết thế-giới . (2)

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm thứ mười bẩy: Sơ phát tâm công đức 
 

Cái thế giới tham lam nhỏ bé trong con làm lớn thêm sự tham lam to lớn của thế giới. Sự giận dữ, ngu si nhỏ bé trong con góp phần cho thế giới của lòng sân hận và sự ngu si kia thêm lớn. Làm sao thế giới lớn ngoài kia có thể thay đổi nếu thế giới nhỏ trong con không thay đổi? Chúng đan quyện vào nhau. Nếu con giữ giới luật thanh tịnh, thì khi đó thế giới nhỏ thiện lành này có thể “vào bất khả thuyết thế giới”. Sự tĩnh tại nhỏ bé của con góp phần cho sự tĩnh lặng rộng lớn hơn và hòa bình vũ trụ. Nếu con có thể tu tập trí huệ, thì điều thiện trên thế giới sẽ tăng trưởng một cách tự nhiên. Cũng tương tự như thế, nếu con không nhận ra và sửa đổi lỗi lầm của mình, thì năng lượng xấu này sẽ gây ô nhiễm cho thế giới và ô nhiễm tới tất cả mọi người và mọi vật dù con không muốn hay biết đến.

Tu hành là vì tất cả chúng sinh trong các thế giới đến cùng tận của hư không.

Con đã không thường thấy điều đó theo cách này. Nhưng tuần trước, một gia đình trẻ ở gần Tomales đã đưa con trở lại tiếp xúc với những phần cuộc sống của con mà trước đây con đã không nhận ra được rõ ràng. Gia đình đó sống trong một nông trại tại một thung lũng nhỏ. Họ sống rất lành mạnh và cơ bản. Họ có bốn đứa con, họ tự trồng lấy hầu hết lương thực. Họ đã "trở về thực tại", sống tự nhiên với những giá trị và đạo đức truyền thống. Tất cả nhà cửa, mọi thứ trong cuộc sống của họ đều toát lên một điều rằng: “Ít ham muốn, biết đủ”.

Họ đã mời thức ăn và nước uống khi chúng con lễ lạy ngang qua và nói “ cảm ơn”. Tất cả họ đều mạnh khỏe, hạnh phúc và đơn giản. Họ có đôi mắt, khuôn mặt trong sáng. Những phúc lành mà họ có thật hiển hiện và dồi dào. Quả báo lành như vậy có được do họ đã trồng nhân tốt từ lâu xa thủa trước. Những người có cuộc sống hạnh phúc và không bị tai ách, khốn cùng là do họ đã giữ giới luật đạo đức trong quá khứ. Có được sức khỏe, con cái trung nghĩa, không kẻ thù, và tâm an lành là do tu lục độ Ba la mật: Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định và Trí huệ. Nhân nào, quả nấy. Mọi thứ ta có ngày hôm nay là do nhân đã gieo trồng trong quá khứ. Tương lai được tạo bởi những việc làm hôm nay.
 

Tất cả quả báo do nghiệp mà ra.

Kinh Hoa Nghiêm

Gia đình hạnh phúc, “giàu có” này khiến con hồi quang phản chiếu cội nguồn sâu xa và phước báo của mình. Con sinh ra trong một gia đình tốt và có nhiều phước báo. Trong vài năm học đại học, con đã đi sai đường và đã làm cạn kiệt gần hết những phước báo của mình. Khi có thiện căn thâm sâu và có nhiều phước báo, thì có thể mở ra cánh cửa để xuất gia và tu Đạo. Đây chính là phước điền cao cả nhất. Nó vượt trội hơn tất cả những sự giàu có và hạnh phúc tốt đẹp nhất của thế gian. Nhưng hưởng những phước này thì sẽ làm hết phước. Con đã từ bỏ những cơ hội tu hành vì đã không buông bỏ được cái tâm “có thêm nữa, luôn luôn muốn thêm nữa “. Con đã lưỡng lự mãi giữa ranh giới cho đến khi sắp kiệt lực. Một tay bám vào lòng tham muốn và tay kia muốn vươn tới trí huệ, điều này đã sinh ra một kẻ thật kỳ lạ: Một kẻ cố gắng chấm dứt đau khổ bằng sự khổ đau hơn. Anh ta phá phạm giới luật, quay lưng lại với cha mẹ, thầy lành, giao du bạn xấu, xem thường nhân quả, coi như trò chơi. Anh ta thả mình trong khoái lạc, nhạo báng và ăn ké khắp nơi. Anh ta ở giữa đúng và sai, giữa thuần khiết và ô uế, và nhận lấy những điều tồi tệ nhất từ cả hai - giống như trà bị ngâm trong nước hơi ấm thôi vậy.


Con đã không nhận ra là con cố gắng để được tự do bằng cách nổi loạn, phóng đãng, nhàn rỗi. Con cắt bỏ giới định huệ và tu tham sân si suốt ngày đêm mà không thấy mệt mỏi. Vì thế, khi đang lễ lạy ngang qua trang trại nhỏ này, con đã suy nghĩ về những năm tháng điên đảo đã qua và làm thế nào mà con đã xóa sạch gần hết khối gia sản tự nhiên sẵn có của mình. Con đã thấy mình sai lầm và ích kỷ như thế nào. Con chẳng thể trách ai cả ngoài chính mình. Tuy nhiên, lúc này đây, con đã thật hạnh phúc và may mắn, là một tu sĩ Phật Giáo đang lễ lạy về Vạn Phật Thánh Thành với người bạn đường tốt. Làm sao mà có thể được như vậy? Con nghĩ, mặc dù có thể bị trôi dạt xa khỏi những điều chân thật và chánh đáng đến đâu đi nữa, thì chỉ một việc làm tốt - một niệm ăn năn và hối cải - cũng có thể kéo chúng ta quay trở lại với đưa trở về phước điền của Phật. Phước điền của Phật san bằng các dị biệt, xóa đi mọi tội lỗi, diệt trừ tất cả phiền não.

Điều này khiến cho tất cả mọi người được vui vẻ và an lạc. Với chỉ một niệm, người ta có thể quay lại và trở về nhà. Phước điền của Phật vốn chẳng đến cũng chẳng đi, chỉ bởi chúng ta quên lãng, không để ý đến nó. Nó chẳng từ chối ai cả, cũng giống như trái đất vĩ đại:
 

Như Đại Địa là một,
Sanh trưởng đủ lọai mầm,
Đất không ý ưa ghét,
Phật phước điền cũng vậy.
(3)

Kinh Hoa Nghiêm

 

Bình an trong Đạo

Đệ Tử Quả Đình (Hằng Triều)

Cung kính đảnh lễ


Tái bút: Cũng giống như nước đục nếu để yên lặng sẽ lắng trong, nếu chúng ta tu hành chân thật, thì màn nước vô minh tâm trí sẽ tự nhiên trở nên thanh tịnh. Con không nên lo lắng, ngụy tạo, hay cố giữ lấy những lợi ích cá nhân. Việc chạy ra bên ngoài để tìm kiếm những thứ tốt đẹp nhất, to lớn nhất chỉ mang lại những rắc rối và mất mát. Con đã từng luôn niệm bản “kinh”: “ nhiều nữa, nhiều nữa, luôn luôn nhiều hơn nữa”, và chẳng bao giờ thỏa mãn. Giờ đây, con đang học niệm câu: “ Thế nào cũng được, không có vấn đề gì. Những gì mình có là đủ rồi”. Và như thế, mọi thứ trở nên tốt đẹp hơn.

Tái bút lần nữa: Con đã cố gắng kiếm chế nói năng để bắt được tâm loạn động của mình. Nhưng việc không nói chuyện và cố gắng hộ pháp cũng có những lúc khôi hài. Tuần trước, George Miller ở Bay Ranch đã mời chúng con dừng chân khi ngang qua chỗ ở của ông ấy. Chúng con không nhận lời mời thăm viếng người, do đó chúng con đã không có kế hoạch dừng lại.

Nhưng, khi chúng con lạy ngang qua trang trại đó, có một cậu bé đi ra và nói:

“Chào các ông, cháu là Peter Miller. Các ông có thể đến nhà cháu không?"

Con nghĩ cậu bé này đủ lớn để biết đọc, nên con viết lên miếng giấy: “ Không, chúng tôi không đến thăm”. Peter nhìn miếng giấy một cách chăm chú rồi nói: “Tốt, các ông đến ngay nhé?”

Con lại viết một miếng giấy nữa: “Chúng tôi không thể ghé thăm vì chúng tôi đã hứa là không làm những việc như vậy”

Cậu ta nhìn miếng giấy và gật đầu ra chiều hiểu ý rồi nói: “Ồ, tốt. Thế lúc nào ông nghĩ là có thể ghé qua?” cậu bé nói một cách rất tươi vui.

Peter không biết đọc. Nên con đã ra hiệu: “ Được rồi, chúng tôi sẽ ngừng lại vào lúc 7 giờ”, rồi chỉ vào số 7 trên đồng hồ của con. Peter gật đầu và tỏ vẻ rất hài lòng.

Peter cũng không biết xem giờ.

Đến 5 giờ, cậu ta quay trở lại và xem chúng con ngồi thiền và vá y. Cậu bé cứ luôn nhìn vào bức ảnh của Quán Thế Âm Bồ Tát treo trên cửa kiếng xe hơi và hỏi: “Các ông đến bây giờ chứ? Chúng tôi có rất nhiều nước. Các ông có thể mang tất cả các bình đựng nước đi và lấy đầy các bình.” Chúng con đã đi.

Việc cúng dường nước thì được - đó không phải là việc thăm viếng và chúng con đã không phải ghé qua căn nhà của họ và trò chuyện. Peter đã rất vui vẻ. Cậu ta chỉ cho chúng con những con dê của cậu và cúng dường diêm quẹt và cà rốt. Bằng cách nào đó dù không dùng lời, đồng hồ hay gây cảm giác xúc phạm nào, mọi thứ đã diễn ra rất tốt đẹp. Con nhận ra được một bài học nữa.

 

Ghi chú của ban Phiên Dịch Việt Ngữ:

(1) Peace Coprs: Một tổ chức thiện nguyện của Hoa Kỳ có tầm vóc quốc tế chuyên giúp đỡ thế giới http://en.wikipedia.org/wiki/Peace_Corps

(2) Nguyên văn Hoa ngữ: http://www.cbeta.org/result/normal/T10/0279_017.htm

T10n0279_p0089c03(04)║小世界即是大世界,
T10n0279_p0089c04(05)║大世界即是小世界;廣世界即是狹世界,
T10n0279_p0089c05(06)║狹世界即是廣世界;一世界即是不可說世界,
T10n0279_p0089c06(05)║不可說世界即是一世界;不可說世界入一世界,
T10n0279_p0089c07(03)║一世界入不可說世界

Tiểu thế giới tức thị đại thế giới, đại thế giới tức thị tiểu thế giới

Quảng thế giới tức thị hiệp thế giới, hiệp thế giới tức thị quảng thế giới

Nhất thế giới tức thị bất khả thuyết thế giới, bất khả thuyết thế giới tức thị nhất thế giới

Bất khả thuyết thế giới nhập nhất thế giới, nhất thế giới nhập bất khả thuyết thế giới.

(3) Nguyên văn Hoa ngữ: http://www.cbeta.org/result/normal/T09/0278_005.htm

T09n0278_p0428b01(00)║「譬如大地一, 能生種種芽,
T09n0278_p0428b02(00)║於彼無怨親, 佛福田亦然。

Thí như đại địa nhất
Năng sanh chủng chủng nha
Ư bỉ vô oán thân
Phật phúc điền diệc nhiên


 

Ngũ Vị Làm Tê Lưỡi

Ngày 23 tháng 6 năm 1979
Shell Beach, Quận hạt Sonoma

Kính thưa Sư Phụ,
 

Khi đạt đến chỗ không mong cầu,
Thì không còn lo lắng . (1)
 

Ngày hôm qua con có được một trận cười lớn. Cuộc sống của con rã rời ngay trước mắt con. Tự tánh cá nhân tan chảy như băng tuyết dưới ánh nắng mặt trời. Con cảm thấy vừa ngốc nghếch vừa vui vẻ. Con không thể làm gì khác hơn ngoài việc tiếp tục lạy và luôn tự hỏi: “Mình là ai?” Con không biết con là ai, nhưng con có thể nhìn thấy bóng ma của mình, đó là một kẻ giả tạo. Quả Chân, “Quả Chân Thật,” là một diễn viên. Mọi việc con làm chỉ là giả bộ; diễn kịch cho người khác xem. Vào một lúc nào đó trong vô số kiếp về trước, con có ý tưởng rằng con là một nhân vật rất lớn và quan trọng hàng đầu! Nhân vật số một! Do đó, mọi hành động, lời nói, suy nghĩ của con đều là để phù hợp với hình ảnh giả tạo này. Con nói dối để diễn tiếp vở kịch. Con đeo đủ các mặt nạ, giả tạo tác phong và hành động để trở thành người đứng số một, là “Cây súng nhanh nhất trong thị trấn”.

Một lượng năng lượng khổng lồ biết bao đã dành vào vở hài kịch con diễn này. Trải qua bao nhiêu ngày ở nơi đây, giữa xa lộ vắng vẻ cùng đàn chim hải âu, con tìm kiếm và vất vả, đấu tranh và bực bội, lo lắng về chút tiện ích này, chút lợi nhỏ kia. Thật là điên rồ và con sẽ tiếp tục làm suốt cuộc đời mình. Chẳng ai buộc con phải giả tạo. Chẳng ai khác viết kịch bản cho cuộc đời con. Cùng một lúc, con vừa là tác giả, vừa là diễn viên, vừa là khán giả, và cũng là nhà phê bình.

Tại sao không làm cuộc đời thành một vở kịch hay với chánh tri kiến, từ bi, bố thí và hoan hỷ? Thế gian tràn đầy những nỗi đau nên không có lý do gì để làm tăng thêm đau khổ nữa. Sự mê lầm của con từ đâu đến? Từ lòng tham lam, sân hận, ngu si cùng với sự chấp trước khổng lồ về bản ngã. Sai lầm tệ hại nhất của con, ngoài việc giả tạo, là tìm tự lợi. Vì con tự cho rằng mình là số một, là nhân vật đặc biệt, con tạo ra rất nhiều nghiệp xấu bằng cách thực hiện lòng ham muốn của bản thân. Con tìm kiếm danh lợi trong tất cả việc mình làm. Con không quay ánh sáng trở lại (hồi quang). Thay vào đó, con để năng lượng của mình chạy ra ngoài tìm kiếm những lợi lộc nhỏ nhoi. Con khuấy động mặt nước vốn tĩnh lặng của tự tánh thanh tịnh. Giờ đây, con nhận thức ra những lỗi lầm của mình và vẫn đang trả giá cho những sai lầm đó. Nguyên thủy vốn chẳng có thanh tịnh hay ô nhiễm, nhưng dòng nước xiết của phiền não cứ mãi tạt vào con cho đến khi những đợt sóng do con khuấy động lên từ từ lắng đọng. Trước đây con chỉ biết nhận vào. Con rất keo kiệt và xem thế giới này chỉ là nơi để con thỏa mãn lòng tham của con, là nơi để con tranh đấu và trút cơn giận, là sân khấu để con phô bày sự ngu si của mình. Con cảm thấy thế là vì công việc của con là trở thành số một, quy luật duy nhất của thế giới keo kiệt là con tự do lấy thật nhiều tùy khả năng và chẳng cho đi cái gì cả. Càng nhiều càng tốt. Đó là sự thành công, là khôn ngoan. Đó đã là sự nổi tiếng.

Từ phụ nữ, con lấy đồ ăn, nơi nương tựa và tình cảm yêu thương. Từ đàn ông, con lấy kiến thức và “ánh sáng”. Với những người thông minh hơn, con đã phải chiến đấu và lừa gạt, nói dối và vu khống. Với những người kém hơn, con đạp lên hay làm ngơ. Con cảm thấy xấu hổ vô cùng cho những tổn thương mà tự con đã gây ra do sự tìm kiếm ích kỷ của con để trở thành người giỏi nhất. Trên hết tất cả, con rất lấy làm tiếc cho những việc cho ra mà con đã bỏ lỡ. Cuộc đời con từng là như thế - chả trách con cảm thấy cô đơn, sợ hãi trong một thời gian thật dài; đó chính xác là nghiệp mà con đã gây tạo ra.
 

Chân thật nhận lỗi mình.
Không bàn tán lỗi người.
Lỗi người là lỗi mình.
Đồng thể tức Đại Bi. (2)

Hòa thượng Tuyên Hóa


Nhưng đó đã không phải là câu kệ mà con đã học. Con đã luôn tụng niệm nó theo cách này:


Nhanh chóng che lỗi mình
Vạch tất cả lỗi người
Lỗi người là lợi mình
Cảm thấy hơn mọi người
Gọi là Đại Ích Kỷ.

Quả Chân.
 

Khi con học trò chơi của cuộc đời lớn lên trong thế giới ích kỷ này, con đã cho rằng mình phải thật to lớn, khỏe mạnh, rắn chắc và cường tráng. Do đó, con luôn ăn rất nhiều, làm bộ thông thái và khôn ngoan, học rộng, nhiều liên hệ, thạo tin và chuyên nghiệp. Con cần phải biết mọi thứ. Cho nên, con vẫn đọc bảng số xe khi chúng chạy ngang qua. Con đã cho rằng mình ở bên trong vòng tròn, một phần của đám đông, nhóm tốt nhất. Nên con vẫn cố gắng quan hệ và liên kết với mọi người. Do con tịnh khẩu, nên cũng đã có những lúc buồn cười. Con cho rằng mình cần phải dễ ưa, hấp dẫn, có sức lôi cuốn và đẹp trai. Nên con vẫn giữ nụ cười máy móc giả tạo. Con cho rằng mình có quyền lực. Nên con ép buộc mình vào thế giới và không bao giờ chịu nhường bước. Con cho rằng mình là người có tinh thần trách nhiệm và nghiêm túc. Nên con không bao giờ xem nhẹ cuộc sống. Con cho rằng mình là người có khả năng, có năng lực, giỏi giang và thoải mái, cứng rắn và nhanh nhẹn, một lực sĩ giỏi, là người chiến thắng. Cho dù thế nào, con không thể là người thất bại, con phải chiến thắng!


Bồ Tát nguyện độ tất cả chúng sinh vĩnh viễn thoát ly khổ nạn, họ luôn luôn mở rộng lòng từ bi và không hề có ý niệm mưu hại ai.

 Kinh Hoa Nghiêm

Do con đã học rằng con phải trở thành người nổi tiếng, con vẫn cạnh tranh với Hằng Triều mọi lúc. Tên của trò chơi ấy là gì? Ăn ít ư? Được rồi, thầy ấy ăn bao nhiêu, con sẽ ăn ít hơn. Lễ lạy nhiều hơn ư? Con thà chết khô thành xương, chứ nhất định không lấy nước uống trước Hằng Triều. Ngồi thiền lâu hơn ư? Con sẽ không tháo chân cho đến khi thầy ấy đi ngủ. A ha! Thật xấu xa và ngu si biết bao cái quan niệm tìm kiếm trở thành số một này. Chẳng trách vì vậy con không thể nhận thức được lòng Đại Bi. Con không tu tập lòng Đại Bi. Con tu tập tâm Đại Ghanh Đua. Hôm thứ sáu vừa qua, chúng con bị một chai bia ném vào xuyên qua cửa sổ, con đã thức tỉnh khỏi cảnh giới này. Cái chai trúng ngay sau ảnh của Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát. Đó chính là những tư tưởng giận dữ của chính con đang hiển hiện trước mắt con. Bằng cách quay lưng lại với lòng Đại Bi, con đã ngoảnh mặt với Quán Thế Âm Bồ Tát.

Đây chính xác là nơi các cuộc chiến bắt đầu. Con trút ra năng lượng xấu xa, những xung động ô trược vào bầu khí quyển với mong muốn trở thành số một. Hành động này biến con trở thành một kẻ đạo đức giả, một kẻ nói dối. Và nó chẳng bao giờ kết thúc. Con từng biết những người đạt tới đỉnh cao của sự thành công về vật chất, quyền lực và danh vọng. Hầu hết bọn họ vẫn phải đấu tranh với những tay súng trẻ - những người đến thách thức cho vị trí đứng đầu đó. Những tay súng lớn thì vẫn luôn luôn đói khát, vẫn tìm kiếm nhiều hơn, luôn luôn thêm nữa.

Con đã cố gắng hết sức để trở thành ngôi sao. Con đã làm việc rất chăm chỉ cho vở kịch, đã đeo đúng các mặt nạ, phủ đúng bộ lông theo mùa, nói những điều dối trá đúng lúc khi con cần ghi điểm để trở thành người chiến thắng lớn. Con muốn tránh bỏ những điều này. Quả Chân - kẻ nói dối - đã rời vũ đài. Con bỏ cuộc chiến. Con không muốn làm số một. Trò chơi mang lại cho con nỗi bất hạnh và nghiệp xấu. Bằng tính ích kỷ của mình, con đã gây ra bao nhiêu rắc rối cho những người mà con biết. Tại sao chúng ta đấu tranh? Con đấu tranh vì con sợ phải đứng một mình. Tự đáy lòng, con biết cuối cùng rồi mình cũng phải chết và điều ấy khiến con sợ hãi. Nên, con đang cố nắm lấy thế giới và tìm kiếm những bằng chứng rằng con sẽ không phải bị đau khổ và chết. Con đã và đang luôn cảm thấy rằng nếu mình có thể tạo dựng cuộc đời mình khác thường và đầy thú vị, thật vĩ đại và nhiều ý vị, thì con sẽ ít bị tổn thương và có thể quên đi cái chết. Nhưng thực tế không phải như vậy. Moi thứ trên thế giới này đều giả dối và không thật, ngay cả những “thứ tốt nhất” mà mọi người hằng ao ước. Giàu có rồi trộm mất. Tình dục giống như là một tổ rắn độc đầy rắc rối và thương đau. Danh tiếng chỉ là hư vô, giống như gió khuấy động những con sóng đại dương. Thực phẩm cung cấp năng lượng cho cơ thể cũng giống như xe cần xăng. Ngủ vùi làm lãng phí thời gian quí giá. Điều gì còn sót lại sau cùng hay cái gì là chân thật trong những thứ đó? Tất cả chỉ là vô thường, giống như một giấc mơ.

Đức Phật vốn đã là một thái tử sắp kế vị ngôi vua. Ngài có tất cả những thứ tốt đẹp nhất trên cõi đời: của cải, quyền lực, xa hoa, và danh tiếng. Nhưng Ngài đã thức tỉnh thấy ra sự thật rằng, cho dù cuộc sống của Ngài có tốt đẹp thế nào thì cũng vẫn sẽ phải chết. Ngài đã nhận ra cuộc sống tất cả đều là vô nghĩa khi đối mặt với cái chết. Vàng dù có chất thành đống cao như núi cũng không mua chuộc được Quỷ Vô Thường khi mạng sống của chúng ta hết. Đức Phật đã nhận ra điều đó và ra đi để giải quyết vấn đề sinh tử. Ngài đã thành công. Ngài đã trở thành người số một thực sự trên thế gian. Ngài để lại những lời dạy và khuyến khích để chúng ta cũng có thể tu tập cho chính mình ra khỏi bánh xe đau khổ. Cái gì cản trở trên con đường đó? Ngũ dục và chấp Ngã. Quan niệm sai lầm về bản ngã bắt rễ sâu trong dục vọng. Dục vọng là nguyên nhân của sanh tử.
 

Ngay khi có dục vọng,
Là có ngay ích kỷ.
Khi có lòng ích kỷ,
Thì lòng tham khởi lên.
Khi vừa có lòng tham,
Mọi rắc rối bắt đầu.

Hòa thượng Tuyên Hóa, năm 1979

Ví dụ, con đã chưa từng biết rằng con có một ham muốn lớn về đồ ăn và vị ngon cho đến tuần này. Hằng Triều nói với con rằng, trong suốt hai năm hành hương lễ lạy qua, ngày ngày Thầy ấy đã thấy con như thả mình vào bữa ăn với đôi mắt sáng long lanh như xuất thần vậy. Hai má đỏ ửng lên, lưng thì sụp xuống, khuôn mặt nở một nụ cười rạng rỡ như đứa bé sau bữa ăn, như kẻ say trong ly rượu của mình. Đó là sau khi con đã nuốt đủ những thức ăn dinh dưỡng được nấu rất hợp khẩu vị. Con đã rất ngạc nhiên khi nghe điều đó. Con đã chẳng ý thức được là mình đã rơi vào trạng thái đam mê như vậy. Con chỉ biết rằng chánh niệm và khả năng tập trung tinh thần như biến mất vào lúc ăn trưa và chúng chỉ được phục hồi trở lại vài giờ sau khi thức ăn được tiêu hóa.

Suốt một tuần con đã quan sát con quỷ đói trong con trỗi dậy. Thật vậy, ngay khi con nêm chút muối mè, nước tương, dầu vào rau, thì hai má con trở nên nóng ran và đôi mắt bừng sáng lên. Sau đó con khám phá ra rằng đó chẳng phải là do bất kỳ loại thức ăn đặc biệt nào đã đưa con vào thế giới sung sướng vượt ra ngoài không gian ấy; mà là do chính tâm của con đã tạo ra. Có một ngày, con thực sự rất cần một chút rau xanh. Bắp cải đã có trong thực đơn và con đã bổ nhào vào nó. Kết quả tương tự: đỏ ửng, xuất thần, sụp lưng. Ngày tiếp theo con ăn món tàu hủ và lưỡi của con đã “nhập định” trong đó. A biết rồi! Từ bao lâu đến giờ, con đã và đang ăn vì hương vị!

“Cảnh ngũ dục này là thứ chướng đạo, nhẫn đến chướng Vô thượng Bồ đề. Do đây, nên Bồ tát chẳng có một niệm dục tưởng, lòng thanh tịnh như Phật”

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Hạnh.

Đứa trẻ người Mỹ được mạ vàng này cảm thấy rằng vì mình là một nhân vật đặc biệt, tất cả thức ăn tôi ăn phải có hương vị đậm đà, được gia vị, và ngon lành. Đó cùng là cái số một cũ kỹ, cái bản ngã to lớn đang tìm kiếm tự lợi. Chẳng trách mỗi ngày sự tu tập của con đều chấm dứt ở tô thức ăn. Vì con đã luôn chải chuốt để được nổi bật và vượt trội hơn người, con đã mong đợi để được có nhiều hơn, và luôn luôn là những thứ tốt nhất. Giống như nhiều người Mỹ khác, con thực sự đi theo đồ rẻ, theo giá hời, giảm giá, đồ tặng thêm, đi theo tô điểm cá nhân, theo mới lạ độc đáo, theo đồ miễn phí. Nếu có cái gì đó giảm giá, nếu con có thể tiết kiệm, nếu nó dễ dàng hay là mới mẻ, thì con đều luôn chạy theo. Đó là gì nếu chẳng phải là lòng tham tự lợi? Đó chính là thức ăn của bản ngã, đó là bản ngã trên hết, là tìm kiếm cái số một cũ kỹ đó. Và nó không bao giờ, không bao giờ được thỏa mãn.

Món tráng miệng luôn là phần hấp dẫn nhất trong mọi bữa ăn. Trái anh đào trong kem hoa quả, kem trong bánh kem, nước sốt trên món khoai tây - tất cả những thứ này đã luôn xoay chuyển con. Trong mọi việc con làm, con luôn tìm kiến tiền thưởng, tiền công, phần tốt, phần thưởng. Và dường như con chưa bao giờ thấy nó. Con tránh né điều gì? Làm việc chăm chỉ, chịu thiệt thòi, nhận khiển trách; con thích những hàng tít lớn, con thích hành động, con thích giật gân, ly kỳ thú vị, những hồi hộp vận tốc nhanh. Con đã không bao giờ làm một cái gì chập chạp hay khó khăn, nhàm chán hay yên lặng, bình thường theo bất cứ hình thức nào. Và con chưa bao giờ biết đến an lạc. Điều này thuần túy là ham muốn tiếng tăm và ham muốn mùi vị. Con đã tìm kiếm nó trong mọi thứ con ăn và mọi lời con nói. Con là một kẻ dối trá bởi vì con cảm thấy rằng mình không thể có bất cứ lỗi lầm gì. Con che đậy những phần xấu xa của mình bằng những lời lẽ huyễn hoặc và những biểu lộ giả tạo. Chẳng ai khác bị lừa. Chỉ có duy nhất mình con tin vào hành động của mình.

Để kết thúc câu chuyện này, ngày hôm qua con đã ăn một bữa thật thanh đạm, không gia vị, không pha trộn cầu kỳ. Con đã ăn mà không có chút tư tưởng gì về việc hưởng thụ phần thưởng từ thức ăn. Chẳng có gì đặc biệt. Chẳng có gì thêm vào. Chẳng có gì quá mức. Con ăn đơn giản, thẳng thắn và thành thật. Con đã ăn theo cách mà Quả Chân, “Fruit of Truth” và Hằng Thật, “Luôn Luôn Chân Thực” nên làm. Điều gì đã xảy ra? Lưỡi của con trở nên điên dại. Tâm trí con nhảy lên như con thỏ đi tìm thức ăn. Dục vọng bùng lên và khiến con run rẩy. “Điều gì khiến anh căng thẳng như thế?” Hằng Triều hỏi con! A ha! Con đã tìm thấy mỏ vàng của dục vọng. Thật là một sự mất mát cho ngôi sao mạ vàng! Con đã hiểu tại sao con đã có giai đoạn khó khăn như vậy để tịnh khẩu trong chuyến hành hương này và tại sao những lời, những chữ của con cũng đều quá giả tạo! Con đã tìm kiếm hương vị. Con phải trở thành người đặc biệt! Con phải chiến thắng! Con phải trở thành phi thường. Tại sao giờ đây con biểu lộ quan tâm như thế? Bởi vì con vừa gặp được Phật pháp. Con vừa thấy Phật và con không phải là Ngài. Con không thuần khiết, không chân thành, không thật thà. Con đã lạc Đạo, mất đi Trung Đạo. Nhưng thông qua tu tập trên con đường Đạo, con từ từ, từng bước dụng công quay trở về nơi thăng bằng và lành mạnh.

Khi bữa trưa kết thúc, con đã nhận ra rằng con đã không rơi vào trạng thái đam mê, con mắt đã phân định rõ ràng, má không ửng đỏ, không sụp lưng nữa. Khi con lạy vào buổi chiều hôm đó, con đã nhìn thấy ‘con người mình’ như chưa từng thấy trước đây: Luôn tìm kiếm, không bao giờ thỏa mãn, luôn luôn chiếm hữu, không bao giờ hạnh phúc, luôn luôn giả tạo, không bao giờ thành thật.

Con nhớ một mùa hè con đã ăn tự do tại một nhà ngon hảo hạng. Sau một tuần thưởng thức những món ăn ngon lạ mắt và hương vị tuyệt vời, lưỡi của con đã chết. Con đã không thể cảm nhận được một cái gì nữa. Quả đúng như vậy, như Đạo Đức Kinh có nói:
 

“Ngũ vị làm cho người ta tê lưỡi” (3)

Đạo đức Kinh, chương 12.


Tất cả những gì con muốn là cơm trắng và trà thanh đạm. Con đã quên bài học đó cho mãi đến tận ngày hôm qua. Món ăn thanh đạm vẫn ngon như thường. Công việc cực nhọc chậm chạp bình thường là nơi nó ở, vì nó mãn nguyện.

Biết đủ luôn an lạc.
Nhẫn nại được an lành (4)
 

Đã từ lâu rồi, chính những ham muốn kéo con lệch lạc, tham lam vô tận, không bao giờ biết đủ, mang đến cho con bao tổn thương. Việc làm Tam bộ bái Phật này tưởng chừng có vẻ đơn giản và nhàm chán. Nhưng nó đầy đủ. Nó là sự phong phú vô tận và tưởng thưởng thực sự. Nó đã mang lại cho con niềm hạnh phúc và sự thỏa mãn. Tìm kiếm để trở thành số một khiến con đau khổ. Lễ lạy đến không còn chính mình và hồi hướng công đức đến tất cả chúng sinh khiến con cảm thấy an lạc và bằng lòng. Đôi câu đối bên cánh cửa của “Chùa Tây Lạc Viên” ở Hương Cảng có viết:

"Nam Hải Đai Bi Quán Thế Âm, dữ thùy tranh đệ nhất?”
Tây Phương Cực Lạc A Di Đà, đồng ngã nguyên vô nhị" (5)
 

Tạm dịch:

"Nam Hải Đai Bi Quán Thế Âm, với ai tranh đệ nhất?”
Tây Phương Cực Lạc A Di Đà, cùng ta vốn không hai"

 

Đệ tử của Phật,

Quả Chân (Hằng Thật)

Cung kính đảnh lễ

 

Quả Cao, đệ tử trung thành của Hòa Thượng, đưa mẹ và hai con trai đến chào hai thầy, mang đồ cúng dường và cùng tham gia lễ lạy với hai thầy dọc xa lộ.
 

Những người trẻ tuổi từ tu viện Kim Luân cầm bản đồ trong khi hai Thầy kiểm tra đường đi trong lúc họ đến thăm viếng, các cậu bé tham gia Tam Bộ Nhất Bái trong vài giờ.

 

 

Ghi chú của ban Phiên Dịch Việt Ngữ:

(1) Đây là nửa cuối của bài kệ: “Tri sự thiểu thời phiền não thiểu. Đáo vô cầu xứ tiện vô ưu”:「知事少時煩惱少,到無求處便無憂。」dịch nghĩa: Sự đời biết ít, phiền não ít. Đạt đến “không cầu” tất hết lo. http://www.drbachinese.org/vbs/publish/288/vbs288p020.htm

(2) Nguyên văn Hoa ngữ

真認自己錯,

莫論他人非,

他非即我非,

同體名大悲。

 (3) Nguyên văn Hoa ngữ: 五味令人口爽 . Lão Tử - Đạo Đức Kinh - Bản dịch của Nguyễn Hiến Lê.

(4) Nguyên văn Hoa ngữ:「知足常樂,能忍自安」Tri túc thường lạc; Năng nhẫn tự an.

(5) Nguyên văn Hoa ngữ:

南海大悲觀音菩薩與誰爭第一 ,

西方極樂阿彌陀佛同我原不二

"Nam Hải Đai Bi Quán Thế Âm, dữ thùy tranh đệ nhất?”
Tây Phương Cực Lạc A Di Đà, đồng ngã nguyên vô nhị"

Câu đối hai bên cánh cửa của “Chùa Tây Lạc Viên” ở Hương Cảng

 

Thế Giới Hiện Đại Đã Huấn Luyện Người Ta Tranh Giành

Ngày 1 tháng 7 năm 1979

Bờ biển Sonoma

Kính thưa Sư Phụ,

Kinh Hoa Nghiêm có một năng lực chữa bệnh mãnh liệt cho người tu hành, khiến cho cả ngày lẫn đêm như đi vào một hành trình khám phá. Tu Đạo nghĩa là học hỏi không ngừng. Tất cả mọi người là thầy, thế giới là lớp học, nguyên tắc rèn luyện là Từ, Bi, Hỉ, Xả. Các khóa học gồm có Niềm tin, Tinh tấn, Nhất tâm, Thiền định và Trí huệ. Kiên nhẫn là vị giám thị. Lòng Đại Bi là sự hứng khởi thường xuyên, Bồ Đề giác ngộ của chư Phật là sự tốt nghiệp trong tương lai.

Hàng ngày tu tập, con thấy càng nhiều thói quen xấu bộc lộ. Sự tu tập đã chiếu ánh sáng vào trong những góc tối của tâm trí. Càng làm việc chăm chỉ, con càng cảm thấy hạnh phúc hơn và tốt đẹp hơn. Giống như mở các cửa ra vào và cửa sổ của một căn gác ẩm mốc, không khí trong lành của Phật Pháp tạo nên không gian hữu ích từ những phần cuộc sống mà đã lâu lắm con không để ý tới. Con muốn trở thành Phật. Trước hết con cần phải thay đổi rất nhiều.

Lớn lên trong thời hiện đại, con đã học được cách làm thế nào để đấu tranh cho những gì được gọi là "thành công và hạnh phúc". Bài học được chia thành cuộc đấu tranh cho quyền lực, khoái lạc, giàu có, lợi nhuận, và danh vọng. Khi mê lẫn với chính trị thì nó được gọi là "cuộc đấu tranh cho tự do". Cuối cùng đó chỉ là rất nhiều đấu tranh.

Thế giới hiện đại đào tạo tuổi trẻ đấu tranh cho sự thành công. Khi con học được các quy tắc của trò chơi chiến đấu, con đã bị lừa gạt với khái niệm rằng càng thành công sẽ mang lại càng nhiều hạnh phúc, cho dù con có phải làm bất cứ gì, hay có phải chà đạp, lừa gạt, hay gây tổn thương cho bất cứ ai trong quá trình đó. Điểm mấu chốt của trò chơi là có được mọi thứ nhiều hơn. Chỉ có một nguyên tắc duy nhất: chiến thắng. Cho dù thế nào thì cũng phải: Chiến thắng lớn. Chúng con tôn vinh những người phá luật, những kẻ ngoài vòng pháp luật, và những kẻ lừa đảo thông minh. Đó là sự điên đảo.

