Thư Chân Hành Giả

(Những lá thư hai Thầy Hằng Thật và Hằng Triều viết cho Hòa Thượng Tuyên Hóa trong thời gian đi "Ba Bước Một Lạy" hơn 700 dặm trong 2 năm 6 tháng từ chùa Kim Luân ở Los Angeles đến Chùa Vạn Phật tại Talmage, California)

(Nguyên Tác: Highway Dharma Letters published by the Buddhist Text Translation Society, Dharma Realm Buddhist University, City of Ten Thousand Buddhas, Talmage, California - 2014)

 

tbnb_a.jpg (106582 bytes)

  Hình ảnh

Nhất Tâm Đảnh Lễ

 

Full-sized slideshow

Three Step One Bow Song

Welcome Dharma Master Heng Sure and Dharma Master Heng Chau - 11/1979

Các bài nói chuyện trong buổi lễ chào đón Thầy Hằng Thật và Thầy Hằng Triều về đến VPTT (11/1979)

 

 


Mục lục:

Lời tựa  của Giáo Sư Huston Smith

Lời Nói Đầu

Hòa Thượng Tuyên Hóa: Sơ Lược Chân Dung

Hằng Triều, Vị Hộ Pháp

Những kẻ xấu ở khu phố Lincoln Heights

Các người nghĩ các người đang ở đâu, ở Thánh địa Mecca chăng ?  

Những kẻ theo phái Moonies ở Beverly Hills  

Quán niệm của Hành giả

Quá nhiều sân hận trên thế giới

    - Phạm quy củ, làm bể kiếng

"Chúng tôi đang cố gắng hết sức để về tới nhà!"

Nói thì dễ mà làm thì khó 

         - Vọng Tưởng Gây Ðau Ðớn

Có vẻ "ngu đần" trong chiếc áo tràng đời nhà Ðường

    - Một bài thực tập khác về hạnh "quên mình vì người"

Hai "tu sĩ" hành hung một thiếu niên

Suýt chết trên Xa Lộ số 1

Sai một ly, đi sai ngàn dặm 

Phạm giới khởi nguyên từ vọng tưởng

A Di Ðà Phật! 

Ðạo Phật Ở Nước Mỹ

Có phải là cái đó không? Chỉ chừng ấy thôi sao?

Bảy dặm của đoạn đường nguy hiểm nhất

Làm thế nào ông có thể đi sai được?

Tôi có thể nghiền ngẫm một câu kệ trong nhiều tuần

Nhưng không có gì để bám vào

Những sinh vật ngoài không gian đang đến 

Tháo băng vết thương cũ

Tu Sĩ và những người khiêu khích

Đừng khóc, hãy chết đi!

Tìm Cái Giả Trong Cái Thật

Nhân Duyên với Phật Tỳ Lô Xá Na

Đau đến cực điểm 

Nghĩ thế nào thì nhn thế nấy!

San Francisco !

Chân lý phải là điều đơn giản 

Đừng dính mắc mầm bệnh
Kinh “Tự ngã”

Chỉ nhìn xem nó phát triển như thế nào!

Các con chỉ là những đứa trẻ, đương nhiên là không tin rồi!

Đừng nghĩ!

Phụng sự Phật pháp

Từ bi là vô thượng

Bồ Đề đạo tràng nơi hoang dã
Nhất Thiết Duy Tâm Tạo

Bồ Tát Đạo là nhà

“Vật bay” xâm nhập Trái đất

Vở Kịch Lớn

Tất cả đều là thử thách

Một người phụ nữ già dành cả cuộc đời trong bóng đêm

Tư tánh của con chứa hết thảy các pháp

Đến một ngày, bạn sẽ biết Thiền là cao nhất

Tôi đã tu tập Tham Sân Si

Ngũ Vị Làm Tê Lưỡi

Thế Giới Hiện Đại Đã Huấn Luyện Người Ta Tranh Giành

Xììì..." Như Tiếng Bánh Xe Bị Xẹp

Lão Khờ

Pháp Hội !

Một Người Phải Trải Qua Rất Nhiều Thay Đổi

Họ Đang Làm Gì Đó và Chẳng Làm Gì Cả!

Không Giết Hại

Làm Sao Có Thể Cắt Cỏ Hết Được?

Ẩn Mình Trong Phòng Kín, Quan Sát và Chờ Đợi

Tôi Cá Rằng Không Trở Thành Người Xuất Gia Là Điều Khó

Những Kẻ Nói Thị Phi Sẽ Đoạ Địa Ngục

Sắc Đẹp và Sức Khoẻ Sẽ Tàn Phai

Là Thầy Tu hay Là Con Chồn Hôi

Không Có Chỗ Nào Để Chạy Trốn Hay Ẩn Nấp

Căn Bản Thì Ngay Cả Một Vị Phật Cũng Chẳng Có

Tại Sao Tôi Lại Bị Ném Bong Bóng Nước?

Tuân Thủ Giới Luật

Những Gì Chúng Con Cho Đi Chính Là Bản Thân Mình

Trong Tu Hành, Mọi Việc Là Tự Nguyện

Cách Nhà 13 Dặm

Con Có Thể Đi Trên Con Đường Của Thiên Đường

Lễ Lạy Là Để Từ Bỏ Tánh Ích Kỷ

 

Tái bút của Quả Chân (tháng 3, 2011)

 

Tái bút của Quả Đình (tháng 3, 2011)

 

Phụ lục:

Thông cáo báo chí – Chuyến hành hương Phật Giáo của người Mỹ”

Các bài nói chuyện trong buổi lễ chào đón Thầy Hằng Thật và Thầy Hằng Triều về đến VPTT (11/1979)

 

 


 

Chuẩn bi cho chuyến hành hương tại Kim Sơn Thánh Tự, tháng 4, 1977

 

Hòa Thượng Tuyên Hóa cho những lời huấn thị cuối trước khi lên đường. Kim Sơn Thánh Tự tháng 5, 1977

Hai hành giả hành hương bái lạy cùng Hòa Thượng Tuyên Hóa trước bàn thờ tại Kim Sơn Thánh Tự, San Francisco, vao ngày khởi hành, tháng 5, 1977 (Ngày hôm đó họ đi máy bay từ San Francisco đến Los Angeles để bắt đầu chuyến hành hương).

 

Cái lạy đầu tiên ngoài đường tại Los Angeles, bắt đầu chuyến hành hương với sự trì tụng Chú Đại Bi để tiễn đưa lên đường của các thành viên của Kim Luân Thánh Tự, tháng 5, 1977

 

Thông cáo Báo Chí để đưa cho những người hỏi về chuyến hành hương - một phần trong cố gằng giảm thiểu việc nói chuyện

 


Lời tựa  của Giáo Sư Huston Smith (1):


Tôi đã viết lời tựa cho hơn 45 cuốn sách, nhưng tôi có thể nói không chút ngại ngần rằng tôi chưa bao giờ thấy vinh hạnh và nhún nhường như khi tôi được mời để viết lời tựa cho cuốn sách này. Đây là một cuốn sách bị sót quên nhất của thế kỷ 20 - tôi hoàn toàn tự tin và thẳng thắn khi nói như vậy
.

Suy nghĩ về điều này cho thấy là hợp lý, sự khiêm nhường đòi hỏi rằng tâm linh đích thực và quan hệ với công chúng tương phản với nhau ("Khi bạn cầu nguyện, hãy vào trong tủ nhỏ"). Khiêm tốn biểu lộ trong việc chữ "Tin tức" (2) trong tựa đề là do hình thức những thư hàng ngày viết cho Hòa Thượng Tuyên Hóa, do hai đệ tử của Ngài đã thực hiện cuộc hành trình 800 dặm từ Chùa Kim Luân ở Nam Pasadena đến Vạn Phật Thánh Thành gần Ukiah. Họ đã đi hết đoạn dường này theo phương cách sám hối truyền thống:

Ba bước Một lạy. Một người phát nguyện hoàn toàn im lặng trong suốt thời gian của cuộc hành hương và thêm ba năm nữa; còn người kia thì phụ trách các vấn đề thực tế khác, đảm trách tất cả các việc nói chuyện, lái xe, nấu ăn, và đối phó với những người khách thù địch thỉnh thoảng xảy ra, trong khi vẫn tìm thời gian để lễ lạy.

Nói rằng đây là quyển sách của thế kỷ 20 bị sót quên nhất, tôi chỉ muốn thêm rằng tôi tìm thấy đây là một trong những quyển sách gây cảm hứng nhất. Qua những lá thư này có thể nhìn vào (và tham gia dù chỉ là thể nghiệm gián tiếp) cuộc sống hàng ngày và các giao tiếp của hai Chân Hành Giả làm cho việc đọc sách này giúp thăng hoa tinh thần gần như tôi đọc Kinh Thánh. Vì vậy, đối với hai Chân Hành Giả này, tôi chắp tay cung kính lễ.

- Huston Smith, May, 2009

 

Ghi chú:

(1) Giáo sư Huston Cummings Smith (sanh ngày 31 tháng 5, 1919 - mất ngày 30 tháng 12 năm 2016, thọ 97 tuổi) là một học giả nghiên cứu tôn giáo nổi tiếng tại Hoa Kỳ. Cuốn sách Những Tôn giáo Thế giới (World's Religions) của ông (ban đầu sách có tựa đề The Religions of Man - Các Tôn Giáo của Nhân Loại) đã bán được hơn ba triệu quyển và vẫn là một sách giới thiệu nổi tiếng về tôn giáo đối chiếu. https://en.wikipedia.org/wiki/Huston_Smith

(2) Tựa đề ban đầu của sách là News from True Cultivators - Tin Tức Chân Hành Giả (bản dịch Hoa ngữ: 修行者的消息 - Tu Hành Giả Đích Tiêu Tức).