Con đã hết sức cố gắng để chiến thắng trong trò chơi nhằm thành công điên cuồng này. Con càng làm giỏi trong trò chơi này thì con càng cảm thấy không vui. “Ồ, đó là cảm giác cô đơn khi ở trên đỉnh cao”, như lời một bài hát thịnh hành. Và một phần của trò chơi mà không ai nói với con là cuối cùng thì chẳng có gì là hoàn toàn miễn phí cả. Khi ai đó phá vỡ nguyên tắc để chiến thắng, thì người đó sẽ thất bại. Họ có thể không nhận hậu quả ngay lập tức giống như trận đua ngựa, nhưng nhân quả thì rất chân thật - không sai trật một mảy may.

Chuyến hành hương lễ lạy này đã mở tâm trí của con về sự huấn luyện trong quá khứ. Sau hai năm lễ lạy, chỉ đến tháng này, con mới sâu sắc nhận ra rằng con đã bị cài đặt chương trình để chiến đấu như thế nào. Xuất gia và lập nguyện đưa con vào con đường đúng đắn. Phải mất rất nhiều lần thanh lọc, và vứt bỏ để nhổ sạch gốc rễ những thói quen xấu của mình. Nhờ năng lực của sự sám hối và sửa đổi, con đã được giúp đỡ rất nhiều trong việc hồi phục sức khỏe này.

Khi chúng con lễ lạy xuyên qua vùng ngoại ô đang ngái ngủ của thành phố Daly City, chúng con đã cảm nhận được rất nhiều làn sóng thù địch từ những người trẻ tuổi. Chúng con đã nghe thấy những tiếng hét lên rằng “ Bọn họ đang hôn đất! Thật là lầm lạc!” “ Mày đứng dậy từ chỗ đó. Mày mà hôn cái lề đường lần nữa, tao sẽ bắn mày!” “ Mày không thể làm thế ở đây. Hãy đi chỗ khác mà hôn đất!”.

Con nghĩ, “Thật đáng buồn! Chúng con đã đi gần sáu trăm dặm và chỉ trừ lúc khởi đầu, đến nay lại có những người nghĩ chúng con đang hôn đất. Cái gì đây?"

Vì không tạo nghiệp ác, nghiệp ác không chướng ngại Bồ Tát. Vì không khởi phiền não, phiền não không chướng ngại Bồ Tát. Vì không khinh chê giáo Pháp, giáo Pháp không chướng ngại Bồ Tát. Vì không phỉ báng Chánh Pháp, Bồ Tát không bị quả báo chướng ngại.

Kinh Hoa Nghiêm.

Cùng ngày một lúc sau đó, có hai thanh niên đã đến với công việc là chỉ cho con thấy rõ hơn về nghiệp đấu tranh của con. Họ đã ném trứng, vỏ hộp sữa, những tờ báo cuộn lại, và đá. Tất cả đều ném không trúng, nhưng con đã nhận được thông điệp tất cả đều như nhau. Những thiếu niên này rất cố gắng trong nỗ lực của họ, tuy trơ tráo. Con cúi lạy và nghe tiếng những bước chân đến gần. Cái gì đó mềm và dính rơi tung tóe ngay phía trên đầu con. Cả một ly bơ thối ụp xuống trên nón con, trùm cả tai trái. Điều đó cảm thấy thế nào? Sự tổn thương đến từ hư không . Làm sao mà con đã dùng tâm trí mình để đấu tranh và gây tổn thương cho mọi người theo cách như vậy trong một thời gian lâu xa như vậy?

Đó chính là hậu quả của việc tìm kiếm thành công bằng bất cứ giá nào. Bồ tát thì nghĩ thế nào?


Bồ tát dùng Phật Pháp để chuyển hóa tất cả chúng sinh với lòng Từ Bi mà không bao giờ làm tổn thương hay gây hại.

Kinh Hoa Nghiêm.

Bồ tát không tranh đấu, không tranh giành. Họ không phân biệt bất kỳ chúng sinh nào. Như khi con lớn lên, con đã học về sự phân biệt giai tầng xã hội trong nháy mắt, tất cả dựa vào cạnh tranh để trở thành số một. “Không thua kém người láng giềng” là tên của trò chơi. Sự phân biệt dựa trên vẻ bề ngoài, giống như lớp mạ crôm khiến cho xe hơi trông khác nhau. Con mặc áo màu xám, áo choàng rách tả tơi, và đôi tay lúc nào cũng dơ bẩn. Con quan sát mọi người phản ứng với vẻ bề ngoài của con và nhận ra rằng mình đã phân biệt mọi người dựa trên những vẻ bề ngoài và y phục giả tạo đó như thế nào. Con đã chưa bao giờ thỏa mãn. Với những người phong cách hơn thì khiến con cảm thấy ghen tị và thua kém. Với những người chẳng có chút phong cách gì thì khiến con thấy mình cao hơn, như người chiến thắng. Thật là một cái bẫy con đã tự gài mình với những phân biệt đổi xử sai lầm. Thật là một gánh nặng. Điều khôi hài là: Chỉ trong tuần này con mới nhận ra rằng con vẫn suy nghĩ theo cách này. Sau sáu năm là Phật tử và năm năm làm tu sĩ mà con vẫn mang theo những thói quen phân biệt này. Sự tìm kiếm và mong muốn chiến thắng là những chương trình cài đặt  sâu sắc nhất trong con. Thực sự rất khó khăn để giũ bỏ!

Làm thế nào mà con khám phá ra điều đó? Tuần trước, con đã đọc những lời chân thật này trong Kinh:

Tội tham dục cũng làm cho chúng sanh đọa ba ác đạo. Nếu sanh trong loài người thời mắc hai quả báo: Lòng không biết đủ và quá tham muốn không nhàm.

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Thập Địa

Bữa trưa hôm sau vào giờ thọ trai, con thấy một cái xe dừng lại, một chiếc Cadillac. Một người đàn ông ăn mặc trông bảnh bao, nước da rám nắng bước ra và ngay lập tức con nhận ra ông ta là một người thành công. Có lẽ là một người có nghề nghiệp chuyên môn. Sau đó, có cái gì đó thay đổi trong mắt con. Con nghĩ: “ Này, chờ chút. Ngươi không biết có gì trong tim ông ta. Tại sao ngươi lại cạnh tranh với người khác? Ngươi làm thế để cho cái bản ngã của chính ngươi tồn tại. Đừng làm thế! Lòng Đại Bi không tranh giành. Hãy nói không với bản thân. Hãy để kệ ông ta. Hãy tu tập trên con đường của ngươi. Hãy quay ánh sáng trở lại (hồi quang). Đừng chiến đấu! Người đàn ông đó là cha ngươi. Ông ấy là thầy ngươi. Ông ấy là ngươi. Hãy phát nguyện độ ông ta cho dù ông ta là ai. Sớm hay muộn ông ta cũng trở thành Phật, ngươi cũng thế. Đừng chướng ngại cả hai với nhân duyên tranh giành và giết hại. Đây không phải là trò đùa. Hãy tu hành Phật Pháp, biết bao nhiêu tu bấy nhiêu”.

Tối đó, Kinh lại nói đạo lý cho con lần nữa:

Bồ tát nghĩ rằng: “ Tất cả chúng sinh phân biệt bỉ ngã phá hoại lẫn nhau, đấu tranh, xung đột, sân hận hẫy hừng không ngớt, tôi phải làm cho họ an trụ nơi đạo vô thượng đại từ.

Kinh Hoa Nghiêm.  Phẩm thứ hai mươi sáu - Thập địa - Phần mười thứ thâm tâm.

 

Đệ tử của Phật,

Quả Chân (Hằng Thật)

Cung kính đảnh lễ

 

Xììì..." Như Tiếng Bánh Xe Bị Xẹp

Ngày 27 tháng 6, năm 1979

Jenner, California

Kính thưa Sư Phụ,
 

Phần một.
 

Ai cũng thích nghe nói về bản thân mình. Ai mà chẳng muốn biết họ là ai và từ đâu tới, họ sẽ về đâu và những nguyên nhân sâu xa đằng sau những gì họ làm? Thậm chí những người hoài nghi nhất cũng có thể ngồi hàng giờ nghe say mê về lá số tử vi của họ, chỉ tay, hay bói bài taro. Kinh Dịch và bói toán, xem tâm linh và bảng cầu cơ, và tất cả các hình thức bói toán huyền bí khác thịnh hành bởi mọi người đều thấy rằng còn có nhiều thứ khác trong cuộc sống ngoài những thứ hữu hình và rõ ràng; mỗi người còn có nhiều thứ khác nữa ngoài các phân tử, thức ăn, quần áo và ngủ.

Tối hôm qua, chúng con đã đọc đến phần Thập Thiện trong “Phẩm Thập Địa” của Kinh Hoa Nghiêm. A, thật tuyệt vời làm sao! Khi thầy Hằng Thật dịch, con đã ngồi nghe chăm chú! Con có thể ngồi nghe suốt đêm. Kinh dạy chi tiết những quả báo mà một người phải chịu khi làm từng điều ác trong Thập Ác. Đây là sự thật! Không giống như bói toán là thứ bị pha trộn sự thông thái nửa vời với rất nhiều lời tâng bốc, Kinh Hoa Nghiêm vượt qua tất cả những thứ nhỏ bé hạn hẹp và vượt lên như mặt trời cao trên tất cả bụi bặm thế gian. Không chỉ môn bói toán, thậm chí cả những môn khoa học tâm lý cũng không thể hiểu rõ được cách làm thế nào để thay đổi được số phận hay bản tính, đều là may rủi, mò mẫm theo kinh nghiệm. Phật Pháp rất rõ ràng và hoàn hảo. Nó bao trùm tất cả những nẻo luân hồi và chỉ cách thoát ra.

Kinh đơn giản dạy rằng mọi thứ xảy ra với ta đến từ những việc ta làm. Làm lành thì hưởng quả báo lành, làm ác sẽ chỉ chuốc lấy khổ đau và chướng ngại. Điều này không sai trật mảy may và không do ai khác trừ chính mình. Thầy Hằng Thật và con đã choáng váng khi đọc kinh Hoa Nghiêm. Mặc dù đã cổ xưa hơn ba nghìn năm, nhưng kinh đã nói thẳng vào trong tim chúng con trong lúc chúng con đang ngồi trong một chiếc xe hơi cũ bên bờ biển Califonia trong thời đại Không gian này!

Con đọc đoạn này và đã hiểu được tận cốt tủy bản tính mình. Điều gì chưa rõ giờ trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết. Những gì con không nhận ra ở mình trước đây, giờ được phơi bày giống như bóc toạc băng dán cũ ra khỏi vết thương

Tội tham dục cũng làm cho chúng sanh đọa vào Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh. Nếu sanh trong loài người thời mắc hai quả báo: Lòng không biết đủ và quá tham muốn không nhàm.

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Thập Địa.

“ Này! Đó là tôi” Con nghĩ. Con đã từng có tất cả những lời đoán giải tâm linh và con tưởng đã hiểu được chính mình. Nhưng tối qua, Kinh Hoa Nghiêm đã giúp mở mắt và tim con không giống như bất cứ lần nào trước đây. Rất rõ ràng và thẳng thắn. Không cần rườm rà hay thần bí, thông điệp đó như là “tiếng búa nện trên thép”. Con biết rõ không còn hoài nghi gì nữa về điều mà Kinh Hoa Nghiêm nói là sự thật bên trong sự thật. Kinh xứng đáng được gọi là “Sự hiểu biết tột cùng của tâm trí và tất cả các cảnh giới của tâm”. Đó là lời dạy cao nhất và trí huệ sâu xa nhất của tất cả chúng sinh.

Đó không phải là sự thất vọng hay là sự thỏa mãn của bản ngã để nghe rằng con thực sự là ai. Phật Pháp không như vậy. Sự thật được tiết lộ mà không một chút xúc cảm cũng chẳng giấu giiếm chút nào. Kinh đã được nói ra chỉ để giúp toàn thể chúng sinh kết thúc khổ đau và đạt được hạnh phúc. Điều đó giống như có một vị bác sĩ nhân từ và ngay thẳng nói với bạn chính xác căn bệnh mà bạn mắc phải và bạn cần làm gì để hồi phục.

Con chưa bao giờ biết đủ. Tâm trí “của con” không bao giờ thỏa mãn. Sự thỏa mãn luôn ở đằng kia – trong công việc tiếp theo, thành phố sắp tới, năm tới, nhưng chưa khi nào ở ngay chính trong tim con lúc này. Cho dù có là gì chăng nữa - bạn bè, học vấn, thức ăn, thậm chí khám phá bản thân và tâm trí mình – con cần phải có nhiều hơn, luôn luôn nhiều hơn nữa. Con đã “ từ bỏ cái gần và ra đi tìm kiếm cái xa”. Con không bao giờ biết khi nào dừng lại hay làm thế nào để nói” đủ”. Quá nhiều cũng đồng nghĩa với quá ít.

 

Phần hai.


Vài tuần trước đây, Hòa Thượng trụ trì cùng một nhóm đệ tử đã dừng lại và cùng chia sẻ với chúng con bữa ăn. Khi tất cả ngồi cùng nhau ngồi dưới mấy gốc cây bên ngoài thung lũng Valley Ford, con đã có cảm giác rất đầy đủ và tự nhiên chỉ tĩnh lặng. Con chẳng có gì để nói, cũng chẳng có gì để hỏi. Hạnh phúc, chẳng tìm kiếm gì cả. Vị thiện tri thức trong con nói: “Được rồi, này Sa di, ngươi đã có đủ thức ăn. Hãy nhớ, ngươi vốn đã có đủ tất cả mọi thứ cần thiết bên trong. Ngươi không cần tìm kiếm cái gì bên ngoài nữa. Mọi rắc rối, phiền não, tai họa đến từ việc tìm kiếm và ham muốn hơn nữa. Khi ngươi ngừng tìm kiếm, mọi lo phiền sẽ biến mất”. Đầy đủ.

Nhưng ngay sau đó, vị ác tri thức trong con lên tiếng, “Này, tất cả những đồ ăn ngon lành này. Có ăn thêm vài miếng nữa thì cũng không hại gì đâu. Ngươi có thể đốt cháy hết nó khi lễ lạy. Hãy ăn thêm một chút thứ này và thứ khác, nhanh lên! trước khi bữa ăn kết thúc!”. Và vì vậy con đã làm. Sau đó, đột nhiên vị hoàng đế trong con nói, “ Hãy nhìn vào đây. Tất cả mọi người và những cơ duyên hấp dẫn này. Ngươi đã chưa nói một lời. Bây giờ mọi người sắp rời đi. Hãy làm liền đi, nhanh lên.” Và một lần nữa, con đã không cưỡng lại được. Con đã mở miệng và hỏi Sư Phụ một câu thật ngu xuẩn chỉ nhằm nổi bật. Con đã nổi bật và ngay lập tức mất đi ánh sáng - “Xììì ” giống như tiếng bánh xe bị xẹp.

Tâm tham như hố sâu không đáy.
Dù thêm vào nhưng khó lấp đầy
Lòng nóng giận hiện ra nhanh chóng
Ngũ dục mê mờ khiến đảo điên,
Vô minh làm thuyền Pháp lật nhào.

Hòa Thượng Tuyên Hóa


Câu trả lời của Sư Phụ thật nhanh chóng và trực chỉ, “Ăn nhiều hơn, tu hành nhiều hơn, châm lửa cho cháy thêm nữa. Cứ tiếp tục như thế này mãi đi. Nhiều hơn, luôn nhiều hơn nữa. Mọi thứ đều nên nhiều hơn!”. Sư Phụ đã nói lên kinh “dài dòng” này mà con đã tụng trong tâm trí con suốt cả đời. Bởi vì con chưa bao giờ bằng lòng với những gì con có trước đây, con bây giờ đang chịu quả báo “có nhiều ham muốn mà không bao giờ thấy thỏa mãn”. Đạo Phật không phải để thỏa mãn kiến thức. Những điều trong Kinh nói chứa đựng những bí mật đối với tâm trí của chúng ta và vũ trụ.

Về một phương diện, toàn bộ chuyến hành hương này là một nỗ lực nhằm giảm bớt lòng tham của chúng con về “các hương vị của dục vọng”. Mọi thảm họa đến từ dục vọng. Mỗi một chút lòng tham mà ta có thể cắt giảm sẽ đem lại một chút hiểu biết bên trong và lượng hòa bình tương ứng trên thế giới. Tất cả những rắc rối ta gặp phải đều do sự tìm kiếm. Tất cả những vấn đề trên thế giới - chiến tranh, nạn đói, thiên tai, và thảm họa, gia đình suy thoái, cá nhân cảm thấy mất mát và suy sụp tinh thần – không có cái nào là không bắt đầu với một niệm tham lam và tìm kiếm nhiều hơn nữa. Đoạn này trong Kinh Hoa Nghiêm trở thành tiêu đề chính yếu của việc lễ lạy. Chúng con đã dùng điều này như là liều thuốc tốt để chữa trị cho lòng tham của chúng con.

Tôi vì cứu độ tất cả chúng sanh mà phát Bồ đề tâm, chớ chẳng phải vì tự thân mà cầu đạo Vô thượng. Cũng chẳng phải vì cầu hưởng phước lạc trong ba cõi mà tôi tu Bồ đề hạnh. Tại sao vậy? Vì phước lạc thế gian không gì chẳng phải là khổ, là cảnh giới ma, Chư Phật luôn quở trách, chỉ có kẻ ngu mới tham trước, tất cả khổ hoạn đều nhơn đó mà có. Những ác đạo Ðịa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh, chỗ Diêm La Vương, giận thù kiện cáo hủy nhục nhau v.v… đều do tham trước ngũ dục mà gây nên.

Bồ Tát quán sát thế gian như vậy và làm giảm lòng tham các hương vị của mình.

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Thập Hồi Hướng. (Phần nhập Pháp giới vô lượng hồi hướng).

Chúng con vừa qua cây cầu nhỏ và đi vào quận hạt Sonoma. Phía trước là 125 miles (201km) lễ lạy và là cơ hội để “giảm đi lòng tham về dục vọng”. Ai chính là cái lòng tham vô cùng này? Cho dù chúng con không xem ti vi hay nghe tin tức hay đọc báo chí, chúng con vẫn cảm giác được sự căng thẳng, chiến tranh và thảm họa đang tăng trưởng trên thế giới. Cả thế giới đều ở ngay trong tự tánh của chúng ta. Chúng con biết rằng bây giờ chính là lúc để quay trở lại, buông xuống tất cả và nhất tâm lễ lạy hướng về Vạn Phật Thánh Thành.

 

An lạc trong Đạo,

Đệ tử Quả Đình (Hằng Triều)

Cung kính đảnh lễ
 

Bởi nghiệp lực riêng khác của chúng sinh mà có vô lượng vô số thế giới chẳng đồng nhau, trong đó chúng ta bám chấp để sinh tồn và mỗi người thọ khổ vui khác nhau.

Kinh Hoa Nghiêm

 

 

Lão Khờ

Ngày 1 tháng 7, năm 1979

Phía trên Russian Creek, bắc Jenner, Califonia
 

Kính thưa Sư Phụ,


Khi tu Đạo tiến bộ thì những sự thử thách sẽ gia tăng. Có câu rằng:

Đạo cao một tấc,
Ma cao một trượng,
Đạo cao một trượng,
Ma quá đầu thượng.

Hòa Thượng Tuyên Hóa, tháng 5 năm 1979, Olema, Califonia.

 

Vùng đất mới và những thử thách mới. Chúng con đi vào những con đường dốc quanh co dựng đứng theo những vách núi bên bờ biển. Nó gần giống như là Big Sur. Ngày hôm qua, một chiếc xe chở đầy những người đàn ông và phụ nữ lạ trong những bộ áo choàng màu trắng dừng lại. “ Các ông thuộc nhóm nào?” một người hỏi. Con đưa cho họ một bản thông báo. “ Thế các ông đã gặp Gia đình Chúa Giê su chưa?” một người khác hỏi bằng một giọng hung hăng và căm ghét.

Hôm nay, một chiếc xe khác đã dừng lại khi chúng con đang lạy, “Các ông nên học hỏi Đạo Lão…à, hoặc là thử ma túy” người đàn ông nói. Sau đó, ông ta thực sự trở nên tức giận và hét lên, “Các ông là những kẻ thất bại !” Ông ta ném một hòn đá. Nhưng không trúng.

Đến cuối ngày, chúng con lạy trên phía đỉnh con đường chạy ngoằn ngoèo xuống hẻm núi dốc, ngang qua công viên tiểu bang Russian Gulch và con đường chuyển qua nhiều đoạn đi ngược lên một ngọn núi ở phía bên kia hẽm núi. Đó là một nơi thật rộng rãi và yên lặng – không có thị trấn và nhà cửa. Con đột nhiên nhận ra có hai người đàn ông đang theo dõi chúng con từ sau bụi cây bên sườn đồi phía bên phải chúng con. Thật xa phía dưới kia trên bãi biển hoang vắng có ai đó đang la hét chúng con. Nhưng những trận gió lớn đã làm những lời ấy trầm loãng đi. Chúng con lạy và hồi hướng rồi bắt đầu quay trở chỗ dừng xe.

Đằng sau, một người đàn ông trẻ tuổi chạy lên, “ Này, mấy môn đồ kia!” anh ta hét lên. Anh ta đuổi kịp và hỏi chúng con đang làm gì. Anh ta hỏi: "Sống thoát tục à ?”. Con ra hiệu là không nói chuyện và đưa cho anh ta một bản thông báo. Anh ta không đọc. Có cái gì đó thoáng qua nét mặt và đột nhiên, anh ta trở nên rất tức giận và đe dọa. “Tịnh khẩu hả?” anh ta thách thức. “Các ông nên là những tín đồ Cơ Đốc. Cái này không đúng. Các ông sai rồi, ... hoàn toàn sai”. Anh ta tự mình rơi vào trong căm ghét điên cuồng. Chúng con tiếp tục đi trở lại xe như chẳng có chuyện gì để lý luận với anh ta cả.

“Các ông thật ngu xuẩn, thực sự ngu xuẩn?” ông ta hét lên. Toàn khuôn mặt và thân hình anh ta trở nên mất kiểm soát, giống y như là đang bị quỷ ám vậy. Anh ta bắt đầu ném đá với sự bạo ác mãnh liệt. “Các ông là những kẻ lầm đường. Các ông đang hướng đến cái chết”. Lúc bấy giờ những hòn đá liên tiếp bay về chúng con rất nhanh và mạnh – kích thước chúng cỡ bằng quả bóng chày. Chúng vỡ vụn ra trên đường nhựa xung quanh chúng con. Mặc dù anh ta ở rất gần, nhưng những hòn đá vẫn cứ bị ném trượt. Anh ta không hề có một chút gì là ngần ngại hay rụt tay lại. Anh ta ném những hòn đá to nhất có thể tìm thấy và mạnh hết sức có thể. Phải làm gì đây?

Khi chúng con đi đến chiếc xe, có hai người đàn ông đã xuất hiện hồi nãy ở trong bụi cây ở trên đồi đi bộ lên. “ Này, xe của chúng tôi bị hư. Các ông có thể đưa chúng tôi đến trạm điện thoại gần nhất được không?” họ hỏi. Người thanh niên ném đá quay trở lại với mấy người bạn. Bọn họ mang rất nhiều đá và đi về hướng chúng con.

“Hướng nào?” con hỏi hai người đàn ông.

“Hướng đó,” họ nói, chỉ tay về hướng ngược lại với hướng những người thanh niên đang xông tới.

“Được rồi, nhảy vô xe.”

Chiếc xe nổ máy, nhưng lại bị chết máy. “ Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát”. Con thử lại lần nữa. Xe nổ máy. Chúng con vòng xe trở lại và hướng về phía Jenner. Những hòn đá liệng đến ầm ầm xung quanh. Qua kính chiếu hậu, chúng con thấy họ vừa chạy vừa ném, đuổi theo chiếc xe khi chúng con đi khỏi. Con đường phủ đầy những hòn đá vỡ. Nhưng không hòn đá nào ném trúng chúng con hay chiếc xe.

“Này, họ đã ném đá vào các ông hả?” một người đàn ông ngồi ghế sau cười hỏi. Con gật đầu. “Họ chỉ là những đứa trẻ con thôi”, người ấy nói bằng một giọng tử tế và hiểu biết.

Con nhớ lại bài kệ này đã được nghe Sư Phụ đọc như là cách ứng xử khi đối mặt với nghịch cảnh:

“ Lão Khờ mặc áo vá

Cơm nhạt bụng no nê

Vá áo để che lạnh

Muôn sự để tùy duyên,

Có người mắng Lão Khờ,

Lão Khờ chỉ nói tốt.

Có người đánh Lão Khờ,

Lão Khờ nằm xuống ngủ.

Khạc nhổ trên mặt lão,

Cứ để tự nó khô.

Lão cũng không phí sức,

Mà người cũng không phiền.

Ba La Mật như vậy,

Là vật báu huyền diệu.

Nếu ai biết lẽ này,

Lo gì không đạt Đạo?” (1)

 

Hát bài ca này và bạn không thể lầm đường. Nhưng bài ca của Lão Khờ không phải là bài con thường ca. Phương pháp của Lão Khờ là một điều mới mẻ với con.

Con đã lớn lên trong văn hóa “ Đấu tranh của người Ái Nhĩ Lan” và thuyết Manifest Destiny (Thuyết bành trướng do định mệnh) (2). Con đã từng quen thuộc với chiến đấu và chiến thắng, rất khó cho con ngồi xuống chịu sự xúc phạm, đau khổ, vu khống và mất mát. Cũng khó khăn tương tự cho con để không hài lòng với những lời tán dương, nụ cười, những lợi ích, và thành công. Hài lòng với cái này nhưng lại không chịu nổi với cái kia. Thích ngọt ngào nhưng lại không thể chịu đựng nổi cay đắng đều là hai dạng của khổ đau. Được tự do nghĩa là: Không tìm kiếm gì cả và không sợ hãi gì cả. Nhưng muốn thế cần phải thực hành.

Ở ngoài này, chúng con có rất nhiều cơ hội để tu tập. Chúng con lái xe một vài dặm về phía nam của chỗ bị tấn công bằng đá để cắm trại đêm hôm đó. Nhưng đến sáng hôm sau, chúng con phải lễ lạy ngang qua chính cái khe suối nơi mấy người thanh niên trẻ cắm trại ở đó. Với tốc độ lạy khoảng gần một dặm một ngày, chúng con có thể sẽ là những mục tiêu rõ ràng cho họ. Không có con đường nào khác. Con bắt đầu cảm thấy lo lắng, cảm giác căng thẳng và cò thể bị tổn thương. Tại sao? Bởi vì con vừa phát nguyện không tranh chấp nữa. Không còn tranh chấp cho lợi ích cá nhân bằng thân, khẩu, ý, bằng đấm đá, tranh luận, hay ý nghĩ. Như vậy ngày mai là kỳ thi giữa học kỳ, thật rõ ràng, đó là thử nghiệm cho sự quyết tâm của con.

Lượng nội tiết adrenaline (3) trong con tăng lên, làm cho cổ và vai con bị dồn nén đến choáng váng. Con quay trở lại và nhảy lên bất kỳ chiếc xe nào đi ngang qua. Tâm của con không còn muốn tranh đấu nữa, nhưng con đã có thói quen. Con đã buông vũ khí xuống nhưng chưa học được cách nào buông được nỗi sợ hãi và “đập tan đội quân của quỷ dữ” bằng sức mạnh của lòng từ bi, thiện nghiệp và một cái tâm an định.
 

Nguyện tất cả chúng sanh lìa bỏ tất cả dao gươm, võ khí nghiệp ác, tu hành những nghiệp lành thanh tịnh. Nguyện tất cả chúng sanh lìa khỏi sự bố úy, dưới cội Bồ đề phá quân ma. 

Kinh Hoa Nghiêm. Phẩm hai mươi năm - Thập Hồi Hướng. (Lúc đại Bồ Tát xả thân mạng cứu chúng sinh, đem thiện căn này hồi hướng).

Con bắt đầu tìm kiếm những lối thoát, suy nghĩ về thức ăn, về thay đổi lộ trình, về thử lý luận với họ - nhưng đều vô dụng, con không thể buông xả và không cố gắng kiểm soát mọi thứ. Con có cảm giác như con đang đi vào trận chiến mà bị bịt mắt. Con nghĩ, “ Điều này y như chiến tranh vậy. Chiến tranh đến từ đâu?” Chiến tranh đến từ những ý nghĩ tham lam, luôn luôn cố gắng chiến thắng và trở thành số một. Trong tâm trí con, có một cái hộp nhạc luôn "mở suốt 24 giờ trong ngày" hát không ngừng nghỉ bài hát “số một”. Bên trong đó, nó đang hát những bản như: Super Bowl, Mười hạng đầu, Vinh danh, Điểm học cao nhất, Tổng sản lượng quốc gia lớn nhất, Cuộc thi hoa hậu Hoa Kỳ, Danh sách bán chạy nhất và Cuộc đua xe Indy 500. Tâm trí con lập các hiệp đoàn, phân nhóm, vòng kết, bán kết, và chung kết, tất cả mọi thứ từ A đến Z. Nó lưu lại bảng ghi điểm vị trí của con, xác suất con có để lên hạng nhất, giống như băng chạy ghi giá cổ phiếu Wall Street Dow Jones. Con cạnh tranh với chính mình, với gia đình, bạn bè, người lạ, quốc gia bên cạnh, vá hư không. “ Số một trên địa cầu, đầu tiên trên mặt trăng”.

Tất cả mọi người ai cũng muốn trở thành số một. Ai cũng muốn trở thành người dẫn đầu, trở thành người giỏi nhất về một cái gì đó. Họ đấu tranh cho vị trí số một. Mọi rắc rối của thế giới đều xuất phát từ ngay đây. Quý vị có tin điều đó không? Đó là sự thật. Tất cả mọi rắc rối của chúng ta xuất phát từ lòng tham và tìm cầu. Xưa nay vốn chẳng có vấn đề gì cả, nhưng con người chúng ta lại tự đem lại cho mình tất cả rắc rối trên thế gian này.

Hòa Thượng Tuyên Hóa, Chùa Kim Luân. Los Angeles, tháng 1 năm 1979.


Ghi chú: Khi còn nhỏ ở trường học, chúng con không bao giờ có một chút thắc mắc về “bài hát người số một” mà tất cả chúng con đều hát. Chúng con nghiên cứu và so sánh sinh suất, tử suất, tỉ lệ tội phạm, tỉ lệ tự vẫn, và sinh sản; lực sĩ mạnh nhất, phụ nữ đẹp nhất, khoa học gia thông minh nhất và những chiến sĩ can đảm nhất - tất cả mọi thứ từ những Huy chương vàng Thế Vận Hội đến có ít răng sâu hơn đều dạy chúng con cạnh tranh để trở thành người chiến thắng số một. Con đã làm thế về điểm học, các môn thử này, thử kia, do đó có vẻ tự nhiên đến nỗi các quốc gia cũng làm như thế. Khi người Nga phóng vệ tinh Sputnik I vào quỹ đạo, tất cả mọi người đều kinh hoàng . Những chương trình khoa học tăng trong tất cả các trường học được gia tăng. “Người Nga đang dẫn đầu chúng ta! Họ đang chiến thắng trong cuộc 'Chạy đua không gian'. ", ai ai cũng nói gần như trong hoảng loạn như thế.

Con biến mọi thứ như một cuộc thi và trò chơi; tất cả mọi người trở thành những kẻ thù địch và đối thủ. Lái xe trên xa lộ, có được giao dịch tốt đẹp nhất, luôn luôn chạy đua và gấp rút, nhắm trúng đích và ghi điểm - lớn hơn, tốt hơn, thành tích hơn…Người Chiến thắng! Có người nói phá vỡ quy tắc sẽ thắng mọi trận chiến. Nhưng phá vỡ quy tắc cũng gây nên chiến tranh!

Luôn luôn nỗ lực chiến thắng, dùng ‘trăm phương nghìn kế’, lúc nào cũng vang lên trong tâm trí con. Những ý nghĩ này nhanh chóng tăng trưởng tràn trề và lấp đầy cả vũ trụ với những xung đột và tàn phá. Những xung đột trong ta đã gây ra chiến tranh bên ngoài.

Cuộc chiến nho nhỏ với những kẻ ném đá kia thực chất là một phiên bản với quy mô nhỏ của cuộc chiến tranh lớn hơn đang diễn ra trên thế giới. Tất cả mọi thứ xuất phát ngay từ chính trong trái tim điên đảo của con. “Cần phải làm cho lớn! Cần phải đứng đầu. Cần phải trở thành một ai đó để người ta ngước nhìn với con mắt ngưỡng mộ”. Vì thế con thọ nhận những thứ mà con đã gieo. Con nên nhận lấy chúng mà không được phàn nàn và yếu đuối. Thật là ngu xuẩn làm sao về việc trả đũa! Khi con ngưng đấu tranh, giành giật vì thanh danh và tiếng tăm thì cũng là lúc người ta dừng chiến đấu với con. Cũng như nếu con chơi một cuộc thi đấu, thì con phải nhận lấy những cuộc va chạm. Làm sao thế giới có thể tốt đẹp hơn nếu con không tự thay đổi chính mình?
 

Nếu tự tôi không tu được chánh hạnh, thời không thể bảo kẻ khác tu.

Kinh Hoa Ngiêm. Phẩm hai mươi sáu -  Thập Địa. Phần mười thứ thâm tâm.

Con nên tu hành cái gì đây? Không sát sinh. Có phải tranh chấp và chà đạp kẻ khác là một cách giết hại không? Khi con cố gắng chiến thắng, thì ai là người thất bại? Con có quan tâm không? Có rất nhiều cách giết và chết.

Đôi khi, điều này rất khó nhận ra. Khi con còn là một cậu bé, con đi xem trận banh chung kết Super Bowl. Giữa trận đấu, họ mang ra "một phi đội" là những người phi công lái may bay chiến đấu. Họ là những người chiến sĩ thả nhiều bom nhất và thực hiện nhiều phi vụ nhất (gây sát thương nhiều nhất) ở Đông Nam Á. Ở đó, họ sắp hàng theo hình chữ T như thể là một "Toán Siêu Đẳng". Điều này đã làm con đau lòng và giúp con mở mắt để thấy. Chúng con đã lạc lối quá xa so với những gì cổ nhân dạy:

Khi chiến thắng không xem binh khí là vật đáng ưa thích. Vì nghĩ binh khí là vật đáng ưa thích tức vui thích binh khí, và thích binh khí tức thích giết người. Thích giết người thì không trị được thiên hạ. Giết hại nhiều người thì nên lấy lòng thương tiếc mà khóc, chiến thắng thì nên lấy tang lễ mà xử.

Lão Tử

Những trẻ em luôn hỏi chúng con,” Các ông sẽ làm gì nếu ai đó đánh hay tìm cách gây chuyện và đánh các ông?” Chúng con trả lời thẳng với các em rằng nếu các em đối xử với người với lòng từ, bi, hỷ, xả thì sẽ không ai làm phiền đến các em. “Các em sẽ có rất nhiều bạn tốt và không bao giờ thấy sợ hãi. Ngay khi các em nghĩ đến đấu tranh thì đấu tranh sẽ tìm đến các em. Và khi các em bắt đầu đấu tranh thì rất khó mà dừng lại được – có những hận thù, ‘trả đũa ’ và ‘món nợ cần thanh toán’. Nếu các em bức hiếp người khác, dù chỉ trong ý nghĩ, thì người ta cũng sẽ bức hiếp các em. Sự sợ hãi đến từ những lỗi lầm đã gây ra trong quá khứ”. Vì thế, giờ đây con nhận ra rằng nếu con có sợ hãi cho “trận chiến vùng Russian Gulch” ngày mai thì cũng là bởi vì con đã đánh và giết rất nhiều trong quá khứ. Nghiệp lực do muốn trở thành số một và chiến thắng của con thật sâu nặng. Giờ đây con đang nếm vị thuốc của chính mình. Thầy Hằng Thật không có một chút gì là sợ hãi hay lo lắng. Tại sao? Bời nghiệp của mỗi người đều khác nhau. Có vô lượng vô biên thế giới và thực tế đan xen lẫn nhau, nhưng không một chút nhầm lẫn hay lộn xộn. Vì thế mà hai người có thể cùng đứng cạnh nhau trong cùng một hoàn cảnh nhưng một người thì nhận khổ đau, trong khi người kia lại nhận hân hoan.

Bởi nghiệp lực riêng khác của chúng sinh mà có vô lượng vô số thế giới chẳng đồng nhau, trong đó chúng ta bám chấp để sinh tồn và mỗi người thọ khổ vui khác nhau.

Kinh Hoa Nghiêm

Ghi chú: Chúng con đã lạy qua vùng Russian Gulch mà không có việc gì xảy ra. Không đá, không có những người thanh niên nóng giận. Tất cả do tâm tạo!
 

Phần hai.

Tuần vừa rồi, ở gần Carmet, có hai cậu bé liên tục đe dọa chúng con, chúng ném những quả bong bóng đựng nước, ném đá và nguyền rủa chúng con. Lần đầu tiên con nhận ra rất rõ những điều phiền toái này là do quả báo từ vô số kiếp tìm kiếm và chiến đấu để giành vị trí số một. Khi con ngừng tìm kiếm thì rắc rối cũng thôi không tìm đến con. Giờ đây, ‘vũ khí’ duy nhất của chúng con là những lời nguyện của Bồ tát. Sự bảo vệ duy nhất của chúng con là nhất tâm lễ lạy sám hối và sửa đổi. Đây là nền tảng đầu tiên để trở nên ngay thẳng và bảo vệ được người khác.

Dùng sự trang nghiêm của sám hối và sửa đổi, Bồ Tát cần mẫn tu hành đạo vừa làm lợi ích cho mình và vừa lợi ích cho người. Dùng những đại nguyện của Bồ Tát như là khiên chắn, áo giáp để trang nghiêm thân. Bồ Tát cứu giúp và bảo hộ chúng sinh mà không bao giờ thối chuyển.

Kinh Hoa Nghiêm

Khi ở thành phố Los Angeles, có một phụ nữ đã giận dữ hét lên: “Hãy thôi, đừng lạy nữa. Thật ghê tởm làm sao. Đây là nước Mỹ mà”. Và ở gần Malibu, có một cậu bé hỏi: “Này ông, ông không thấy xấu hổ đấy chứ?”

Lễ lạy rất khó khăn với con. Trong tất cả các pháp môn tu hành, lễ lạy là sự chọn lựa cuối cùng, nó thực sự khiến ta có cảm giác mình không quan trọng và trở nên khiêm nhường. Việc lễ lạy chính là sự đối nghịch của tranh đấu cho bản thân và nỗ lực trở thành số một. Những người chiến thắng không khấu đầu. Đó là dành cho những kẻ thất bại. Ai cũng muốn chiến thắng, chẳng ai muốn thất bại cả. Nhưng chiến thắng thì làm lộn xộn cả thế giới. Vì thế chúng con lễ lạy.

Càng lễ lạy, bản ngã càng bị tổn thương, bản ngã càng bị tổn thương, lễ lạy càng tốt đẹp hơn. Cuộc đời con trở nên tốt đẹp hơn kể từ khi bắt đầu lễ lạy. Tuy nhiên đó không phải là loại hạnh phúc và niềm vui mà mình muốn giữ cho riêng mình. Không có bản ngã thì làm sao có thể nắm giữ bất cứ thứ gì ? Chúng con từ bỏ bản ngã để chấm dứt những thảm họa, tai ương trên thế giới và như thế, tất cả chúng ta cùng thành Phật với nhau. Khi con lễ lạy, con đã không gây ra nhiều rắc rối cho mọi người. Đó là cách giúp thế giới. Đó là rất yêu nước! Nếu con còn thấy xấu hổ, con phải lạy cho đến khi không còn cái gì để “không thấy xấu hổ” nữa.

Ngay khi mấy cậu bé chuẩn bị ném tiếp mấy quả bong bóng đựng nước vào chúng con thì có một người đàn ông lớn tuổi từ trong nhà bước ra. “Tôi có thể hỏi về nghi lễ của các ông và tại sao các ông lại lễ lạy không?”

Khi ông ấy biết được tại sao chúng con làm công việc lễ lạy này thì ông ta đã nở ra một nụ cười thật lớn và nhẹ nhàng, đôi mắt ngân ngấn nước. Ông ta hãnh diện đưa tay ra bắt tay con và tay kia vỗ nhẹ vào vai con. Mấy cậu bé thấy thế liền bỏ đi mất. Bấy giờ, mọi thứ trở nên yên lặng. “ Điều này thật tốt…thưa ngài. Tôi đoán chắc rằng phải mất hai năm để làm việc này” người đàn ông ấy nói.

Con tự nghĩ rằng, “Nếu tôi có thể cư xử với mọi người nam như thể họ là cha, anh em trai của mình thì sẽ chẳng có người trai trẻ nóng giận nào và cũng chẳng có chiến tranh. Nếu tôi có thể dừng lại việc tranh đấu để giành vị trí số một và cư xử với mọi người nữ như là mẹ và chị em gái của mình thì thế giới sẽ bình an biết bao!”

Một suy nghĩ đơn giản, nhưng ở ngoài này đây, đó là những gì đang diễn ra: Từ bỏ tham lam, nóng giận và si mê của chính mình với tâm ngay thẳng và rất nhiều lòng từ bi. Với những người không biết nhiều về Đạo Phật thì hiểu thế này: Lòng ích kỷ phá hủy thế giới, chia rẽ các quốc gia, chia rẽ các gia đình và khiến chúng ta cảm thấy cô đơn và trống trải. Những người dành thời gian để tìm hiểu xem lễ lạy và Đạo Phật đại diện cho những gì thì sẽ hiểu ra ngay lập tức. Giáo Pháp của Phật đã tự nói lên.

“Các ông đang làm việc tốt, hãy tiếp tục!”, một người đàn ông nói khi ngồi trong chiếc VolkWagen. Một người phụ nữ và hai thiếu niên nói: “Chúc may mắn. Chúc hành trình tốt đẹp. Cần có nhiều người làm như thế. Chúng ta sẽ có một thế giới tốt đẹp hơn. Cảm ơn các ông.”

Một người đàn ông gần vùng Ducan’s Landing nói: “Tôi muốn cúng dường các ông chút bánh mì. Hành động của các ông làm thật cao đẹp. Các ông chẳng cần phải nói lời nào cả”.

Đạo Phật thật tinh khiết và đơn giản: Không tranh đấu để giành vị trí số một. Không tìm kiếm tiếng tăm và danh vọng.

"Thấy tất cả mọi người cũng như mình thì gọi là Đại Bi” (4)

Hòa thượng Tuyên Hóa.
 

Bồ tát luôn nghĩ nhớ đến chúng sinh với lòng từ bi, tâm lợi ích, tâm thương xót, tâm hoan hỉ, tâm hòa hợp, tâm nhiếp thọ, bỏ hẳn tâm sân hận, tâm căm hờn, tâm thù địch, tâm oán hại, thường nghĩ đến thật hành nhân từ lợi ích, bảo vệ, che chở họ.

Kinh Hoa Nghiêm.

Chính xác là như vậy!

 

An lạc trong Đạo,

Đệ tử Quả Đình (Hằng Triều)

Cung kính đảnh lễ

 

Chú thích:

(1) Bài thơ nói về Hạnh nhẫn nhục của đức Di Lặc Bồ Tát.

(2) Manifest Destiny: Thuyết bành trướng do định mệnh – cho rằng Hoa Kỳ có quyền và nghĩa vụ bành trướng ra khắp lục địa Bắc Mỹ.

(3) Chất do tuyến nội tiết thượng thận sinh ra khi quá lo sợ hay căng thẳng.
(4) Đồng thể tức Đại Bi

 

 

Pháp Hội !


10 tháng 7 năm 1979

Fort Ross

Kính thưa Sư Phụ,

 

Lá thư này tập hợp lại những suy nghĩ tản mạn của con trong suốt tuần qua. Chủ đề là: Hãy vui vẻ, đừng lo lắng, tu hành Phật Pháp là một việc tốt. Càng cần mẫn tu hành, sẽ càng cảm thấy hạnh phúc. Tu hành khiến chúng con hạnh phúc thực sự.

Bậc Thánh Hiền xưa nay chẳng khác

Vô cùng hoan hỷ trong mọi thời.

 

Phần thứ nhất.


Một vị sư thắp hương và cung kính lạy tượng Phật. Người ấy ngồi xuống trước bàn thờ và chéo chân lạ
i, cầm cây đàn lên và tấu lên giai điệu trầm lắng. Người ấy bắt đầu tụng kinh
 bằng tiếng Anh:

“ Lúc bấy giờ, thừa thần lực của đức Như Lai, Công Đức Lâm Bồ Tát liền nhập vào Bồ Tát Thiền Định Tư Duy Tam muội. Nhập tam muội này rồi, có vô số chư Phật nhiều như số bụi trần trong mười nghìn cõi Phật đồng đến từ những thế giới nhiều như những hạt bụi trần trong mười nghìn cõi Phật ở mười phương hiện ra trước…”

và người ấy tiếp tục xướng tụng Phẩm Thập Hạnh của Kinh Hoa Nghiêm. Người ấy làm như vậy hàng ngày như là Pháp môn sùng bái của mình; đó là cách cúng dường Kinh và cho chính trí tuệ tự nhiên của mình. Khi người ấy tụng xong, người ấy đều hồi hướng lợi ích cho tất cả chúng sinh ở khắp nơi với mong ước rằng tất cả sẽ làm điều tốt lành tránh điều xấu ác. Người ấy luôn luôn hạnh phúc với công việc này.

Thỉnh thoảng, người ấy xướng tụng Kinh nơi công cộng. Giai điệu đơn giản và những câu chuyện lôi cuốn về phẩm hạnh của Bồ Tát đã đi thẳng vào trái tim của người nghe. Người ấy tự đệm đàn Banjo hoặc đàn hạc (autoharp), thỉnh thoảng người ấy chỉ tụng và để cho những lời Kinh tự âm tạo âm điệu trong hư không:

Tâm trí tôi sẽ an trú nơi an lạc vô thượng, vô ngôn, vô trụ, vô động chuyển, vô lượng, vô biên, vô tận, vô tướng, trí tuệ thậm thâm.

Kinh Hoa Nghiêm.

Điều này có thể xảy ra khi sự hành trì Chánh Pháp được bén rễ vào mảnh đất phương Tây.

Khi tổ Bồ Đề Đạt Ma giương thuyền đi từ Ấn Độ, thực hiện lời tiên đoán của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni rằng giáo lý Đại thừa sẽ được truyền sang Trung Hoa vào thời của tổ thứ hai mươi tám. Phật Pháp trước đó đã thực sự tồn tại ở Trung Hoa, tuy nhiên lại dường như chưa có ở đó bao giờ. Mặc dù cũng đã có người nghiên cứu, nhưng chỉ có một số ít giảng giải hay tụng đọc Kinh điển và hiếm khi thực hành những nghi lễ sám hối.

Hòa thượng Tuyên Hóa, Kinh Pháp Bảo Đàn Lược giảng.
 

Bảng hiệu giới thiệu trên các bảng lớn quảng cáo và cột điện thoại ở khắp nơi: Pháp hội Phật Giáo! Hãy đến đây, Tất cả mọi người! Hãy đến Vạn Phật Thánh Thành! Có những buổi giảng Pháp liên tục! Vào cửa miễn phí ! Đặc biệt Lễ Sám Dược Sư nguyên ngày (có thể đặt phòng tại Thánh Thành hoặc gọi đện thọai số…) Thức Ăn Chay! Vui lòng không sử dụng chất say hay thuốc lá. Triển lãm nghệ thuật.

Các gian hàng: Nấu các món chay, chăm sóc sức khỏe tự nhiên, trồng trọt trong vườn theo thiên nhiên. Các buổi trình diễn của trường Đại học Phật giáo Pháp giới: Thái cực quyền, Châm cứu. Âm nhạc: Hợp xướng Phật giáo, tụng kinh, hòa nhạc của giới trẻ. Trình diễn: Những kịch bản đầu tiên của nhóm diễn viên Trường Bồi Đức. Những buổi lễ tốt nghiệp của các trường Phật giáo và giải thưởng cho những thành tích học xuất sắc. Hướng dẫn thiền tập. Niềm vui cho tất cả mọi người!

Đó có lẽ là cách khéo léo giới thiệu Phật Pháp tới gia đình chúng ta ở phương Tây.

Thế hệ chúng con có những thiện căn với năng lực không thể nghĩ bàn để được tận mặt gặp vị thầy mình. Chúng con có thể học tập và thực hành dưới Pháp tọa của ngài suốt cả ngày lẫn đêm. Kho báu của những đạo lý chân thật mà chúng con nhận được thật phong phú không thể đo lường được. Nhiều thập niên sau, những người kế thừa giáo Pháp của chúng ta vẫn sẽ mãi bận rộn phiên dịch và thu thập Giáo Pháp phong phú xuất xứ từ nguồn tài liệu giảng dạy của chúng ta như một dòng suối vô tận.

Thầy Hằng Triều và con đang nghiên cứu phần Nhị Địa trong Phẩm Thập Địa của kinh Hoa Nghiêm. Đó gọi là “Ly cấu địa”. Trong đó tất cả đều nói về những quy luật cơ bản để trở thành con người: Thập Thiện . Đó giống như là một túi thuốc tùy thân cho những phiền não và đau khổ mà chúng ta đều trải qua. Nó mô tả rõ ràng cả hai thói quen tốt và xấu mà chúng sinh thực hành suốt ngày trong từng hành vi. Thập Thiện là điều chân thật. Kinh chứa đựng những nguyên tắc cổ xưa về hành vi chánh đáng, giáo Pháp chân thật .

Con ra ngoài để lạy, cảm thấy là mình thấy rõ những lỗi lầm của mình và tự làm chủ được. Tuy nhiên khảo nghiệm lại phát sinh, con lại quên tự nhắc nhở, chấp vào cảnh giới và nhận ra rằng mình thực sự không vui. Tối đó, khi con xem lại phần nhị Địa , con nhận ra lỗi của mình qua trang Kinh. Điều này luôn đến cùng với biện pháp sửa đổi kèm theo, với một giọng nhân từ và trí tuệ. Thật kinh ngạc mỗi khi thấy được những hành vi biểu lộ tính ma quỉ của con. Kinh Hoa Nghiêm là một bộ Kinh thánh thiện; vĩnh cửu, tuy nhiên phương Tây vẫn còn chưa biết đến. Kinh trở thành tấm gương, là người bạn tốt, nói thẳng vào trong sâu thẳm trái tim chúng ta bằng phương cách mà chưa có sách nào làm được.

Đây là lý do tại sao mà chúng con luôn nói rằng chúng con thật may mắn và hạnh phúc biết bao! Ai mà không muốn chia sẻ điều kỳ diệu này với mọi người ? Ai mà không cảm thấy biết ơn sâu nặng đối với chư Phật, Bồ Tát và những bậc Thiện tri thức? Những bậc đáng kính đó đã mang đến cho chúng con trí huệ và lòng từ bi Đại Thừa và đặt vào tay chúng con. Công việc của chúng con là nhận ra món quà vô giá này và khiến nó có thể dùng được cho tất cả mọi người. Điều quan trọng nhất là: Thực hành những lời dạy đó với một niềm tin thuần khiết và năng lực vô biên.

Lời nói là Pháp;

Thực hành là Đạo.

Nói hay, nói diệu.

Nhưng nếu không hành,

Thì chẳng là Đạo.

Không nên nói tu hành là nặng nề, phiền toái, mà đó là một lối sống nhẹ nhàng và tràn ngập niềm vui. Trước khi được gặp Phật Pháp, cuộc đời chúng con giống như đứng trong một hầm lửa. Đức Phật vỗ nhẹ lên vai chúng con và trầm tĩnh bảo rằng: “Có một cái thang vững chắc ở đây. Con có thể trèo lên đó mà vượt qua khỏi hầm lửa này nếu con muốn. À, và con hãy cho những người khác biết về điều này trên đường con thoát ra, có được không?” Chắc chắn chúng con sẽ làm !

Công việc của Vạn Phật Thánh Thành là đặt nền tảng cho Chánh Pháp tại đây ở phương Tây. Vì Thánh Thành là một hài nhi Phật khỏe mạnh, mới mẻ; việc thiết lập quy củ, những lễ lạy sám hối, việc nghiên cứu và phiên dịch kinh điển, việc tham gia vào những nghi lễ sáng và chiều, giữ gìn giới luật và tu hành hàng ngày sẽ là nguồn sống của Pháp thân.

Có quá nhiều công việc tốt đẹp phía trước, điều đó giống như nghe đức Phật nói, “Các con sẽ làm việc trên núi châu báu này đến suốt đời còn lại, các con nên phát đại tâm tinh tấn và hoan hỷ vô biên”.

Chúng con có một công việc tốt đẹp nhất thế gian: Những người bố thí Pháp vô thượng. Dù chúng con phiên dịch Pháp vô thượng này, tụng đọc, nghiền ngẫm, đánh máy, giảng giải, lễ lạy Pháp vô thượng này trên xa lộ, toả sáng Pháp vô thượng này qua những tâm niệm hoan hỉ, quán tưởng về Pháp vô thượng này khi chúng con cắt cỏ, trả lời điện thoại, và bón phân cây cối … chúng con đều đang thực hành bố thí sự an lạc, hạnh phúc, thiện lực và Phật quang . Còn gì có thể tốt đẹp hơn nữa? Khi chúng con tu Bồ tát đạo bằng cách tâm thì thực hành một Pháp môn và thân thì giữ gìn giới luật, thì chúng con đang tự chữa lành mình một cách tự nhiên. Chúng con dần dần được khoẻ mạnh! Chúng con tất cả đều trở thành những vị Phật, những chúng sanh toàn hảo, khi sự tu tập của chúng con được viên mãn với nỗ lực và định lực, và đó là tin vui nhất mà con từng được nghe.

Sư: Thưa thầy, có người cố gắng làm chúng con chuyển đạo bằng cách nói: “Đức Phật không thể cứu ông đâu. Ông ấy cũng chỉ là con người. Ông không nên cố gắng quá. Ông cũng không thể được cứu rỗi bằng việc làm đâu”.

Hòa Thượng trụ trì: Vậy thì con hãy nói với họ, “Tôi có thực phẩm để ăn, có áo quần để mặc, tôi có thể lễ lạy Phật, ai là người cần được cứu rỗi? Tôi tự cứu chính tôi”.

Sư: Họ nói “Các ông đang bị trói buộc!”

Hòa Thượng trụ trì: Con nói với họ : “Tốt thôi, tôi thích thế. Tôi hạnh phúc”.

Bồ tát luôn chỉ ra niềm hạnh phúc lớn lao cho chúng sinh.

Kinh Hoa Nghiêm

Đôi khi, khi hồi quang phản chiếu thì có cảm giác như là lặn sâu xuống dưới hầm phân, đầy những thứ ô uế, xấu xa bên trong mình. Trước khi bắt đầu tu hành, con đã không nhận ra điều này. Tu hành chính là vào ngay trong đó và tẩy trừ những thứ độc hại, là vất vả lội qua những bùn lầy dơ bẩn của bản ngã và tham, sân và si. Cần phải xúc đổ dọn sạch nó đi từng xô, từng xô một. Nhưng Phật Pháp là một thể thanh lọc vĩ đại, là liều thuốc cho tâm, là thảo mộc chữa bá bệnh cho tất cả những phiền não do chất độc gây ra.

Ví như thuốc Già Đà

Tiêu được tất cả độc.

Phật pháp cũng như vậy

Diệt các họa phiền não

Kinh Hoa Nghiêm. Phẩm thứ hai mươi bốn - Đâu Xuất kệ tán thán.

Đức Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát chỉ dạy chúng ta nên “sám hối nghiệp chướng”, và đó chính là mục đích của những buổi lễ sám hối. Mỗi khi chúng ta chân thành tự nêu ra những lỗi lầm của mình, nhận ra chúng và nguyện thay đổi, thì trong tâm được sáng lạn hơn một chút. Đây là những chúng sanh phiền não của con, và con nguyện độ tất cả chúng. Cho dù có tự chuốc lấy bao rắc rối gây ra bởi Tham, Sân, Si trong quá khứ, con vẫn sẽ duy trì việc tu tập tốt đẹp này cho đến khi tấm gương của tâm con không còn vương lại một hạt bụi nào nữa. Sẽ là ngày mai chăng? Sẽ là chín đại kiếp nữa chăng? Không thể biết được. Thậm chí có là mãi mãi, thì con vẫn tin rằng chúng con sẽ đồng thành Phật và con tự cho mình công việc là đưa những chúng sinh bên trong của con qua bờ bên kia trước tiên. Đồng thời con cũng không phải phô ra những phiền não của mình để người khác biết đến. Đó là đi tìm sự chú ý. Con tự gây ra tất cả những phiền toái cho mình, con nên chịu đựng với những hậu quả trong yên lặng, không như đứa bé khóc lóc yếu đuối và đương nhiên không gây phiền toái cho người khác bằng những vui buồn hàng ngày của con. Bồ tát làm như thế nào?

Bồ tát luôn là vị thiện tri thức ở khắp nơi cho tất cả chúng sinh. Ngài nói chánh Pháp và khiến chúng sinh tu hành. Cũng giống như đại dương lớn: Không lượng độc tố nào có thể thay đổi hay làm hư hoại đại dương được. Bồ Tát cũng như vậy. Tất cả những người Ngài gặp, dù không có trí huệ…tất cả những thứ phiền não chướng ngại từ những chúng sinh ấy không thể lay chuyển hay xáo trộn Ngài được.

Kinh Hoa Nghiêm

 

Với đức tin nơi Đạo
Đệ tử
Quả Chân (Hằng Thật)
Cung kính đảnh lễ.

 

Một Người Phải Trải Qua Rất Nhiều Thay Đổi

Ngày 16 tháng 7 năm 1979

Biển Cove, Califonia

 

Kính thưa Sư Phụ,

 

“Giao Lộ Vùng Quê”

Đó là một buổi chiều chủ nhật. Chúng con đang lạy xuyên qua một ngôi làng nhỏ trên đường xa lộ 1, vùng biển Cove. Ở đó có một trạm bơm ga, một tiệm bán đồ vùng quê, một nhà kho chứa rơm đã bị tàn tạ vì mưa gió, và vài căn nhà. Phía trước tiệm bán đồ có mấy thanh niên địa phương đang ngồi trên mấy gốc cây bị cắt, trên mấy cái ghế cũ, trên bửng xe hơi và trên mấy cái xe mô tô. Họ đang uống bia, hút thuốc và hát nói kiểu ráp. Mỗi người đang tìm kiếm cái gì đó, đang mong mỏi chờ đợi, nhưng không ai có thể nói được là họ đang mong đợi điều gì. Dù là có một đám đông nhưng một sự cô đơn trống trải đang lơ lửng trên không như màn sương mù xám xịt hôm nay chưa tan. Họ đều có nhà cửa, nhưng không ai muốn về nhà. Trái tim họ không có chỗ để nương tựa. Chúng con biết họ ở đang đâu, và thấy thông cảm.

Bồ tát thấy tất cả chúng sinh đều cô đơn, không có chỗ nương tựa và Ngài thấy thông cảm.

Kinh Hoa Nghiêm


Khi chúng con vòng qua một khúc quanh và đi vào tầm nhìn, có hai thanh niên bắt đầu thử thách chúng con với những lời nhạo báng. Một người lái xe mô tô trông dữ tợn nhất, mặc chiếc áo khoác da màu đen và có bộ râu xồm, ghim tờ giấy giải thích việc hành hương lễ lạy (1) lên cánh cửa lưới của tiệm cho mọi người đọc. Tên anh ta là Bobby. Anh ta nói với mấy người thanh niên kia, “ Cần coi chừng cái miệng đấy tụi bây. Đừng có làm phiền mấy người bạn ấy. Họ đang làm công việc vất vả vì chuyện tốt. Họ đều tốt cả”. “Ừ, nhưng trông họ rất kỳ cục, thực sự rất nghiêm túc. Thậm chí họ không uống bia…những người từ chối tiệc tùng thực sự”, một trong mấy thanh niên trả lời.

Mày có lẽ cũng sẽ có chút thay đổi nếu lạy trên đường suốt hai năm đấy. Một người phải trải qua rất nhiều thay đổi khi làm việc như thế”, người lái xe mô tô trả lời.

“Hai năm? Như vậy sao ?” một trong mấy người thanh niên nói. Ừ. Có cái gì đó dành cho họ. Nó dành cho mọi người. Tôi nghĩ là tôi sẽ không để cho bất kỳ một kẻ xấc xược nào phiền nhiễu đến họ”.

“Ừ, chắc chắn là thế, được rồi, Bobby. Bất kỳ điều gì cậu nói”, cậu thanh niên kia nói. Họ đều ngồi xuống lại và yên lặng quan sát. Sau đó, một chiếc xe buýt chạy nhanh đến phía chúng con. Bobby nhảy ra khỏi xe mô tô và bắt đầu ng dẫn giao thông để chiếc xe buýt có thể đậu lại an toàn. Đó là một con đường hẹp và rất đông xe cộ. Nhóm thanh niên trẻ đó bắt đầu la ó và hét lên về phía chiếc xe buýt đó – làm sự việc hơi khó coi. Bobby quát lên, “Các ông cần tử tế với những người này…phải tử tế, ngay bây giờ”. Họ yên lặng trở lại. Thầy Hằng Không nhảy ra khỏi xe buýt. Thầy và một nhóm đông người đã lái xe tới từ Vạn Phật Thành để gặp hai vị sư đang lễ lạy cúng dường.

Vì thế tất cả chúng con ở đây, vô lượng chúng sinh từ những thế giới khác nhau, giờ đây cùng hội tụ và gặp gỡ trong ngày hôm nay trên giao lộ đường quê. Trên xe, những đệ tử Phật với đôi mắt ngời sáng hạnh phúc đến từ khắp nơi trên thế giới. Trong đó có hai vị đang lễ lạy này.

Bên ngoài, giọng ca của Mick Jagger và Rolling Stone vang lên trong không gian và làm bồn chồn tinh thần. Những người thanh niên cô đơn đang nói với nhau: “Đừng về nhà vội. Hãy ở lại lâu hơn chút nữa. Tôi sẽ mua mời mỗi người một lon bia nữa”. Chúng ta những con người đều có trái tim giống nhau. Kẻ khổ đau và kẻ hạnh phúc, kẻ phàm và kẻ thánh, kẻ thanh tịnh và kẻ nhiễm ô, kẻ tự tại và kẻ còn bám chấp - tất cả đều trộn lẫn với nhau tại thị trấn giao lộ nhỏ này, giống như tất cả đang trộn lẫn với nhau bên trong mỗi chúng con. Mọi sự khác biệt chỉ là ảo tưởng. Chúng con có cùng một tự tánh - Phật tánh và tánh này không hai, hoà quyện một cách hoàn hảo. Tuy nhiên Phật tánh này chẳng có khuôn mặt hay hình dáng nào. 

Pháp tánh thâm nhập khắp mọi nơi,

Khắp các chúng sinh và cõi nước.

Hiện hữu trong ba thời không ,

Không hình tướng nào để nắm bắt.

Kinh Hoa Nghiêm

Có những lúc thế giới dường như thật kỳ lạ! Với những ngôi nhà và hàng rào, với những màn che và xe hơi, chúng ta cố tạo ra cái gọi là “bạn” và “tôi”, “tôi và của tôi”, nhưng dù chúng ta có cố gắng thế nào, thì cũng không thế phân chia chân tánh của chúng ta. Tất cả chúng ta đều có mối quan hệ sâu xa. Cuối cùng thì, mọi sự khác biệt đều không thể nhìn thấy được. Không ai có thể ngăn được mối tương quan lẫn nhau giữa tất cả chúng sinh và mọi vật ngoài những hào rào dây thép gai ngăn cản không gian hay cây cầu làm phân chia dòng sông. Hôm nay, con được nhìn thoáng qua về sự bình đẳng của tất cả chúng sinh. Trong thị trấn nhỏ này, con đã nhận ra rằng tất cả mọi khuôn mặt đều chỉ là những chiếc mặt nạ mà chúng ta mang. Bobby có vẻ dữ dằn và thô bạo, nhưng bên trong, anh ta lại rất hiền từ. Đằng sau vẻ bề ngoài dữ tợn là lòng tốt. Đằng sau tất cả những mặt nạ của chúng ta chỉ có một khuôn mặt. Nó chẳng có màu sắc hay hình dáng, cũng không có kích cỡ hay nơi chốn nào cả. Nó cũng chẳng có tướng về kích cỡ. Con đã nghĩ rằng, “Không chỉ có hai vị sư đang thực hiện Tam bộ nhất bái, mà là tất cả chúng sinh. Chỉ có một trái tim. Chúng con không bao giờ rời nó, và nó cũng không bao giờ rời bỏ chúng con”. Một khuôn mặt mà tất cả chúng ta đều có đấy là khuôn mặt Phật. Khuôn mặt Phật có ở khắp mọi nơi.

Bên trong không thân, tâm,

Bên ngoài không thế giới…

Không mình không ta, quán tự tại,

Không sắc không không, thấy Như Lai.

 

 

Họ Đang Làm Gì Đó và Chẳng Làm Gì Cả!

Ngày 17 tháng 7 năm 1979

Phía bắc Ocean Cove, Califonia

Kính thưa Sư Phụ,

 

Sáng sớm, khi trời vẫn còn nhá nhem tối, con thức dậy ở bên ngoài, khi đang ngủ dưới một gốc cây, nhìn xung quanh. Trong một hoặc hai phút, con không thể tìm thấy mình. Bên trong và bên ngoài, phía trên hay phía dưới, ở đây hay ở kia đều không thấy tồn tại.

Tính đố kỵ và kiêu ngạo, ham muốn và sợ hãi mà con thường mang theo trong trái tim mình hết ngày này qua ngày khác, trong vài khoảng khắc dường như chỉ là một giấc mơ. Con nở một nụ cười. “Làm sao mà có thể tự làm mình nghiêm trọng đến thế? Nhìn xem!...Thấy chưa? Về căn bản, không có một vật nào cả. Dù vậy ngay trong không lại xuất hiện diệu hữu”, vị Thiện Tri Thức trong con nói.

Một cách chầm chậm, từng chút một, mọi thứ dần trở nên rõ nét. Lễ lạy mang lại những khoảnh khắc rõ ràng và tĩnh lặng nói với chúng con rằng hãy buông bỏ tất cả những vọng tưởng và bám chấp đi. “Với niềm tin thâm sâu và sự tinh tấn dũng mãnh, hãy là ‘Vô tâm Đạo nhân’. Mọi thứ đáng xảy ra thì tự nó sẽ xảy ra”, trái tim lễ lạy lên tiếng. Khi con thôi gây trở ngại và can thiệp, thì Đạo sẽ đáp ứng lại một cách tự nhiên và không cần nỗ lực gì cả. Khi trái tim không còn bị chướng ngại, thì từ, bi, hỷ, xả sẽ xuất hiện như những chồi non trong mùa xuân. Khi vọng tâm ngừng bặt và lòng tham ngưng nghỉ, thì tự nó, sự thanh cao và phúc lành của bổn lai diện mục sẽ xuất hiện. “Người có thể như thế thì lợi ích cho cả thế giới”, Sư Phụ nói với chúng con như vậy.

“ Họ đang làm gì vậy?” một người đứng ngoài xem hỏi.

“Chẳng gì cả. Họ chẳng làm gì cả,” một người bạn trả lời.

“Tại sao họ lại không làm một cái gì?” người ấy tiếp tục.

“Họ đang làm cái gì đó. Họ đang làm cái không gì cả”, người bạn anh ta trả lời.

“Tôi không hiểu”, người ấy thắc mắc. Nhưng bạn anh ta thì hiểu. Khi chẳng làm gì cả, thì mọi thứ đều được thực hiện. Cũng như vậy, bằng cách không khởi tạo nghiệp bởi Tham, sân, si qua thân, khẩu và ý, thì chân lý tự nhiên và sự thiện lành sẽ hiển hiện. “Không làm gì (vô vi)” là chuyên nhất tâm đến chỗ vô tâm, vô tưởng, vô sở trụ. Điều này được gọi là “làm mà không làm (vi nhi vô vi)”. Đây là mục đích của giới luật, thiền định và trí tuệ. Chúng làm cho tất cả “nguyên chất”. Chúng con chưa đạt đến điểm không làm gì cả. Những lời dạy giản dị vẫn còn đây: “Đừng vọng tưởng. Đừng bám chấp. Hãy cố gắng hết sức!” và câu kệ này soi sáng đường chúng con đi.

Tánh định ma phục ngày ngày vui.

Vọng tưởng không khởi chốn chốn an.

Tâm ngừng niệm đoạn: chân phú quý.

Dục niệm chặt đứt: thật phước điền. (1)

Hòa thượng Tuyên Hóa

 

An lành trong Đạo,

Đệ tử Quả Đình (Hằng Châu)

Cung kính lễ lạy.

 

Chú thích:

(1) Nguyên văn:

Tánh định ma phục triêu triêu lạc,

Vọng niệm bất khởi xứ xứ an

Tâm chỉ niệm tuyệt, chân phú quý

Tư dục đoạn tận: chân phước điền

 

Không Giết Hại

Ngày 16 tháng 7 năm 1979

Ocean Cove, Califonia

 

Kính thưa Sư Phụ,

Chuyến hành hương lễ lạy của chúng con mong muốn chấm dứt chiến tranh, thảm họa, thiên tai và tất cả các loại khổ đau. Bản thông cáo giải thích công việc của chúng con ghi, “Nếu việc lễ lạy của chúng tôi là thành tâm, thì mọi tai ương và khổ đau sẽ được giảm bớt, chiến tranh và mọi vũ khí hủy diệt sẽ dần dần biến mất”.

Bồ Tát nguyện tất cả chúng sanh lìa bỏ tất cả dao gươm, võ khí nghiệp ác, tu hành những nghiệp lành thanh tịnh.

Kinh Hoa Nghiêm. Phẩm hai mươi lăm - Thập Hồi Hướng. (Lúc đại Bồ Tát xả thân mạng cứu chúng sinh, đem thiện căn này hồi hướng). 

Rất nhiều người Mỹ sở hữu súng. Khi còn nhỏ, con thường đeo cái bao súng ngắn mà có thể rút ra rất nhanh và thường bắn vào “những kẻ xấu” trong gương ở buồng ngủ.

Cùng với lũ trẻ con hàng xóm, chúng con chơi trò “bắn súng” khi tan học về. Có nhiều trò khác nhau – Cao bồi và Những người da đỏ, cảnh sát và những tên cướp, Đồng minh với Phát Xít Đức – tất cả cũng là chạy vòng quanh khu đường xá, mang những vũ khí đồ chơi và bắn nhau chết. Đến tối, chúng con học cách chơi những trò ấy qua TV, những bộ phim như Cuộc chiến (Combat), Khói Súng (Gunsmoke), Cuộc Săn Lùng Tội Phạm (Dragnet), Người Thi Hành Luật Pháp (the Lawman), Có Súng, Sẽ Du Hành (Have Gun, Will Travel) …ti vi đã là trường học dạy bạo lực của chúng con. Con được nhồi sọ sâu xa để tin tưởng rằng khi mọi thứ không theo ý mình, thì giết hại để giải quyết việc xung đột của mình là điều hoàn toàn bình thường. Không chỉ có riêng mình con có quan điểm này. Nhà nghiên cứu xã hội, Herman Kahn, trong một bài nói chuyện về bạo lực và lối sống Mỹ với sinh viên năm thứ nhất tại một trường đại học danh tiếng, theo con nhớ, đã hỏi những câu như thế này: Có bao nhiêu sinh viên đã từng sống với ông bà của mình? Rất ít người như vậy. Ông ấy hỏi có bao nhiêu người đã sở hữu những khẩu súng BB ở tuổi thiếu niên và những khẩu súng 22 ly trước khi vào đại học. Hơn một nửa đám đông giơ tay. (Con kể lại từ trong ký ức – Cách đây ba năm, con đã đọc một bài trong báo Cùng Tiến Hoá phát hành mỗi ba tháng (Co-evolution Quarterly) - và những thống kê có thể không chính xác).

Người Mỹ không phải là độc nhất trong việc chuẩn bị tinh thần để giết hại. Xã hội nào cũng tôn trọng giai cấp chiến sĩ: Kshatriyas (Sát Đế Lợi - giai cấp chiến sĩ) của Ấn độ (1), Samurai của Nhật Bản (2), Những Đại Đội Trưởng của La Mã (Rome's Centurions) (3), Hải quân Anh - tất cả đều duy trì cho việc đổ máu. Nền văn minh mà không có quân đội là một ngoại lệ. Người ta có thể lý luận rằng con người bản tánh vốn bạo tàn và độc ác.

Con xuất thân từ gia đình có lai lịch quân đội. Phần lớn những người đàn ông trong họ hàng của con đều đã phục vụ trong quân đội. Con xem chuyện giết hại là điều đương nhiên cho đến cách nay vài năm, khi con bắt đầu tự đặt câu hỏi về việc này. “Mọi thảm họa và đau khổ của thế giới này từ đâu đến?” Con thắc mắc. “Có phải thân phận con người là để giết hại?” Con đã tìm ra câu trả lời. Trái tim con đã tỉnh thức theo lòng từ bi của Đức Phật khi con đọc được những lời này mà Thiền Sư Tuyên Hóa đã viết:

Có quá nhiều chiến tranh! Xót xa biết bao! Đau thương biết bao! Mỗi một tai họa đều đến từ những hành động giết hại…và những hành động giết hại đến từ tâm…Thời đại hiện nay là gì? Đây là thời đại huỷ diệt tuyệt chủng chúng sinh. Khi quan sát khắp Pháp giới, chúng ta sẽ thấy các quốc gia giết hại lẫn nhau, các gia đình đấu tranh lẫn nhau, các cá nhân giành giật lẫn nhau, liên miên mãi cho đến khi những cuộc đại chiến nổ ra giữa các hành tinh…Tôi mong rằng những người lãnh đạo của các quốc gia đều có tinh thần hiếu sinh của Trời Đất, xây dựng chính phủ tốt đẹp và thực thi luật pháp công bằng, chấm dứt mọi sự tranh chấp và dẹp bỏ lòng tham, quên mình và giúp người, làm lợi ích cho mình bằng cách làm lợi ích cho người, coi Vũ trụ như một gia đình, và xem tất cả mọi người như một. Một bậc Thánh Hiền xưa có nói, “nếu có người bị giết, thì như thể là chính tôi đã giết người ấy vậy”…

Thủy Kính Hồi Thiên Lục – Phần Tựa

Lời phát biểu chống chiến tranh thật hùng mạnh làm sao! Ở đây có nguyên lý vững chắc mà con tìm kiếm. Thật rõ ràng và đơn giản làm sao: Không giết hại. Coi tất cả mọi người như bà con. Nó soi sáng cho sự thiên vị lộn xộn của chúng con về cái chết với sự sống. Bồ tát Giới giải thích điều đó rõ ràng hơn:

Bồ tát không đặng cất chứa những binh khí, như dao, gậy, cung, tên, búa, giáo, v.v... cùng những vũ khí dùng để đánh nhau hay gây chiến, cũng như không cất giữ lưới, rập, bẫy v.v... hay những khí cụ sát sanh

Giới Khinh thứ mười – trích từ Kinh Phạm Võng

Phật-Tử, chẳng đặng vì quyền lợi và ác tâm mà đi thông sứ mạng cho hai nước hiệp hội quân trận, đem binh đánh nhau làm cho vô-lượng chúng-sanh bị giết hại. Bồ tát còn không được vào, cùng qua lại trong quân trận, huống lại cố làm môi giới chiến tranh.