 

 

Lời nói đầu

Ba bước, một lạy - ba bước dọc theo cạnh xa lộ, rồi lạy một lạy xuống đất; đầu gối, cùi chỏ, bàn tay, trán đều chạm đất, rồi đứng lên, chắp tay, bước thêm ba bước, rồi lại lạy thêm một lạy. Hết giờ này sang giờ khác, ngày này sang ngày khác, trong hai năm rưỡi, họ hành hương lễ lạy theo cách đó. Tại Trung Hoa, những Phật tử thành tâm có những lúc thực hành công việc khó khăn có tính cách cầu nguyện là ba bước một lạy trong vài trăm thước cuối cùng trước khi đến một nơi thánh địa. Nhưng đây là California, và hai tăng sĩ hành hương này là người Mỹ trẻ tuổi. Mặc áo tràng và giới y, không mang tiền bạc, không trang bị gì ngoài kỷ luật và lòng thành kính, họ đã đi bộ và lạy 800 dặm (1) dọc theo vệ đường nhỏ hẹp của Xa Lộ Ven Biển Thái Bình Dương. Mỗi ngày tiến triển một dặm, họ lạy từ trung tâm thành phố Los Angeles về phía bắc dọc theo bờ biển, xuyên qua Thành phố Santa Barbara và dọc theo vùng Big Sur, xuyên qua thành phố San Francisco và qua cầu Cựu Kim Sơn, rồi lạy xa thêm 100 dặm (2) về phía Bắc để đến Vạn Phật Thánh Thành, một trung tâm giáo dục và tôn giáo vừa được thành lập taị quận hạt Mendocino. Khi lễ lạy, họ cầu nguyện thế giới không còn thiên tai, tai họa và chiến tranh.

Vị tăng sĩ tịnh khẩu dẫn đầu là Thầy Hằng Thật. Thầy từ thành phố Toledo , tiểu bang Ohio , vào năm 1974 Thầy đã tự tìm đường đến Tu Viện Kim Sơn Thiền tự tại San Francisco. Tại đó trên một đường phố cạnh khu Mission, có một cao tăng Trung hoa là Hòa Thượng Tuyên Hóa, đang sống thầm lặng trong khi thực hiện công việc tiên phong của ngài là gieo trồng lại truyền thống tăng đoàn Phật Giáo tại phương Tây . Nhờ đức hạnh và trí tuệ của Hòa Thượng làm cảm động, Thầy Hằng Thật đã gia nhập với những người trẻ tuổi Hoa Kỳ khác thọ nhận pháp danh và toàn giới của một tăng sĩ Phật Giáo.

Trong thời gian học hỏi tiếp theo, Thầy Hằng Thật được đọc về cuộc hành hương lễ lạy do Hòa Thượng Hư Vân thực hiện vào thập niên 1880, ngài là một tăng sĩ Trung hoa đặc biệt nhất trong thế hệ của ngài. Hòa Thượng Hư Vân đã lạy mỗi ba bước qua suốt bề rộng của nước Trung Hoa; và mất đến năm năm. Thầy Hằng Thật biết rằng Hòa Thượng Hư Vân là Tổ Sư của dòng thiền Quy Ngưỡng của Thiền tông, và Thầy biết Hòa Thượng trụ trì và cũng là Thầy của Thầy, tức là Hòa Thượng Tuyên Hóa, là vị tổ sư hiện tại, đã nhận được sự truyền pháp từ Hòa Thượng Hư Vân vào năm 1949. Do sự liên hệ gần gũi này gây hứng khởi, Thầy Hằng Thật đã xin Hòa Thượng Tuyên Hóa để được thực hiện chuyến đi hành hương ba bước một lạy. Hòa Thượng chấp thuận nhưng lại nói "Hãy chờ đợi!". Thầy Hằng Thật phải chờ đợi một năm. Hòa Thượng Tuyên Hóa cho biết điều mà Thầy Hằng Thật cần là một người đồng hành và là người hộ pháp thích hợp. Đó là Thầy Hằng Triều. Vốn quê quán từ thành phố Appleton, tiểu bang Wisconsin, Thầy Hằng Triều đã đến thành phố Berkeley để học võ thuật, và đã trở nên một người tài giỏi về nhiều môn phái võ thuật. Khi người thầy dạy Thái Cực Quyền cuối cùng có nói với Thầy là "Thiền định cao hơn bất cứ võ thuật nào.", Thầy Hằng Triều đã qua bên kia Vịnh để theo học tại Tu Viện Kim Sơn. Khi vừa nghe lời nguyện của Thầy Hằng Thật, Thầy liền hỏi là Thầy có thể đi theo để cùng lễ lạy được chăng. Và chỉ trong vòng một tuần, Thầy Hằng Triều thọ giới Sa Di và phát nguyện chính thức cùng đi lễ lạy bên cạnh Thầy Hằng Thật, đồng thời phụ trách các công việc như nấu nướng, dọn dẹp, dựng lều, và tiếp chuyện với những người xa lạ.

Như vậy cuộc đi hành hương bắt đầu. Hòa Thượng Tuyên Hóa tiễn đưa họ khi họ rời Tu Viện Kim Luân ở Thành Phố Los Angeles vào ngày 7 Tháng 5, năm 1977. Đối với Thầy Hằng Triều, là một nhà võ thuật, Hòa Thượng nói: "Con không được dùng võ thuật trong chuyến hành hương. Lời nguyện của Thầy Hằng Thật là mong muốn chấm dứt những thiên tai, tai họa và chiến tranh; như thế làm sao con có thể tự mình dùng bạo lực đuợc? Nếu một trong hai con đấu tranh, hay thậm chí đắm chìm trong cơn giận, các con sẽ không còn là những môn đệ của ta." Về việc bảo vệ tránh những nguy hiểm trên đường hành hương, Hòa thượng Tuyên Hóa chỉ dẫn họ hãy thực hành bốn vô lượng tâm của Bồ tát là Từ, Bi, Hỷ và Xả. Đó hẳn nhiên không phải là lần cuối cùng mà hai vị tăng sĩ lễ lạy cần đến lời khuyên của Thầy của họ.

Trên đường, hai người hành hương nghiêm ngặt tuân theo kỷ luật tu viện của họ - mỗi ngày chỉ ăn một bữa chay; không vào trong nhà, ngủ ngồi trong chiếc xe băng rộng Plymouth đời 1956 cũ kỹ được dùng làm nơi trú ngụ của họ. Vào những buổi tối sau một ngày lễ lạy, họ học Kinh Hoa Nghiêm qua ánh sáng của ngọn đèn dầu. Họ dịch những đoạn kinh sang tiếng Anh và cố gắng áp dụng đạo lý trong Kinh với những kinh nghiệm ngoài đường hàng ngày của họ, như thầy của họ đã khuyến khích họ làm. Những tăng sĩ này bảo vệ sự tập trung tâm trí của họ bằng cách tránh đọc báo, bằng cách tắt máy radio, và bằng cách giữ thời biểu thiền tập nghiêm ngặt. Thầy Hằng Thật giữ nguyện tịnh khẩu trong suốt chuyến hành trình, vì vậy trả lời những câu hỏi của nhiều người gặp trên đường trở thành công việc của Thầy Hằng Triều. Thỉnh thoảng có những người đến thăm với thái độ thù nghịch, một số người đe dọa dùng bạo lực, nhưng đa số thì hiếu kỳ, và thường những kẻ hiếu kỳ lại trở thành những người hộ pháp cho các tăng sĩ này, mang đến thức ăn và những đồ dùng cho đến khi những tăng sĩ này lễ lạy ra khỏi khu vực.

Tất cả những điều quan trọng xảy ra trên xa lộ - những lỗi lầm và trưởng thành, những thử thách và những cuộc gặp gỡ đáng chú ý, những nguy hiểm và những thâm giải , việc nỗ lực dụng công bằng thân thể và tâm trí - những người hành hương đều báo cáo lại trong những bức thư gởi đến Hòa Thượng Tuyên Hóa. Ngài đích thân trả lời bằng cách thỉnh thoảng đến thăm viếng họ, cho họ những hướng dẫn tâm linh vô giá, những khiển trách, những câu chuyện vui, và những khai thị vừa cao siêu vừa bình phàm vào đúng lúc. Những bức thư đó là nội dung của quyển sách này.

Những bức thư này viết ra không có ý niệm là để xuất bản, mà chỉ là phương tiện hai vị tăng dùng để cố gắng chân thành cởi mở nói ra những kinh nghiệm trên đường của họ. Như vậy, những bức thư này lưu giữ lại một ký sự không tô vẽ về một cuộc hành trình tâm linh xác thực

_____________

Chú thích:

(1) khoảng 1300 Km

(2) khoảng 160km


 

Hòa Thượng Tuyên Hóa: Sơ Lược Chân Dung


Có lần Hòa Thượng nói “Tôi đã có rất nhiều tên, mà tất cả tên đó đều là giả cả”. Lúc còn trẻ Ngài được biết đến với biệt hiệu Bạch Hiếu Tử (“Người con hiếu thảo họ Bạch”), khi còn là một vị tăng trẻ, Ngài có pháp danh “An Từ”. Về sau ở Hương Cảng, Ngài có pháp danh “Độ Luân” và cuối cùng ở Mỹ Ngài có pháp hiệu “Tuyên Hóa”, có thể được dịch là “Người tuyên dương đạo lý chuyển hóa”. Nhưng đối vời hàng ngàn đệ tử khắp thế giới thì Ngài luôn là “Sư Phụ”, người cha, người thầy, một danh từ hỗn hợp dùng để diễn tả mối quan hệ đặc biệc giữa vị thầy và người đệ tử.

Ra đời vào năm 1918 trong một gia đình nông dân tại một làng nhỏ của bình nguyên Mãn Châu, Hòa Thượng là người con út trong số mười người con. Ngài chỉ đi học được hai năm, trong thời gian đó Ngài học các bài văn cổ điển (Tứ Thư Ngũ Kinh) và quyết chí nhớ thuộc lòng phần lớn các sách đó. Lúc còn là thiếu niên, Ngài đã mở trường dạy học miễn phí cho cả người lớn và trẻ em. Vào lúc đó Ngài cũng bắt đầu thực hành một trong những pháp môn kéo dài suốt cả đời mình, đó là Lễ Bái. Mỗi ngày ở ngoài trời, trong mọi thời tiết, Ngài vẫn lạy hơn 800 lạy như một cách để bày tỏ sự kính trọng đối với mọi người thiện và thiêng liêng trong vũ trụ. Khi Ngài 19 tuổi thì mẹ Ngài qua đời và trong 3 năm Ngài tưởng niệm thân mẫu bằng cách ngồi thiền thủ hiếu trong một túp lều bên cạnh mộ bà.

Cũng trong thời gian đó, vị Đại tổ sư thiền tông của thế kỷ thứ bảy, Ngài Huệ Năng, đã hiện thân trước Hòa Thượng Tuyên Hóa và tiên đoán Ngài sẽ đến Mỹ để truyền pháp. Như một bước đầu tiên để thực hiện mục đích đó, Hoà Thượng đã xuất gia tại chùa Tam Nguyên ở Mãn Châu và nhận Hòa Thượng Thường Trí làm Thầy vào cuối thời kỳ cư tang.

Tiếp theo đó, Ngài thọ giới Tỳ kheo tại Phổ Đà Sơn. Trong suốt 10 năm Ngài ra công nghiên cứu kinh tạng Phật Giáo cũng như tu hành tinh thông cả hai phái Mật Tông và Thiền Tông của Phật Giáo Trung Hoa. Ngài cũng đọc và nghiên cứu kinh văn của Thiên Chúa Giáo, Lão Giáo và Hồi Giáo. Cho nên ở tuổi 30, qua kinh nghiệm bản thân, Ngài đã tạo dựng nên bốn nền tảng chính cho giáo hội của mình sau này ở Mỹ: Trên hết là truyền thống tăng đoàn, vai trò quan trọng của giáo dục, sự cần thiết cho Phật tử tự đứng vững trong các pháp tu hành cổ truyền cũng như đối với các kinh văn chính thống; và tầm quan trọng của sự thông hiểu và quý trọng đối với nhau giữa các tôn giáo. Vào năm 1948, Hòa Thượng đi về miền nam Trung Hoa để diện kiến Hòa Thượng Hư Vân lúc đó đã 108 tuổi và là vị thầy bậc nhất của Trung Hoa. Từ Hoà Thượng Hư Vân, Ngài được truyền thừa dòng mạch tổ của phái thiền Quy Ngưỡng. Sau đó Ngài rời Trung Hoa để đến Hương Cảng. Tại đây, Ngài sống hơn mười mấy năm. Trong thời gian đầu Hòa Thượng ẩn tu, sau đó Ngài thành lập 3 tu viện và giảng pháp tại đó. Cuối cùng vào năm 1962, Hòa Thượng đến Hoa Kỳ theo lời mời của một số đệ tử Hồng Kông của Ngài, những người đã đến lập nghiệp tại San Francisco. 

Vào năm 1968, Hòa Thượng thành lập Phật Giáo Giảng Đường trên một tầng lầu tại phố Hoa-kiều của thành phố San Francisco. Tại đó Ngài bắt đầu thuyết pháp bằng tiếng Hoa vào mỗi tối cho một số thính giả thanh thiếu niên người Mỹ. Các bài giảng của Ngài là về các bộ kinh lớn của Đại Thừa. Vào năm 1969, Ngài đã làm cộng đồng tăng ni tại Đài Loan ngạc nhiên khi gởi hai Sa di ni và ba Sa di người Mỹ đến để thọ giới Tỳ-kheo, cả năm người sa di tập sự này đều được huấn luyện đầy đủ và đều rành rẽ một phần nào về tiếng Hoa và về các bộ kinh chánh. Trong những năm kế tiếp, Hòa Thượng đã đào tạo và làm lễ thọ giới cho hàng trăm vị tăng ni từ khắp nơi trên thế giới đến California để tu học với Ngài. Những vị đệ tử xuất gia này hiện đang giảng dạy tại hơn hai mươi ngôi chùa, tu viện và tùng lâm mà Ngài đã thành lập tại Mỹ, Gia Nã Đại và nhiều nước Á Châu khác. Mặc dù Ngài hiểu khá rành Anh Ngữ và nói được khi cần thiết nhưng Hòa Thượng Tuyên Hóa hầu như lúc nào cũng thuyết pháp bằng Hoa Ngữ. Mục đích của Ngài là khuyến khích các đệ tử Tây Phương học tiếng Hoa và các đệ tử người Hoa học tiếng Anh để họ có thể trở thành những người phiên dịch các bộ kinh lớn Đại Thừa. Và nhìn chung, ý định của Ngài đã được thành tựu. Cho đến nay Hội Phiên Dịch Kinh Sách do Hòa Thượng thành lập đã cho xuất bản hơn 130 sách kinh phiên dịch từ các bộ kinh lớn, cùng với một số sách tương đương về các chú giải, khai thị và các câu chuyện từ những buổi thuyết pháp của Ngài.    

Là một nhà giáo dục, Hòa Thượng Tuyên Hóa làm việc không mệt mỏi. Từ năm 1968 đến giữa thập niên 80, Ngài đã thuyết giảng hằng chục lần mỗi tuần, và Ngài cũng đi thuyết giảng rất nhiều khắp mọi nơi. Tại Chùa Vạn Phật ở Talmage, California - mục tiêu của cuộc hành trình bái lạy của hai Thầy Hằng Thật và Hằng Triều - Hòa Thượng đã chính thức thành lập một chương trình huấn luyện cho người xuất gia và tại gia; các trường tiểu học và trung học cho nam sinh và nữ sinh, trường Đại học Phật Giáo Pháp Giới cùng các chi nhánh của trường đại học, Viện Tôn Giáo Thế Giới ở Berkeley. Hòa Thượng nêu ra sáu tôn chỉ, đó là không tranh, không tham, không cầu, không ích kỷ, không tự lợi và không nói dối. Mặc dù Ngài thán phục tinh thần độc lập của người tây phương nhưng Ngài tin là họ cũng cần một nền tảng đạo đức. Ngài dạy rằng điều quan trọng nhất trong sự tu hành tâm linh là sự chuyển hóa từ bên trong của bản tánh và từ đó mang lại sự phát triển đức hạnh.

Hòa Thượng Tuyên Hóa đặt trọng tâm đến quan hệ liên tôn giáo và Ngài hoan hỷ trong các cuộc nói chuyện với các tôn giáo khác nhau. Ngài thường nhấn mạnh đến các điểm giống nhau giữa các truyền thống tôn giáo, nhất là sự chú trọng đến đức hạnh, từ bi và trí huệ. Ngài cũng là người đi tiên phong tạo nhịp cầu giữa các truyền thống Phật Giáo quốc gia khác biệt, ngoài ra Ngài cũng thường mời các vị sư từ các quốc gia Phật Giáo Nguyên Thủy đến California để cùng nhau chia sẻ trách nhiệm truyền giới. Đối với Hòa Thượng, điểm chính yếu của tất cả tôn giáo có thể được tóm tắt lại trong một chữ: Đó là trí huệ.

 


 

Hằng Triều, Vị Hộ Pháp

Ngày 11 tháng 5 năm 1977

 

Kính thưa Sư Phụ,

Con chí tâm quy y Sư Phụ,

Xin Sư Phụ từ bi thương xót hết thảy chúng sanh!

Việc lễ bái này cũng tương tự như một khóa tham thiền. Mọi thời khắc luôn chuyên nhất quả thật là khó khăn, chúng con từ từ tiến bộ vững vàng. Ba bước, một lạy.

Thầy Hằng Triều là một vị hộ pháp đắc lực. Thầy đã cứu chúng con thoát khỏi một tình cảnh nguy hiểm mà chính thầy sẽ tường thuật lại dưới đây. Các cư sĩ tại gia (1) đã bảo hộ và lo lắng cho chúng con rất kỹ lưỡng. Con không nói chuyện nhiều (2). Ðây là cơ hội tốt mà thệ nguyện của đệ tử có thể được thực hành viên mãn, nghĩa là chỉ nói ra những lời nhằm phụng sự Tam Bảo. Ðệ tử cảm kích bất tận về dịp may tu Ðạo này.