Giới Khinh thứ mười một– trích từ Kinh Phạm Võng

Đây là nền tảng của tình thương trong Đạo Phật: Không giết hại. Một vị sư đã có lần hỏi Sư phụ rằng, khi phải đối đầu với kẻ thù nghịch thì có thể đấm trả để tự vệ không. Câu trả lời là: “Tuyệt đối không đánh nhau! Nếu con đánh nhau với bất kỳ ai vì bất kỳ lý do gì, con sẽ không được xem là đệ tử của ta”.

Tranh giành và tức giận là những nguồn gốc của giết hại và chiến tranh. Như có một người nói rằng, “Đức Phật dạy từ bi. Có nghĩa là, ngừng đánh đập kẻ khác ! Tôi không phải là kẻ thù, tôi là bạn anh”. Và đệ tử của Phật không được lấy mạng kẻ khác vì lý do này .

Lòng Đại Bi của chư Phật bao trùm khắp tất cả chúng sinh. Chúng con đã được chỉ dẫn khi bắt đầu chuyến hành trình là “Hãy hết sức cẩn thận với kiến và muỗi”. Sư phụ dạy rằng, “Khi con giết côn trùng, chúng đến gặp ta và nói rằng, ‘Vị đệ tử đó không tốt. Anh ta phá giới!’”.

Đại Bi là coi tất cả chúng sinh như người một nhà. Chúng ta đều cùng chung bản chất. Tất cả những người nam đều là cha và anh em ta, tất cả những người nữ là mẹ và chị em ta. Vậy thì đâu còn chỗ cho những suy nghĩ về giết hại hay giận dữ hay đấu tranh?

Địa thứ hai trong Thập Địa mô tả thái độ của Bồ Tát về việc giết hại thế này:

Bồ Tát thời tánh tự xa rời tất cả sát sanh, chẳng chứa dao gậy, chẳng có lòng oán hận, có tàm có quý, đầy đủ lòng nhân thứ. Với tất cả chúng sinh có mạng sống thời thương, sanh lòng từ làm lợi ích. 

Bồ Tát này còn chẳng có lòng ác não hại chúng sinh, huống là với họ mà có chúng sinh tưởng cố ý làm việc giết hại.

Kinh Hoa Nghiêm. Phẩm thứ hai mươi sáu - Thập Địa. Phần Bồ Tát Kim Cang Tạng dạy dùng mười thứ thâm tâm thời được vào bậc Ly Cấu Địa thứ hai.

Hiếu thảo là nền tảng cho những lời dạy của Chư Phật về lòng từ bi. Khi gia đình hạnh phúc, thì các thành phố có thể được an bình và các quốc gia trên thế giới sẽ cùng đến với nhau. Trong ngày lễ Độc lập, khi chúng con lạy dọc theo bờ biển Sonoma Coast màu xanh dương với nhiều đá, con đã tiến tới nhóm tụ họp mới đang hò reo vì người Mỹ. Không phải những tiếng hò hét cho cuộc tranh đấu, mà là những tiếng cổ vũ cho hòa bình: Đã đến lúc tôi phải quay trở lại và chấm dứt thói quen giết hại.

Chúng ta cần hiếu thảo, chứ không cần Hỏa lực!

Hãy buông bỏ súng lục, chứ đừng buông bỏ cha mẹ!

Hãy xa lìa súng ống, chứ đừng xa lìa ông bà!

Tại sao chúng ta giết hại? Đó là vì chúng ta bị giết hại trong quá khứ. Bệnh tật và yểu mạng đến từ cùng một nguyên nhân: Giết hại. Nhân và Quả - Nghiệp – không sai trật một mảy may. Như Kinh dạy rằng:

Tội sát sanh có thể làm cho chúng sanh đọa địa ngục, súc sanh và ngạ quỷ. Nếu tái sanh trong loài người thời mắc hai quả báo: Mạng ngắn và nhiều bệnh.

Kinh Hoa Nghiêm. Phẩm thứ hai mươi sáu - Thập Địa. Phần mười nghiệp đạo ác.


Lời dạy của Đức Phật về lòng Đại Bi nói thẳng tới chúng con ngay tại đây và ngay lúc này:

Chúng ta nếu không kịp thời tỉnh thức ngăn chặn nguyên nhân sát sanh, duyên do sát sanh, phương pháp sát sanh, cùng nghiệp sát sanh, thì khó mà chuyển đổi được tai ách để được an lạc. . Nhìn vào nền khoa học hiện đại: mỗi ngày một mới mẻ và mỗi tháng đều khác. Vũ khí quân sự được hiện đại hóa từng ngày và mỗi tháng đều khác. Cho dù chúng ta gọi đó là sự tiến triển thì nó chẳng có gì hơn ngoài sự tiến triển của sự tàn ác. Khoa học dùng sanh mạng của con người như là một cuộc thử nghiệm – như là trò chơi của trẻ con. Nó làm đầy những tham vọng lớn lao và những mục tiêu bằng sức mạnh …”

Thủy Kính Hồi Thiên Lục.

Như việc cái vỏ chai bia làm vỡ kính cửa xe hơi của chúng con tháng trước đến từ những ý nghĩ giận dữ của con đối với bạn đồng hành. Nó cũng có thể là một quả bom nguyên tử. Nguồn gốc như nhau, khác nhau chỉ ở mức độ. Hành trình lễ lạy đã giúp con mở mắt về trách nhiệm đem lại hòa bình cho thế giới bằng cách tạo an bình cho chính tâm trí mình. Những tư tưởng của chúng ta tạo nên thế giới. Khi mà con vẫn còn đeo cái bao đựng súng ngắn và thực hành động tác rút súng nhanh và ‘ giả’ giết hại ‘những kẻ xấu xa’ khi mọi việc không theo ý mình, thì con cũng chẳng khác gì người trực tiếp gây sát thương - những người lính và những nhà khoa học. Khi con vẫn còn đấu tranh trong tâm trí mình hay ghanh đua với thế giới cho vị trí số một, Tay súng nhanh nhất, thì con không phù hợp để tự gọi mình là đệ tử của Phật.

Và như vậy, trên tất cả, mục đích tối thượng của con là: chuyển đổi Tham, Sân, Si thành Giới (Đạo đc), Định, và Huệ - được tán dương bởi những bậc Thế Tôn khắp các thế giới, và từ đó sẽ khiến cho tất cả chúng sinh thành Phật. Chưa bao giờ có những ngôn từ nào khác cao thượng hơn những lời này:

Tại sao chúng ta lại không nghĩ rằng, hãy rửa sạch thân tâm mình, quét sạch những bụi bẩn chồng chất, tăng trưởng lòng hổ thẹn, chịu khó thay đổi con người sai trái trước đây của mình và tạo dựng một cuộc sống mới, làm những người tuyệt vời và vô song với đầy đủ những năng lực hùng mạnh, thực hiện những việc làm lợi ích trong Pháp giới, cư xử với mọi công dân của các quốc gia như là anh em và tạo Đức Hạnh, làm gương cho tất cả thiên hạ. Làm như vậy được gọi thế thiên hành đạo. Vì quốc gia, dạy người trung hiếu.

Thủy Kính hồi Thiên Lục.

Rất nhiều người yêu thích súng, nhưng giờ đây, chúng con có Phật Pháp trên đất nước của mình, chúng con sẽ học cách yêu thích lòng từ bi hơn. Đạo Phật là giáo lý cho con người, giáo lý cho tất cả chúng sinh, giáo lý cho trái tim. Như Sư phụ đã dạy:

Đạo Phật làm thay đổi sự hư hoại của Vũ trụ bằng cách tạo ra năng lượng thiện lành cho thế giới.

 

Đệ tử Quả Chân (Hằng Thật)

Cung kính cúi lạy!

 

Chú thích:

(1) Sát Đế Lợi: Giai cấp chiến sĩ của xã hội Ấn Độ thờ xưa, đứng hàng thứ hai trong 4 giai cấp xã hội thời đó. Xin xem thêm http://en.wikipedia.org/wiki/Kshatriya

(3) Samurai: giai cấp võ sĩ của Nhật Bản. Xin xem thêm http://en.wikipedia.org/wiki/Samurai

(3) Rome's Centurions - Những Đại Đội Trưởng của La Mã, xin xem thêm http://www.bible-history.com/sketches/ancient/roman-centurion.html

 

Làm Sao Có Thể Cắt Cỏ Hết Được?

Ngày 19 tháng 7 năm 1979 

Stewart’s Point

 

Kính thưa Sư Phụ,

 

Bồ Tát này làm đại thí chủ, phàm có vật gì đều bố thí được cả, lòng bình đẳng không hề hối tiếc, chẳng trông quả báo, chẳng cầu tiếng tăm, chẳng tham lợi tức, chỉ vì cứu hộ tất cả chúng sanh, vì nhiếp thọ chúng sanh, vì lợi ích chúng sanh..

Hoa Nghiêm Kinh. Phẩm thứ hai mươi mốt - Thập Hạnh(Đoạn nói về Hoan Hỷ Hạnh).


Cách đây đúng năm năm về trước, con đã sẵn sàng rời khỏi nhà trọ ở Berkeley và chuyển vào Tu viện Kim Sơn sống như một cư sĩ tại đây trong khi hoàn thành văn bằng đại học tại Đại Học UC Berkeley. Đầu tiên, có một chuyến hành trình đi đến Seattle để tham dự Cầu Nguyện Hòa Bình Thế Giới (World Peace Gathering) (1). Cuộc Cầu Nguyện Hòa Bình Thế Giới này đánh dấu kết thúc khóa tu học mùa hè ở Tu Viện Kim Sơn năm 1974 và đó là một thành công lớn. Tỳ kheo Hằng Lai, người được biết đến là Quả Hồi lúc đó, và cư sĩ Quả Thuận Peterson và con đã thực hiện một chuyến đi trong chiếc xe cắm trại của Quả Pháp Olson. Chúng con ngồi đằng sau, nhấp nháp từng ngụm cô ca, và học thuộc lòng Chú Đại Bi.

Trên đường trở về nhà, chúng con dừng ở thành phố Ukiah để xem xét một khu đất đang được rao bán. Nơi đó trước vốn là bệnh viện của tiểu bang Mendocino, nhưng đã bị đóng cửa thời chính quyền Reagan và giờ đang bỏ trống. Người trông coi dẫn chúng con đi vòng quanh khu đất đó. Đó quả là một nơi tuyệt vời.

Con đã có một cảm xúc về chỗ đó. Quả Pháp thì tin tưởng. Quả Hồi thì nghi ngờ, “Quá lớn! Làm sao có thể cắt cỏ hết được?” Có gì đó lấp lánh trong đôi mắt của Quả Thuận. Chẳng ai trong chúng con đoán rằng trong gần đúng hai năm sau, Quả Hồi và con lại có thể được thọ giới Tỳ Kheo tại phòng tập thể dục tại đó. Con đã không thể tưởng tượng rằng chỉ trong vòng gần đúng năm năm, con lại có thể ngồi trong một chiếc xe Plymouth tại Stewart’s Point trên bãi biển Califonia sau khi lạy tám trăm dặm anh (2) để hướng đến chính thành phố kỳ diệu này.

Chúng con quay trở lại Tu Viện Kim Sơn và con đi lên tầng trên để rửa tay. Hòa thượng trụ trì đang ở đó, nhân từ và mỉm cười. Con chưa từng đối diện nói chuyện trực tiếp với Ngài bao giờ.

“Tốt, chỗ đó thế nào?” Ngài hỏi.

“Chúng con đã nhìn thấy một bệnh viện, thưa Sư Phụ!” Con thốt lên.

“Vậy à, nó thế nào?” Ngài vừa hỏi vừa cười rất tươi.

“Nó rộng lớn!” Con nói.

“Con có thích nó không?” Ngài hỏi.

“Ồ, chỗ đó có thể là một Đại Đạo Tràng! Giống như Tu Viện Nalanda!” Con nói liền một hơi không thở.

Ngài cười và hỏi, “Ồ, vậy sao? Tốt. Như vậy con có nghĩ là chúng ta nên mua nó không?”

“Như thế thì thực sự quá tuyệt!”.

Tu Viện Nalanda là một Tu viện khổng lồ, nổi tiếng và là một trường Đại học mà nhà hành hương Huyền Trang đã ghé thăm trong chuyến hành trình tới Ấn Độ năm 640 sau Công nguyên. Đó vốn là trung tâm học tập và tu hành Phật Pháp trong nhiều thế kỷ. Nalanda được dịch là “ Bố Thí không ngừng nghỉ” hay “Nhà từ thiện không mệt mỏi”, và Vạn Phật Thánh Thành cũng như vậy: Là nơi bố thí vô ngã lòng tốt và ánh sánh trong lành cho toàn thế giới. Thật là món quà tuyệt vời làm sao!

“ Chúng ta tất cả ở đây cùng làm Phật sự trong mộng!”

Hòa Thượng Tuyên Hóa, L.A, 1978.

Một giấc mơ đẹp biến thành sự thật.

 

Đệ tử Quả Chân (Hằng Thật)

Cung kính cúi lạy!

 

Chú thích:

(1) Cầu Nguyện Hoà Bình Thế Giới . Xin xem thêm http://www.drbachinese.org/vbs/1_100/vbs52/news.html

(2) khoãng 1,287 km; 1 dặm anh (mile) = 1.609344 km

 

Ẩn Mình Trong Phòng Kín, Quan Sát và Chờ Đợi

Ngày 21 tháng 7 năm 1979

Gần Salt Point, Califonia

 

Kính thưa Sư Phụ,

“Những suy tư trên xa lộ về Thời Kỳ Mạt Pháp ”. Kinh Hoa Nghiêm dạy rằng tất cả ba thời quá khứ, hiện tại và vị lai đều như nhau. Quá khứ, hiện tại và vị lai đều là những phân biệt sai lầm,

Quá khứ, hiện tại, và vị lai chỉ là ngôn từ.

Vậy thì Thời Kỳ Mạt Pháp cũng như thế có phải không? Đó chỉ là lời nói ngô nghê của ngôn từ sai lạc mà thôi? “Nhất thiết duy tâm tạo”, Kinh dạy như thế. Bạn coi nó như thế nào, thì nó sẽ như thế. Tu Mạt Pháp thì sẽ thành Thời Kỳ Mạt Pháp. Tu Chính Pháp thì sẽ thành Thời Kỳ Chính Pháp. Không có gì cố định. Tất cả mọi sự khác biệt trên thế giới nảy sinh từ tâm trí của chúng sinh. Bình đẳng, lan tỏa tới khắp mọi nơi, Phật pháp không có bắt đầu và cũng không kết thúc.

Tuy nhiên, tư tưởng về Thời Kỳ Mạt Pháp thực sự gây tổn thương lên tinh thần của mọi người và sự phát tâm Bồ Đề. Đó là một suy nghĩ sai lầm lớn, và là một quan điểm rệu rã về thế giới. Chấp nhận về sự kết thúc của Phật Pháp, ấy là đang bị ngoại cảnh xoay chuyển. Giống như những chúng ma mà chúng con gặp khi đang lễ lạy: Nếu nghĩ về chúng trước thì chắc chắn chúng sẽ hiển hiện ra; lo lắng và ưu phiền với sợ hãi thì sẽ trở nên trầm trọng hơn. Không để tâm tới ác ma và xem chúng như là “chẳng có vấn đề gì”, thì chúng sẽ biến mất. Đừng vọng tưởng về chúng thì chúng sẽ không đến. Người đàn ông xấu xí và người phụ nữ xinh đẹp đến gây trở ngại công việc của chúng ta theo cùng một cách. Chúng ta mang lại tất cả những rắc rối cho mình bằng chính những vọng tưởng của mình. Khi vọng tưởng dừng bặt, thì những phiền toái của chúng ta cũng biến mất. Vì thế có câu:

Khi chú tâm hiện tại

Thì vọng trở về chân.

Kệ Sổ Châu Thủ Nhãn # 29

Vậy thì quan điểm về Thời Kỳ Mạt Pháp cũng tương tự như vậy ? Với suy nghĩ không mệt mỏi, không thối chuyển của “thanh tịnh tâm ý, hãy tiếp tục, tiếp tục!” – vọng sẽ trở về chân, và sự huỷ diệt Phật Pháp trở thành sự thịnh vượng Phật Pháp. Những bậc tổ sư và cổ nhân không chạy theo cảnh giới – mà chuyển cảnh giới theo họ.

Trước khi tới Tu Viện Kim Sơn, con đã nghe vài lời thế này: “ Ô, Kim Sơn ? Tất cả những người đệ tử Phật đó đều quá cứng nhắc và không uyển chuyển. Họ giữ giới luật quá nghiêm khắc - đặc biệt là ngăn cấm ăn thịt, dùng chất say và tà dâm”. Con lại nghe những người khác chỉ trích, “Bây giờ là thời kỳ hiện đại! Họ thật ngu ngốc. Trong Thời Kỳ Mạt Pháp thì điều huyễn hoặc này không giữ vững. Họ chỉ vì mình thôi. Nhưng họ tuân theo những khổ hạnh và xây dựng Đạo Tràng và bây giờ là một trường đại học lớn…Họ không biết làm thế nào để thuận theo thời đại. Tại sao phải liều lĩnh làm như vậy trong Thời Kỳ Mạt Pháp này ?”.

Trong Kinh Hoa Nghiêm dạy rằng, tất cả là một và một cũng là tất cả. Tới tận cùng của hư không và tận cùng tương lai, tất cả đều dung thông không ngăn ngại. Không có thời gian, không đến cũng chẳng đi, không chỗ nào để nương tựa hay trụ vào. Nên, con phải trốn ở đâu trong Thời Kỳ Mạt Pháp? Dưới gầm giường ư? Hay trong một ngôi chùa xa xôi hẻo lánh nào đó? Hay có thể trên một hành tinh khác chăng? Dù có đi đến đâu, thì chúng ta cũng không ở ngoài Pháp giới. Tự tánh của chúng ta và Pháp giới là một, không hai. Vậy thì đâu có nơi nào để ẩn trốn chứ?

Ở Cambria, Califonia, có vài người chưa bao giờ được nghe đến Thời Mạt Pháp. Với họ thì đây là thời kỳ Chánh Pháp và mọi việc đang bắt đầu tiến triển, chứ không lui sụt. Don hiện là nhân viên bán bảo hiểm, trước đây từng là thầy giáo. Hôm chủ nhật, anh và gia đình đi ra ngoài, “Đơn giản chỉ vì việc lễ lạy thật rất an lạc và tốt đẹp để được gần gũi”. Họ đã cúng dường và lặng lẽ quan sát. Sau đó, Don quay trở lại và thuật lại rằng công việc của anh đang bấp bênh, và nói rằng “ thành thật mà nói, cuộc đời có rất nhiều thứ thật điên đảo và chẳng có ý nghĩa gì cả”. Anh rất thích thú về Đạo Phật. Anh muốn trở thành người cha, người chồng tốt, và giúp đỡ mọi người, nhưng trong tâm trí không có một nơi nương tựa. Những tôn giáo truyền thống làm anh thấy lạnh lẽo. Anh bắt đầu niệm danh hiệu của Đức Quán Thế Âm Bồ Tát hàng đêm trong một góc nhà tĩnh lặng. Vài tuần sau anh quay trở lại. Trông anh trẻ hơn và ổn định, lấy lại được cân bằng. Anh nói với chúng con là đã có một công việc mới và “tất cả mọi thứ đang dần trở nên tốt hơn”. Rồi anh tiếp, “Anh biết không, có một đêm, khi tôi đang ngồi niệm Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát, có một điều kỳ lạ xảy ra. Khuôn mặt của một cụ già râu tóc bạc trắng hiện ra. Tôi cảm thấy rất an ổn và không có một chút sợ hãi gì cả”. Sự mô tả anh đưa ra rất phù hợp với Hòa Thượng Hư Vân.

Tom và vợ cùng ba đứa con điều hành một nhà trọ gần biển. Họ đã đến cúng dường và nói, “Chúng tôi ganh tỵ với các ông. Đây chính là điều mà chúng tôi cần phải thực hiện trong đời sống của mình. Nhưng bây giờ thì quá muộn. Chúng tôi đã lập gia đình từ hồi trẻ và có con”. Họ đã nghĩ rằng chỉ có duy nhất một cách có thể thực hành Phật giáo là trở thành tăng hay ni trong tu viện. Họ đã hạnh phúc và ngạc nhiên khi nghe về sự bao hàm tất cả các thành phần và đặc biệt là ở Vạn Phật Thánh Thành. “Ý ông là, mọi người cũng có thể tu hành và mang theo con cái của họ sao?”. Sau đó, Tom quay trở lại và nói với chúng con rằng anh ta đang thực sự cùng đường. Anh đã dùng ma túy và rượu, mắc nợ rất nhiều và cảm thấy bị bó buộc bởi thân nhân và trách nhiệm làm cha. Anh gần như tuyệt vọng. Sau đó, nhân một lần hứng thú, cậu ấy đã thỉnh từ Kim Sơn Thánh Tự một quyển Sa Di Luật Nghi. Đó là những lời dạy căn bản và vững chắc về việc tạo nền tảng cho việc tu hành đạo đức chân chánh. Tom thực sự tâm đắc với nguyên tắc rằng “mọi thứ xảy ra với ta là đến từ những gì ta làm”. Anh cảm thấy rằng lý do khiến cho cuộc sống của mình là một mớ hỗn độn là vì đã không tuân thủ các nguyên tắc. Anh muốn thay đổi và bắt đầu lại tất cả mọi việc.

Một năm sau, Tom và gia đình anh đã dừng lại khi đi chơi bên ngoài vào cuối tuần. Họ thực sự đã rất hạnh phúc và rõ ràng họ đã cùng nhau quay trở lại. Tom rất tự tin và thoải mái. Tất cả mọi cay đắng và bi quan đã biến mất. Những đứa con bây giờ trông tự nhiên và trong sáng, trong khi trước đây chúng căng thẳng và thiếu vẻ tôn kính. “Anh biết đấy”, Tom nói, “cuốn sách đó thực sự đã thay đổi cuộc sống của tôi…của chúng tôi…Tôi không thể bày tỏ được với ông về những thay đổi mà sách đó đã đem lại”.

Gia đình McCauley là những người sùng đạo Công Giáo. Nhưng họ “đã từ bỏ nhà Thờ”, bà Mrs McCauley nói, “vì Đạo này đã không tiến đủ xa. Đây là thời đại không gian và có tâm linh mới. Đặc biệt các con tôi đưa ra những câu hỏi và tìm kiếm những thứ mà chúng tôi chưa từng có can đảm làm khi còn trẻ. Chúng tôi đều thực sự hạnh phúc được biết về chuyến hành hương này và nghe về thành phố ở phía bắc (Vạn Phật Thánh Thành). Đạo Phật dường như bao gồm tất cả mọi thứ trong đó và cũng vẫn đáp ứng được cuộc tìm kiếm giác ngộ của từng người. Mấy đứa con trai chúng tôi đã theo các ông và chúng thực sự thèm muốn được đi tới nơi mà các tôn giáo truyền thống của chúng tôi chưa hề khám phá đến. Điều này rất lành mạnh và tôi hoàn toàn tán thành việc đó. Chồng tôi và tôi sẽ luôn luôn theo sau và học hỏi. Ông biết đấy,” bà ấy nói một cách bình thản, “có rất nhiều người như chúng tôi ẩn mình sau bụi cây mà lén nhìn trộm và giấu mình trong buồng kín quan sát và chờ đợi…”

Bồ Tát lập bốn đại nguyện mà không bao giờ thối chuyển hay đi nghỉ hè, ngay cả trong Thời Kỳ Mạt Pháp,

Chúng sinh vô biên thệ nguyện độ,

Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn,

Pháp môn vô lượng thệ nguyện học,

Phật Đạo vô thượng thệ nguyện thành.

Vài người nói rằng, “Hòa bình cho toàn thế giới là điều không thể có. Chấm dứt những thảm họa và khổ đau là chuyện nằm mơ”. Vậy thì sao? Càng là lý do để cố gắng hơn nữa. Hay nhiều người nói, “Xã hội và gia đình đang tan rã”. Đó là điều khiến những lời dạy của Đạo Phật trở nên rõ ràng hơn và cần thiết hơn. Những lý do này khiến ta phải đầu hàng và bỏ cuộc hay sao? Chính vì sự đau khổ của con người mà chư Phật xuất hiện trên thế gian.

Chúng sinh từ vô thủy,

Luôn trôi lăn sinh tử,

Không hiểu Pháp chân thật,

Nên Phật hiện thế gian.

Kinh Hoa Nghiêm. Phẩm thứ hai mươi bốn - Phẩm Đâu Suất Kệ Tán.

Nếu như tất cả mọi người đều giác ngộ, thoát mọi khổ đau và nơi xấu ác, thì Phật Pháp dùng để làm gì? Phật Pháp là thuốc. Càng có nhiều khổ đau và lầm lẫn, thì càng cần dùng thuốc. “Nhưng đây là Thời Kỳ Mạt Pháp. Nó vô dụng. Ông thật là ngu si khi liều lĩnh làm như vậy. Cho dù ông có làm gì đi nữa thì Chánh Pháp cũng sẽ tận diệt.”, ai đó nói thế. Thì đó chính là lý do để cần làm. Vì đó là ngu si. Khi mà thế giới đang bị những người khôn ngoan dẫn tới bờ mé sụp đổ, thì dấu hiệu tốt là vẫn còn có những người “ngu si” chẳng biết cách tự lo cho mình, mà chỉ đương đầu để làm lợi ích cho kẻ khác như xem chuyện đó chẳng có vấn đề gì hết.

Nên con tự hỏi, “Này nhà sư, nếu chỉ lo bảo vệ cho bản thân mình, vậy thì ngươi bảo vệ bản thân để làm cái gì?. Khi ngươi chết đi và tách rời với thân xác này, thì ngươi còn làm được điều gì tốt đẹp với thân xác đó nữa? Dẫu thế nào thì Quỷ Vô Thường cũng lấy nó đi. Thỏa thuận thế này. Hãy đem nó ra để có thể làm được việc gì tốt.”. Bồ Tát không chỉ liều lĩnh đương đầu mà còn xả bỏ cả tay, chân, mắt, tai, thậm chí cả xương và tủy xương để làm lợi ích cho chúng sinh. “Không sao”, Ngài nói, “Tôi chỉ muốn chúng sinh chấm dứt khổ đau và được an lạc. Tôi không dành dù chỉ một chút quan tâm tới việc giữ lại “cái tôi và của tôi’ hay bất cứ điều gì thuộc về ‘tôi và của tôi’. Đồng thể với tất cả mọi người là Đại Bi. Thân tôi là Pháp thân”

Thời Kỳ Mạt Phát cũng chỉ là như một ngày khác khi nó đến, không mệt mỏi, không thối chuyển. Bồ tát không bao giờ rời bỏ những lời nguyện Bồ Tát. Dù muôn kiếp có thể cùng tận, nhưng tâm Ngài không bao giờ mệt mỏi.

Với tất cả khổ chẳng sanh nhàm lìa, chỗ tất cả chúng ma không bị dao động, được tất cả Phật hộ-niệm, làm đầy đủ tất cả khổ hạnh của Bồ-Tát, siêng thành-tựu bồ-tát-hạnh không lười trễ, nơi đại-thừa nguyện luôn chẳng thối chuyển.

Kinh Hoa Nghiêm. Phẩm thứ hai mươi bốn - Phẩm Thập Hạnh.

Tại sao? Vì có lúc điều “mỗi người chỉ vì mình” đó trở nên rõ ràng rằng không phải là như thế. Thế giới của mọi chúng sinh và vũ trụ ( Pháp giới) là không hai. Mọi vật là một. Không tăng không giảm. Không sinh không diệt. Không có ta hay người, không có gì để bám chấp hay nương tựa vào. Tu hành là mãi mãi, và bởi vì công việc của Bồ Tát là vô tận, vì thế Phật Pháp không bao giờ chết.

Ví như khoan gỗ để tạo lửa. Lửa cháy vô lượng mà lửa chẳng tắt. Cũng như vậy, việc Bồ Tát giáo hóa chúng sinh là vô cùng tận, mà thường trụ ở thế gian, không diệt.

Kinh Hoa Nghiêm. Phẩm thứ hai mươi bốn - Thập Hạnh. Phần Bồ Tát Vô Trước Hạnh thứ bẩy. Việt dịch: HT Thích Trí Tịnh.

 

An lành trong Phật Pháp.

Đệ tử Quả Đình (Hằng Châu)

Cung kính cúi lạy.

 

Tôi Cá Rằng Không Trở Thành Người Xuất Gia Là Điều Khó

Ngày 30 tháng 7 năm 1979

Sea Ranch, Califonia.

 

Kính thưa Sư Phụ,

Hôm nay trời nóng. Suốt mấy tiếng đồng hồ lễ lạy tại một nơi vắng vẻ, xuôi theo quốc lộ 1 với những cây thông cao hai bên. Toàn bộ cuộc đời lướt qua trước mặt khi lạy ba bước một lạy theo nhịp đều đặn. Bạn sẽ nhận ra chỗ nào bạn sai và chỗ nào bạn đúng. Tu Đạo ở trên hết tất cả mọi việc mà bạn đã từng làm giống như mặt trời lúc giữa trưa. Đó là trung tâm của ánh sáng và tất cả những điều tốt và đúng đắn trong cuộc đời bạn.

Khi những cội rễ ăn sâu thì hoa trái sẽ sum xuê.

Kinh Hoa Nghiêm. Phần mở đầu.

Con muốn đền ơn cha mẹ, thầy cô, và các bậc trưởng thượng và muốn hiếu thuận với họ (cây trái trổ hoa là bởi rễ, trái cây sau đó trở lại cội rễ). Con muốn nhìn thấy bạn bè của mình được tự do và hạnh phúc. Con cảm giác như thể mình là một người bạn cũ của mọi chúng sinh. Chúng ta gặp nhau không biết bao nhiêu lần, tìm kiếm một con đường tới bờ bên kia. Người, vật, và tất cả những chúng sinh mà chúng ta không thể nhìn thấy, dừng lại, quan sát và hỏi rằng, “Bạn đã làm được chưa? Bạn thật sự chân thành làm việc đó chứ? Phật Đạo thực sự có thể thực hiện được à? Chúng ta đều có thể thành Phật sao?”. Không một lời nào, chúng con hỏi nhau và tìm một nơi để nương tựa và cái gì đó để tin vào.

Chúng ta đều là một thân thể, một trái tim…Một người trẻ tuổi dừng lại và cúng dường những trái dâu tươi mới hái. “Tôi muốn cúng dường chúng. Tự tay tôi đã hái chúng lúc sáng nay ở Pt. Reyes”. Người này có thể là một người bạn cũ từ chốn xa xưa nào đó, bây giờ đến đây một mình trên chiếc xe buýt V,W. (hiệu Volkswagen) cũ với cái xe đạp được cột chặt ở đằng trước. Chúng con từng gặp hàng trăm người với mọi tuổi tác và phong cách sống biết rằng họ chỉ đi ngang qua một giấc mơ trong thế giới này. Mỗi người một cách đều đang làm một cuộc thám hiểm về tâm linh, và từ sâu trong trái tim, họ cảm thấy gần gũi với chúng con. Họ nghe “Đạo Phật”, “Nhà sư”, “Giác ngộ” và từ sâu thẳm bên trong một cánh cửa nhỏ liền mở ra, một hạt giống bị lãng quên từ lâu đang nảy chồi non. Họ dừng lại, con nghĩ, không phải vì chúng con, mà để nhìn vào một tấm gương. Bây giờ là mùa hè năm 1979, nhưng cuộc phiêu lưu thì là mãi mãi. Chúng ta đều là những người hành hương.

Sau hai năm lạy trên đường, quá rõ ràng với chúng con rằng điều duy nhất đáng giá và chân chính trong thế giới này là tu Đạo. Món quà cao quí nhất là sự bố thí Phật Pháp. Khi người trẻ tuổi này ngồi khoanh chân trên đất, những quả dâu để trên lòng và quan sát chúng con lạy, con nhận ra sự thật mà từ trước đến giờ chưa bao giờ nhận thấy về những điều chúng con đọc được ở trong Kinh Hoa Nghiêm tối qua.

Này thiện nam tử! Trong các thứ cúng dường, Pháp cúng dường là hơn cả. Pháp cúng dường là: Tu hành đúng theo lời Phật dạy để cúng dường, làm lợi ích cho chúng sinh để cúng dường; chịu khổ thế cho chúng sinh để cúng dường; nhiếp thọ chúng sinh để cúng dường; siêng năng tu tập căn lành để cúng dường; không bỏ hạnh Bồ Đề để cúng dường; chẳng rời tâm Bồ Đề để cúng dường.

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm thứ 40: Nhập Bất tư nghì giải thoát cảnh giới Phổ Hiền Hạnh Nguyện.

Để thực sự trừ bỏ được tham, sân, si; thoát khỏi tất cả những vẻ bề ngoài giả tạo và mặt nạ giả dối; quẳng đi tất cả những tư tưởng ghanh tị, kiêu ngạo, và hoài nghi; thắp sáng tâm bạn , nhận ra chân tâm của mình và hãy để cho bổn lai diện mục (gương mặt xưa nay) của bạn tỏa sáng – đó mới thực là món quà chân chính. Món quà đó là bậc nhấtkhó có được nhất.

Ai cũng tìm kiếm “cái chân thật”. Chúng ta tìm quanh quẩn bên ngoài, nhưng “cái chân thật” mà chúng ta thực sự muốn tìm kiếm lại chính là chân ngã của chính mình. Trở thành một người chân thật là bố thí món quà Phật Pháp. Thanh tịnh, bình an, vui sướng, và không vọng tưởng. Một hồ nước trong sạch, mát mẻ. Tấm lòng từ, bi, hỷ, xả vô lượng thì thanh tịnh và vô ngã như bông tuyết mới rơi và tâm trí dường như không. Có câu rằng,

Tìm trong hết thảy các thế giới,

Cái chân thật sao thật khó tìm.

Trong một khu nhà mới của tư nhân được rào lại người ta đang chơi tennis và bơi lội. Toàn bộ quang cảnh này giống y như khi chúng con lạy qua một câu lạc bộ nông thôn ở L.A (thành phLos Angeles) cách đây hai năm. Mọi thứ trên thế gian là không và vô thường, song, chúng dường như không hề thay đổi. Vài người mất đi và những người mới xuất hiện, cũng giống như việc thay cầu thủ của trận đấu tennis. Trò chơi của đau khổ và tìm kiếm diễn ra như là hết trận tennis này đến trận khác.

Một cảm xúc thật thuần khiết và cao quý biết bao, tới tận xương tủy khi được gặp Phật Pháp! Từ từ, con dần nhớ ra làm thế nào để thành một con người thật sự. Chúng con biết rằng cuối cùng chúng con đang đi đúng đường. Việc bố thí Pháp đến tự nhiên, giống như mưa, khi bước chân chúng con trở thành chân thật một cách tự nhiên và không lưu dấu vết .

Kết thúc một ngày lạy liên tục, chúng con cảm thấy cuộc sống mình thật đơn giản và chân thật - rất dễ dàng và tự nhiên – và không một vật gì trên thế gian có thể chạm tới được. Ba thanh niên trẻ tuổi lưng đeo ba lô đi xem thế giới, đã dừng lại và hỏi xin chúng con một ít nước. Họ có một cái bình đựng nước nhỏ. “Này, người trong ảnh là ai thế?” một người hỏi khi nhìn vào ảnh của Hòa Thượng Trụ Trì . “Này, tóc ông mọc lại rồi đấy”, một người khác hóm hỉnh trêu chọc. Và sau đó, anh ta thành thật hỏi, “Làm người xuất gia có khó lắm không?” Bạn anh ta đang đọc bảng hiệu của chúng con trong cửa sổ xe và nhìn vào bức ảnh Phật ngay cạnh đấy, ngước lên nói, “Không, tôi cho rằng cái khó lại là không trở thành người xuất gia !”, anh ấy nói đầy quả quyết. Anh ấy đã lấy ra những lời ấy từ trái tim con. Khi ra đi, họ nói, “Này, anh biết không, đó thực sự là một điều hết sức tuyệt vời – làm vì mọi người. Tôi muốn nói là, nhờ đó mà tất cả chúng sanh sẽ được hòa bình và hạnh phúc. Đó thật là một con đường thật tuyệt vời”.

Con nghe họ nói thế và một lần nữa, con nhận ra rằng đạo lý của Đạo Phật đều có trong tim mỗi người - Bồ Tát Đạo là tâm tự nhiên của chúng ta. Trong thái độ của họ, có thể họ không biết, họ đều đang nói Pháp,

Tâm của con người là Phật,

Phật chính là tâm của con người.

Cầu mong rằng tất cả chúng ta đều đồng thành Phật Đạo, thật sớm!


Chúc cho tất cả chúng sanh an bình trong Đạo.

Đệ tử Quả Đình (Hằng Triều)

Cung kính cúi lạy.