Hằng Thật

*****

Kính thưa Sư Phụ,

Muốn duy trì sự an toàn kỳ diệu của chúng con thì cần phải có tánh thận trọng. Cho tới nay, chúng con chỉ mới gặp phải một vài chướng ngại tương đối nhỏ nhoi, nhưng lại nhiều thử thách.

Ngày thứ nhất, chúng con bắt đầu lễ bái dọc theo các quán rượu trong một khu vực hung bạo. Rất nhiều gã say rượu hắc búa. Vì là lần đầu tiên đơn độc lễ bái ngoài đường phố nên chúng con không khỏi bị đôi chút áp đảo. Lại thêm ướt át và lem luốc bởi đường sá vẫn còn ẩm ướt bùn lầy (mưa vừa tạnh, bầu trời hơi quang đãng khi chúng con bắt đầu lễ lạy), nên trông chúng con không được oai nghi lắm. Sang cái lạy thứ nhì thì có chuyện liền.

Một gã say rượu cao lớn từ đằng sau vỗ vai con mà bảo rằng: "Ê, bạn làm cái gì ở đây vậy?" Con cố gắng giải thích một cách yếu ớt trước sự sửng sốt của hắn. Hắn đứng cách con chừng ba tấc (7 inches). Hắn từ từ rút trong ví ra một tấm ảnh Chúa Giê su (Jesus) với mái tóc dài hippy và nét mặt nhạy cảm. Hắn cứ đưa qua đưa lại bức ảnh trước mặt con, có vẻ chờ đợi. Con khéo léo tiến đến sát bên thầy Hằng Thật. Một chiếc xe hơi thuộc loại souped-up chạy vụt qua: "Nè mấy tên quái đản, hạn cho tụi bây từ đây đến hoàng hôn phải ra khỏi chỗ này!" Ồ, chúng con chỉ mới ra lạy có ba phút thôi mà đã lắm thử thách rồi.

Chúng con tiếp tục lê bước. Nhiều nhóm người tụ tập đằng trước bởi những lời truyền miệng lan nhanh. Có tiếng cười nhạo báng: "Các ông vĩnh viễn không đến đâu được bằng cách đó cả, ha, ha..."

Một người khác chế giễu: "Kìa, Joe! Họ đang chúc phước cho trạm xăng của mày kìa! Ha, ha.."

Có vài người đi ngang qua chúng con, xem chúng con như là những thớt gỗ. Họ cũng không khác biệt gì, như đang nhập thiền định Ti-vi vậy. Nhưng khi chúng con lạy đến thì các nhóm người lại tự động rã ra. Dường như đối với họ chúng con cũng ra vẻ thế nào lắm!

Họ thách thức chúng con bằng lời nói - không hiệu quả. "Ê, tưởng tượng xem tao sẽ đá đít bọn chúng khi chúng quỳ xuống!" Không phản ứng. Một nhóm đàn ông đông hơn tụ họp ở góc phố. Người cầm đầu tướng cao ráo khoảng gần 1 thước 9 (6' 5"). Một tên đàn em của hắn chen vào giữa chúng con, vỗ vào đầu chúng con, rồi cũng lạy theo, cố tình khiêu khích chúng con. Không phản ứng. Thầy Hằng Thật không ngừng tiến tới phía trước. Con cố thu ngắn khoảng cách. Ðột nhiên, họ tự giải tán, và bảo tên đàn em cứ lẽo đẽo theo chúng con: "Cho họ lạy qua đi, họ sẽ không làm gì đâu!" Chúng con lạy qua nơi đó. Con có cảm giác là hai tên cầm đầu vẫn bám sát chúng con ở đằng sau. Rất khó xả bỏ tất cả công phu võ thuật mà con đã tập luyện hằng bao nhiêu năm trời (3), nhưng con biết rằng không có sự hộ vệ bằng sức mạnh nào có thể cứu được người hành giả thành tâm. Chúng con vẫn đi, vẫn lạy... Cuối cùng, gã to lớn đứng hẳn sang một bên và lễ phép hỏi: "Xin lỗi ông, ông có thể cho tôi biết là các ông đang làm gì không?" Con gật đầu, lạy xong một lạy, rồi đứng dậy giải thích.

"Ồ, kỳ lạ quá, ông ta không nói chuyện à? Công việc của các ông không dễ đâu. Cầu cho thế giới hòa bình, tôi cũng tán thành. Lạy đến tận Ukiah! Ông Phật này là gì? v.v.." Họ đã xúc động. Một cái gì đó vừa dịu dàng vừa chân thành đang lộ ra. Ranh giới biến mất. Băng đá tan thành nước. Gã nói: "Chúc các Ngài bình an," và làm dấu thánh giá chúc phước lành cho chúng con trước khi bỏ đi: "Hãy cẩn trọng!"

Chúng con mệt lử! Ðã đến lúc phải tìm nơi cắm trại. Mây lại vần vũ. Trời sắp mưa. Quên mang giấy vệ sinh.

Hai giờ rưỡi sáng. Chúng con đậu xe đối diện với xưởng bánh tortilla ở Nam Pasadena. Con thức dậy tụng chú. Con nghe có tiếng bước chân lê lết trên đường và tiếng người thì thầm. Một cái bóng băng vụt qua bên phải chiếc xe. Bang! Một cánh tay thò qua cửa sổ xe không đóng, cố mở chốt cửa. Bên ngoài, chó sủa inh ỏi. Con la lên: "Ê!" Con nhìn thấy bốn bóng đen bỏ chạy. Họ tụ tập lại dưới đường phố. Một lát sau, con nghe có tiếng đá văng chạm vào lề đường chung quanh xe chúng con. Con chùi lớp sương mỏng trên cửa xe và trông thấy bọn họ, bây giờ với gậy gộc trong tay, đang tiến dần về phía chúng con. Họ ném đá và dàn ra giữa đường để tấn công chúng con. Con nhảy vào ghế, mò mẫm tìm công tắc và cho nổ máy xe. Máy không nổ. Hoảng hốt. Con niệm danh hiệu Quán Âm Bồ Tát và cố thử lần nữa. Rù... rù! Tiếng máy gầm lên. Con lái xe vụt ra đường. Một người trong bọn họ nhảy đến định ngăn cản, nhưng chúng con chạy thoát kịp!

Chúng con đến Chùa Kim Luân, đậu xe ngay lối ra vào và ngủ ở đó cho đến bốn giờ sáng. Tinh thần mệt nhọc. Hôm nay là một ngày thử thách lớn lao.

Chúng con vô tình giết chết nhiều kiến và côn trùng nhỏ nằm dưới tay chân chúng con trong khi lễ bái. Mỗi ngày, chúng con cảm thấy sức lực kiên cường hơn, và chuyên nhất thêm. Mơ màng trong mơ màng, mơ thấy mình lễ bái qua suốt vùng L.A. Ba Bước, Một Lạy, thật là huyền diệu không thể nghĩ bàn.

Bình an trong Ðạo,

Hằng Triều

******

Chú thích:

(1) Cư sĩ họ Trương, Bà Phương Quả Ngộ, Hoàng Alice, và hai vợ chồng họ Hồ. (bản Hán văn, quyển thượng, trang 12)

(2) Thầy Hằng Thật phát nguyện hoàn toàn không nói chuyện trong suốt cuộc hành trình "Ba Bước, Một Lạy," trầm mặc hồi hướng công đức. (bản Hán văn, trang 12)

(3) Thầy Hằng Triều vốn là cao thủ đai đen của Không thủ đạo. Thầy cũng dạy Thái cực quyền và Thiếu lâm quyền trong nhiều năm. (bản Hán văn, trang 14)

******

 

Những kẻ xấu ở khu phố Lincoln Heights

Thứ bảy, ngày 14 tháng 5 năm 1977.

 

Kính thưa Sư Phụ,

Chúng con tiếp tục lạy khoảng một dặm rưỡi mỗi ngày, tính ra, trung bình là năm tiếng đồng hồ đi lạy và một tiếng rưỡi nghỉ ngơi (cứ sau một tiếng thì nghỉ hai mươi phút). Chúng con thức dậy lúc bốn giờ sáng để tụng kinh sáng, rồi chấm dứt vào khoảng sáu giờ chiều để tắm rửa và tụng kinh tối như thường lệ. Mỗi ngày còn có giờ học Thái cực quyền với Thầy Hằng Triều vào buổi sáng; tối đến thì chúng con đọc và dịch một đoạn ngắn trong Kinh Hoa Nghiêm trước khi tụng bốn mươi chín lần những câu đầu của chú Lăng Nghiêm, rồi sau đó mới nghỉ ngơi. Chúng con sống trong chiếc xe Falcon van cũ kỹ của một người Ưu bà tắc, ngủ ngoài đường phố L.A. và giặt rửa trong công viên. Thức ăn thọ trai của chúng con là do nhiều Ưu bà di hộ pháp mang đến. Các Ưu bà tắc và Ưu bà di luôn chăm sóc, lo lắng cho chúng con. Nhờ họ mà cuộc hành trình của chúng con được trôi chảy thuận lợi - họ giúp nhận các thư từ từ cảnh sát, cho chúng con tiền cắc để bỏ vào cột đậu xe (parking meter) v.v... Một buổi sáng nọ, vì trời mưa nên chúng con lạy trong nhà đậu xe của cư sĩ họ Woo và thọ trai ở đó (1). Chúng con lạy qua một khu phố hỗn tạp mang tên Lincoln Heights. Chúng con lạy đến trước trường Trung học Lincoln ngay lúc vừa tan học. Lập tức, chúng con bị bao vây bởi một nhóm khoảng bốn mươi hay năm mươi học sinh vừa la hét vừa chửi thề tục tĩu. Khi thấy rằng những lời nói của chúng không lay động nổi chúng con, bọn chúng bắt đầu cười rộ, và chẳng bao lâu sau, chúng bắt chước lạy đằng sau chúng con, cho đến lúc có tới mười bốn nam sinh sắp hàng lạy Kinh Hoa Nghiêm. Tất cả bọn chúng đều tỏ ra cung kính hơn sau khi lạy được chừng sáu lạy - những đứa thô lỗ nhất không thể theo nổi - và chúng bỏ đi, lặng lẽ và điềm tĩnh. Ngày đó không có chuyện gì rắc rối nữa cả.

Ngày kế, lúc mười giờ sáng, đột nhiên con có linh tính là ma quân đang chuẩn bị một cuộc khảo nghiệm khác ở đâu đó, một sự thách thức có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Sáng thứ sáu, khi lạy đến gần cuối khu vực Lincoln Heights vào lúc 10 giờ 15, con linh cảm là có chuyện gì đằng trước, nhưng vì con đã tháo mắt kính ra và đôi mắt luôn dán chặt vào chót mũi trong suốt cuộc hành trình nên không thấy được nhiều chi tiết nhỏ nhặt trên đường đi. Sau này thầy Hằng Triều kể cho con nghe về những gì mà thầy mục kích. Một băng gồm năm lão già tụ họp tại một quầy bánh taco ở góc đường. Một gã trong bọn đúng là một con quỷ - đã xấu xí mà hình thù lại kỳ dị như một quả lê. Gã nhảy nhót vòng vòng và chỉ trỏ về phía chúng con, tay cầm một cây roi sắt xoắn nhọn hoắt, dài chừng một thước rưỡi (5'). Gã kéo một thùng rác tới trước để chận lối đi của chúng con, rồi dùng roi đập vào thùng rác gây ra những âm thanh chát chúa, đinh tai nhức óc và làm móp méo hết các góc cạnh của nó; gã cứ chỉ tay về phía chúng con và cố khiêu khích đồng bọn nhập cuộc. Thầy Hằng Triều nói rằng gã ấy đích thực là một tên bất lương chính hiệu. Vì mải lạy nên con không thấy rõ việc này, nhưng đột nhiên con có trực giác mạnh mẽ về một sự trợ giúp vô hình, một sự hiện diện với thiện lực kỳ diệu. Con cảm thấy thật bình tĩnh, thanh thản và nhẹ nhõm (2).

Thầy Hằng Triều nói rằng ngay khi con lạy thẳng vào giữa đám người tại quầy bánh taco này, thì tên đầu đảng bỗng lao vụt ra như tia chớp. Từ thái độ hung hãn, hống hách, hắn chợt trở nên nhu hòa, ngoan ngoãn như một đứa trẻ. Còn những gã khác thì ngồi bất động tại bàn ăn của họ khi con lạy quanh thùng rác dưới chân họ và băng qua đường để lạy ở phía bên kia. Một thanh niên tươm tất tiến ra cửa và lịch sự hỏi: "Thưa ông, ông có thể cho tôi biết về tôn giáo của các ông chăng? Tôi rất cảm kích về hành động của các ông..." Thầy Hằng Triều giải thích ngắn gọn về mục đích của cuộc hành trình. Thầy cắt nghiã thật khéo léo.

Ðệ tử không dám cả quyết ai là người đã dẫn dắt chúng con vượt qua những đường phố ở Los Angeles, nhưng chắc chắn là có một vài sự cảm ứng thù thắng xảy ra vào buổi sáng hôm đó.

"Nếu có chúng sanh nào có tâm niệm thù hằn đối với Bồ tát, thì Bồ tát vẫn luôn nhìn chúng sanh ấy với ánh mắt từ ái và cho đến điểm cuối cũng vẫn không có một mảy may giận hờn."

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Hồi Hướng.

Ðệ tử Hằng Thật kính cẩn đảnh lễ.

 

Chú thích:

(1) Quy củ của Ba Bước Một Lạy là không được vào nhà của cư sĩ. (bản Hán văn, trang 16)

(2) Khoảng độ mười trượng ở phía trước, bỗng có một con voi trắng lớn trang nghiêm phi thường xuất hiện. Con không thấy rõ ai đang ngồi trên mình con bạch tượng, nhưng xem ra có đủ oai nghiêm và thần lực thù thắng, bên trái và phải đều có đội ngũ thiện thần hộ pháp như Bồ tát Già Lam oai nghiêm dõng mãnh v.v... Chính mắt con trông thấy Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni cùng Bồ tát Quán Thế Âm rất rõ ràng. Con có cảm giác là chư thần hộ pháp luôn lai vãng đâu đây. Kìa! Voi trắng sáu ngà vàng chói, đôi mắt từ ái, cùng các thiện thần cầm kích hộ pháp. Ngay lúc ấy, tâm con cảm thấy sung mãn liễu tường và vô cùng quang minh sáng suốt. Con tin rằng con được hộ trì bởi Bồ tát Phổ Hiền vì con đang lạy Kinh Hoa Nghiêm. (bản Hán văn, 修行者的 消息 Tu Hành Giả Đích Tiêu Tức trang 16-17)

(3) Thầy Hằng Thật phát nguyện lạy Kinh Hoa Nghiêm cùng Hoa Nghiêm Hải Hội Phật Bồ Tát sau mỗi ba bước và quanh năm luôn mang túi xách có đựng bộ Kinh Hoa Nghiêm trên vai. (bản Hán văn, trang 17)

******

Một số vọng tưởng cùng ký ức: Một nhóm Phật tử (1) mang thức ăn trưa và tiền cắc để bỏ vào cột sắt đậu xe đến cúng dường. Con không thể biết rõ phong tục của người Trung Hoa. Tại phố Tàu, có một cặp vợ chồng người Hoa lớn tuổi thốt lên bằng tiếng Quan thoại: "Ủa! Họ là người ngoại quốc!" Con liền nghĩ: "Không, chúng tôi chỉ mang lại điều đáng giá (đạo Phật) mà quý vị đã bỏ quên. Thật ra, chúng ta đều là người 'ngoại quốc', cho đến khi tất cả chúng ta giác ngộ."

Ống quần bị rách của Thầy Hằng Thật đã được vá lại bằng một mảnh vải có in hình những bông hoa Hạ uy di. Nhờ chiếc áo tràng dài giúp che khuất chỗ vá nên còn giữ được vẻ uy nghi đoan chánh: Bọn trẻ ở Lincoln Heights ắt sẽ ăn tươi nuốt sống chúng con bởi một sự mâu thuẫn như thế. Người ta thường đa nghi, họ dò xét kỹ lưỡng từng hành vi của chúng con - từ sợi dây cột giày cho đến những nơi chúng con để mắt tới. Không được có chỗ sai lầm hay sơ suất, phóng dật.

Bảo trì Trung đạo trong việc tiếp thọ đồ cúng dường thật khó. Như khi nhận được những thứ "tạp nhạp," thì chúng con phải chỉnh lại bằng cách xả cho hết dầu, làm loãng bớt chất đường và dùng vải vụn để vá lấp các lổ thủng. Khi nhận được "vàng," thì chúng con phải làm cho mờ xỉn và che giấu đi. Chúng con nghĩ rằng sẽ nhuộm chiếc quần sặc sỡ như hề gánh xiếc này thành màu nâu và xám.

Cư sĩ: Chỉ trong vòng một tháng, quý thầy sẽ lạy ra khỏi Los Angeles.

Tăng: Vậy sao?

Cư sĩ: Dạ. Theo con nghĩ thì quý thầy đã vượt qua khu khó khăn nhất rồi (vùng Lincoln Heights). Khu phố Tàu thì đỡ hơn chút đỉnh, còn khu Beverly Hills thì không thành vấn đề!

Tăng: Phần khó khăn nhất là phần ở bên trong. Không bao giờ dễ dàng cả.

Cư sĩ: Ồ! (cười, cảm nhận.)

Lễ lạy: Thỉnh thoảng, sau vô số lần lạy lên lạy xuống và đi đi tới tới trên nền xi măng, con cảm thấy chẳng có gì hiện hữu cả. Các loại âm thanh, các mẩu đối thoại, các lời chất vấn, các mùi thức ăn từ nhà hàng, các mẩu thuốc lá - tất cả đều không thành vấn đề. Nhiều khi, ngay cả cái "tôi" cũng thất lạc, không đáng kể, dung hòa nhất như, song lại không thể sờ mó và tách rời ra. Tánh kiên nhẫn và khiêm tốn đến dễ dàng hơn sau khi đầu mũi chạm vào bầy kiến ở giữa đống xác kẹo cao su (chewing gum) và chai lọ bể. Cũng tốt thôi. Nơi chốn là hiện tại. Quét dọn nhà cửa, từ trong ra ngoài.

Phố Tàu:

1. Có ít Phật tử nhất. Loài vật bị giết sống công khai ("tươi").

2. Tại góc phố chính: Chúng con đang lạy. Một đám tang với băng nhạc diễn hành đang trỗi bản "Chúng Ta Không Còn Thấy Nhau Nữa" lướt qua, xe mô tô cảnh sát, đám đông quần chúng, một gánh xiếc nhỏ bên phải, một ổ bánh dâu tây lớn trên một chiếc ghế hiện ra trước mặt chúng con, một phóng viên của đài truyền hình người Hoa đang chụp hình. Chúng con lạy ngang bên dưới. Chỉ vài người chú ý.