 

Những Kẻ Nói Thị Phi Sẽ Đoạ Địa Ngục

Ngày 01 tháng 8 năm 1979

Sea Ranch, California


Kính thưa Sư Phụ,


Nếu
quý vị lập các Đại nguyện, quý vị không thể có bất cứ vọng tưởng gì. Nếu quý vị lập một nguyện lớn rồi lại có vài vọng tưởng thì chúng có thể làm lu mờ nguyện lớn đó. Vì thế, đừng có một chút vọng tưởng gì về việc giết hại, trộm cắp, và đừng nghĩ về việc nói những lời sai trái…

Hòa Thượng Tuyên Hóa, 1973


Thưa sư phụ, đệ tử này vẫn đang cố đào lối xuống địa ngục với cái lưỡi của mình. Hôm nay, suýt nữa thì con làm xong việc đó mà chỉ bằng cây viết, thậm chí không cần dùng đến lưỡi của con.

Sáng nay, Thầy Hằng Triều và con có một cảm giác giống y như là trên đỉnh thế giới và chúng con đã bất cẩn. Chúng con đã viết thư sau khi tụng Kinh sáng. Chủ đề là Giới Luật. Thầy Hằng Triều nói, “Thật là tuyệt vời nếu có thể thành một vị Thầy chuyên về Giới Luật hoàn hảo, rất giỏi về giữ giới luật mà lại trông hoàn toàn tự nhiên, không nỗ lực quá và không bao giờ phạm sai lầm.”. 

Con đã nắm lấy cơ hội này để phá giới luật và tạo ra một lỗi lớn kinh khủng trong nhân quả. Con đã viết lời này: “Đại Sư Giới Luật Hoằng Nhất có một đôi giày đã dùng hết năm này qua năm khác. Câu chuyện là vị Đại Sư ấy lúc đi tựa như đi trên vỏ trứng vậy, c-h-ậ-m r-ã-i, để tránh đạp lên những con bọ”. 

Con đã đưa nó cho Hằng Triều xem và quan sát phản ứng của thầy ấy. Khi thấy ấy không nói câu gì, con mới bắt chước điệu bộ một người đang sợ hãi dời chân về phía trước sợ sẽ giết chết những con bọ và rồi đưa tay thể hiện một cử chỉ coi thường và nói “Chuyện tầm phào!”. Con đã viết, “Thầy sẽ chẳng bao giờ nhận ra con người thật sự chân chính”, có nghĩa là nếu ai đó mà đi kiểu như vậy thì không chân thật. Người ấy chắc hẳn chấp vào hình tướng giữ giới luật. Con ám chỉ sự thật rằng vị Thầy chuyên Giới Luật không nên quá gượng ép và giả tạo như thế. Chúng con đã hoàn thành xong bài viết với một thảo luận về áo giới và đồng ý rằng việc giữ giới luật một phần quan trọng nhất của một người đệ tử Phật chân chính.

Ngay khi con đi ra ngoài để lạy, con đã nhận ngay ra rằng những lời con viết, cử chỉ, và thái độ ẩn sau đó, con đã tự đưa mình đến địa ngục vì tội phỉ báng Tam Bảo, phỉ báng Chánh Pháp, phạm tội vọng ngữ, phá Giới Bồ Tát, như là: a) Ca ngợi mình và chế nhạo người khác; b) Có hành vi thiếu tôn trọng và thô lỗ với thầy cô và những bậc Trưởng lão; c) Phỉ báng vô căn cứ; d) Cư xử với các Pháp sư với vẻ khinh miệt.

Con sám hối ngay lập tức, tâm trí con kinh ngạc không ngờ rằng con có thể bất cẩn đến vậy. Sau bữa trưa, con viết mấy lời này với Thầy Hằng Triều: “Mẩu chuyện vắn tắt về Hòa Thượng Hoằng Nhất sáng nay là nhân duyên của tội phỉ báng, vọng ngữ, hai lưỡi, nói lời thô lỗ, ngớ ngẩn, và thị phi. Nó là nguồn gốc của tội lỗi và chướng ngại vô tận. Tôi không được phạm thêm một chút nào nữa! Tôi không đủ tiêu chuẩn để nói về những vị đại sư theo lối ấy. Thật ngu ngốc làm sao khi phỉ báng các bậc Đại Đức của chúng ta như thế! Nó giống như là tự cắt đứt tay mình chỉ để gây cười. Trước hết, tôi thậm chí không biết rằng câu chuyện là thật hay không nữa - chỉ là nghe nói, là chuyện thị phi lúc nhàn rỗi. Tôi biết bất cứ Hòa Thượng nào tinh khiết trong Giới Luật đều hoàn toàn đáng ngưỡng mộ và đáng được ca tụng hết lời. Tư cách này của tôi rất đỗi hổ thẹn. Nó là đám tang của chính tôi - một chuyến tàu tốc hành hướng tới Địa Ngục. Trong thời đại này có quá ít vtrong tăng đoàn mà tôi lại tự cho mình công việc gây chuyện để tuỳ tiện khinh thường một trong những vị cao tăng nhất. Thật là điên khùng! Nếu tôi không tu tập để kiểm soát cái lưỡi của mình, thì tôi đang tu Đạo gì đây?”

Chiều nay khi con lạy, con lại sám hối , cảm thấy rất may mắn rằng mình đang có thể sám hối. Trong Sa Di Lục kể câu chuyện về một vị sư nọ đã phỉ báng một vị La Hán rằng tiếng vị ấy tụng nghe như chó sủa. Vị La Hán ấy đã thứ lỗi cho nhà sư ngay lúc ấy và nhân từ khuyên vị ấy sám hối. Bởi vì lòng từ bi của vị La Hán ấy, mà vị sư kia đã không bị đọa vào địa ngục Vô gián mà đáng lẽ ra vị ấy phải chịu. Thay vì đó, vị ấy phải đọa làm chó.

Mới tuần vừa qua, chúng con đã đọc đến chương Tam Địa của Kinh Hoa Nghiêm, nói về người tu hành có được Thiên Nhãn thông. Kinh dạy rằng:

Thấy các chúng sanh lúc sống lúc chết, sắc tốt sắc xấu, đường lành đường dữ theo nghiệp mà đi. Nếu chúng sanh đó gây tạo nghiệp ác nơi thân, nơi lời, nơi ý tưởng, chế nhạo Hiền Thánh, đầy đủ tà kiến và nghiệp nhơn duyên tà kiến, sau khi chết tất đọa ác đạo, sanh vào địa ngục.

Tại sao con lại ngu ngốc như vậy khi tự mình đi thử như thế ? Khi con hồi quang phản chiếu, con cảm thấy rất bồn chồn. Con đã rất khổ sở. Con không thở được, những chúng sinh trong con đang cãi vã, đánh nhau, đầy sợ hãi và nghi ngờ. Đầu con là một góc nhỏ của Địa ngục. Con đi vệ sinh và trong lúc đi tay con bị một gai dài bén nhọn đâm vào. 

Con sám hối với Tam Bảo và với Thầy của con. Con đã xin lỗi Đại Sư Hoằng Nhất. Con nói: “Cho dù có điều gì xảy đến với con, con muốn nhận lấy. Con không sợ đau khổ, con biết rất rõ rằng con gieo nhân xấu ác thì chắc chắn rằng con sẽ gặp quả báo. Điều con lo sợ chỉ là những lời nguyện của con sẽ bị lu mờ và như thế, con sẽ không thể hoàn thành Đạo nghiệp của mình và làm lợi ích cho tất cả chúng sinh”. Con khiêm tốn cầu xin được Tam Bảo nhiếp thọ, rằng nếu con còn có một chút hữu ích gì cho việc truyền bá Phật Pháp trong tương lai, thì con mong được tha thứ và thuần khiết trở lại.

Ngay khi con vừa thỉnh cầu điều này, một chiếc xe không rõ từ đâu chạy nhanh đến. Chiếc xe cố ý vượt qua chúng con, phóng thật nhanh lên lề đường chỗ chúng con đang lạy. Cửa xe mở tung ra, xe gầm rú lên khi ngang qua chúng con, sượt qua chỉ cách con chừng khoảng một inch (2.54cm). Suýt làm chấm dứt chuyến hành hương. Con tin đó là Tam Bảo đã thương xót cứu giúp con thoát khỏi “nghiệp chướng hiện tiền” trả dứt món nợ của con. Con niệm chú Đại Bi và lúc nào cũng mang theo Chú Thủ Lăng Nghiêm bên người. Những bài chú này có năng lực phi thường để vượt qua nghiệp tội mắc phải của những chúng sinh chân thành nhưng ngu muội . Con tin rằng sở dĩ con vẫn có thể viết được bức thư này đây là vì Tam Bảo đã lưu tâm thương xót và do sức mạnh của việc sám hối. Con thực sự may mắn khi không bị thiêu dưới Địa ngục. Thay vì đó, con còn có một cơ hội để tu Đạo.

Tại sao lúc ban đầu con lại có lời phát biểu ngu ngốc như thế? Ba năm trước đây, Hòa Thưọng trụ trì ngồi trên pháp toà đã nói với đại chúng, “Trong các con, ai mà cứ giữ cái thói thị phi thì sẽ rơi vào Địa ngục. Ta không muốn các con như thế, nhưng Nhân Quả là vô cùng chân thật. Ta không có quyền lực gì để ngăn cản điều ấy. Hãy cẩn thận!”. Làm sao mà con lại không học được bài học của mình thế? Tại sao miệng của con lại gây trở ngại cho chính mình như thế, cho dù con đã cố gắng hết sức để kiểm soát nó? Là vì những chủng tử xấu xa mà con đã trồng từ trong quá khứ, đó là nghiệp chướng của tánh nóng giận.

Ngài Phổ Hiền Bồ Tát giải thích nó như thế này, “chư Bồ Tát sanh lòng sân với Bồ Tát khác thời liền bị chướng ngại bởi trăm vạn chướng môn.…(trong đó: chướng thành tựu ngữ nghiệp vì hằng khởi bốn thứ tội lỗi”.

Đó là câu chuyện của đời con, và nếu con đã không bắt đầu tu Đạo, thì con đã không bao giờ nhận ra được hay có cơ hội để nghe và thay đổi nó. Con có lẽ mang theo cả núi tội lỗi trong suốt cuộc đời này và cuộc đời kế, và cuộc đời kế nữa, không bao giờ giảm được tội lỗi, luôn luôn vun bồi thêm, mà không nhận ra được nguồn gốc khổ đau của con. Con không bao giờ cho rằng mình là người có nhiều giận dữ. Con quay trở lại xe chiều nay và quan sát kỹ. Đuôi xe bị lõm vào, ống khói phía đuôi xe bị gãy rớt ra, miếng chắn bảo vệ xe bị xoắn lại. Thầy Hằng Triều cho biết cũng chính là chiếc xe chạy sát chúng con, trước đó đã đến thăm chiếc xe Plymouth. Khi những người trong xe đó không thể phá cửa để vào trong xe chúng con, họ liền húc nó từ phía đằng sau, cố đẩy nó xuống dưới đường mương. Đó không phải là một hành động giận dữ sao? Làm sao con có thể phủ nhận một điều: nó chính là quả báo của mình?

Con nhớ lại chuyện chai bia làm vỡ kính cửa phía sau ảnh của Đức Quán Thế Âm Bồ Tát. Cái chai đã nói Pháp cho con nghe, rồi hôm nay là chiếc xe nói Pháp. Nó nói rằng, “Này thiện nam tử , có chỗ nào trong hư không cần đến sự đấu tranh của anh sao? Ai đã nói với anh rằng anh cần phải trở thành số một? Ai đã buộc anh đấu tranh để trở nên đặc biệt và khác lạ với mọi người? Tự anh biết anh không như vậy. Anh cũng giống như tất cả chúng sinh, và như thế là đủ. Cần có lòng từ bi, người anh em. Ai cũng làm lỗi. Hãy nhường nhịn hơn nữa. Hãy buông bỏ cái nóng giận đó đi. Anh thấy điều gì nó mang lại cho mình khi có quá nhiều vọng tưởng rồi đó?”.

Con nghĩ về Phật khi con nhìn thấy hình ảnh buồn rầu của mình phản chiếu trên cửa sổ bám bụi của chiếc xe Plymouth. Phật là một người hoàn hảo. Ngài có mười tám phẩm chất đặc trưng của mình. Trong số đó có: Thân, Khẩu, Ý không bao giờ tạo sai lầm. Ngài không bao giờ thấy phân biệt một vật hay một người nào trên thế giới. Tâm trí của ngài không bao giờ phân tán và không bao giờ không xả bỏ bản thân để làm lợi ích cho người khác. Ngài đạt được những năng lực và lòng Đại Bi này là do tu hành trong một thời gian lâu dài. Ngài chắc chắn đã phải chịu đựng rất nhiều sự khổ sở, nhưng Ngài đón nhận chúng mà không hề giận dữ hay sợ hãi. Khi Ngài tỉnh thức về Nhân Quả, Ngài dừng lại việc thụ nạp những độc tố của Tham, Sân, Si và Ngài trở nên tốt hơn một cách rất tự nhiên. Vào một ngày, Ngài đạt tới lành mạnh toàn hảo: thành Phật.

Toàn bộ kinh nghiệm của con hôm nay đây đã củng cố thêm quyết tâm dụng công tu hành và không tạo nhiều vọng tưởng nữa. Điều này đã làm cho niềm tin của con thêm sâu sắc hơn về sức mạnh và sự thuần khiết của pháp sám hối. Con đã có cảm giác như một người cha đang nhìn vào đứa con cứng đầu không chịu lắng nghe lẽ phải này. Khắp khuôn mặt của đứa bé bị trầy trụa và thâm tím, đứa bé lại lần nữa lao xe đạp vào bờ lề đường và bị ngã lăn ra. Người cha đỡ đứa bé dậy và nắn thẳng lại cái ghi đông xe, chỉ đứa bé trở lại đường và nhắc nhở con rằng miễn là con đi trên đường bằng phẳng và đi ở giữa, thì đường đi của con sẽ không bị chướng ngại. “Điều đó đúng cho con, và cũng đúng cho tất cả mọi người nữa. Hãy cẩn thận và đạp xe tốt đẹp nhé”.

Phật Pháp cũng như vậy, nó giữ cho chúng con khỏi đâm mạnh cuộc đời của mình vào bờ lề đường của nghiệp chướng trong khi chúng con hướng về Phật Thành. Chúng con đều ở trên con đường này và đều làm một cách thận trọng.

Việc sám hối đã cuốn đi đám mây u ám khổng lồ ra khỏi đôi vai con. Con nhớ lại ba tuần trước đây, con đã chợt quan sát được một con bọ nhỏ như thế nào. Nó xuất hiện trên một viên đá phía dưới mũi con khi con lạy. Con quan sát con bọ ấy, không lớn hơn cái đầu kim, nó đại tiện trên viên đá; rồi tiểu tiện trong chốc lát. Nó cọ mấy cái tay nhỏ xíu vào nhau, lau mặt rồi nhảy đi mất. Con nghĩ, “Tôi kìa, là tôi đó . Bất kỳ lúc nào tôi quên tu tập thì tôi chẳng khác gì một con bọ. Cuộc đời không phải ch có ăn uống và v sinh mà thôi. Đừng quá ích kỷ thế, Quả Chân. Hãy đi trồng các nhân thanh khiết. Dụng công chăm chỉ lên! Đừng chỉ lại là một con bọ nữa! Đừng lo lắng về bản thân. Đừng nghĩ ngợi! Hãy Tu Đạo!”

Con không có ý phỉ báng côn trùng. Những con bọ có thể là những vị thiện tri thức. Con thực sự có đồng thể tánh với những côn trùng. Thân xác chúng sẽ biến đổi và phân hủy trong phút chốc, thân con cũng chỉ lâu hơn một chút thôi. Nhưng con không muốn làm một con bọ lười biếng. Những con bọ lười biếng thì bị lôi kéo đi khắp thế gian bởi nghiệp chướng của chúng. Những con bọ tu hành tinh tấn, một ngày nào đó, sau khi đã hoàn thành công việc tốt đẹp rồi, chúng nhận thấy mình “có khả năng tạo ra hàng nghìn sự thay đổi và hàng chục nghìn hoá thân, hoàn toàn tự do làm bất kỳ điều gì mình muốn” như lời Sư Phụ đã nói hồi tháng 12 năm 1977 ở Kim Luân Tự.

 

Đệ tử Quả Chân (Hằng Thật)

Cung kính cúi lạy.

 

Sắc Đẹp và Sức Khoẻ Sẽ Tàn Phai

Ngày 12 tháng 8 năm 1979

Gần Vịnh Anchor, Califonia

 

Kính thưa Sư Phụ,

Chúng con ăn trưa ở đằng sau chiếc Plymouth. Bên ngoài trời gió thổi lạnh và lốc xoáy những đám mây bụi. Một phụ nữ già và yếu chậm chạp loạng choạng vào chỗ ngồi bên trong chiếc xe đậu đằng sau chúng con. Bà ấy níu chặt vào chiếc xe để tựa. Dáng vẻ của bà cứng ngắc và run rẩy. Mắt, tai đều không rõ nữa. Thế giới của bà, liệu có ai biết thế nào chăng? Bà chậm rãi nhìn lên và bất động nhìn chằm chằm ra phía biển. Một tô thức ăn để trên lòng. Thức ăn đó chẳng hấp dẫn bà. Khi bà xoay người ở trong xe, ánh sáng chói lên trên tấm kính chắn gió khiến cho bà ấy như biến đi mất. Tất cả những gì có thể thấy là sự phản chiếu của những đám mây trắng bay trên trời chỗ hồi nãy người phụ nữ già nua đã ở đó. 

Con gái bà ấy, và con gái của cô ấy đi cùng với bà ta. Người ta có thể nhận ra trên những khuôn mặt ấy vẻ đẹp, sức khỏe tàn phai đi như thế nào và bị héo úa đi trong vài mùa ngắn ngủi. Ba người họ như những quãng đời khác nhau trong cùng một người. Mọi thứ đang nói Pháp. Con nhìn vào cơ thể mình và thức ăn mà con đang ăn. Rồi nhìn lại vào hình ảnh phản chiếu những đám mấy trắng trong tấm kính xe hơi. “Nó thế đấy (Như thị)”. Mọi vật đều vô thường và giả tạm. Cái gì ngày hôm nay tưởng chừng chắc chắn và bảo đảm, thì ngày mai sẽ trôi đi và biến mất như những đám mây. Mọi thứ đang nói Pháp: Hãy nhanh lên và tu tập đi! Sự giả tạm trôi đi nhanh làm sao! Có quá ít thời gian. Hãy nhanh chóng và hướng về điều chân thật. Hằng đêm, chúng con kết thúc một ngày bằng câu kệ: 

Một ngày đã qua,

Mạng cũng giảm dần

Như cá cạn nước,

Nào có gì vui?

 

Hãy cần tinh tấn,

Như cứu đầu cháy,

Nhớ đến vô thường,

Chớ có buông lung.

Đêm nay, khi chúng con hát những câu kệ này, con sẽ nhớ đến người phụ nữ già nọ. Con sẽ nhớ đến trái thông rơi từ trên cây xuống và những trái dâu đen héo khô trên những cây leo dọc theo con đường. Con sẽ nhớ đến lúc con nhận ra chính thân thể mình cũng chỉ giống như sự phản chiếu của những đám mây đang trôi trên cửa kiếng xe. Con cũng sẽ nhớ đến mọi người đã cùng nhau lạy sau bữa ăn – thâm chí người phụ nữ lớn tuổi đã đứng thẳng và hai tay chắp lại cung kính trong gió lạnh vì chân bà ấy không thể gập xuống để lạy được.

 

An lành trong Đạo,

Đệ tử Quả Đình (Hằng Triều)

Cung kính cúi lạy.

 

 

Là Thầy Tu hay Là Con Chồn Hôi

Ngày 13 tháng 8 năm 1979

Vịnh Anchor

 

Kính thưa Sư Phụ,

 

Bức thư này có tựa đề là:

Con chồn hôi hay thầy tu? Nhà vệ sinh hay Phật Điện?

Những suy nghĩ và hành vi của chúng ta quyết định tất cả.

 

Bản Báo Cáo Của Người Giữ Vệ Sinh :

Hoặc lại có súc sanh

Biết bao hình xấu xí

Do nơi tự ác nghiệp

Thường thọ các khổ não (1)

 Kinh Hoa Nghiêm. Phẩm thứ năm: Hoa Tạng Thế giới. Phần thứ ba.

 

Việc Ba bước một lạy đã trao cho chúng con món quà to lớn về niềm tin trong Phật Pháp. Thật khó để chỉ rõ chính xác phần nào chúng con tin tưởng nhất. Nó cũng giống như hỏi giọt nước đại dương nào ướt hơn những giọt khác, hay tia nắng nào tỏa sáng và thuần khiết hơn tia khác. Phật Pháp đều chân thật. Niềm tin của chúng con tăng lên thêm khi chúng con tu hành nhiều hơn. Và càng tu hành, chúng con càng thấy tin tưởng hơn. Nó giống như trương mục ngân hàng tăng lên không ngừng. Ai tu hành sẽ trở thành người giàu niềm tin đến không thể tưởng tượng nổi. 

 Có lẽ bài học căn bản con đã học trong hành trình này là sự chân thật của Nhân Quả: gieo nhân nào, ắt sẽ gặt quả nấy . Tại sao đứa bé sai vặt Wart lại có thể nhấc thanh kiếm ra khỏi phiến đá trong khi không một ai trong số những hiệp sĩ quý tộc có thể suy chuyển nó được? Bởi vì cậu bé ấy có những nhân duyên trong quá khứ cho phép cậu ấy lớn lên và trở thành vua Arthur (2). Tại sao một người nghèo kiếm củi khi ngang qua khu chợ nghe thấy một câu trong Kinh Kim Cang và trở thành vị Đại Giác ngộ ngay lập tức? Bởi vì nhân duyên quá khứ mà vị ấy đã trở thành Lục Tổ Đại Sư.

Tại sao những chú hải cẩu biển tụ tập trên những tảng đá phía ngoài vịnh Anchor gầm gừ và nói Pháp của loài hải cẩu? Bởi vì trong những kiếp quá khứ, chúng đã cư xử giống như loài hải cẩu và bây giờ chúng sống trong thân thể của loài hải cẩu. Abe Lincoln đã trở thành tổng thống và bị một người lạ bắn vào đầu, có thể là vì trong quá khứ ông ta đã giết kẻ giết người ấy và bây giờ ông ta phải chịu quả báo.

Tất cả những gì được tạo ra đều có nguồn gốc hình thành. Có câu rằng,

Thấy sự hiểu sự, vượt thế gian.

Thấy sự mê sự, đọa trầm luân.

Tuần trước, vào một buổi sáng, con vòng qua một chỗ rẽ trong sương mù, ngay lúc đó con thấy một con chồn hôi chết trên mặt đường nhựa. Nó mới bị xe đụng chỉ vài phút trước thôi. Người nó vẫn còn ấm, là một con chồn đực trưởng thành, nặng khoảng năm pound (2,250 g) có những chiếc răng nanh sắc nhọn để ăn thịt. Con đưa nó ra khỏi làn đường giao thông, thận trọng nắm lấy cái đuôi sọc trắng của cái xác buồn thảm ấy. Con chồn đã nói Pháp cho con. Nó nói rằng, “Trong quá khứ, tôi đã tham lam và giết hại do sự nóng giận và ngu ngốc. Bây giờ, tôi phải trả giá. Vẫn chưa đủ còn bị cái cơ thể hôi thối khiến cho không ai muốn lại gần. Hôm nay, tôi mất đi ngay cả cái túi thịt này. Tất cả là vì khi tôi là người, tôi đã không giữ quy củ tốt đẹp. Tôi đã tự giết chính mình bằng cách nuốt những độc tố của Tham, Sân, Si. Đó đều là lỗi của tôi. Chẳng trách ai được cả”.

Con niệm chú Vãng Sanh cho con chồn và đã cảm ơn nó về bài học. Con nghĩ rằng, “Thật vui mừng biết bao khi có được cơ hội tu Đạo. Làm một con chồn hôi thì có quá nhiều đau khổ. Không thể ngồi kiết già, không thể lạy Phật, không thể cúng dường. Cũng may con là một con người”.

Rồi, bữa trưa, con đã cư xử giống như con chồn hôi. Con thấy mình quan sát tô thức ăn của thầy Hằng Triều, chỉ trích mọi cử chỉ của Thầy ấy và có những suy nghĩ rất cay nghiệt đầy tham lam và giận dữ đối với Thầy. Trong tâm trí con ghanh đua với Thầy ấy như đã từng trước đó. Lần này, con nhớ ra những lời dạy của Sư phụ:

Bỏ vọng tâm giữ chân tâm.

Trực tâm chính Đạo tràng.

Tâm bình thường là Đạo.

Đừng trách mắng và chỉ trích người khác.

Hãy làm một người tốt.

Không tư lợi.

Không ích kỷ.

Bậc vĩ nhân bắt đầu từ những điểm nhỏ nhặt và vi tế.

Phật Pháp chân chính ở ngay trước mắt.

Hòa thượng Tuyên Hóa, Malaysia, tháng 8 năm 1978.


đây, con đã gieo trồng những hạt giống chủng tử chồn hôi và tiếp tục tiến triển với điều đó! Khi con nhận dạng ra điều mà con đã làm, đột nhiên Nhân và Quả trở nên rõ ràng như Ngày và Đêm. Con đã không kịp quay trở lại. Ai muốn nuốt độc tố đây? Những vị tu hành suy nghĩ trong sáng, những tư tưởng tu hành cao thượng. Từ chỗ nhỏ bé này, cuối cùng họ sẽ thành Phật. Những con chồn hôi nghĩ về những tư tưởng nặng mùi và cuối cùng kết cục giống như cái chết của con chồn nâu mà con đã chú nguyện tuần trước.

Con đã chạy khắp Pháp giới lục soát bên ngoài tìm pháp để khiển trách, để chỉ trích, và phê phán người. Trong suốt thời gian này, lỗi không phải ở các Pháp. Thân, khẩu và ý của con chính là nguồn gốc của tất cả những đau khổ và hân hoan của chính mình. Chẳng ai buộc con làm gì cả. Trong mọi ý niệm, con quyết định làm một vị tu hành hay là một con chồn hôi.

Phật Pháp cho ta những quy củ. Trong mỗi phút đang sống, chúng ta tạo ra Phật Địa hay Nhà vệ sinh tùy thuộc vào những gì chúng ta thực hành trong tâm trí mình. Như Sư phụ đã nói với thầy Hằng Triều tuần trước khi thầy ghé thăm chúng con ở Sea Ranch:

Nếu con không muốn làm vị hoàng đế, trước hết con cần phải dội nước cầu tiêu. Một khi cái cầu tiêu được dội nước rồi, con có thể đi và trở thành Phật. Trước hết, con cần phải làm công việc của chính mình và làm sạch cái nhà vệ sinh. Đừng quá tham lam thành Phật, đừng nghĩ gì về nó. Chỉ tu hành thôi.

Bằng cách truyền lại Giáo Pháp, Chư Phật và Bồ Tát đã ban cho chúng ta món quà từ bi. Con có một cơ hội khác để cố gắng hết sức mình hôm nay để trở thành một người giữ vệ sinh tốt, dùng từng giây để dội thông cầu bị nghẹt trong tâm con. Con có thể chuyển cái nhà vệ sinh của mình trở thành chánh điện. Tại sao làm như vậy? Bởi vì nó có thể làm nên sự bố thí cao cả nhất trong tất cả. Dùng những Đại Nguyện Vương của Đức Phổ Hiền Bồ Tát trong khi lạy và hồi hướng, con cũng đồng thời làm sạch một góc thế gian. Con thực sự tin tưởng rằng việc tu hành những lời nguyện này là một việc tối hậu, điều tốt đẹp nhất mà ai cũng có thể làm trong đời. Cho dù con có từng là một con chồn hôi thối thế nào trong quá khứ đi chăng nữa, bất kỳ ai mà có thể giữ gìn giới luật và không vọng tưởng, thì sẽ có thể hoàn thành đầy đủ những hạnh và nguyện của Ngài Phổ Hiền Bồ Tát, và trở thành Phật. Con tin rằng, những lời nguyện này là “đường tới Thiên đường”, và là những quy củ tối cao của Pháp Giới. Con lạy những lời nguyện ấy và Kinh chứa những điều ấy với niềm tin sâu sắc và cung kính trong từng suy nghĩ. Kinh Hoa Nghiêm thật phi thường biết bao! Rằng, chúng con có những nhân duyên để gặp được Kinh ở đây và bây giờ là kho báu vĩ đại tốt đẹp. Như Quốc sư Thanh Lương nói:

Lại khi gặp được bậc Thánh Chủ,

Thành tựu ở trên núi Linh Sơn

Quán chiếu tột cùng nghĩa huyền vi,

Làm sao lại không vui mừng?

Kinh Hoa Nghiêm. Lời nói đầu


Chúng con đã lạy trước cổng vào khu đất cắm trại của Vịnh Anchor. Bên trong những người cắm trại và những nhà lưu động có tên như “Vùng hoang dã”, “Mở đường”, “Gió nam”, “Nhà thám hiểm” đầy như cá hộp. Khói từ những bếp nấu ăn và sự huyên náo của đám đông chật ních những người nghỉ mát kia khiến có cảm giác như những khu chợ sầm uất trong trung tâm thủ đô Kuala Lumpur. Tại sao mọi người lại đến giữa bãi biển hoang vắng này trên những chiếc xe đắt tiền để đứng san sát kề nhau giống như ở bất kỳ thành phố lớn nào? Bởi vì những nhân duyên với nhau trong quá khứ. Có người đã chết ngay ở đó chiều nay. Chiếc xe cứu thương hú còi đến gần. Chẳng biết đó là ai và vì sao. Pháp Vô Thường đang nói với tất cả chúng con rằng, “Hãy cố gắng hết sức. Tuân thủ quy củ. Hướng tới điều thiện! Và dội cầu đi”. Chiếc xe cứu thương lăn bánh đi, chúng con lạy lên đồi, khói từ những bánh thịt hambuger nướng tràn ngập không khí, và bên ngoài bến cảng trên những phiến đá, những chú hải cẩu tắm và gầm gừ.

 

Đệ tử Quả Chân (Hằng Thật)

Cung kính cúi lạy!

 

Chú thích:

(1) Lúc Ngài Phổ Hiền Bồ Tát nói Trong mười bất khả thuyết Phật sát vi trần số hương thủy hải, có những thế giới nào an trụ, giăng bày như lưới báu của Thiên đế. Vì muốn tuyên lại nghĩa này nên nói kệ. Câu thơ thứ 137-141.

(2) Xin xem thêm http://en.wikipedia.org/wiki/The_Sword_in_the_Stone_(film)

 

 

Không có chỗ nào để chạy trốn hay ẩn nấp

 

Ngày 3 tháng 9 năm 1979,

Trong những ngọn núi trên đường đến Booneville, Califonia.

 

Kính thưa Sư Phụ,

Đến cuối ngày lạy, chúng con làm lễ hồi hướng và lái xe vào Pt. Arena để bỏ rác. Khi chúng con dừng lại ở một trạm xăng đóng cửa, đột nhiên có khoảng mười thanh niên bao vây chúng con. Trông họ dữ tợn và nồng nặc mùi rượu Whisky. Họ bắt đầu gõ lên kiếng xe.

“Này, đang có chuyện gì thế, ông? Các ông là mấy người lạy trên xa lộ phải không? Là thế nào?” một người hỏi bằng một giọng nhạo báng.

“Ờ, này, họ đấy!” mấy người hò hét lên nhận ra chúng con. “Nào đi xem họ thế nào, nhanh lên!” Và có thêm mấy thanh niên chạy nhào ra từ dãy nhà trọ (motel) ở bên kia đường.

“Ồ, ông không nói chuyện à? Thế còn ông ta thì sao?” anh ta nói chỉ về phía thầy Hằng Thật đang ngồi ghế sau. “Ông ta có nói không? Thế không ai trong các ông nói chuyện!? Thế thì làm sao chúng tôi có thể nói lại với các ông, hả? Hay là dùng sơn viết lên khắp xe của các ông ?” Mọi người đều cười nhưng họ không đùa.

Một người khác bước lên. Anh ta có một vết sẹo lớn ở ngang cổ và một tay đang cầm một chai rượu whisky đã mở. Anh ta chộp lấy tờ thông cáo từ tay một anh khác và bắt đầu đọc những lời trên đó, “Việc của họ là gì thế?” Anh ta nhìn về phía con và nói một cách thô lỗ, “Thế dây thanh quản của ông bị đứt hay làm sao?”

“Không, nó là sự sám hối của họ” ai đó quát lên. Nhiều tiếng cười vang lên.

“Này, đừng có phiền nhiễu họ nữa. Họ đang làm việc của họ”, anh ta nói và đọc xong bản thông cáo về chuyến hành hương. Anh ta giơ cái chai rượu whisky vào mặt con, “Đây. Uống với tôi một ít, hay là ông không thể? Tôn giáo của ông nghiêm cấm điều này à?” Con gật đầu. “Thế còn ông ta thì sao?” anh ta hỏi, chỉ cái chai về phía thầy Hằng Thật, “Ông ta có thể uống không?”

“ Nhìn kìa, ông ta đang cầu nguyện!” ai đó hét lên và bọn họ đồng loạt cười phá lên vào nhà sư đang ngồi thiền .

“ Ông biết không vợ anh ấy vừa sinh em bé. Nên anh ta rất thô lỗ và khó chịu như thế”, một anh cao, bộ râu quai nón lởm chởm và chột một mắt nói.

“Ừ, thường thì tao chỉ cần đi một vòng và đập cho một trận tơi bời, nhưng hôm nay tao đang ăn mừng, nên ông may đấy, có lẽ thế” anh thanh niên ấy trở lại đứng cạnh cửa sổ xe đang mở đáp.

“Ôi! Họ đã như thế này từ L.A (thành phố Los Angeles)! Từ hơn hai năm rồi!” một người đọc bản thông cáo la lên.

“Như thế thì rất nhiều dặm. Có nhiều người phiền nhiễu các ông lắm nhỉ?” một người hỏi. Con lắc đầu “Không”.

“Thật à ! Thế còn chiếc xe của các ông thì sao? Vẫn chạy được chứ? Tôi biết chỗ các ông có thể phá hủy nó thật nhanh và rẻ tiền”, anh ta nói. Nhiều tiếng cười vang lên.

Tình trạng căng thẳng giờ dịu xuống một chút.

Một chiếc tải nhỏ khác dừng lại đằng sau chúng con và có thêm mấy thanh niên nữa nhảy ra. Toàn bộ quang cảnh xảy ra rất lẹ . Nó có thể biến thành bạo lực hay tan biến “như chẳng có chuyện gì”chỉ trong một giây. Thầy Hằng Thật và con cảm thấy mọi sự chú ý hướng về phía chúng con. Mỗi một hành động cần phải chân thành và phù hợp không thì toàn cảnh sẽ nổ tung lên. Họ có xà beng, búa tạ, búa rìu, dây xích trên xe. Bọn họ có thể tiêu diệt chúng con và chiếc xe trong chừng vài phút nếu bị khiêu khích. Chúng con không dám cố kéo cái cửa kính xe lên và rút cái cây ra. Bọn họ có quá nhiều người và chúng con thì như bị bao vây trong hộp. Bên cạnh đó, làm thế cũng chỉ trì hoãn việc chạm trán với họ chừng một hoặc hai ngày, khi chúng con lạy xuyên qua thị trấn. Họ đã theo dõi và chờ đợi chúng con hàng tuần rồi, họ bảo thế. Chúng con đi được một dặm một ngày. Chẳng có chỗ nào để chạy trốn hay ẩn nấp cả. Chúng con phải học cách hoà hợp với mọi người. Những người hành hương thì tự tại. Từ, Bi, Hỷ, Xả là những điều chúng con cần để tồn tại. Tứ vô lượng tâm này bao trùm khắp mọi hoàn cảnh và cho mọi người có cảm giác tốt đẹp. Chúng con cố gắng đối xử với mọi người như nhau. Cho dù điều gì xảy ra, chúng con sẽ chỉ lạy mà không biểu lộ giận dữ.

Ðại Bồ Tát lợi ích hướng cho hàng chẳng phải thân hữu đồng như đối với hàng thân hữu của mình. Vì đại Bồ Tát đã nhập tánh bình đẳng của tất cả pháp, với các chúng sanh không có một quan niệm là chẳng phải thân hữu. Giả sử có chúng sanh nào đem lòng oán hại Bồ Tát, Bồ Tát cũng dùng từ nhãn nhìn chúng sanh đó, tột cùng vẫn thương mến họ trọn không hờn giận.

Hoa Nghiêm Kinh. Phẩm thứ 25: Thập hồi hướng. Hồi hướng thứ nhất.

Có điều gì đó đặc biệt đối với việc lạy ở bên ngoài, từ từ đi từ thành phố này đến thành phố khác. Rất khó để mô tả, nhưng sau một lúc thôi, mọi thứ dường như nhau và có cảm giác ai cũng như là người thân và bạn bè - “bình đẳng”. Tất cả những người nam dường như là anh em trai hay là cha ta. Tất cả những người nữ dường như là chị em hay mẹ ta. Từ L.A, xuyên qua Châu Á, và trở lại bãi biển nơi chúng con ở hôm nay, mũi Arena, Califonia, mọi thành phố và làng mạc khác nhau hòa trộn với nhau thành một khu láng giềng rộng lớn. Chúng con khó mà nhận ra được việc dời khỏi chỗ này và đến một nơi khác. Một cách tự nhiên, việc lễ lạy san bằng tất cả những khác biệt hời hợt bên ngoài bằng cách nào đó, và ý niệm “trở thành đồng thể với mọi người ” thâm nhập vào trái tim của bạn trước khi bạn nhận ra nó.