3. Lạy cách hồ cá trong chợ chừng hai feet. Chờ chết! Cả hai chúng ta! Thổi, chúng thổi bọt bằng miệng, chúng con âm thầm niệm Phật. Ðôi bên nhìn nhau qua chiếc "bồn" của mình.

4. Một bà bị loạn trí lẽo đẽo theo chúng con núp đằng sau, lén đá trúng ngay huyệt đạo của con. Con vẫn tiếp tục lạy, trong lòng thắc mắc không biết trước kia bà ta và con đã gặp nhau ở đâu và mai sau sẽ lại gặp gỡ ở nơi nào. Con cảm thấy như bị nhuốm bịnh.

5. Chúng con lái xe vòng quanh góc phố và băng qua một ngã tư để đậu xe. Một vài giây sau, bỗng rầm! Bang, bang! Một tai nạn khủng khiếp. Chúng con hụt khỏi trong tích tắc. Một băng đảng người Hoa vênh váo lướt qua. Thật là một phương pháp tu hành tuyệt diệu! Hai người "ngoại quốc" này chúc tất cả đều được nhiều pháp lạc.

Ðệ tử Hằng Triều kính cẩn đảnh lễ

******

Chú thích:

(1) Các đệ tử tại gia đã quy y với Sư Phụ.

 

Các người nghĩ các người đang ở đâu, ở Thánh địa Mecca chăng ?

Tám giờ sáng, ngày 18 tháng 5 năm 1977.

 

Kính thưa Sư Phụ,

Chúng con rất tri ân thời tiết tuyệt diệu mà các vị rồng mang lại cho thành phố Los Angeles. Thời tiết không quá nóng mà cũng không quá lạnh.

Tuy thân rất mệt nhưng tâm chúng con lại an lạc. Mỗi khớp xương, bắp thịt và tứ chi đều nói lên cái "pháp đau nhức (pain-dharma)" của riêng nó, nhưng sự đau đớn này sẽ từ từ biến mất khi việc lễ bái tiến triển và thân thể quen dần với công việc. Mỗi tối, chúng con cảm thấy buồn ngủ ngay sau khi tụng chú Lăng Nghiêm, hoàn toàn mệt đừ; nhưng sáng hôm sau, thức dậy lúc 4 giờ sáng, chúng con lại cảm thấy năng lực hồi phục và sẵn sàng tiếp tục lễ bái. Mỗi ngày, chúng con tăng thời gian lễ bái lên dần dần: hôm qua chúng con lễ bái suốt sáu tiếng bốn mươi lăm phút. Vấn đề nan giải khi ở trong thành phố là việc tìm một chỗ đậu cho cái đạo tràng Bồ đề mạn đà la của chúng con, tức là chiếc xe van này, rồi đi bộ trở lại chỗ lễ bái. Công việc này thật đã làm mất hết khoảng thì giờ nghỉ ngơi.

Dầu thân mệt mỏi, nhưng nhờ vậy mà tâm lại được chuyên nhất. Ðó chỉ là chuyện nhỏ nhặt và chúng con cảm thấy thích thú khi được lễ lạy.

Hôm qua, chúng con thọ nhận thức ăn cúng dường của các Phật tử vùng Los Angeles, và mỗi lần thọ nhận là một kinh nghiệm khiêm nhường. Riêng bản thân chúng con thì không có công đức gì cả. Chúng con nhờ vay mượn phước đức của Sư Phụ mà nhận được sự đối đãi tử tế này. Thực sự, nếu không có lòng tín ngưỡng Sư Phụ của những người cư sĩ ấy, thì cuộc hành trình này sẽ không thể nào thực hiện được. Rất có thể chúng con đã bị đói khát, hoặc bị cướp bóc và đánh đập mỗi tối những khi ngừng lại để nghỉ ngơi.

Hồi quang phản chiếu như thế này mới thấy rõ trách nhiệm của người xuất gia trong mọi thời khắc - học làm cách nào để cư xử với người cư sĩ, với những người xuất gia khác, với người Mỹ và với tất cả mọi người cho đúng đắn. Ðây là thời điểm dành cho chúng con tự học làm thế nào để đại diện cho Phật giáo, nhận lãnh trách nhiệm đối với giáo pháp mà chúng con đã thọ học và thực hành cho đúng.

Chánh hạnh là việc rất khó, cũng khó như lễ bái; và chúng con sung sướng được có dịp học hỏi.

******

Sáu giờ sáng.

Kính thưa Sư Phụ,

Vì có một nam cư sĩ sắp trở về Kim Sơn Tự nên đây là thư viết vội.

Tiến trình của chúng con rất chậm chạp - khoảng mười dãy phố mỗi ngày. Hiện giờ chúng con đang ở tại trung tâm thành phố Los Angeles; và mặc dầu nơi này có những tòa nhà to lớn với các lề đường rộng rãi, nhưng chúng con nhận thấy nó còn đáng gờm hơn cả khu Lincoln Heights hay phố Tàu nữa. Những cư dân giàu có ở đây (1) không muốn chúng con trên các vỉa hè của họ, và trên mặt đều phảng phất vẻ ghét bỏ không tình người khi trông thấy hai người xuất gia sám hối dưới chân họ. Một bà khoảng ngoài bốn mươi, ăn mặc lịch sự, đứng cách đầu chúng con mấy inches, dậm chân chỉ chỏ và nghiến răng nói: "Các người nghĩ các người đang ở đâu, ở Thánh địa Mecca chăng ? Hành động ấy thật đáng ghê tởm tại xứ Hợp Chủng Quốc này!" Thầy Hằng Triều thường không nói chuyện với những người không thành tâm hỏi han, nhưng câu trả lời mà Thầy dành cho bà này hẳn sẽ là: "Phải, bà nói đúng. Và đó chính là vấn đề. Ðất nước này vẫn còn rắc rối cho đến khi nào việc lễ lạy này không đáng ghê tởm nữa!"

Ngủ đêm ở thành phố này thật rất hồi hộp. Chúng con cố tìm một chỗ gần nơi lễ bái để đậu xe van, nhưng tối qua một tên trộm khác thò tay qua cánh cửa bỏ ngõ. Hắn lẳng lặng bỏ đi khi chúng con đóng cửa xe lại. Chúng con thức giấc đúng giờ và chuẩn bị buổi công phu khuya, nhưng vẫn còn cảm giác bất an. Thầy Hằng Triều kể là tối qua con có thức dậy và bắt đầu nói sảng trong cơn mê về việc "đợi vị hộ pháp ngay bên góc phố cạnh nhà băng." Thầy ấy nói rằng con nói bằng tiếng Hoa khoảng ba phút trước khi ngủ thiếp đi. Con nói huyên thuyên trong khi vẫn say ngủ.

Khẩu vị của chúng con giảm dần. Chúng con ăn ít lại và lạy nhiều hơn. Nhịp độ của chúng con vẫn còn chậm chạp - như tốc độ thỉnh Pháp tại Kim Sơn Tự. Phương pháp tu hành này thật rất tuyệt diệu.

Ðệ tử Hằng Thật và Hằng Triều

kính cẩn đảnh lễ.

 

Chú thích:

(1) Ða số là người Mỹ da trắng.

******

Những kẻ theo phái Moonies ở Beverly Hills

Thứ ba, ngày 24 tháng 5 năm 1977.

 

Kính thưa Sư Phụ,

Chúng con sắp sửa đi qua Beverly Hills - tiến triển tuy chậm nhưng đều đặn. Khi sự giao thông mau chóng và khách bộ hành đông đúc thì dễ gia tăng tốc độ lễ lạy mà lại không hay biết. Thế nên chúng con phải ý thức dụng công giảm tốc độ lễ lạy theo một nhịp điệu dễ nhớ và kết quả là chúng con trở thành vô hình đối với nhiều người. Los Angeles di chuyển quá nhanh đến nỗi chúng con giống như cây cối, đá sỏi hay các cột sắt đồng hồ đậu xe đối với phần lớn những người ngồi trên xe hơi phóng vụt qua; những người khi trông thấy chúng con liền quay kính xuống mà mắng nhiếc, chửi thề, bóp kèn inh ỏi, la hét, cười cợt, thậm chí có nhiều người còn chạy xe chậm lại để khuyên lơn ("đứng dậy," "đi về đi," "cút khỏi đường lộ").

Thỉnh thoảng cũng có người khen ngợi chúng con. Một số nghĩ rằng chúng con là người theo Hồi giáo, theo phái Hare Krishnas, hay Moonies, nhưng thường thì người ta nhận ra chúng con là tu sĩ Phật giáo. Trẻ con tỏ ra cởi mở, hăng say, trong trắng, thánh thiện.

Mặc dầu chúng con không thể ở cạnh Sư Phụ vào ngày lễ Phật Ðản, Thầy Hằng Triều và con ước muốn lạy Sư Phụ chín lạy trong dịp này. Chúng con bao giờ cũng nghĩ tới sự may mắn gặp được Chánh Pháp ở phương Tây này của mình.

Nhờ lòng đại từ bi cùng nguyện lực của Sư Phụ mà việc mang lại lương dược cho chúng sanh đã xảy ra; cuộc đời chúng con có được một mục đích hữu ích và một chiều hướng tích cực để noi theo. Tu Ðạo là một kho tàng vô giá!