Như vẻ thô lỗ và đe dọa của mấy người nghiện rượu kia, thầy Hằng Thật và con đã không cảm thấy căng thẳng hay giận dữ. Không có thái độ thù địch hay loại bỏ trong không khí. Chúng con đều cảm thấy điều này và mọi thứ - tự thân chúng dần dần nguội mát đi. Mấy anh thanh niên ấy dịu lại.

“Vậy thì, mấy ông chắc thỉnh thoảng phải đi cắt tóc. Hay mấy ông cũng tự làm lấy?” một anh nói đùa. Một số chen chúc nhau đọc bản thông cáo. Vài người khác lén nhìn vào chỗ cửa xe nơi có bàn thờ và ảnh của Đức Quán Thế Âm Bồ Tát và Sư Phụ, trong khi chuyền tay nhau chai rượu whisky đã mở nắp và tu ừng ực.

Chúng con từ từ lùi xe đi, mỉm cười và vẫy tay tạm biệt. “Này!” một người trông thấp và có ria mép hỏi to, “ông có biết karate không?”

“Ờ đúng rồi”, hai người khác cùng nói đồng thời tiến về phía chiếc xe cùng với sự thích thú mới về những cảnh đánh lộn . “Ông biết…võ công, võ thuật không?” Họ bắt chước trên T.V những thế võ. Cầm mấy chai bia trong tay, trong áo khoác dơ bẩn và đội mũ xây dựng, trông có vẻ khôi hài.

Con lắc đầu “không”, chắp tay lại và lạy, ám chỉ “Đó là võ công của chúng tôi”. Họ thích vậy, và mọi thứ êm dịu trở lại. Nụ cười nở ra trên vài khuôn mặt hung tợn như thể nói rằng, “Ừ. Toàn thể thế giới có thể sử dụng nhiều hơn một chút kiểu công phu ấy. Dù sao chăng nữa thì ai muốn đánh nhau đây?”

Khi chúng con lái xe đi, anh thanh niên có vợ mới sinh em bé kêu lên, “Được rồi, tất cả những gì tôi muốn nói là các ông tốt hơn hết phải cẩn thận, hai người vũ trụ. Đừng bay đi và biến mất vào vũ trụ đấy. Đừng để cho vũ trụ nuốt mất các ông”. Mọi người cười và vẫy tay chào tạm biệt. Nó là bài học về lòng Từ và Tùy thuận.

Bởi đối với chúng sanh mà tâm bình đẳng thì có thể sanh lòng đại bi đầy đủ hoàn toàn. Dùng tâm đại bi mà tùy thuận chúng sanh thì có thể thành tựu pháp cúng dường Như Lai. Bồ Tát tùy thuận chúng sanh như thế ấy

Kinh Hoa Nghiêm. Phẩm thứ 40: Nhập bất tư nghì cảnh giới giải thoát Phổ Hiền Hạnh Nguyện. Lúc Ngài Phổ Hiền Bồ Tát giảng về “ Hằng thuận lợi chúng sinh”.

Ngày hôm sau, chúng con lạy qua một cái sân trước rào gỗ, lớn và một ngôi nhà ở bên rìa thị trấn. Bọn trẻ con địa phương đang “chơi trò bắn súng”.

“Bang, bang…trúng rồi. Chưa trúng!...Trúng rồi còn gì!... la lớn ‘Ta là Tony, bùm chíu, bùm chíu !” Chúng nhìn thấy chúng con đang lạy, và mọi thứ dừng bặt trong giây lát. Rồi có một viên đá bay đến chỗ chúng con từ đằng sau mấy bụi cây. Nó trúng vào cái vỉa hè gần chỗ chúng con. Chúng con tiếp tục lạy. Bọn trẻ tiếp tục quan sát.

Trong chừng vài phút, một cậu bé gan dạ hơn dần từng bước tiến lại gần. “Ông đang làm gì thế?” chúng hỏi. Con viết xuống miếng giấy và đưa cho chúng:

Chúng tôi đang cầu nguyện giúp cho thế giới trở nên tốt đẹp hơn và tử tế với cha mẹ. Chúng tôi không nói chuyện.

“Em sẽ đưa cái này cho anh John, anh ấy biết đọc”, một cậu bé nói. John đọc nó cho mọi người nghe. Chúng mỉm cười. Chúng con tiếp tục lạy vào thị trấn. Bọn trẻ dừng chơi trò bắn súng và yên lặng ngồi dưới bóng mát và xem chúng con lạy. Một chiếc xe kêu ren rét bên cạnh và ai đó la hét chúng con. Bọn trẻ đứng dậy và bênh vực chúng con, “Này, tốt hơn hết là ông để cho họ yên; họ là người tốt”, đứa trẻ lớn tuổi hơn nói. Hai đứa trẻ chạy lên với mấy bông hoa đỏ mới ngắt và cúng dường. Đứa trẻ lớn tuổi đạp xe để xem xét lộ trình phía trước. “Tốt hơn là phải canh chừng con chó ở trên đó, nó có thể cắn người. Con kia thì không sao”, Tony nói, chỉ tay về phía con chó lai đang ve vẩy đuôi.

Tất cả chúng ta biến đổi lẫn nhau - người nghiện rượu, nhà sư, trẻ con. Súng biến thành hoa, sân giận biến thành từ bi, lầm lẫn biến thành hiểu biết. Tất cả chúng con cùng nhất tâm lạy hướng về Vạn Phật Thánh Thành.

 

An bình trong Đạo.

Đệ tử Quả Đình (Hằng Triều)

Cung kính cúi lạy.

 

 

Căn Bản Thì Ngay Cả Một Vị Phật Cũng Chẳng Có

Ngày 10 tháng 9 năm 1979

Tất cả chúng sinh là thân của tất cả chư Phật.
 

Kính thưa Sư Phụ,

Trong một ngày, có bao nhiêu chúng sinh nhìn thấy con? Con nhìn thấy bao nhiêu? Trong một tháng, có bao nhiêu chúng sinh con đã ngang qua và ảnh hưởng đến? Có bao nhiêu chúng sanh ảnh hưởng và gây xúc động đến con? Không chỉ có con người, mà còn những loài hai chân, bốn chân, nhiều chân và không chân. Những chúng sinh có hình tướng hoặc không hình tướng; có tư tưởng hoặc không có tư tưởng; và những loài không có cả tư tưởng lẫn không tư tưởng. Có những chúng sinh sinh ra từ trứng, từ bào thai, từ ẩm ướt và từ hóa sinh. Một số chúng sinh sống trên trái đất. Một số sống trong nước, lửa hay không khí. Có những chúng sinh sống trong không gian hay những chúng sinh được sinh ra và cư trú trong rừng, dưới lòng đất và bên trong sinh vật khác. Có vô lượng hải chúng sinh trong khắp mười phương của vũ trụ (Pháp giới), và tới cùng tận của hư không. Mọi thứ “đang sống”. Thậm chí sỏi đá cũng có thọ mạng. Chúng con chỉ vì đi quá nhanh nên đã không thấy được điều đó. Trong suốt cuộc đời, số lượng chúng sinh mà chúng ta gặp phải không thể tính đếm được.

Các loài (chúng sanh) như vậy tôi đều tùy thuận tất cả mà thật hành các sự vâng thờ, cúng dường, như kính cha mẹ, như thờ bậc thầy, cùng A La Hán, nhẫn đến như Ðức Như Lai đồng nhau không khác. Trong các loài ấy, nếu là kẻ có bịnh thì tôi vì họ mà làm lương y, nếu ai bị lạc đường thì tôi vì họ mà chỉ cho con đường chánh, nơi đêm tối tôi vì họ mà làm ngọn đuốc sáng, người nghèo thiếu tôi làm cho được của báu. Bồ Tát bình đẳng lợi ích cho chúng sanh như vậy.

Kinh Hoa Nghiêm. Phẩm thứ 40: Nhập bất tư nghì cảnh giới giải thoát Phổ Hiền Hạnh Nguyện. Lúc Ngài Phổ Hiền Bồ Tát giảng về “ Hằng thuận lợi chúng sinh”.

Nếu con đối xử tốt đẹp với tất cả chúng sinh, thì họ sẽ học được lòng tốt và trở nên tốt đẹp, và cứ thế đối với những người khác. Nếu con không tốt với chúng sinh, họ sẽ nuôi dưỡng căm hờn và oán giận rồi sẽ trả đũa khi có cơ hội. Vì thế, nếu thế giới không tốt đẹp, đó là vì con không tốt đẹp. Nhưng điều này vẫn giữ một quan điểm về ta và người. Nếu con có thể trải rộng phạm vi tâm trí mình để bao trùm khắp thế giới, lúc đó tất cả sẽ là một. Tất cả chúng sinh trong khắp nẻo luân hồi đều là cha mẹ con. Tất cả đất và nước đều đã từng là thể chất của con. Mọi nguyên tố không khí và lửa trước đây đã từng duy trì cho sự sống của một trong những thân mạng con. Đại Bi là trở thành một với tất cả mọi người. Trở thành một với tất cả mọi người chính là thể chất của chư Phật.

Chư Phật, các Ðức Như Lai dùng tâm đại bi mà làm thể.

Kinh Hoa Nghiêm. Phẩm thứ 40: Nhập bất tư nghì cảnh giới giải thoát Phổ Hiền Hạnh Nguyện. Lúc Ngài Phổ Hiền Bồ Tát giảng về “ Hằng thuận lợi chúng sinh”.
 

Vì thế, quan tâm và đối xử tốt đẹp với tất cả chúng sinh cũng chính là đối xử tốt đẹp với chính mình vậy. Và khi con tôn trọng, phục vụ và cúng dường tới tất cả chúng sinh, thì cũng là con đang làm thế với tất cả chư Phật vậy. Đều giống nhau. Tất cả chúng sinh là thân của tất cả chư Phật. Có câu rằng, “Tất cả chúng sinh đều được chứa trong một lỗ chân lông của thân Phật”. Và vậy thì cái gì lớn và nhỏ đây? Bởi vậy cũng có câu rằng: 

Trong mỗi cực vi trần đều có chư Phật như số cực vi trong tất cả thế giới

Kinh Hoa Nghiêm. Phẩm thứ 40: Nhập bất tư nghì cảnh giới giải thoát Phổ Hiền Hạnh Nguyện. Lúc Ngài Phổ Hiền Bồ Tát giảng về “ Rộng sắm đồ cúng dường”.

Tâm Đại Bi chỉ đơn giản là lòng nhân từ và tốt đẹp với tất cả chúng sinh. Tuy vậy mà thái độ đơn giản này bao trùm và vượt xa sự hiểu biết tột cùng của tâm trí. Phật Pháp là như thế. Vật lý hiện đại đang nỗ lực hết sức và làm nên những đột phá mang tính cách mạng và đi đến cùng những kết luận mà những bậc thánh nhân đã nhận biết từ trong tâm họ từ vô lượng thời gian lâu xa trước đây.

 

Ngày 24 tháng 7 năm 1979.

 

Chúng con đang ngồi thiền bên cạnh con đường dưới một cây bách. Không khí ngoài này trong sạch. Chỉ có mùi hương trầm tỏa ra từ cây hương đang cháy. Khi mặt trời lặn, gió thổi nhẹ. Sống ở bên ngoài, người ta luôn luôn phải đối mặt với sự sống và cái chết. Có câu rằng,

Trong tất cả sát chủng

Thế giới bất tư nghì

Hoặc thành, hoặc hư hoại

Hoặc cõi đã hư hoại

Ví như lá trong rừng

Có mọc cũng có rụng

Trong sát chủng như vậy

Thế giới có thành hoại. 

Kinh Hoa Nghiêm. Chương thứ 5: Hoa Tạng Hải thế giới. Ngài Phổ Hiền Bồ Tát nói bài kệ thứ 9. Câu kệ thứ 41-48.


Khi chúng con lạy xuyên qua một đồng cỏ cao và cây dại, chúng con đi vào một biển thế giới của cây cối, bọ, và những sinh vật cực nhỏ. Một số còn non và xanh, một số thì già và bạc úa. Tất cả chúng đang biến đổi – Thành, Trụ, Hoại và Diệt. Động vật, sinh vật biển, con người trong những thị trấn và những chiếc xe chạy ngang qua - tất cả chúng ta đều có phần của sự thực này. Mọi thứ đều biến đổi, chẳng có gì trụ. Nhìn vào cái vỏ rỗng không của con châu chấu, ngôi sao băng, những chiếc răng sâu của con - tất cả chúng đều đang nói cùng một Pháp: Vô thường.

Như khi nước trà bắt đầu sôi, những tia nắng của mặt trời đang lặn soi qua những đám hơi nước. Đám hơi nước được tạo bởi hàng tỉ phân tử nhỏ xíu xoáy tít. Chúng vươn lên trong một màn sương và rồi biến mất vào hư không. Con chưa từng nhìn thấy điều này trước đây. Tất cả những phân tử nhỏ bé không thể tính đếm được! Con xoay người và nhìn vào khói hương. Cũng giống như thế, tuy nhiên được tạo thành bởi những phân tử thậm chí nhỏ bé hơn. “Lúc thấy, lúc không , Trong vật lý, điều căn bản là: Mọi thứ được tạo nên bởi cùng một nguyên tử. Vật chất và năng lượng không thực sự được tạo ra hay mất đi. Tất cả đơn giản chỉ là chuyển đổi hình dạng và hiện tướng. Trong Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh có câu rằng:

Sắc tức thị không,

Không tức thị sắc.

Có hai người dừng lại và hỏi, “Phật là gì?” và “Ông tin Chúa Trời hay ông có vị Chúa Trời của riêng mình?”. Con không thể tìm được một lời để trả lời. Con muốn có thể nói rằng, “ À, nó là như vậy, hay như thế kia”, nhưng con hiểu biết rất ít về nó thực sự thế nào. Một năm trước đây, con có thể đưa ngay ra câu trả lời. Nhưng giờ đây, chúng con lạy trong yên lặng và học hỏi từ mọi người và mọi vật. Tâm trí chúng con rời rã. Con muốn túm lấy và nắm giữ vào một cái gì đó. Chúng con đã từng suy luận ra những điều gì đó và dùng những ngôn từ rất hay để diễn tả chúng. Nhưng giờ đây tất cả đều như là hơi nước trà, khói hương, bãi cỏ và cây dại: chúng không thể nắm bắt được nhưng chúngvẫn tồn tại.

…Pháp giới không hai, (Trong pháp không hai không tăng không giảm, không sanh không diệt, không hữu không vô, không lấy không tựa,) cũng không chấp trước nơi không hai. Ví như hư không, trong thập phương ba thời, tìm vốn không được, nhưng chẳng phải là không có hư không. Cũng thế, Bồ Tát quán: tất cả pháp đều bất khả đắc,nhưng chẳng phải là không có tất cả pháp

Kinh Hoa Nghiêm. Phẩm thứ 21: Thập Hạnh. Lúc Bồ Tát Công Đức Lâm nói về hạnh thứ 8: Bồ Tát Nan Đắc Hạnh.


Còn Chúa Trời thì sao? Chúa Trời cũng không thể nắm bắt được. Thậm chí giữa những người có cùng niềm tin, họ cũng không thể đồng ý với nhau về việc Chúa Trời là gì. Mọi người ai cũng có vị Chúa Trời của riêng mình, bởi nhất thiết duy tâm tạo. Điều ấy giải thích tại sao trạng thái tối thượng trong Phật Đạo là không chấp trước. Nó có nghĩa là buông bỏ mọi ngã kiến và bám chấp, làm trống không ngay chính tánh không, như thế chúng ta mới khám phá ra được điều tối thượng ấy.

Người ta hỏi chúng con, “Được rồi, thế Phật không phải là Chúa Trời của ông sao?”

Câu trả lời là không. Bởi vì trong khi đa số các tôn giáo tin tưởng “chỉ có chúa Trời của tôi là chân thật” và hiểu biết, yêu quí, và phụng thờ vị Chúa Trời đó như là đấng tối thượng, Đạo Phật nói rằng tất cả chúng sinh đều có Phật tính và tất cả đều có thể trở thành Phật. Trạng thái tối thượng trong Đạo Phật là không chấp trước, một tâm trí không bám chấp, không ràng buộc, và giải thoát như Kinh Hoa Nghiêm dạy.

Con nhớ có lần nghe được cuộc đối thoại giữa Hòa Thượng Trụ Trì và một đệ tử khi đang đi trong xe ở Kuala Lumpur:

Đệ tử: “Sư phụ, vài người nói rằng chỉ có một vị Phật và những người khác nói rằng có rất nhiều chư Phật. Chuyện này là thế nào ạ? Thế có nhiều chư Phật hay chỉ có một vị Phật thôi?”

Sư phụ:Về cơ bản, ngay cả một vị Phật cũng chẳng có. Có chăng chỉ là Đại Trí huệ”.

Thỉnh thoảng, sau một ngày lễ lạy lâu dài và tốt đẹp, khi cơ thể trở nên mềm đi và lắng xuống, tâm trí con còn chẳng biết liệu lỗ mũi của mình đang chỉ lên hay hướng xuống nữa, thì con loáng thoáng nhận ra đạo mà Kinh dạy là thế nào. Nó phải là như vậy.

 

An bình trong Đạo,

Đệ tử Quả Đình (Hằng Triều)

Cung kính cúi lạy.

 

 

Tại Sao Tôi Lại Bị Ném Bong Bóng Nước?

Ngày 3 tháng 9 năm 1979

Đường Mountain View, quận hạt Mendocino



Kính thưa Sư Phụ,

 

Bồ Tát không bao giờ dùng nhơn duyên, pháp hay nghiệp của tham dục mà làm não hại chúng sanh

Kinh Hoa nghiêm. Phẩm Thập Hạnh.

Chiều hôm qua, khi con cúi lạy, con suy nghĩ về lời nguyện thứ tư của Phổ Hiền Bồ tát, “ sám hối nghiệp chướng”. Con sám hối về những tội lỗi nặng nề mà con đã gây ra thông qua nói chuyện thêu dệt. Lời nói thêu dệt, sai lạc gây nhiễu hại người khác. Nó sinh ra từ cảm xúc và do từ tham muốn trở thành được nổi tiếng và đặc biệt, số một và độc nhất vô nhị. Nó cũng giống như tham muốn về mùi vị trong thức ăn. Những thức ăn nhạt, đơn giản không bao giờ đủ ngon cho con. Con luôn luôn tìm kiếm mùi vị và ngon miệng, những pha trộn đặc biệt, những gia vị tạo cảm giác. Đó là tham dục và nó gây chướng ngại cho sự tu hành của con. Thực sự thì,

Mọi ham muốn cũng là một ham muốn.

Tham vọng của con về danh vọng và hương vị đã làm nhữngngười khác sinh khởi cảm xúc, làm động tâm trí họ, làm mất đi chánh niệm, phá vỡ các hạnh thanh tịnh và tìm kiếm hương vị cùng tham vọng. Ngày hôm nay, con sám hối cho những tội lỗi nói lời thêu dệt sinh từ tham vọng. Đoạn kệ sám hối nói rằng,

Tôi đã làm bẩn chốn chùa chiền, phá phạm hạnh người ...

 Và con đột nhiên nhận ra rằng chúng sinh mà con đã phạm lỗi nói lời thêu dệt có cả ở ngoài và bên trong tâm trí con. Lý do mà con đã không thể tập trung và mất đi chánh niệm là ở chính điểm này! Con nói lời sai lạc, nói năng cẩu thả và tùy hứng ở ngay chính trong tâm trí con! Con vẫn cho phép mình có những cảm giác quá vui vẻ, giận dữ, u sầu và lo sợ. Con vẫn cho phép mình cảm nhận vui, giận, buồn, sợ quá mức. Con vẫn bám chấp vào thương, ghét, ham muốn. Bảy tình cảm này làm con lầm lẫn và khuấy động mặt nước bản nguyên vốn tĩnh lặng và thuần khiết của tâm trí con. Con gây rắc rối cho những chúng sinh trong tự tánh của mình.

Từ đầu đến giờ con cứ tưởng chỉ kềm chế cái lưỡi của mình và không nói chuyện trong chuyến Tam Bộ Nhất Bái sẽ chuyển hóa được nghiệp tà ngữ.

Nhưng con vẫn không từ bỏ được những cảm xúc và vọng ngữ bên trong mình. Sư phụ đã nói cho con nghe điều đó khi còn ở Los Angeles hai mươi sáu tháng trước đây:

Bên ngoài con không nói chuyện đúng không? Tốt! Thì cũng đừng nói chuyện ngay chính bên trong mình nữa. Nếu con chỉ im lặng bên ngoài nhưng lại đấu tranh ở bên trong tâm trí mình thì nó cũng giống như con đã đấu tranh với người khác vậy, có đúng không?

Con đã thờ ơ với bài học này suốt từ đầu đến giờ, ngay cả khi có sự giúp đỡ rất lớn lao. Tháng trước, con đã được một bài học về nhận thức tại Sea Ranch. Sau bữa ăn trưa, lúc lễ lạy con đã thực sự đi vào tậm niệm sám hối. Con có được những xúc cảm và biểu lộ cao hứng về điều đó. Những giọt nước mắt của niềm hân hoan tuôn chảy. Con cảm nhận được những đợt sóng của nỗi xấu hổ, buồn tủi về quá khứ ích kỷ và sự ngu si của mình. Sự sám hối của con vụng về, nhằm lấy nước mắt như bi kịch trên ti vi. Đột nhiên, không có gì báo trước, một quả bong bóng đầy nước bay từ chiếc xe hơi đang chạy ngang qua thẳng đến ngay chỗ đất đằng sau con. Áo tràng và giới y của con bị ướt đẫm. Con chưng hửng. Ở đây, con thực quá chân thành. Vậy sao lại bị một bong bóng nước thế này?

Nếu con thẳng thắn suy nghĩ về điều này, con có thể hiểu được. Quả bong bóng nước đã nói Pháp cho con nghe. Con đã đắm mình vào trong cảm xúc và chấp trước vào những cảnh giới. Phật Pháp không như vậy. Quốc sư Thanh Lương đã nguyện rằng:

Tự tánh của tôi sẽ không bao giờ bị nhiễm ô bởi những cảnh giới cảm xúc và yêu thương.

Mười tám biệt Pháp của Phật – 4) Không có niệm phân biệt, và 5) Tâm không bao giờ không ở trong Định – mô tả cảnh giới chánh niệm (*). Mặc dù con đã dùng nỗ lực, nhưng đó là sự tinh tấn sai lạc. Xúc cảm làm dao động tâm trí và làm nhiễu loạn chúng sinh. Nó không dẫn đến “nơi vô thượng bình đẳng” mà Bồ Tát trong Hạnh thứ hai nguyện đạt được. Quốc sư Thanh Lương nói rõ ràng trong phần mở đầu của Hoa Nghiêm Sớ Sao:

Khi cảm xúc phát sinh, trí huệ liền mất đi.

Nhưng, con đã không thể hồi quang và áp dụng lời dạy cho chính mình cho tới tận ngày hôm nay. Chúng con đã đi đến chặng cuối cuộc hành trình của tháng thứ hai mươi bảy dọc theo biển Thái Bình Dương. Tuần này chúng con quẹo về hướng đông trên con đường Boonville-Mt. View và hướng về Vạn Phật Thánh Thành. Hôm nay con nguyện bỏ lại đằng sau những ham muốn cảm xúc. Con nguyện cắt bỏ những sự tìm kiếm danh vọng, hương vị, sự đặc biệt và những tội lỗi về vọng ngữ mà những ham muốn này gây ra. Con muốn quay trở lại với chánh niệm và thiền định tịch tĩnh. Con muốn “an trú nơi vô thượng bình đẳng” mà không có những tư tưởng phân biệt. Con muốn làm lợi ích tất cả chúng sinh với công việc này.

1) Con nguyện không bao giờ tái phạm dùng lời nói, cử chỉ, cách biểu đạt, hay điệu bộ xuất phát từ các nhân duyên, phương pháp hay là nghiệp của sự cảm xúc hay tham muốn.

2) Con nguyện chỉ nói Phật Pháp, đạo lý chân chính, và những lời để phụng sự Tam Bảo, theo những quy củ của Địa Thứ hai về Trí Huệ của Bồ Tát

3) Con nguyện sẽ không bao giờ tái phạm tìm kiếm những ham muốn về danh vọng hay hương vị.

Con nguyện sẽ thay đổi bản tính của mình thông qua tu hành mười tâm này:

1)      Tâm chân thật

2)      Tâm trực chỉ

3)      Tâm vô cấu tạp

4)      Tâm chánh trực

5)      Tâm bình đẳng

6)      Tâm thanh lương

7)      Tâm khiêm kính

8)      Tâm tin tưởng và hoan hỷ trong Phật Pháp thậm thâm, vô thượng, vi diệu.

9)      Tâm kham nhẫn

10)    Tâm Đại Từ, Đại Bi, Đại Hỉ, và Đại Xả

 

Đệ tử Quả Chân (Hằng Thật)

Cung kính cúi lạy

 

Chú thích:

(*) Xin xem về The Eighteen Dharmas Special to a Buddha http://www.cttbusa.org/prologue/prologue_door2_p3_10.asp

 

Tuân Thủ Giới Luật

Ngày 10 tháng 9 năm 1979.

Đường Boonville

 

Kính thưa Sư Phụ,

 

Nguyện cho tất cả chúng sanh đều được an trụ Phật độ thanh tịnh….trụ nơi đạo rốt ráo, nơi chốn an vui

Kinh Hoa Nghiêm. Phẩm thứ 25: Thập hồi hướng. Lúc Đại Bồ Tát bố thí phòng nhà đem thiện căn hồi hướng như vậy.

Một phụ nữ trẻ tuổi nói với chúng con sau bữa ăn trưa nay rằng: “ Mẹ con đã trốn khỏi Việt Nam. Không ai nghe nói đến bà. Có thể bà đã bị mất tích ở biển. Con mong rằng Thầy sẽ nghĩ đến mẹ con khi cầu nguyện”.

Chúng con rất xúc động về lời thỉnh cầu rất u buồn của cô gái này. Tại sao chúng ta lại học và thực hành Phật Pháp? Bởi vì qua đó chúng ta tìm thấy sự tốt lành thuần khiết. Phật Pháp là vị thuốc tốt nhất trên trái đất. Nó có thể chữa lành mọi đau khổ của phiền não. Nếu ai cũng cư xử theo những nguyên tắc cổ xưa phổ quát này thì, tất cả mọi chiến tranh sẽ chấm dứt và khổ đau sẽ biến mất.

Ví dụ, Bồ Tát tại địa thứ nhất lập những đại nguyện. Sau đó, tâm được thay đổi. Rồi thành tựu được mười thứ Tâm hay thái độ.

1)  Tâm lợi ích. Ai được lợi từ chiến tranh? Ác quỷ. Những người làm dịch vụ tang lễ. Sâu bọ ăn xác người. Những kẻ chế tạo bom.

2)  Tâm nhu nhuyến. Tâm không áp đặt lên người khác, huống chi là muốn chiến tranh.

3) Tâm tùy thuận. “Xin các vị sư hãy cẩn thận phía trước, liệu các ngài có thể đi bộ qua chỗ những chiếc xe xây dựng và lạy ở phía bên kia - chỗ an toàn hơn không?” người quản đốc thi công đường xá hỏi chúng con. “Vâng, chúng tôi sẽ, thưa ông. Không vấn đề gì”.

4)  Tâm tịch tịnh. “(Chửi tục) ... tụi bây cho tao biết tụi bây đang làm cái gì không thôi tao sẽ đập vỡ đầu tụi bây ra!”. Thầy Hằng Triều đáp lại bằng một nụ cười chân thành, “Chúng tôi là những Phật tử, đang đi hành hương. Chúng tôi lạy và cầu nguyện” “Thế à? Phật tử? Tôi tưởng các ông là những thứ … đó. Tốt thôi, chúc các ông may mắn”.

5)  Tâm điều phục. Con tự nói với mình, “Tôi chắc chắn muốn làm sạch trơn cái dĩa tàu hủ đó, nhưng tôi khá no rồi. Đạo lý nói rằng nên giữ Trung Đạo: Không quá nhiều, cũng chẳng quá ít. Đạo lý là chân thật, những suy nghĩ của mình là sai lầm. Mình sẽ kiên nhẫn và điều phục lòng tham.

Ồ, nhìn kìa. Chủ nhà đã mang đến cúng dường và ở lại để chia sẻ đĩa đậu phụ đã ăn nó. Nếu mình dùng thêm một chút thức ăn nữa, người ấy có thể bị đói. Đạo lý cổ xưa thật tuyệt vời! Không thể hay hơn được!

6)  Tâm tịch diệt. “Tốt hơn hết là mình bỏ cái khăn quàng cổ ra. Đừng, chờ đã. Tập trung. Đừng nghĩ về bản thân. Này, gió đang thổi tới. Tốt hơn hết là mình nên đội mũ vào. Đừng, chờ đã. Đừng cử động. Tập trung. Ý, tới giờ thiền rồi. Hãy yên lặng đi, hỡi cái tâm (lăng xăng) như con khỉ! Hãy Tĩnh lặng!”

7)  Tâm khiêm hạ. Vận may tốt đẹp của con trong việc có được một cơ thể đầy đủ và khỏe mạnh là một phần tỷ. Nếu con phá vỡ giới luật, con có thể tìm thấy mình trong thân bò, hay như một đàn châu chấu xanh trên dẻo đất lẻ loi ở Point Arena này, tất cả chỉ trong chớp mắt. Chỉ có nhờ vào lòng đại từ của chư Phật và Bồ Tát, cha mẹ, các bậc sư trưởng, con mới có thể gặp được Phật Pháp. Lòng tham, sân hận của con rộng lớn như dãi núi Rocky. Những tội lỗi của con nhiều như cát của tiểu bang Arizona và New Mexico. Những tà kiến của con nếu có hình tướng thì có thể chất đầy cả hư không. Làm sao con có thể lười biếng và không ra sức tu trì sám hối và sửa đổi được chứ? Làm sao mà con dám biểu lộ sự giận dữ đối với bất kỳ chúng sinh nào?

8)  Tâm nhuận trạch. Trận hạn hán năm 1976-1977 đã khiến miền Nam California nhuốm màu vàng úa, khô giòn.Tất cả đều khát nước. Cây cối trơ cành và giòn dễ gẫy. Tất cả động vật đều gầy trơ xương và cáu bẩn. Không chút màu mỡ, phì nhiêu trong đất. Đây là trạng thái trong tâm trí mình khi con giận dữ, tìm kiếm lợi ích cá nhân. Khi con sân hận và cay nghiệt, tâm trí con cũng như vậy. Ngay khi con nhớ làm nhuận trạch tâm trí mình với dòng nước Đại từ, Đại bi, thì nó chuyển vào tháng 5 năm 1979 ở quận hạt Marine. Hoa dại trải khắp các cánh đồng, những con bò mập mạp được thả đi ăn cỏ, những con ngựa non Morgan béo tốt theo bầy phi nước đại ngang qua những gò đất, chim hót và cá bơi nhảy trong những rãnh nước. Tâm nhuận trạch là nơi tăng trưởng và hạnh phúc.

9)  Tâm bất động. Đồ điên rồ ngu xuẩn, hãy đứng dậy đàng hoàng!” một cậu thanh niên trẻ nói khi đi xe ngang qua.

“Ông là thiện tri thức của chúng tôi. Ông nhắc nhở những tội lỗi vô biên về nịnh bợ và phan duyên của chúng tôi. Tôi nguyện an trú nơi tâm bình đẳng đối đãi với tất cả chúng sinh. Tôi cúi lạy ông với lòng biết ơn. Chúng ta sẽ đồng thành Phật cả”.

10) Tâm bất trược. Chúng con đọc kinh Phật. Chúng con không theo dõi tin tức. Chúng con không nghe quảng cáo. Chúng con không nghe nhạc. Chúng con ăn thức ăn đạm bạc. Chúng con sám hối những lỗi lầm trong quá khứ và canh chừng mọi ham muốn. Chúng con đang học cách tôn trọng giới luật, “điều phục bản thân và quay về đạo lý”.
Điều phục bản ngã tạo ra sự bảo đảm vững chắc, đó là tính cố hữu trong những giới luật cổ xưa. Quay về đạo lý, chúng con khám phá ra sự hài hòa thâm sâu bên trong chúng con. Nó có cảm giác như là gặp phao đánh dấu trong sương mù. Bạn biết rằng bạn sẽ sớm vào hải cảng. Những giới luật cổ xưa dạy chúng con biết vũ trụ thực sự ra sao trước khi có ý tưởng và tranh luận, trước cả những lời nói và ngôn từ. Đạo Phật là con đường cổ xưa dẫn lối về nhà. Nó có cảm giác như là vừa nhìn thấy đèn đánh dấu phi đạo sau chặng bay trong thời tiết giông bão.

 

Là một người trẻ tuổi ngang bướng và ưa chuộng tự do, con phản ứng tự vệ trước hết với những khái niệm gọi là “Giới luật”. Kỷ luật thân và ý nghe như tòa án, cánh sát, luật sư, và nhà tù. Nhưng sự tôn kính điều chân chính và tôn sùng những điều ấy trong từng ý nghĩ, lời nói và hành động sẽ mang đến tự do thực sự. Đó chính là món quà lớn lao mà Phật Pháp dành cho tất cả chúng ta.

Thầy Hằng Triều và con có cảm giác rằng những Đạo Lý Chân Chánh của Phật Pháp là “những đường ranh sâu thẳm” của bản tâm. Chúng ta đều có, bởi vậy Phật Pháp là ngôn ngữ của Tâm. Chúng con gặp một người thổ dân da đỏ Sioux bên bờ biển Stinson, người ấy nói, “Các ông thật tuyệt vời. Thầy tôi là thầy thuốc của thổ dân Rosebud Sioux. Ông nói rằng khi người ta tuyệt vời như vậy, sẽ không bao giờ có rắc rối. Họ lướt qua được mọi hoàn cảnh”.

Phật là ai? Ngài là một chúng sanh trở nên quá “tuyệt vời” trong việc tuân thủ giới luật đến nỗi Ngài biến mất ở bên trong giới luật. Ngài mất đi chính bản thân mình qua việc hoàn thiện phẩm hạnh theo những lời dạy.

Phật Pháp là gì? Là giới luật. Cách sống, đi đứng, nói chuyện và suy nghĩ thế nào khi chúng ta tìm đường trở về Ngôi nhà bản nguyên.

Tăng đoàn là gì? Đó là những người may mắn đã tìm gặp lối mòn xuyên qua cánh rừng dày đặc của sự mê lầm. Những người từ bỏ những gì là giả tạm để bảo vệ những điều chân thật.

Tại sao chúng con lạy? Mười Đại Nguyện của Đức Phổ Hiền Bồ Tát chỉ dạy chúng con làm như vậy. Mười Đại Nguyện Vương của Ngài là cao thâm nhất giữa những giới luật.

Chúng con lạy để lễ kính chư Phật. Chúng con lạy để xưng tán chư Như Lai. Chúng con lạy như thể cúng dường tới chư Phật và tới tất cả chúng sinh. Chúng con sám hối về việc chúng con đã phá giới luật suốt thời gian trong quá khứ. Còn có sáu nguyện nữa.

Chúng con lạy Vua của các Vua của tất cả những sách về giới luật, là Kinh Hoa Nghiêm. Kinh này là bản đồ của vũ trụ. Là bản vẽ của bản tâm. Giống như cô Virginia đã nói ở vịnh Morro khi cô ấy nghe về Giới luật: “Ồ! Việc tuân thủ giới luật đã thực sự lấy đi gánh nặng khỏi lưng của các ông, có phải không?”

 

Đệ tử Quả Chân (Hằng Thật)

Cung kính cúi lạy.

 

Những Gì Chúng Con Cho Đi Chính Là Bản Thân Mình

Ngày 17 tháng 9
năm 1979

9
dặm trên Boonville



Kính thưa Sư Phụ,
 

(Khi Bồ Tát bố thí…) không mong đợi phần thưởng, không tìm cầu danh vọng hay tiếng tăm, cũng không ham vì lợi ích…bố thí chỉ để nhiếp thọ chúng sinh.

Tam Bộ Nhất Bái là một bài học trường viễn về bố thí. Chúng con đã được bố thí rất vĩ đại. Chúng con từng có xúc động sâu xa bởi sự bố thí mà chúng con đã từng được chứng kiến và những món quà vô biên mà chúng con nhận được.

Tại sao chư Phật và Bồ Tát rất đỗi hoan hỉ? Bởi vì một phẩm chất căn bản: sự bố thí mà các Ngài có thể làm được. Ngược lại,

Tham lam giết chết

Ham muốn là cái chết

Ích kỷ kết thúc thế giới.

Đây là điều mà chúng con học được trên chuyến hành hương. Vì là những nhà sư hành hương, chúng con nhận ra rất nhiều “những cuộc mạo hiểm có thật” và tất cả những hành vi tốt và xấu mà chúng con chứng kiến, những cảnh tượng lưu lại lâu nhất trong tim chúng con là những hành vi của lòng Từ, Bi, Hỉ, Xả.

Từ: Một sáng chủ nhât, tại Sea Ranch. Một chiếc xe cảnh sát dừng lại, quẹo và bò chầm chậm lại theo đường vòng chừng khoảng 200 thước Anh(182.8 m) phía trước chỗ chiếc xe của chúng con đang đậu. Đột nhiên, một chiếc xe tải nhỏ màu trắng nhấn mạnh ga kêu rít lên rồi chạy đi, người cảnh sát nhanh chóng đuổi theo . Một vụ phá xe để ăn cắp đồ bị ngăn chặn, hai vị sư rất biết ơn. Một món nợ khác về lòng Từ cần được đáp trả. 

Bi: Thành phố Mendocino, nhóm người đang sửa tráng đường. Bụi biến không khí thành súp đậu mỗi khi người quét đường đi qua. Chúng con không thể thở được. Bụi làm vẩn đục cả ánh nắng. Rồi một chiếc xe ủi đất lớn chạy dây xích dừng lại. Người lái xe nói với thầy Hằng Triều, “Tôi muốn xin lỗi về tất cả những bụi bẩn và tiếng ồn mà chúng tôi đã gây ra. Tôi ghét làm phiền bất kỳ ai khi đang thực hiện nghi lễ tâm linh. Các ông có định ở đây lâu không? Chúng tôi sẽ làm việc và tạo rất nhiều bụi”. Thầy Hằng Triều đưa cho người ấy một bản thông cáo. Khi người ấy cầm, liền nói, “ Các ông đến từ một nơi ngoài Ukiah à? Tôi hy vọng được thăm viếng nơi đó vào một ngày nào đó. Hẹn gặp lại ông sau. Chúa ban phước lành cho các ông”. Và sau đó, những người quét đường nhấc chổi lên khi chạy ngang qua chỗ lạy.

Hỉ: Buổi sáng sương mù ở Gualala. Một chiếc xe tải trắng lớn đi qua, chầm chậm, dừng lại. Một người đàn ông, cao, có râu đi đôi giày lao động cao ống nặng nề tới gần. Khuôn mặt rạng ngời. Người ấy đang hạnh phúc hay đang khóc? Ông ấy cúi lạy một cách từ từ, hai tay cầm một quả tao đưa lên quá đầu. Vui vẻ. Người ấy đứng lên, đưa quả táo cho nhà sư, rồi chắp hai tay lại và nói, “Cảm ơn các ông, người anh em”. Người ấy quay đi và biến mất trong sương mù.

Xả: Ngày Lễ Lao Động năm 1977. Các tăng, ni, và cư sĩ thức dậy lúc 3 giờ sáng và lái xe trong bẩy tiếng đồng hồ tới Santa Barbara, đến vừa đúng lúc để mang thức ăn, đồ dùng, và niềm vui nồng ấm cho chúng con. Những luồng năng lượng trắng thuần khiết, dương tính và truyền sức sống. Phần thưởng của họ ư? Không phần thưởng. Rồi lái xe trên con đường dài nóng bức trở lại San Francisco trong dòng xe cộ của ngày Lao động. Họ đã ban cho chúng con Phật Pháp, sự phong phú và sự không sợ hãi. Ai cũng vui vẻ. Đây là loại công việc vô ngã mà chư Phật, Bồ Tát thường làm. Nó dạy chúng con cách bố thí.

 

Cho đi trái cây

Thu hoạch để ban phát

Trên bàn thờ có ba ba trái cây tròn đỏ: quả cà chua màu đỏ thẫm, trái táo đỏ thơm ngon, và trái quýt đỏ tươi. Những người ở vùng Point Arena mang chúng đến. Họ cúng dường những sản vật từ vườn nhà mình với niềm vui thích. Mỗi lần, trong sự bố thí đều có sự va chạm thật kỳ diệu. “Những thứ này là thành quả lao động của chúng tôi trên mảnh đất này. Tôi muốn chia sẻ trái cây từ sự lao động của tôi với các ông, bởi vì tôi tin tưởng vào những gì các ông làm”.

Con đường hồi hướng của Bồ Tát thực hiện được một loại bố thí hiếm hoi. Tặng phẩm đó là lòng tốt thuần khiết, những phúc lành dương khí, là công đức. Kinh gọi tặng phẩm đó là “thiện căn”. Tất cả chư Phật hồi hướng những thiện căn này như là nền tảng căn bản cho việc tu hành.

Những gì chúng con cho đi khi tu hành là bản thân mình. Bởi bản ngã của con to lớn như quả núi Tu Di, nên con có rất nhiều để cho đi. Cúng dường Phật, bố thí cho tất cả chúng sinh, xả bỏ lợi ích cá nhân, xa lìa xấu ác - tất cả được gói trọn trong việc tu hạnh bố thí.

Nhưng thành quả của công việc này thì không bao giờ được thu hoạch. Chư Bồ Tát hiện thân chỉ để làm việc. Ngài không bao giờ ngừng nghỉ và không mong cầu các phần thưởng. Niềm vui thích duy nhất của Ngài có được là sự tăng trưởng dần dần hiệu quả của mình (đem lại lợi ích cho chúng sinh). Càng tiến bộ về việc bố thí, Ngài càng được làm nhiều hơn. Đức Quán Thế Âm Bồ Tát ban tặng niềm vui thích từ ngàn tay ngàn mắt. Niềm hoan hỷ của Ngài khi bố thí cũng giống như niềm vui của những người làm vườn ở Point Arena, chỉ khác là nhân lên gấp bội. Bồ Tát Di Lặc là vị “Bồ Tát vui vẻ” bởi vì cái túi lớn của Ngài lúc nào cũng chứa đầy quà cho tất cả chúng sinh. Trẻ con vây quanh Ngài cả bầy. Niềm hoan hỷ của Ngài lúc nào cũng tròn đầy như cái bụng của Ngài vậy

Ngay cả cái nguyện ngộ được Phật qủa cũng là sự thu hoạch để ban phát, không phải để nắm bắt hay sở hữu cho riêng mình

Đôi khi, việc từ bỏ những chấp trước với bản thân dường như thật cay đắng và khó mà chịu đựng được. Chỉ một niệm hồi hướng khiến cho nó nhẹ nhàng và vui sướng. Những hạt giống thuần khiết được gieo trồng trong những ruộng phước lành của Phật địa, được nuôi dưỡng bởi những công việc chăm chỉ, vô ngã, sẽ cho ra một vụ mùa phong phú để chia sẻ với toàn thế giới. 

“Tôi mong các bạn hành hương sẽ thưởng thức được sản vật này. Nó sản sanh từ vườn của chúng tôi” (câu viết bên trái túi đựng rau củ trên xe của chúng con)

 

Đệ tử Quả Chân (Hằng Thật)

Cung kính cúi lạy.

 

Cách Nhà 13 Dặm

Ngày 28 tháng 9 năm 1979

Cột mốc 7.97, đường Booneville


Kính thưa Sư Phụ,


Chúng con cách nhà 13 dặm. Những quang cảnh và kinh nghiệm của hai năm rưỡi trước đây đang quay tròn trong tâm trí con giống như những chiếc lá trong gió. Con đã có thay đổi chăng? Con đã học được điều gì? Vâng, con đã thay đổi. Không, con chưa thực sự thay đổi, mà con vẫn như trước đây hơn bao giờ hết. Điều này là thế nào? 

Sự thay đổi lớn nhất trong con đến từ việc học cách tôn trọng và tuân thủ giới luật. Nó được gọi là “Y giáo phụng hành – cung kính hành xử theo giáo Pháp”. Bất kỳ lúc nào con đặt trọn tâm mình theo giới luật chân chính và những lời dạy của Sư phụ, thì con thay đổi. Khi nào con làm theo quan điểm của riêng mình hay phá phạm giới luật, thì con ngã nhào xuống đường giống như chiếc xe dưới mương. Phật pháp mà con vừa tiếp thụ được trụ vững và thuần khiết trong tâm trí con, giữa tất cả những vọng tưởng vụn vặt và thói quen xấu. Đạo lý chân chánh hướng dẫn những bước đi của chúng con xuyên qua những lối đi nhỏ của tâm trí, tương tự như bảng chỉ dẫn trên xa lộ cảnh giác người lái xe. “Đường gồ ghề”, “Đá lở”, “Đường trơn trợt khi trời ẩm ướt hay giá rét”.

Bồ Tát này nếu thấy những nghiệp nào bị Ðức Như Lai quở trách, bị phiền não nhiễm ô thời đều xa lìa. Thấy những nghiệp nào được Ðức Như Lai khen ngợi, thuận đạo Bồ Tát, thời đều tu hành.

Hoa Nghiêm Kinh. Phẩm thứ 26: Thập Địa - Đệ tứ Diệm Huệ Địa
 

Đạo : “Không bám chấp vào cảnh giới. Không có điều gì tốt đẹp trong tam giới cả. Đau khổ và hạnh phúc đều không tồn tại”

Cảnh giới: Khởi sanh lòng tham lam và si mê.

Chúng con đang ngồi thiền trong xe sau khi mặt trời lặn, đậu dưới cây tùng bách trên đỉnh một ngọn núi hoang vắng. Có năm phút để thiền trước khi buổi kinh tối bắt đầu. Vì con đã gục đầu và ngủ gà gật trong lúc thiền, Con chưa hoàn toàn “làm tan chảy” được năng lượng trong cơ thể con, vẫn còn có rất nhiều lửa đang lưu chuyển khi con ngồi. Chỉ vài phút nữa thôi thì sẽ được. Ô, có chuông. Quá muộn rồi. Tiếc quá! Giờ thì con không thể ngủ đến khi con làm tan chảy hết năng lương sau khi tụng kinh xong. Con đã phải ngồi với đôi chân như bị đốt cháy suốt qua các khóa lễ. Con chắc chắn sẽ sôi trào ra. Thầy Hằng Triều đã gây cho con rất nhiều điều bực bội. Đó là lỗi của thầy ấy!

Lỗi lầm: Nóng giận và phá phạm giới luật.

Vì con bám chấp vào những suy nghĩ tham lam về cảnh giới của thân thể, con đã nóng giận. Trong suốt buổi giảng kinh, mặc dù con nguyện tịnh khẩu, nhưng con xả hơi nóng vào thầy Hằng Triều, chỉ trích thầy và nói những lời nặng nề.

Quả báo:

Ngay khi những lời giận dữ vừa thốt ra từ miệng con, con cảm thấy tất cả những vị Hộ pháp nhanh chóng rời bỏ đi. Thầy Hằng Triều nói ánh sáng trong con lụi tàn đi giống như ngọn nến. Con cảm thấy lạnh và tê buốt. Suốt đêm, con nằm mơ về ma quỉ đánh cắp đi năng lượng của con. Con tỉnh dậy thấy kiệt sức và không vui.

Tại sao? Nói nặng lời là một trong Thập Ác. Tham lam cũng vậy. Sân hận cũng vậy. Ngu si cũng vậy (tà kiến).

Một niệm chấp vào cảnh giới vui sướng trong quá trình thiền định đã phá giới luật và dẫn đến một chuỗi ảo tưởng, nghiệp mê lầm và quả báo. Nếu con buông xả cảnh giới ấy, tuân theo sự chỉ dẫn, và cố nhẫn nại với thân thể của con, thì mọi việc sẽ tốt đẹp.

Con phải hồi quang và tự nhận ra những lỗi lầm của mình. Con đã ngủ trong khi đáng lẽ phải ngồi thiền để rồi cố gắng che đậy lỗi lầm và thay đổi lịch trình.

Nếu con thừa nhận lỗi lầm của mình, con đã có thể ở ngay Trung Đạo. Con lại đi hành xử như một chúng sanh rồi trở nên sân hận. Bồ tát thực hành lòng từ và nhân đạo. Họ không đổ lỗi cho người khác.

Nhan Uyên hỏi đức Khổng Tử rằng, “Nhân có nghĩa là gì?”

Đức Khổng tử trả lời, “Kìm chế bản thân và trở lại với phép tắc (Khắc kỷ phục Lễ)”.

Hôm thứ ba, chúng con thấy một cái thẻ trên cửa xe. Thoạt nhìn, nó là cái thẻ tín dụng Mastercard. Nhưng đó là cái quảng cáo của nhóm tín hữu Tin Lành được làm giống như là cái thẻ tín dụng quen thuộc màu da cam và vàng. Trên đó ghi, “Hãy để chúa Giê Su cứu rỗi bạn”. Chúng con nghĩ rằng đây cũng là một ý tưởng hay, miễn là chúa Giê Su đại diện cho những nguyên lý phổ quát như Từ, Bi, Hỷ, Xả.

Nhưng nương tựa vào bất kỳ một cá nhân nào cũng vẫn là bám chấp. Đức Phật dạy hãy hoàn toàn dựa vào bản thân mình . Ngài A Nan hỏi đức Phật rằng, “Khi Thế Tôn nhập Niết Bàn, chúng con sẽ tôn ai làm thầy?”

Đức Phật trả lời, “Hãy lấy giới luật làm thầy”.

Nói cách khác, không dựa vào người khác, tuân thủ giới luật. Đây là con đường dẫn tới tự do tuyệt đối. Vậy giới luật là gì? Đơn giản là Phật Pháp. 

Trên hết tất cả là niềm tin. Tiếp theo là bố thí. Tiếp đến là đạo đức. Kiên nhẫn, tinh tấn, thiền định và trí tuệ đều là giới luật Phật Pháp.

Về lòng tin và sự bố thí, hai tuần trước đây, khi chúng con trèo lên một mỏm núi bên bờ biển phía Đông trên đường hướng về Vạn Phật Thánh Thành, trời rất nóng. Không khí dày đặc khói từ những đám cháy rừng, và con đường làm bỏng rát tay , đầu gối và trán của chúng con. Chúng con dùng khăn quấn làm thành mũ chống nắng và vừa lạy vừa suy nghĩ những ý nghĩ mát mẻ về niềm tin và sự buông xả. 

Đức Địa Tạng Bồ Tát luôn sống trong Địa ngục! Chúng con đã không phải quá cực nhọc như vậy. Ngài nguyện ở trong Địa ngục cho đến khi tất cả những sinh linh sống trong đó đều được giải thoát. Đó mới thực sự là sự bố thí. Quán tưởng đến đức Địa Tạng đã giữ cho chúng con vững bước. Ngài đã cho chúng con lòng tin và sức mạnh. Con nhớ lại câu chuyện của ông Desert Pete trong bài hát xưa Kingston Trio. Ông Desert Pete có một cái giếng nước cho những người du hành khát nước trên sa mạc. Cạnh giếng có một chai nước và một ghi chú viết, “Đừng uống nước trong chai, sử dụng nó để mồi máy bơm. Có rất nhiều nước ở phía dưới, nhưng cái bơm sẽ không hoạt động trừ khi nó được mồi. Hãy kiên nhẫn, anh bạn, và bạn sẽ được phần thưởng”. 

Đoạn điệp khúc tiếp: 

Bạn phải mồi máy bơm, bạn phải có niềm tin và tin tưởng. Bạn phải tự ra sức trước khi bạn xứng đáng được hưởng. Hãy uống bao nhiêu nước bạn có thể uống, rửa mặt, làm mát chân, để lại chai đầy nước cho những người khác.

Cảm ơn lòng tốt của bạn. Desert Pete.

Ông Desert Pete hiểu được đạo lý của sự bố thí “Khi bạn cho đi một phần, bạn sẽ nhận được lại mười ngàn phần”. Và ông ta đã dạy và chuyển hoá rất nhiều khách du hành khát nước theo cách này. Mỗi lần chúng con phụng hành trong niềm tin tưởng theo đạo lý, thì chúng con nhận lại được mười ngàn phần. Điều này không bao giờ sai cả.

Mùa thu đến rồi. Bay giờ đanghội chợ của quận hạt và trên đường đầy những bộ mặt vui vẻ . Đây là một năm thu hoạch dồi dào. Phật Pháp đã đến phương Tây. Nước Mỹ có một thành phố mới của ánh sáng và thiện lành. Tâm chúng con ngập tràn lòng biết ơn.

 

Đệ tử Quả Chân (Hằng Thật)

Cung kính cúi lạy.

 

Con Có Thể Đi Trên Con Đường Của Thiên Đường

Ngày 14 tháng 10 năm 1979

Ukiah



Kính thưa Sư Phụ,

Thầy Hằng Triều và con nói chuyện với nhau về việc chúng con muốn làm gì khi tới Vạn Phật Thánh Thành và quyết định vẫn tiếp tục lạy. Việc của chúng con chưa xong và lễ lạy rất phù hợp với tự tánh của chúng con, nhưng chúng con không biết là Sư phụ sẽ cho phép chúng con tiếp tục hay không.

“Thầy Hằng Thật!”, thầy Hằng Triều gọi. Con quay đầu lại và Sư phụ đã đứng ở đó, trên lề đường trong bộ y màu vàng sáng rực. Đúng như vậy, trên đường State ở thành phố Ukiah, vào buổi trưa thứ Bảy bên ngoài một nhà trọ.

“Khi các con lạy đến Vạn Phật Thánh Thành, nếu các con muốn, các con có thể lạy dọc theo những con đường. Không hẳn là phải lạy thẳng vào trong Vạn Phật Điện và hành trình của các con kết thúc và như thế là xong. Lạy vòng quanh Phật Điện nếu chúng con muốn”, Ngài nói.

“Điều này rất phù hợp với mong ước của chúng con!”, con trả lời. Quả là một cơ hội để thực hiện công việc bên trong của Tam Bộ Nhất Bái, sự chuyên chú và nhất tâm lễ lạy Vạn Phật mà không có những cái chai bia vỡ! Không xe tải chở thân cây dài, không có kẻ bắt nạt, không có những con đường hẹp, không cây sồi độc, những chiếc mô tô lao vút, quán bar và những người say rượu, sườn núi, cạo đầu với nước lạnh, trở ngại vì thời tiết, chân mỏi nhừ cảm thấy như cao su và hai bàn tay chai dày như da thú vật (1), v.v…Chúng con có cơ hội được lạy trên Thiên đường.

Vào ngày 1 tháng 8, ở Sea Ranch, Sư Phụ bảo rằng, “Có một con đường ở trên Thiên đường, nhưng trước hết, con cần phải hoàn thành con đường ở đây trên mặt đất cái đã. Khi con đã đi hết con đường đó rồi, thì con có thể đi trên con đường của Thiên đường”. 

Con tưởng Sư Phụ đang nói ẩn dụ theo cái nghĩa là “Khi làm con người hoàn hảo, thì Phật Đạo tự hoàn thành" (2). Con đã không đoán được rằng thực sự có một con đường trên Thiên đường cho chúng con lạy trên đó!

Vài người cảm thấy rằng tu hành là sự cay đắng và đau khổ. Thầy Hằng Triều và con đã cảm nhận điều ngược lại. Tu hành mang đến cho chúng con hạnh phúc nhiều hơn chúng con tưởng, Kinh dạy rằng,

Tất cả hạnh phúc thế gian, không có gì là không khổ đau.

Kinh Hoa Nghiêm. Phẩm thứ 26: Thập Hồi Hướng.

Chúng con học được qua hành trình Tam bộ nhất bái để xem như là điều đương nhiên việc hàng ngày phải đối phó để cố gắng sống một cuộc sống quán niệm bên những xa lộ của Califonia. Ngày hôm qua, Sư Phụ chấp thuận sự mong ước của chúng con được tu hành Phật pháp tại một nơi thanh tịnh, một Thành phố Đạo tràng trang nghiêm! Một cơ hội để tập trung tâm trí với tất cả những “bụi - mệt mỏi” được giũ sạch, một cơ hội để nhất tâm lễ lạy trên Thiên đường.

Như thầy Hằng Triều nói rằng,” Ở căn cứ không quân Pt. Mugu, họ không cho chúng ta lạy quanh chỗ trưng bày hoả tiễn của họ. (Bên cạnh cổng của căn cứ đó gần Los Ageles, có một công viên tưởng niệm bên đường với một khu rừng nhỏ chứa đầy đủ loại những hoả tiễn chiến thuật với kích thước thật được trưng bày. Một buổi sáng, chúng con lạy vòng quanh chỗ đó cho đến khi những người Cảnh sát Quân đội đuổi chúng con đi). Nhưng bây giờ chúng con có thể lạy quanh chư Phật bao nhiêu tùy thích”. Thật tuyệt vời làm sao!

 

Đệ tử Quả Chân (Hằng Thật)

Cung kính cúi lạy.

 

“Đạt đến chỗ không truy cầu, thì không có phiền não" (3)

P.S: Khi con đọc lại thư của mình. Con cảm thấy thực sự xấu hổ. Sự ích kỷ của con không thay đổi nhiều lắm kể từ khi hành trình bắt đầu. Con đã mong đợi điều gì khi đi ra ngoài lạy trên con đường chính công cộng – các thảm đỏ ? Ngay khi có cơ hội đầu tiên để trốn thoát khỏi thế gian, con liền nắm chụp lấy. Không một giây suy nghĩ về sự khổ đau của tất cả những chúng sanh chưa bao giờ được nghe đến Vạn Phật Thánh Thành, con nhảy lên vì sung sướng với viễn tưởng lìa bỏ thế giới này. Đây không phải là Bồ Tát đạo. 

Một ví dụ khác: Con tham lam Phật quả. Điều đó giống như bất kỳ ai trên thế gian truy tìm lợi ích cá nhân. Tâm con đóng cửa đối với Xả, Từ, và Bi, tất cả xuất phát từ lòng tham lam ích kỷ cá nhân của con. Con đã không vui. Thầy Hằng Triều cố gắng hết sức làm thư giãn tâm trí con. Thầy ấy nhắc con về Bốn Mươi Hai Thủ Nhãn của Đức Quán Thế Âm Bồ Tát - những phương tiện thiện xảo vô thượng cho việc ban vui và lìa khổ. Thầy ấy nói, “Hãy làm mưa hoa sen, đừng bắn ra những viên đạn”. 

Sau đó con nhìn thấy cách con tu các hình tướng Đại Bi như thế nào, nhưng tâm bố thí vô ngã thí vẫn không thực sự sống dậy ở bên trong. Con thực sự xấu hổ. Nếu con không thể tập trung được ở ngoài này, thì làm sao ở trên các con đường của Vạn Phật Thánh Thành có sự khác biệt được? Nếu con không học được cách quên đi bản thân mình ở giữa sự khổ đau của Ta Bà thế giới, thì một kỳ nghỉ trên Thiên đường chắc chắn sẽ chỉ làm bổ sung thêm cho tính ích kỷ của con mà thôi. Đó là điều mà lá thư của con phản ảnh: Con vẫn có những suy nghĩ ruồng bỏ thế giới này.

Bài học lớn ngày hôm qua là: Bồ Tát thực hành lòng từ bi ở mọi nơi.

Hiển thị tùy chủng loại,

Biển hiện thành các thần,

Đồng sự lợi hành,

Nhiếp chúng hữu duyên

Quên mình vì người, thật vô ngã.

Nguyện khắp chúng sinh thành Thánh Hiền.

Mặc dù con đã đến được chân núi của Diệu Giác Sơn, nhưng con vẫn còn phải đi một chặng đường dài nữa trước khi đến được Vạn Phật Thánh Thành chân thực.

 

Đệ tử Quả Chân (Hằng Thật)

Cung kính cúi lạy.

 

Chú thích:

(1) Nguyên văn Anh ngữ: rubber-legs and leather-palms. Đối với những hành giả lễ lạy lâu dài, chân có giai đoạn mỏi nhừ mất cảm giác và cảm thấy như làm bằng cao su, không cảm giác liên hệ với thân mình. Hai bàn tay do lễ lạy tiếp xúc với đá, sỏi, mặt đường nóng bỏng ... nên nứt nẻ, sau đó chai cứng và da dày ra như da thú vật.

(2) Nhân đạo tận, Phật Đạo thành 人道盡,佛道成. Xin xem thêm http://www.drbachinese.org/vbs/publish/405/vbs405p018.htm

(3) Đáo vô cầu xứ tiện vô ưu. 到無求處便無憂 . Xin xem thêm http://www.dharmasite.net/PhapMonTamDia.htm

 

Lễ Lạy Là Để Từ Bỏ Tánh Ích Kỷ

Ngày 14 tháng 10 năm 1979,

Ukiah, California

 

Kính thưa Sư Phụ,

 

Có một bầu không khí Từ  Bi bao quanh Hòa Thượng Trụ Trì. Sau mỗi lần ghé thăm bên vệ đường, một chút không khí ấy được rải lên chúng con. Sau mỗi lần ghé thăm, con sâu sắc nhận biết rằng mình đang được chứng kiến sự cảm thông thật sự, và con luôn luôn cảm thấy xấu hổ về sự gay gắt và cố gắng của bản thân mình. Hôm qua, Sư phụ ghé thăm và dù chỉ qua vài lời nói, nhưng con đã học được rất nhiều.

Con nhìn Sư phụ đặt tay lên đầu thầy Hằng Thật và xoa dịu tâm trí lo lắng của thầy ấy ở bên ngoài một ngôi nhà trọ nhỏ bên rìa thành phố. Con đã nhận thấy lòng Từ bi. Khi con đứng và quan sát, con bắt đầu nhận ra mình đã khắc nghiệt và vô tình như thế nào đối với người mà con đã nguyện bảo vệ và chăm sóc trong chuyến hành trình này.

Ai cũng muốn thành Phật. Mọi người đều đau khổ. Vị Bồ Tát Quán Sát Âm Thanh của Thế Gian giúp mọi người chấm dứt khổ đau và trở thành Phật. Bằng cách nào? Lòng Cảm thương, Đại Bi. Tâm từ bi của đức Quán Thế Âm Bồ Tát thật tròn đầy và phong phú, ngàn tay ngàn mắt được nở ra từ tâm này để cứu giúp và bảo hộ cho chúng sinh khắp nơi.

Chúng con nghe thấy rất nhiều những âm thanh của Thế gian trong hơn hai năm rưỡi qua. Và bởi vì lòng Tham, Sân và Si nên thậm chí những âm thanh dường như hạnh phúc che dấu những âm thanh của khổ đau. Chúng sinh bất hiếu và làm tổn thương lẫn nhau, thường không hiểu biết, và vì thế những âm thanh khổ đau có ở khắp mọi nơi. Chúng con nghe thấy những âm thanh khổ đau trong những tiếng la hét giận dữ, trong những chai bia và rượu rỗng không, trong những phát súng của thợ săn, trong những tiếng còi của giờ cao điểm, tiếng rít bánh xe của chiếc xe tải nhỏ, tiếng khóc của đứa trẻ, tiếng cười của đám tiệc rượu, tiếng còi báo động ngang qua, mùi của chiếc bánh kẹp thịt (hamburgers) từ tiệm lái xe mua thức ăn (Drive-in), con cừu lạc đàn, ngôi nhà dưỡng lão, trận đấu bóng bầu dục (football), trong tiếng gầm rú của xe mô tô, và cứ liên miên thế. Chúng con mãi mãi xa cách những người mình yêu mến và không bao giờ có thể tránh xa được những người mà chúng con không thích. Không ai có được điều mình truy cầu. Và các điều khổ cũng vậy. Sinh, lão, bệnh, tử và “các uẩn đang bừng cháy”. Tất cả đều là khổ đau. Con chưa bao giờ nhận thấy điều này thật rõ ràng cho tới cuộc hành trình này.

Tất cả hạnh phúc thế gian, không có gì là không khổ đau.

Kinh Hoa Nghiêm. Phẩm Thập Hồi Hướng.

Vậy thì không có hạnh phúc chăng? Có, tu Đạo là hạnh phúc. Nhưng nó trông không giống như hạnh phúc. Vài người nói tu hành có vẻ thật cay đắng và chán ngắt. Thế nhưng, mọi thứ không phải là những gì mà người ta thấy: Tu hành trông có vẻ khổ cực, nhưng nó lại thật ngọt ngào, hạnh phúc thế gian tưởng chừng ngọt ngào, nhưng nó lại thật cay đắng và buồn chán.

Con đã thực sự không từ bi. Âm thanh của thế giới là những tiếng khóc của khổ đau. Lỗi lầm của chúng con chính là những phiền não và khổ đau của mình. Đổ lỗi người khác trong khi che đậy lỗi và những sai quấy của chính mình gây tổn thương cho chính mình. Nó giống như bị bịnh: Người bịnh cần tình thương và chăm sóc, không phải sự hắt hủi và chỉ trích. Lỗi lầm cũng như vậy. Chúng là những âm thanh khổ đau và tiếng khóc của chúng sinh cần được giúp đỡ. Bồ Tát Đại Bi lắng nghe tất cả âm thanh thế gian và chỉ nghe, “Giúp con với! Con muốn thành Phật, nhưng con không tìm ra đường. Con bị tổn thương. Xin hãy giúp con, con cầu xin…” Và trên mọi khuôn mặt, dù thân thiện hay không thân thiện, xinh đẹp hay xấu xí, Bồ Tát chỉ nhìn thấy khuôn mặt của một vị Phật tương lai.

Đây là lý do tại sao con đến tu viện Kim Sơn Thánh Tự và trở thành Phật tử: Con đã rung cảm sâu sắc đến trào nước mắt khi nhìn thấy hình ảnh của Đức Quán Thế Âm Bồ tát trên tấm áp phích (poster) và đọc những lời:

Nghìn mắt thấy tất cả,

Nghìn tai nghe khắp cõi,

Nghìn tay giữ và giúp

Chúng sinh khắp mọi nơi.

Nhưng cũng rất dễ bị lạc trong tính ích kỷ và quên đi tầm nhìn đó. Rất dễ bị kẹt vào sự nhỏ bé của “Ai cũng chỉ vì mình”. Quan sát lòng Từ, Bi của Sư phụ, con nhận ra con lại một lần nữa để cho tâm lượng của mình thu hẹp lại. Đó là lúc con trải hồn mình ra và để nó lấp đầy Pháp giới với lòng Từ, Bi, Hỷ, Xả. Không hai (Vô nhị) có nghĩa là mình cũng như mọi người.

Chư Phật tử! Bồ Tát này tâm tùy nơi đức từ duy nhứt rộng lớn vô lượng, không oán, không đối, không chướng, không não, đến khắp tất cả chỗ, khắp pháp giới hư không giới, khắp tất cả thế gian. An trụ đức bi, hỷ và xả cũng như vậy.

Kinh Hoa Nghiêm. Phẩm thứ 26: Thập Địa - Đệ tam Phát Quang Địa.

 

Ngày 15 tháng 10 năm 1979

Ngay khi con lập quyết tâm để từ bi hơn, chướng ngại phát sinh. Đêm đó, con thấy mình nằm mơ đang bị mắc kẹt trong một cái hang lộng gió và ngột ngạt trong những bám chấp và những mối quan hệ khó chịu. Con không thể thoát ra được. Con quay đi mọi nơi, tham vọng và tính ích kỷ hút chặt con càng lúc càng sâu hơn xuyên qua những đường hầm tối tăm. Con nói, “Bây giờ tôi cần phải lạy cùng với thầy Hằng Thật, không thể chạy đi đâu được. Tôi không thuộc về cái hang động này”.

Cái cảm giác ngột ngạt và nặng nề xưa kia mà con từng rõ biết khi còn là cư sĩ lại đến với con một lần nữa. Con bị ngộp thở trong sự bám chấp và thiếu hiểu biết của chính mình. Con bắt đầu quỵ lụy, “Làm thế nào mà tôi có thể trở lại nơi này lần nữa khi tôi đã được tự do và hạnh phúc cơ chứ? Không, không, tôi không muốn quay trở lại nữa…!” Con hét lên trong giấc mơ.

Ngay sau đó, con bị đánh thức dậy bởi một ông già “điên” bên ngoài xe. Chúng con đang ở trên một con đường vắng gần một xưởng gỗ và một vườn nho đằng sau sân bay. Lúc đó 2 giờ sáng. Người đàn ông nhìn con qua kính xe và lầm bầm nói những lời khùng điên gì đó. Con nói to với ông ấy giọng ngái ngủ, “Cái gì?”. Ông ta khoác một cái áo choàng dài hay cái áo bành tô và mang một cây gậy giúp đi bộ cao quá vai. Ông ấy thơ thẩn bỏ đi khi con nói to. Sau đó, con nhận thấy mình lại sa vào cơn ác mộng cũ và con hét lên trong cơn mộng, “Không, không, cứu tôi…” Con nghe thấy tiếng gõ nhẹ trên cửa xe và thức giấc, nhận ra ông già đang liếc nhìn vào và gõ côm cốp cái gậy lên cửa sổ. Ông ấy nói điều gì ấy giống như, “Phải  ra khỏi nơi đây, phải  ra khỏi nơi đây. Nhưng tôi không biết làm thế nào để ra khỏi…”

“Suỵt…” Con thì thầm với ông ấy. Giờ mới là 3 giờ sáng.

“Vâng, được rồi, tôi sẽ yên lặng…nhưng làm thế nào mà tôi ra khỏi đây được?” Ông ấy lầm bầm và gõ nhẹ cái gậy lên mặt đất rồi chậm chạp đi trở lại vào trong sương mù. Con không biết ông ấy là ai, nhưng ông ấy đã cứu con hai lần. Vậy thì ông ấy “điên khùng” hay là từ bi? 

Lễ lạy là điều tốt nhất và khó khăn nhất mà con từng làm. Tốt nhất, trong đó nó đập tan ngọn núi kiêu hãnh của con, đặt con gần với vị trí mà con thuộc về. Khó khăn nhất, trong đó bản ngã của con muốn trở thành vị Sơn Vương và cưỡng lại việc cúi lạy với tất cả sức mạnh.

Xô ngã núi Tu Di,

Tâm địa liền bằng phẳng

Ghen tị và kiêu mạn.

Rốt ráo biến vô hình

Hòa Thượng Tuyên Hóa

Những người tu hành không thực sự biết rõ tâm mình sẽ đối mặt với những nghịch lý. Chúng con biết những lời dạy là đúng đắn và tu Đạo là điều đáng làm duy nhất, tuy nhiên, chúng con vẫn cưỡng lại, chống đối những lời chỉ bảo, và luồn lách ra thông qua mọi kẽ hở. Cổng trước tới Thiên đường mở rộng, nhưng chúng con không bước vào. Địa Ngục không cửa, nhưng chúng con tự đào lối đến. Những thói quen xấu từ vô thủy bám dính lấy như cái bóng và ám ảnh chúng con như hồn ma. Mỗi khi chúng con nhượng bộ con ma ấy, chúng con lại ân hận. Cho dù chúng con có bỏ chạy đi đâu, hay bao lâu, chúng con luôn nhận thấy chính mình quay trở lại Phật Pháp giống như trọng lực hút kéo tất cả mọi thứ trở lại trái đất. Truy tìm sự Giác ngộ và đạt tới Phật qủa là bản năng tự nhiên của chúng ta. Nếu con nghĩ về tu hành con có thể bị làm bất động với những suy nghĩ vẩn vơ tiếp theo. Nếu con tuân theo lối đi với con tim và cứ làm, thì nó tuyệt vời không lời nào diễn tả được. Vì thế có câu rằng:

Những gì nói ra được đều là giả;

Những gì thực hành mới là thật..

Khi hành trình kết thúc tại Vạn Phật Thánh Thành, chúng con sẽ tiếp tục lạy. Điều này là ngu si chăng? Mọi người hỏi chúng con, “Các ông sẽ làm gì khi về đến đó?” Tất cả đều nghĩ chúng con không thể chờ để chấm dứt “việc lễ lạy điên khùng” này và quay trở lại “bình thường”. Nếu chúng con nói với mọi người rằng chúng con sẽ lạy lên xuống và vòng quanh tất cả những con đường của Vạn Phật Thánh Thành, họ có thể phản ứng như một người đã nói thế này: “Ông mất trí rồi! Hoàn toàn là những kẻ kỳ dị ngu ngốc. Nó có ý nghĩa gì?!” Một cậu thanh niên dừng xe lại sau khi muốn ủi chúng con ra khỏi đường đang lạy và hét lên, “Áaaa, đồ quái dị! Tôi không thể chịu được!”. Sau đó cậu ta quay trở lại, dịu xuống rồi nói, “Ban đầu, tôi nghĩ các ông kỳ dị, nhưng điều này có cái gì đó, ông biết không? Ý tôi là, bản thân tôi sẽ không bao giờ làm thế,  suy nghĩ xem, nhưng tôi ngưỡng mộ sự cống hiến của các ông. Điều này đòi hỏi có khí phách, hay cái gì đó”, cậu ta bắt tay rồi lặng lẽ lái xe đi.

Toàn bộ ý nghĩa thiết yếu của việc lễ lạy là để từ bỏ sự ích kỷ. Mọi thảm họa, thiên tai và khổ đau trên thế gian này xuất phát từ lòng ích kỷ. Để chân thành giúp thế gian, trước tiên, bản ngã phải chết đi một ít. Lễ lạy là một cơ hội tuyệt vời để chết đi. Nếu chúng ta chân thành, chúng ta có thể lễ lạy tới điểm biến mất.

Núi cùng nước tận ngờ hết lối, Qua liễu thấy hoa lại gặp làng (*)

 

An bình trong Đạo,

Đệ tử Quả Đình (Hằng Triều)

Cung kính cúi lạy.

                                                                    ****

Bồ Tát này lại nghĩ rằng: trong tất cả chúng sanh, tôi sẽ là thượng thủ, là thắng, là thù thắng, là diệu, là vi diệu, là thượng là vô thượng, nhẫn đến là bực y chỉ của nhứt thiết chủng trí .

Kinh Hoa Nghiêm. Phẩm thứ 26: Thập địa - Đệ tứ Diệm Huệ Địa.