Khi chúng con thành tâm thì kết quả lập tức hiển hiện - vẻ giận dữ trên mặt biến mất - sự căng thẳng từ các nhóm người đứng ở góc đường tụ tập lại để nhìn chòng chọc vào chúng con cũng tan biến, và ngay cả khí nóng trong không gian dường như cũng dịu đi chút ít. Nếu chúng con vọng tưởng hoặc trong lòng có nóng giận hay sợ hãi, thì không có sự cảm ứng nào xảy ra khi chúng con lạy vào một khu vực đông đúc cả; hoặc tệ hơn nữa, là sự căng thẳng phát sanh và người ta trở nên nóng nảy hay bực dọc khi chúng con lạy ngang qua mà kết quả là chúng con nhận lãnh thêm nhiều lời nguyền rủa, giận dữ và lo sợ từ đám đông. Sự gay go là một cơ hội hiếm có cho việc tu hành.

Cuộc hành trình được suôn sẻ là nhờ các vị Hộ pháp và sự cam go trên đường phố làm cho cuộc hành trình trở thành một công việc gian nan, thực tế và tốt đẹp. Nhiều sự mầu nhiệm trong chuyến đi này và sự hiện diện của Sư Phụ luôn luôn kề cận.

*****

Quán niệm của Hành giả

Thứ tư, ngày 25 tháng 5 năm 1977.

Kinh nghiệm này thật phong phú cho việc học hỏi, thử thách, và thấy rõ được đủ hạng người và hoàn cảnh. Thầy Hằng Triều và con có nói về những cảnh giới chúng con gặp và việc áp dụng những đạo lý đã được học để giải quyết các vấn đề của chúng con. Lần nào chúng con cũng đều tìm ra vấn đề là do khiếm khuyết trong nhận thức về thực tế của chúng con, do sự vướng mắc, do phiền não, hoặc do một sự bám chấp; chúng con biết rằng chúng con đã tìm thấy căn nguyên của vấn đề và sau đó cảnh giới gần như ngay lập tức được tự giải quyết.

Không phải là điều dễ dàng để hành giả luôn luôn duy trì quán niệm - đặc biệt là ba điều: kiên nhẫn với mọi cảnh giới, từ bi đối với tất cả chúng sanh - thậm chí ngay cả khi các ma quỷ đến khiêu khích chúng con, và lòng xấu hổ - mọi lúc mọi nơi đều luôn nhớ tới những lỗi lầm và khuyết điểm của mình. Khi ba pháp này luôn ở trong tâm con, một loại quyết tâm cứng chắc như kim cang luôn hiện hữu, người khác nhìn xuyên qua con và thay vì thấy con họ lại thấy Kinh Hoa Nghiêm. Đây là điều mà con đang dụng công, con phải làm cho hành vi của mình luôn thanh tịnh. Công việc bây giờ là học hỏi làm thế nào để hành xử đúng đắn như một Tỳ Kheo. Công việc này sẽ không uổng phí!

       

******

Quá nhiều sân hận trên thế giới

Chủ nhật, ngày 29 tháng 5 năm 1977.

Kính thưa Sư Phụ,

Xin Sư Phụ đừng lo lắng cho chúng con - Thầy Hằng Triều và con đều mạnh khỏe cả - chúng con đạt được một nhịp độ đều đặn - và mỗi ngày lạy khoảng năm tiếng rưỡi tới sáu tiếng đồng hồ. Chúng con bắt đầu lạy lúc bảy giờ sáng, đến mười giờ rưỡi thì nghỉ một tiếng để viết thư và sửa chữa đồ đạc mang theo hay ngồi thiền - rồi lại khởi hành lúc một giờ trưa và lạy cho đến sáu giờ chiều, cứ sau mỗi tiếng đồng hồ thì có hai mươi phút nghỉ ngơi tịch tĩnh. Ðến sáu giờ chiều chúng con tìm chỗ đậu xe qua đêm, tắm rửa, ngồi thiền và chuẩn bị tụng kinh tối. Chúng con nghe Kinh Hoa Nghiêm mỗi đêm - con đọc và dịch từ Chương Một - vì chưa có máy thâu băng nên chúng con chưa thể nghe băng của Sư Phụ giảng được - và sau đó chúng con tụng Chú Lăng Nghiêm bốn mươi chín biến (bản ngắn), rồi nghỉ ngơi, mệt nhừ như những đứa bé trai nô đùa ngoài sân cả ngày. Con quên nói thêm là chúng con dậy lúc bốn giờ sáng, làm lễ công phu khuya, tập thể dục, và chuẩn bị khởi hành vào khoảng bảy giờ sáng. Khi rời khỏi thành phố, chúng con sẽ có thể tăng thêm giờ lễ lạy mỗi ngày.

Thể xác chúng con đã từ từ thích nghi với công việc. Mỗi tối đều mệt nhừ và mỗi sáng đều sẵn sàng để đi nữa. Chúng con đã tháo găng tay từ tuần trước vì cảm thấy mang như thế là không thành tâm lắm. Các vỉa hè này khá nhẵn nên chúng con sẽ không cần găng tay cho tới khi nào gặp phải những mảnh thủy tinh và đá sỏi trên lề xa lộ. Chúng con cũng gỡ kính râm ra vì người ta cứ ngỡ chúng con là không tặc. Do lạy quá nhiều nên đầu gối bên trái của con bị bầm sâu, nhức nhối, nên con bắt đầu dùng miếng đệm bảo vệ đầu gối mấy bữa nay. Nhờ có miếng đệm đầu gối con có thể lạy nguyên ngày - hôm qua chúng con lạy được sáu tiếng hai mươi phút. Khi vết bầm lành thì con sẽ lấy miếng đệm đầu gối ra. Thầy Hằng Triều vẫn đội mũ để che những vết đốt xuất gia trên đầu, chúng sẽ lành nội trong một tuần. Chúng con dứt tuyệt mọi lời nói vô ích - phải bít kín lỗ thủng này.

Cả hai chúng con thật trông mong chuyến viếng thăm Los Angeles của Sư Phụ vào tuần tới. Chúng con khao khát được nghe chuyển Chánh Pháp Luân như trẻ con mong chờ cha mẹ. Tâm trí chúng con luôn hướng về Sư Phụ cùng Hội Hoa Nghiêm như đàn ong hướng về mật.

Chúng con đã lạy qua khu Beverly Hills và đang ở gần trường Ðại học U.C.L.A. tại Westwood. Cuối tuần tới có lẽ chúng con sẽ ra khỏi Santa Monica và đến Xa lộ số 1, sẵn sàng để đổi xe van lấy xe đẩy và bắt đầu lộ trình dài về hướng bắc đến Vạn Phật Thành. Mỗi lần nghĩ tới Vạn Phật Thành, con lại mường tượng đến một ngọn đuốc sáng rực trong đêm tối. Viễn ảnh của Sư Phụ về một thành phố Phật giáo đặt trên nền tảng của đạo lý chân và thiện, là thứ lương dược tốt nhất cho tất cả chúng sanh. Ðôi khi, trong lúc lạy ngang qua Los Angeles, con thấy xúc cảm đến rơi lệ - những giọt lệ sung sướng về triển vọng và thiện hảo dành cho phương Tây. Chúng ta có thể thay đổi đời mình và quay đầu hướng thiện; và giờ đây, chúng con có được một con đường để đi, và con đường ấy sẽ mang chúng con cùng cha mẹ, bạn bè già trẻ của chúng con trở về một nơi thanh tịnh, quang minh, quân bình, hòa hợp. Con không quan tâm cho dù đoạn đường từ Los Angeles đến Vạn Phật Thành là 70.000 dặm thay vì 700 dặm. Con vẫn cảm thấy đi và lạy từng bước trên đường Ðạo là niềm tin thiêng liêng của mình.

Ðệ tử Hằng Thật kính cẩn đảnh lễ.

******

Phạm quy củ, làm bể kiếng

Kính thưa Sư Phụ,

Thầy Hằng Thật và con nhận thức được chân lý: nếu chúng con giữ giới luật và quy củ thì mọi việc đều êm xuôi, tốt đẹp. Ngày nọ, vì nghỉ ngơi quá lâu sau khi thọ trai nên chúng con đến chỗ bái lạy trễ cả nửa tiếng. Trong khi chúng con đang kề cà nơi tiệm xăng thì bỗng có một chiếc xe van màu đen chạy lướt tới và đụng bể kiếng chiếu hậu của xe chúng con. Quả báo này phản ảnh lỗi lầm: phạm quy củ, làm bể kiếng chiếu hậu. Bây giờ, mỗi lần con phải ngóng cổ ra để xem chừng xe cộ những khi muốn quẹo vì không có kiếng chiếu hậu, con lại nhớ tới lỗi lầm ấy và ý thức rằng lần sau có thể sẽ đến phiên cái đầu của con!

Lạy, lạy, lạy - hãy lạy mãi. Con có quá nhiều kiêu ngạo mà lại không tự thấy được; con chỉ nhận ra nó từ khi bắt đầu lễ lạy. Giống như hơi thở - quá vô ý thức, quá tự động và máy móc. Chỉ đến khi ngưng thở rồi thì người ta mới nhận ra hơi thở quan trọng đến thế nào. Cũng vậy, chỉ khi bắt đầu lễ lạy con mới thấy tánh kiêu ngạo của con lớn cỡ nào. Bái lạy nâng bổng sức nặng ấy khỏi thân thể của con. Cảm giác an lạc nhẹ nhàng luôn theo sau lễ lạy - lạy trong vòng ảo thuật (magic circle).