 

Chú thích:

(*) Sơn cùng thuỷ tận nghi vô lộ, liễu ám hoa minh hựu nhất thôn 山窮水盡疑無路 柳暗花明又一村 Trong Thiền tông Phật Giáo dùng với ý nghĩa "khi sơn cùng thủy tận, không còn đường nào để đi thì chính chỗ chuyển thân quay mình đó sẽ khai ngộ.".

 

Về tới Vạn Phật Thánh Thánh trong một buổi sáng sương mù. Tháng 11 năm 1979.

 

Hoà Thượng xoa đảnh đầu thầy Hằng Thật lúc hai thầy về tới Vạn Phật Thánh Thành, đích đến của chuyến hành hương

Lúc về đến Vạn Phật Thánh Thành, hoàn thành chuyến hành hương, thầy Hằng Thật cùng với Hoà Thượng trên khán đài để chúc mừng ngày tụ hội.

Thầy Hằng Triều và Hằng Thật ngồi hai bên Hoà Thượng trong lễ đón mừng hoàn thành chuyến hành hương.

Hoà Thượng chăm chú lắng nghe những bài phát biểu của thầy Hằng Thật và Hằng Triều trong suốt buổi lễ mừng viên mãn chuyến hành hương ba bước một lạy.

 

Phụ lục:

 

"Press Release - American Buddhist Pilgrims"

Two American Buddhist Monks from San Francisco’s Gold Mountain Monastery are making a bowing pilgrimage from Gold Wheel Temple in Los Angeles to the City of Ten Thousand Buddhas near Ukiah.  Bhikshu Heng Sure has made the vow to bow to the ground in a full prostration every three steps along the road.  Heng Ch’au has vowed to accompany him on the journey, to protect him and to assist in the work.

Their purpose is to influence humankind to cease all hatred and hostility, to stop the creation of destructive weapons and to work to prevent disasters, wars, and suffering of all kinds.  The monks are dedicating their work to all beings everywhere.

“Our goal is to endure a bit of hard work on behalf of others,” said Heng Sure.  “Our job is to turn our own greed into balanced, moral behavior, to change our own anger and hatred into compassion for others, and into inner concentration, and to transform selfish, stupid actions into enlightened awareness and wisdom,” said Heng Ch’au.

“We hope to generate a response in the hearts of men and women and among the spiritual beings in the universe.  If our bowing is sincere, then afflictions, calamities, and suffering will gradually disappear, and hatred, hostilities, and wars will be reduced,” said Heng Sure.

The monks began their pilgrimage May 7, 1977, at Gold Wheel Temple, the Los Angeles branch of the Sino-American Buddhist Association.  They expect the journey will require a full year to complete.  Their destination is the Sino-American Buddhist Association’s new center for world Buddhism, the City of Ten Thousand Buddhas.

 

Thông cáo báo chí Chuyến hành hương Phật Giáo của người Mỹ”

Hai tu sĩ Phật Giáo người Mỹ tại Kim Sơn Tự thuộc San Fancisco đang thực hiện chuyến hành hương lễ lạy từ Kim Luân Tự ở Los Angeles đến Vạn Phật Thánh Thành gần Ukiah. Tỳ kheo Hằng Thật đã phát nguyện lạy sát đất sau mỗi ba bước trong tư thế hoàn toàn phủ phục dọc suốt theo đường đi. Thầy Hằng Triều đã phát nguyện cùng tham gia vào hành trình để bảo vệ và trợ giúp.

Mục đích của họ là gây ảnh hưởng tới toàn nhân loại nhằm chấm dứt tất cả mọi căm hận và thù địch, ngưng việc tạo ra các vũ khí hủy diệt và ngăn chặn mọi loại thảm họa, chiến tranh và đau khổ. Các vị tu sĩ này đang hồi hướng công việc của mình cho chúng sinh ở khắp mọi nơi.

“Mục đích của chúng tôi là cam chịu một chút việc khó làm vì những người khác”, thầy Hằng Thật nói. “Công việc của chúng tôi là chuyển hóa lòng tham của chúng ta thành hành vi đạo đức và hài hòa; biến sân hận và căm thù thành lòng từ bi đối với người khác, và thành sự chú tâm ở  bên trong; chuyển hóa sự ích kỷ, những hành vi ngu si thành sự tỉnh giác và  trí huệ ”, thầy Hằng Triều nói.

“Chúng tôi hi vọng tạo ra được sự hưởng ứng trong trái tim của mọi người nam, nữ và giữa tất cả các sinh linh trong vũ trụ. Nếu việc lễ lạy của chúng tôi là chân thành, thì mọi hoạn nạn, tai ương và đau khổ sẽ dần dần biến mất; căm hận, thù địch và chiến tranh sẽ giảm đi” thầy Hằng Thật nói.

Các tu sĩ đã bắt đầu chuyến hành hương vào ngày 7 tháng 5 năm 1977 tại tu viện Kim Luân  – chi nhánh tại Los Angeles của Hiệp hội Phật Giáo Trung Mỹ. Họ nghĩ rằng hành trình sẽ mất một năm để hoàn thành. Đích cuối cùng của họ là trung tâm mới cho Phật Giáo thế giới của Hiệp hội Phật Giáo Trung Mỹ – Vạn Phật Thánh Thành.
 

Các bài nói chuyện trong buổi lễ chào đón Thầy Hằng Thật và Thầy Hằng Triều lạy về đến VPTT (7/1979)

Phần ghi và dịch lại từ video buổi lễ chào đón Thầy Hằng Thật và Thầy Hằng Triều lạy về đến Vạn Phật Thánh Thành sau 2 năm 9 tháng Tam Bộ Nhất Bái từ chùa Kim Luân ở Los Angeles đến Chùa Vạn Phật tại Talmage, California.

Welcome Dharma Master Heng Sure and Dharma Master Heng Chau - 7/1979

Hòa Thượng:

Ban đầu tôi muốn ngồi ở dưới; tôi không muốn ngồi trên khán đài ngày hôm nay. Nhưng hai vị hành giả “Tam Bộ Nhất Bái” (Ba bước một lạy) này là đệ tử của tôi, vì thế tôi bất đắc dĩ phải ngồi trên khán đài này. Và có hai chỗ ngồi ở trên đây dành cho họ. Những người chuẩn bị khán đài này, tôi không biết tại sao, nhưng họ đã để đến bốn cái ghế. Và tôi không biết người thứ tư mà họ dự trù trong đầu là ai. Và tôi phải suy nghĩ kỹ xem mình nên chọn người nào để ngồi vào chiếc ghế trống này, vì nếu tôi để Quả Zhan ngồi ghế đó, thì có thể sẽ khiến cho Quả Hàng ghen tị. Và nếu Quả Dật (Guo Yi) lên ngồi ghế đó thì có thể Quả Tu sẽ “uống giấm chua” (ghen tỵ) mà nói rằng vị thầy của họ thực sự không công bằng. Bây giờ, mặc dù chúng ta biết rằng mình có ngồi trên khán đài hay không, thì thực sự cũng chẳng có gì khác biệt, nhưng con người rất kỳ lạ. Nếu quý vị tham dự một cuộc họp nào đó và ngồi không đúng vị trí của mình, một số người sẽ bắt đầu phàn nàn, vì thế, tôi đã bảo Quả Wei đem cất cái ghế thừa ấy đi và như thế sẽ không còn ai có thể ghen tị, tranh chấp hay thất vọng cả. Vì thế, tôi đã ngồi ở đây và tôi nghĩ tôi cũng nên có vài lời với quý vị.

Bây giờ, tôi nghĩ tôi nên đi thẳng vào vấn đề và nói vài điều mặc dù tôi không phải là người diễn thuyết giỏi, bởi điều ấy không thành vấn đề; nếu quý vị là những người biết lắng nghe, thì đó mới là điều đáng kể. Giờ đây, hai vị chân hành giả “tam bộ nhất bái” có thể không muốn phát biểu, cho nên tôi nghĩ tôi cần dọn đường trước cho họ, và khi đã sẵn sàng rồi thì họ sẽ không e dè nữa.

Mặc dù tôi không ra ngoài và thực hiện cuộc bái hương “ba bước một lạy”, tôi nghĩ có lẽ là trong ngôi chùa mà tôi đang ở này, tôi đã làm việc vất vả, và chịu đựng nhiều phiền não hơn họ rất nhiều. Tại sao tôi lại nói như thế? Đó là vì, hằng ngày tôi đã rất bận rộn trợ giúp để cho họ không bị vướng vào bất kỳ vấn đề rắc rối nào. Đó là những gì mà tôi đã hy vọng mình sẽ làm được, tôi không nói là tôi đã thật sự làm được, nhưng tôi quả thật đã mong muốn điều ấy xảy ra.

Quý vị cần phải biết rằng tôi nói là tôi chỉ hy vọng họ không gặp chuyện rắc rối; chứ tôi không nói rằng tôi đã giữ cho họ không gặp phải rắc rối – quý vị cần lưu ý là câu nói này đã được diễn đạt một cách cẩn thận như thế nào. Có thể nói rằng có một vài vấn đề xảy ra và người ta đã đồn quanh với nhau rằng: “Ồ, vị Pháp sư ấy nói rằng mình có thần thông, vậy thì tại sao đệ tử của ông ta lại bị vướng vào những chuyện rắc rối khi đang đi lễ lạy?”

Vấn đề không phải là tôi thực sự quan tâm về danh tiếng của mình theo cách này, mà là tôi vẫn muốn ngăn cản họ tránh khỏi những sự rủi ro như bị xe đụng hay khỏi những vụ tai nạn, có thể bị gió thổi đi hay bị dìm chết. Lúc bấy giờ thì đó sẽ là vấn đề. Đó là lý do tại sao tôi nói tôi có thể làm việc vất vả hơn họ.

Vì thế, khi họ ở ngoài đường trong suốt thời gian qua và họ đã bất chấp mưa gió hay nắng gắt . Vì thế, hôm nay không ai ở đây nên đội mũ nón cả. Nếu có ai đó đội mũ, thì đó có thể là thiếu tôn trọng đối với các vị hành giả. Vì lẽ đó, có người đưa cho tôi một cây dù để che nắng, nhưng làm sao tôi có thể làm như vậy được chứ? Sẽ ra thể thống gì khi không ai có cây dù nào cả, và tôi, một người thật yếu đuối lại ngồi đây với một cây dù, hay tôi cố gắng hành xử kiểu như là vị hoàng đế. Vì vậy, tôi muốn giống như tất cả mọi người, và nếu như trời nắng quá gay gắt thì quý vị cứ tự nhiên đội mũ lên vì tôi có một chút tóc ở trên này rồi, không thành vấn đề đâu, nhưng với ai mà mới cạo tóc thì mặt trời có thể làm phồng rộp da đầu của quý vị đó.

Cho nên, quý vịkhông nên nghe theo những gì tôi nói vì mọi điều tôi nói là nửa thật và nửa giả; nó không hoàn toàn đúng và cũng không hoàn toàn sai. Nếu phần sai mà có ý nghĩa với quý vị thì hãy tin vào đó, và nếu quý vị nghĩ phần đúng có ý nghĩa với mình, thì hãy tin vào đó; tùy vào quí vị; quý vị chọn lựa điều gì phù hợp với mình. Tôi không thể nói điều này quá rõ ràng được, vì nếu tôi nói toàn bộ với quý vị thì quý vị sẽ không thể đưa ra quyết định của mình được, không dùng trạch Pháp nhãn của quí vị. Và nếu quý vị khăng khăng đòi tôi nói mọi thứ cho quý vị thì điều này không được đúng lắm.

Vì vậy, tôi chỉ nói với quý vị rằng đó là nửa thật và nửa giả. Bây giờ thì quý vị đã hiểu chưa? Nếu quý vị chọn phần sai và tin vào nó, thì quý vị sẽ bị tôi lừa. Còn nếu quý vị chọn phần đúng và rồi y Pháp tu hành, thì quý vị sẽ gặt hái thành tựu.

Có lẽ những điều đã xảy ra là những vị hành giả này đã lắng nghe lời giáo huấn nửa này nửa nọ của tôi và họ đã tìm cách chọn ra cái phân nửa đúng, tu hành theo hướng đó và họ để yên phần sai không đụng tới. Chỉ vậy, chỉ có vậy thôi.

 

Thầy Hằng Triều:

Sư phụ vừa hỏi tôi trong khi chúng tôi bước lên (khán đài) rằng, là tôi chết chưa, và tôi xin giải thích điều này để không ai có một ấn tượng sai lầm rằng Sư phụ có thể đã mong muốn điều xấu cho bản thân tôi. Cái chết mà Sư phụ vừa nói đây là cái chết của bản ngã, cái chết của tham muốn, chứ không phải cái chết của sự vĩnh cửu, (Ngay lúc đó, một luồng gió thổi đến làm rơi vỡ bình hoa nhỏ phía đằng trước thầy), chứ không phải là cái chết của hành giả.

Tôi nên thực sự cẩn thận bởi vì mọi thứ đều đang thuyết Pháp, gió thuyết Pháp, và khi tôi mở miệng và không nói lời thực sự chân thật thì sau đó quả báo đến, và ở ngay đây thảm họa bắt đầu và vì thế có thể cái bình này đang nói Pháp rằng, “Hằng Triều, đây là lời cảnh báo, mọi lời thầy nói cần phải rất chân thật và đúng đắn, và không một mảy may kiêu ngạo và sai trái bởi vì nếu làm như vậy thì chắc chắn rằng điều xấu sẽ xảy đến, không chỉ với riêng mình thầy, mà còn với tất cả chúng sinh, bởi vì thầy là người xuất gia. Và vì thầy là người xuất gia cho nên mọi điều thầy làm phải vì mọi người và không chỉ riêng cho mình thầy. Vì lẽ đó, ngọn gió đã cho tôi lời cảnh báo rằng cần phải rất cẩn thận, vì vậy tôi nên lắng nghe. Và đó là những gì tôi thực sự muốn nói đến, đó là ví dụ về Phật Pháp mà chúng tôi đã học được trong suốt hơn hai năm rưỡi lễ lạy - để trở nên thực sự chân thật, thật sự thành thật và thực sự ngay thẳng trong mọi việc mình làm.

Một người bạn mới tiến đến và hỏi rằng, “Tại sao các thầy lạy?” Và tôi trả lời, “Chúng tôi lạy để cố gắng xóa bỏ mọi thảm họa, thiên tai và khổ đau trên thế giới”. Và người ấy nói, “Vậy à, ý thầy là gì? Ý thầy là những thảm họa nhân tạo giống như gia đình đổ vỡ và những đứa trẻ bất hiếu, những tai nạn xe cộ, hay ý thầy là những thảm họa thiên nhiên, như là động đất, lốc xoáy, lũ lụt và nạn đói?” Và tôi trả lời rằng, “Ý tôi là cả hai, bởi vì cả hai đều như nhau. Cả hai đều có cùng một nguồn gốc”. Rồi người ấy nói, “Tôi không hiểu”. Khi thầy Hằng Thật và tôi bắt đầu chuyến hành hương này, chúng tôi cũng chẳng hiểu. Chúng tôi lớn lên trong xã hội phương Tây này, được giáo dục theo những lề lối khoa học tốt nhất và vì thế một cách khá tự nhiên rằng chúng tôi không thực sự tin vào điều gì cả, chỉ tin vào cái bản ngã và bản thân mình thôi. Chúng tôi đã không tin những điều như trong kinh Hoa Nghiêm dạy rằng, “Tất cả quả báo đều sinh ra bởi nghiệp tội”. Nghĩa là mọi thứ xảy đến với bạn đến từ những gì bạn làm. Vì thế, chúng tôi quyết định rằng, đó là vấn đề sinh tử với chúng tôi, và phải thực sự cẩn thận với những gì chúng tôi làm khi thực hiện Tam Bộ Nhất Bái, và thực hiện một thử nghiệm khoa học nhỏ và vì thế chúng tôi có chút gì đó để chia sẻ với những ai không tin vào điều này, vì nếu quý vị không tin vào điều này (quả báo), thì không có cách gì để chấm dứt khổ đau. Không ai cứu quý vị cả trừ chính quý vị, không ai có thể và không ai sẽ cứu quý vị cả. Chính bản thân quý vị phải tự đi trên con đường; chư Phật chỉ chỉ ra con đường cho chúng ta mà thôi.

Cho nên, Sư Phụ nói rằng ngài nói nửa đúng, nửa sai. Nếu quý vị không biết theo cái nào, thì quý vị sẽ lâm vào tình huống rất xấu đó. Nếu quý vị biết theo cái nào, thì mỗi ngày là hạnh phúc và nơi nơi đều an bình. Vì thế, hôm nay tôi muốn chia sẻ chỉ một chút kinh nghiệm chúng tôi đã đi Tam Bộ Nhất Bái, và những gì chúng tôi học được. Tôi thực sự cầu xin lòng Từ Bi của Hoa Nghiêm Chúng Hội của chư Phật và chư Bồ Tát giúp tôi bảo đảm những lời nói của mình là thật và không chút kiêu mạn hay sai dối nào để vì lợi ích cho toàn thể chúng sinh.

Hai bài học nổi bật trong toàn bộ chuyến hành hương đều nằm trong Kinh Hoa Nghiêm . Một là “Nhất thiết duy tâm tạo”, và thứ hai là “Mọi thứ xảy ra với bạn đến từ những gì bạn làm”.

Ngày đầu tiên chúng tôi xuất phát từ Los Angeles, chúng tôi đã nhận thấy được điều này. Ngay lập tức, chúng tôi gặp những người và những chúng sanh với phong cách thật lạ lùng đến để thử nghiệm lời nguyện của chúng tôi; họ đến thử nghiệm lời nguyện tịnh khẩu của thầy Hằng Thật, cố gắng để coi họ có thể làm thầy ấy nói không; họ thử nghiệm lời nguyện không nóng giận của chúng tôi bằng cách thực sự đẩy chúng tôi tới đường cùng với những tình huống thử thách, và trong tất cả những điều này, chúng tôi đã được chỉ dẫn ngay lúc ban đầu rằng: Cho dù có bất kỳ điều gì xảy ra thì chúng tôi không được tranh, không giận dữ và tất cả những gì chúng tôi có thể dùng là lòng Từ, Bi, Hỉ, Xả để đối đãi với mọi hoàn cảnh. Điều này thật sự khó khăn cho tôi bởi vì tôi thường quen tranh, không quá nhiều với nắm tay, nhưng với lời nói và tư tưởng, và thường lấn hiếp kẻ khác, và đó chỉ là một hình thức tranh khác; nó không hiệu nghiệm. Chúng tôi nhận thấy rằng khi chúng tôi giữ giới luật, điều này thực sự quan trọng. Ngũ Giới là nền tảng của tất cả mọi thứ; nếu quý vị giữ gìn Ngũ Giới thì chắc chắn rằng không chỉ không bị tái sinh vào những cõi giới thấp hơn như địa ngục, ngạ quỷ hay súc sinh, mà chắc chắn quý vị sẽ luôn được tái sinh ít nhất là làm người. Điều này thực sự rất quan trọng!

Và nếu quý vị giữ lời nguyện của mình, quý vị có thể lập những lời nguyện và giữ chúng, rồi dù quý vị có ở đâu thì cũng sẽ an ổn thôi. Chúng tôi đã nhận ra điều này khi chúng tôi bắt đầu lạy và tôi đang nghĩ đến căn cứ không quân Vandenberg. Vào lúc này, có những trận bão kinh khủng ập tới, tôi đoán quý vị gọi chúng là những cơn bão nhiệt đới, có những cơn gió thổi mạnh hơn 100 dặm một giờ khắp mọi nơi, và lụt lội rất nặng nề; những chiếc xe tải kéo và xe chở hàng bị gió thổi dạt ra khỏi đường; toàn bộ thị trấn nhỏ hoàn toàn bị san bằng bởi những trận gió này. Vào lúc ấy, chúng tôi thực sự chẳng làm điều gì quá tệ cả, cho nên chúng tôi giữ giới luật khá và giữ chặt lời nguyện của mình, và vì một vài lý do nào đó mà chúng tôi đi qua rất an ổn, chúng tôi không hề bị gió hay mưa tấp vào mình. Cho dù chúng tôi có đi đến đâu, ai đó đã theo dõi và quan tâm tới chúng tôi rất từ bi, và chúng tôi đã an ổn cả. Thực tế nhiều ngày trôi qua, khi trời đổ mưa tầm tã, nhưng chúng tôi không hề bị mưa và ngay khi chúng tôi bắt đầu có vọng tưởng như, “Lạ thật, mưa không rơi lên chúng ta”, thì chúng tôi bị ướt sũng. Có những lần khi chúng tôi thực sự cảm thấy một sự hiện diện, tôi không biết phải nói ra sao nữa, những thần linh bảo vệ, không chỉ của thầy của chúng tôi mà còn là của những vị thần linh đang ở chung quanh chúng tôi, bảo vệ cho chúng tôi. Điều này xảy ra khi chúng tôi bắt đầu ở Los Angeles. Một lần, thầy Hằng Thật đã nhìn thấy đức Quán Thế Âm Bồ Tát ngay trước khi vụ tai nạn xảy ra và kết quả là chẳng có tai nạn nào xảy ra cả.

(phút thứ 21:54, ghi âm bị đứt khoãng một chút)…con gái của ông ta bỏ đi theo một người đàn ông. Cô bé lúc ấy mới 15 tuổi và ông ta rất lo lắng rằng ông đã thực sự ngược đãi con gái mình về thể chất lẫn tinh thần. Ông ta và vợ đang dự tính ly thân. Sau khi đọc về Giới Luật, ông ấy thực hành và khoảng bẩy hay tám tháng sau đó, họ đã dừng lại trên đường đi nghỉ hè và trông họ rất tốt đẹp. Họ ở cùng với nhau, hạnh phúc và con gái lớn, con gái nhỏ cũng đã quay trở lại nhà sống cùng với họ, trông bọn trẻ thực sự rất vui vẻ và hạnh phúc, góp phần cho sự rạng rỡ vui mừng đó.

Đọc Giới Luật, tuân thủ giới luật dường như rất lỗi thời, nhưng điều này lại làm nên một sự khác biệt lớn trong đời tôi. Nhờ đó mà chúng tôi nhận thấy rằng tất cả mọi vấn đề của mình đến từ sự ích kỷ và mọi thảm họa đều xuất phát từ Tham, Sân, Si. Chúng tôi cũng nhận ra điều này theo những cách thức lớn hơn và tôi muốn nói về những thứ này bởi vì chúng thường không được nói tới. Thầy Hằng Thật và tôi đã thực sự rất hoài nghi về những điều này, nhưng giờ thì tôi rất tin tưởng. Ví dụ, thực tế là đã không có trận động đất nào xảy ra ở San Francisco. Tại sao nó lại như vậy? Và San Francisco ở ngay trên đường nứt San Andreas và đáng lẽ phải có động đất, nó phải bị chìm xuống đại dương lâu lắm rồi. Và rất rõ ràng là do nguyện lực, hay giới luật hay đức hạnh của Sư phụ chúng ta. Tôi không nói điều này để đề cao ai đó bởi vì chúng tôi đã được dạy là không được đề cao; Tôi đề cao quyền năng của Phật Pháp và năng lực của Giới luật thanh tịnh, cảm ứng đạo giao và tâm tưởng đến; nếu chúng thực sự thuần khiết, thì những điều kỳ diệu sẽ xảy ra. Thành phố San Francisco chưa có bất kỳ trận động đất nào, Hồng Kông bên kia cũng chẳng bị trận bão nhiệt đới nào đều vì cùng một lý do – vì tu hành, bởi vì sức mạnh của giới luật thanh tịnh.

Khi ở Los Angeles, chúng tôi đi xe xuống Los Angeles và chúng tôi đến Los Angeles một cách rất khó khăn, những trận bão lớn đến nỗi những con đường đều ngập nước, và lúc đó chúng tôi ở trong một chiếc xe Volkswagen. Chúng tôi đã trôi trên vài vũng nước trên xa lộ, bánh xe thậm chí không chạm mặt đất dù rất nặng. Chúng tôi tới Los Angeles và có buổi lễ Dược Sư Sám đang diễn tiến và mọi người ở vùng Los Angeles đến chùa Kim Luân tham dự lễ Dược Sư Sám để diệt trừ mọi nhân duyên của thảm họa, bệnh tật, khổ đau và thiên tai. Lúc ấy thật là lạ vì vị thị trưởng của Los Angeles đã tuyên bố tình trạng khẩn cấp. Trên thực tế, rất nhiều gia đình bị phá hủy hoàn toàn, mọi thứ đều xấu tệ và còn có nhiều trận bão đang ập tới, nhưng tu viện Kim Luân và vùng xung quanh không có chuyện gì xảy ra và có rất nhiều vị đệ tử khi quay trở về đã báo rằng vào lúc ấy, những cây cổ thụ khổng lồ bên nhà hàng xóm đã đổ xập xuống và phá hủy nhà của những người hàng xóm đó ngay sát kế bên trong khi nhà của mấy vị đệ tử đó không có chuyện gì xảy ra cả. Và tôi nhớ lúc này (có người tên là Kean hay Dean gì đó?) Nói rằng điều này là bởi ở lòng thành của họ đã tham dự khóa lễ Dược Sư Sám vào cuối tuần đó. Chính chúng tôi đã chứng kiến, thật khó tin, không chỉ có vậy mà trong suốt khóa lễ một con sóng thủy triều khổng lồ từ đại dương tiến vào và khi gần tới thành phố LA thì đột nhiên nó bị xua tan đi mất.

Với mỗi ý nghĩ, hành vi, lời nói mà thầy Hằng Thật và tôi đã nói hoặc đã làm hoặc đã nghĩ đến có dấu vết lòng tham về thức ăn, tiếng tăm, tiền tài, sắc dục, hay những gì mà chúng tôi tìm kiếm, đều mang đến rắc rối cho chúng tôi, mang đến thảm họa cho chúng tôi. Bất kỳ lúc nào chúng tôi giữ gìn năm giới luật không giết hại, không trộm cắp, không tà dâm, không vọng ngữ, không dùng chất kích thích hay chất say, thậm chí không nghĩ đến những điều này, chúng tôi sẽ luôn được an ổn và thực sự có những cảm ứng rất kỳ diệu đối với những điều này (phần âm thanh bị mất tiềng đoạn này).

Vì thế, điểm cốt yếu của toàn bộ chuyến hành hương này là chúng tôi đã học được rất nhiều. Giờ thì tất cả những gì dường như là đắng cay hay khổ đau trong tu hành, không có gì là không phải niềm hạnh phúc. Có câu rằng, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, cõi giới của vua Diêm La, tất cả thù hận, căm ghét, xung đột, những lời vu khống lăng mạ, tất cả những thứ ma quỉ này được sinh ra bởi lòng tham và sự bám chấp vào ngũ dục. Vì thế đây là những gì mà Sư phụ đã dạy khi Ngài hỏi rằng, “Con đã chết chưa?”. Bởi nếu tôi còn ngượng ngùng để quay trở lại lạy đại chúng này và rồi ngồi trên đây, nếu tôi còn chút gì xấu hổ trên mặt thì vị hoàng đế vẫn chưa chết, và vì thế ham muốn cũng chưa chết và bởi ham muốn vẫn chưa chết nên thảm họa vẫn tiếp diễn. Bởi vậy mà thầy Hằng Thật và tôi thực sự cảm thấy rằng nếu chúng tôi từ bỏ được những dục vọng của bản thân đi một chút, thì toàn thể thế giới cũng sẽ tốt hơn lên một chút, và rồi nếu chúng tôi cố nắm chặt lấy ham muốn nhỏ bé của bản thân và nghĩ ồ, nó chỉ là một chút ham muốn nhỏ nhoi và nó là của tôi, thì thế giới cũng sẽ bị nhiễm ô bởi chút ham muốn nhỏ bé ấy. Và vì thế, có câu rằng chư Bồ Tát xem xét tất cả những thứ này và hiểu rằng, “Lạ thật, chúng ta đều có tương quan, không ai là tách biệt cả, mọi việc chúng ta làm đều có ảnh hưởng lẫn nhau”. Ngài quan sát, nhận biết và giảm bớt đi lòng ham muốn về mùi vị của ngũ dục. Kết quả là chúng tôi đã thực sự cố gắng từ bỏ lòng tham đối với thức ăn. Giờ chúng tôi ăn uống khác rất nhiều so với lúc chúng tôi bắt đầu (hành trình); lúc khởi đầu, chúng tôi đã ăn rất nhiều đồ ngọt và thức ăn rất ngon, rồi chúng tôi nhận ra rằng điều này đã mang lại rất nhiều rắc rối.

Tôi đã rất cố gắng để kiểm soát và giảm bớt lòng dâm dục bởi vì hơn tất cả mọi thứ, đây là cốt yếu của mọi ham muốn. Bởi lòng ham muốn người khác, bởi tôi không thể nhìn thấu suốt bản thân, bởi tôi không rõ ràng về chính mình, tôi không rõ ràng về người khác, và bởi vì như vậy mà trong chuyến hành trình này, tôi đã gần chết bởi lòng tham dục của mình. Trên thực tế, nó là (không nghe được) trong một chuyến du hành Châu Á, quả tham dục của tôi đã chín muồi và tôi đã gần chết, và nếu không phải nhờ lòng Từ Bi của Sư phụ thì có lẽ ngay lúc này tôi đã có thể bị phân rã theo tứ đại rồi và ai mà biết được linh hồn tôi ở đâu - chắc chắn là trong thế giới của vua Diêm La rồi. Vì thế, điều đó dạy tôi một bài học rằng, điều gì ngọt ngào thì đó thực sự là trái đắng và điều gì tưởng chừng cay đắng thì lại thực sự đem lại cho ta một tâm ý ngọt ngào. Cho nên, nó đã trở nên dễ dàng hơn chút ít bởi vì khi nào tôi ham muốn phụ nữ thì tôi nhận thấy điều này rất rõ ràng rằng đó không phải là phụ nữ mà là sự ích kỷ của chính mình mà tôi đã không xoay chuyển được. Vậy nên có câu rằng, một khi quý vị ngưng tìm kiếm, thì sẽ không còn lo lắng, và rồi quý vị có thể đạt tới niềm hạnh phúc chân thật tối thượng.

Vì vậy, tôi muốn nói rằng chúng tôi cố gắng hết sức để chết và chúng tôi có thể chỉ bị bệnh nhẹ. Tiếp tục lạy và tôi mong rằng những gì chúng tôi học được là có giá trị cho tất cả nhân loại và những gì chúng tôi làm …(phút thứ 30:00 đến 30:25 của bài nói chuyện bị sót, không nghe được do bị nhiễu bởi tiếng máy bay đang bay qua)…Tôi mong rằng chúng ta sẽ đều sớm chết. Tôi mong rằng chúng ta sẽ cùng chết và cùng tái sinh, hết lần này đến lần khác cùng nhau tu Đạo và cùng giúp nhau đạt Đạo. Cuối ngày lễ lạy, chúng tôi đều hồi hướng đến Vạn Phật Thánh Thành ở đây, đến toàn thể chúng sinh, để chấm dứt thảm họa và thiên tai, và để tất cả chúng ta có thể cùng thành tựu được Phật quả, tôi thực sự mong muốn rằng điều này có thể được như vậy.

Hôm nay tôi đội mũ vì tôi cạo đầu và bị một vết bỏng rôp. Tôi nên dừng tại đây…

(Vỗ tay)

(Thầy Hằng Thật lạy Hòa Thượng Tuyên Hóa và lạy thính chúng)

Hòa Thượng:

Quý vị, trong trường hợp quý vị không biết, thầy Hằng Triều đã không nói trong một thời gian dài. Ngày hôm nay, thầy ấy có cơ hội nói chuyện và hôm nay thầy ấy đã lâm vào một cuộc nói chuyện điên rồ và nói suốt 100 giờ.

Thầy ấy chẳng để ý xem mọi người ngồi ở đây đang bị đổ mồ hôi dưới ánh nắng mặt trời (không nghe thấy). Bản thân tôi không thể chịu được. Tôi thực sự…thực sự muốn bỏ đi khỏi chỗ này nhưng tôi có thể làm được gì?

Tôi sẽ không nói gì thêm nữa…(không nghe được)

 

Thầy Hằng Thật:

 
…(không nghe được)

...đấu tranh với những người bên ngoài, đấu tranh với thầy Hằng Triều, là đấu tranh với chính tôi ở trong tâm mình…(không nghe được)…Và ngay lúc đó, một chai bia bay đến và làm vỡ tan cửa kính bên hông xe, ngay bên cạnh bức tranh của đức Quán Thế Âm Bồ Tát, vị Bồ Tát của lòng Đại Bi. Và tôi đã học được rằng, sân hận gây ra chiến tranh, đó là mối quan hệ trực tiếp. Vì thế, chúng tôi đã học được rằng nguồn gốc của chiến tranh nằm trong chính tâm chúng ta, và theo cách này, bằng cách kiểm soát sự sân hận của chính mình, chỉ cần không để cho sự sân hận trong mình tăng trưởng, cũng không làm tăng trưởng lòng sân hận ra bên ngoài với bất kỳ chúng sanh nào, dù ở đâu, chúng ta cũng không được gây trở ngại cho chính mình và không được gây rắc rối cho người khác…Điều thứ ba mà hàng ngày chúng tôi hồi hướng là Vạn Phật Thánh Thành có thể nhanh chóng và dễ dàng thành tựu vì lợi ích của toàn thể chúng sanh trên thế giới. Chúng tôi thực sự tin tưởng, chúng tôi có một niềm tin bất hoại rằng, đây là cội nguồn của rất nhiều thiện lành trên thế giới và khi tôi cúi lạy tất cả mọi người trong đại chúng (không nghe rõ). Tôi đang lạy mười ngàn chư Phật, tôi đang lạy tới mười ngàn chư Phật trong tâm của quý vị và tôi đang lạy mười ngàn vị Phật trong tâm tôi, và tôi đang lạy mười ngàn vị Phật trong hư không khắp cả. Đó là những gì mà chuyến Tam Bộ Nhất Bái này đối với tôi. Và đây chính là cội nguồn của niềm tin bất hoại đối với Chư Phật, Phật Pháp, tăng đoàn và tất cả Phật Pháp trong trắng thuần khiết có thể hồi hướng được, và chư Bồ Tát, Pháp sư, những giáo pháp Phật giáo, giống như nhân và quả, như bố thí là sự thực hành của niềm hạnh phúc. Chúng tôi học được rằng bố thí là sự thực hành của lòng từ bi. Tôi nguyện tới tất cả năm niềm tin bất hoại, và các vị Bồ Tát Pháp sư, niềm tin bất hoại vào các thần thông của Đạo Phật, niềm tin bất hoại ở nơi những thiện xảo phương tiện của chư Đại Bồ Tát, những người có thể dẫn dắt chúng sinh vô minh như kẻ này, cho dù những chúng sinh ấy có tham lam, thù hận, có nhiều lỗi lầm thế nào, thì các Ngài đều có cách khiến chúng ta quay hướng về điều thiện và đó là niềm tin bất hoại của tôi.

(Vỗ tay)

 

Hòa Thượng:

Thầy Hằng Triều nói rằng, vị hoàng đế vẫn ngự trị bên trong thầy ấy, vì thế nên mọi người nên nhìn thầy ấy rõ ràng và xem thử coi thầy ấy có phải là một vị hoàng đế không? Liệu thầy ấy trông có giống như một vị hoàng đế không? Thầy ấy có cái mũi của vị hoàng đế, hay đôi mắt, hay đôi tai của vị hoàng đế? Hay là cái miệng? Thật sự thì thầy ấy là gì? Hay cái gì…

Tại sao tôi lại nói điều này? Bởi vì bây giờ thầy ấy đang nghĩ ra rằng thầy ấy ngồi đằng sau cái bục giảng này để nói chuyện còn thầy Hằng Thật thì vẫn còn ở dưới đất, vì thế nên thầy ấy có lẽ đã nghĩ rằng vị hoàng đế …(không nghe được)…

 

Thầy Hằng Triều:

… Vì vậy, tôi ở Vạn Phật Thánh Thành, có thể có người suy nghĩ rằng ít nhất là giờ đây họ đã có thể đã giác ngộ rồi và họ có vài loại thần thông nào đó. Những gì tôi có thể nói là tôi thực sự cảm thấy xấu hổ vì tôi tạo nên ấn tượng này và nó không phải như vậy. Hằng ngày tôi vọng tưởng, hằng ngày tôi có chấp trước, hằng ngày tôi làm những điều xấu, hằng ngày tôi có những suy nghĩ xấu với thầy Hằng Thật. Hàng ngày tôi cảm giác rằng Sư phụ đã đánh lừa tôi vào việc tu đạo. Tôi ngày nào cũng vọng tưởng rằng, có thể tôi vẫn có thể làm một vị cư sĩ và làm như thế này. (Ngay lúc đó, Hòa thượng cười lớn, nhìn về phía thầy Hằng Triều mà nói: Đúng thế, đúng thế…)

Rồi tôi lại nghĩ: không, mình không thể là cư sĩ và làm thế này bởi vì điều này sẽ khiến mình phát bệnh. Mình không thể quay trở lại, quay trở lại sẽ làm tôi bệnh, tất cả những gì mình có thể làm là người xuất gia, mình bị lừa. Tôi nghĩ về tất cả những điều này như vậy.

Vậy thì điều cao quý và thuần khiết trong công việc này ở chỗ nào? Tôi cảm thấy xấu hổ, giờ đây tôi kể những chuyện này và quý vị không biết cái gì đang thực sự diễn ra. Người đàn ông đứng dậy và nói chuyện và nói đúng thế, giống như hạt giống, rất đơn giản trên bề mặt nhưng phía dưới lại vô cùng phức tạp.