Vài mẩu đối thoại:

Hai bà lão vây lấy chúng con. Họ có vẻ thân thiện với nhau, nhưng dường như laị không phải thế.

Bà lão thứ nhất: Trông thật tức cười!

Bà lão thứ hai: Cầu xin phước lành đến cho các ngài!

Bà lão thứ nhất: Tức cười!

Bà lão thứ hai: Cầu xin phước lành đến cho các ngài!

 

Ba cô gái ồn ào như say thuốc (hyped-up) đi ngang qua, nhanh nhẩu hỏi: "Các ông làm gì vậy? Các ông định đi đâu thế?"

Tăng: Như chỗ mà các cô sẽ đi đến - không nơi nào cả.

Các cô: Tại sao các ông phải lạy sụp xuống đất như thế?

Tăng: Ðể chúng tôi khỏi bị lạc đường - vì nếu cao quá thì sẽ dễ bị lạc.

Các cô: Các ông ngủ ở đâu? Nhà trọ ư?

Tăng: Trong túi ngủ (sleeping bags).

Các cô: Tại sao các ông không lái xe thẳng đến Phật Thành này, như thế có phải nhanh hơn không?

Tăng: Thế thì quá dễ. Mọi người đều có thể làm được.

Các cô: Các ông có thuộc phái Hare Krishnas không?

Tăng: Không!

Các cô: Họ cũng cạo đầu vậy?

Tăng: Chỉ giống đến đó thôi.

Các cô: Chúng tôi không hiểu. Tôi muốn hỏi là tại sao các ông phải lạy như vậy?

Tăng: Ðể tẩy rửa hành vi tạo tác của chúng tôi, và hy vọng dẹp trừ được tất cả sự thù hằn, làn sóng xấu xa trên hành tinh này.

Các cô: Chúc các ông may mắn!

Thêm nhiều mẩu đối thoại:

Một cô gái nhỏ đẩy chiếc xe đồ chơi hotwheels lướt tới, từ từ dừng lại cách thầy Hằng Thật vài tấc, và mở to cặp mắt, hỏi: "Ông đang làm gì vậy?" Con giải thích cho cô bé ấy nghe. Lát sau, khi chúng con ngừng lại để nghỉ mệt thì cô ta lại mon men tìm đến: "Tại sao các ông lại dừng?"

Tăng: Chúng tôi không dừng.

Cô bé: Nhưng các ông không lạy nữa.

Tăng: Chúng tôi vẫn lạy bên trong.

Cô bé (im lặng và ra chiều suy nghĩ): Ồ!

Một cô gái lớn tuổi hơn có vẻ bực dọc hỏi: "Thế thì đây là cái gì ?"... Nói chuyện với cô ta không đi đến đâu cả. Cuối cùng cô ta nói: "Vậy ông cứ tin những gì ông đang tin tưởng; tôi cũng vẫn giữ niềm tin của mình. Ông không thuyết phục tôi và sẽ không thay đổi ông!"

Tăng: Cô tin tưởng ở ai?

Cô gái: Tôi tin tưởng ở Chúa.

Tăng: Tôi cũng vậy. Tôi tin tưởng tất cả.

Cô gái (nhấn mạnh, chán chường): Nhưng tôi chỉ tin ở một mình Ðức Chúa mà thôi!

Tăng: Thế Ðức Chúa duy nhất ấy của cô có chỉ tin ở cô mà thôi không?

Cô gái: À, à, ...tự bảo trọng (lẩm bẩm đi khỏi.)

Tăng: Cô cũng thế!

Một chiếc xe hơi bóng loáng chạy rít đến: "Ô hô, ô hô, này - này, các người đang làm gì vậy? Các người có phải là Krishnas không?"

Tăng: Không! Chúng tôi là tu sĩ Phật giáo.

Cô gái: Cái gì?

Tăng: Phật tử. Tu sĩ Phật giáo.

Cô gái: Ồ, tu sĩ Phật giáo! Hay lắm! Tôi thích lắm. Tôi thích lắm

Một người đàn ông lớn tuổi: "Họ ở trong giáo đoàn. Ðây chỉ là một phần thử thách mà họ phải trải qua để được gia nhập vào giáo đoàn."

Một bà lão nhìn với ánh mắt nghi ngờ và suy xét trong khoảng nửa tiếng đồng hồ. Cuối cùng bà nói: "Ðược, cầu Trời ban phước lành cho các ông!" rồi liền rời khỏi.

Thầy Hằng Thật thêm vào: Tôi nghĩ là chúng ta thoát (passed) rồi!

Một thanh niên nhiếp ảnh thành tâm đến xin chụp hình làm tài liệu: "Quý vị có biết không, có cái gì đó thật đẹp, thật tuyệt vời quanh quý vị. Tôi có thể thấy và cảm nhận rõ ràng."

Hai bà lão cùng đi bộ, đi dựa vào nhau, họ ngừng lại kiên nhẫn quan sát, đợi dịp nói chuyện. Một bà lão rụt rè xin phép được quấy rầy chúng con trong chốc lát.

Bà lão: Tôi không cần biết tôn giáo của các ông là gì. Tôi nghĩ rằng cầu nguyện như thế này thật là kỳ diệu, phi thường. Chúng tôi thật rất khâm phục các ông.

Tăng: Thế giới này đầy dẫy thù hận, nếu chúng ta có thể chuyển thù hận thành hoà bình...

Bà lão: Phải. Tôi tin chắc rằng những ai quấy rầy các ông sẽ tìm được đôi chút an lạc cho chính họ!

Hôm nay là ngày "gió lớn"!

 

Ðệ tử Quả Ðình kính lạy

****** *

 

"Chúng tôi đang cố gắng hết sức để về tới nhà!"

Ngày 8 tháng 6 năm 1977.

Kính thưa Sư Phụ,

Chúng con lái xe đến trước để xem xét đường sá: bên này là những dốc đá thẳng đứng, còn bên kia là những ngôi nhà tư nhân nằm dọc theo bờ biển - được bảo vệ bởi những hàng rào kẽm gai và các bảng hiệu ngăn cấm đe dọa để bảo vệ. Từ đây cho tới Malibu, hay có thể xa hơn nữa, cũng đều như thế cả. Chúng con bất đắc dĩ phải quyết định giữ chiếc xe van thêm ít lâu. "Ðừng bó buộc...hãy thuận theo nhân duyên."

Có quá nhiều điều phải học để làm tăng sĩ: oai nghi, giới luật, cách hành lễ, lúc nào thì nên nói và lúc nào thì nên im lặng, nên nói với ai và nên tránh những ai. Mọi việc sẽ đến từ từ và khó làm. Thường thì con học được một cách lẹ làng, nhưng ở đây không phải là vấn đề bắt chước hay mô phỏng theo một cách đơn thuần, mà là sự chuyển đổi từ trong ra ngoài. Nói một cách khác, sự nhận thức phải phát xuất từ bên trong. Không thể gian dối, giả tạo. Cả tâm lẫn trí đều phải chuyển đổi; và công việc ấy đòi hỏi phải có thời gian, một vị thầy giỏi, đức tánh siêng năng, cần mẫn, và lòng kiên nhẫn. Trong khi đó, con cứ phạm lỗi từ những sai sót, cẩu thả nhỏ nhặt cho đến những lỗi lầm nghiêm trọng, to tát. Một tăng sĩ giả dối chắc sẽ bị mọi người nhìn thấy rõ ràng, đặc biệt là chính bản thân vị tăng sĩ ấy.

Thầy Hằng Thật khổ não vì phải chiến đấu với bệnh tiêu chảy suốt cả buổi chiều. Không than vãn - chỉ chịu đựng. Nay thầy ấy đang ngủ li bì như chết, người dựa vào chiếc bánh xe dự phòng. Sau bữa cơm trưa thì những tiếng còi xe và tiếng la hét bắt đầu trở lại. Một chiếc xe chạy đến: "Ê! Tụi bay có muốn một điếu ma túy không?" kèm theo đó là những lời chửi rủa tục tĩu về Chúa Giê su. Cảnh sát (đó là cảnh sát của quận Los Angeles) ngừng lại để xem xét nhưng không tra hỏi gì chúng con cả. Khi thấy chúng con lạy ngang qua, mấy con chó nhỏ chạy đến bên hàng rào sủa lên vài tiếng, thi hành phận sự canh gác của chúng trong những sợi dây màu hồng. Và mọi người chạy bộ chầm chậm ở đây. Từ lúc chúng con thức giấc cho đến khi đi ngủ, tiếng giày quần vợt (tennis shoes) dậm rầm rầm và tiếng người thở hồng hộc không ngừng bao quanh chúng con. Người ta cũng khá ôn hoà và dễ chấp nhận. Chúng con lạy ngang qua như một giọt nước chảy xuôi theo rãnh nước sau cơn mưa lất phất: không bị chú ý, không gặp trở ngại.

Con hy vọng tất cả mọi người tại Chùa Kim Sơn đều được mạnh khỏe. Chúng con rất nhớ những buổi giảng kinh. Mỗi buổi tối chúng con đều có xem Kinh Hoa Nghiêm vào cùng một giờ giấc như mọi người.

Hôm nay chúng con rất mệt nhọc và lại bị rám nắng. Chúng con lạy sát bên đường lộ (vì không có vỉa hè dành cho khách bộ hành mà chỉ có lề xa lộ nhỏ hẹp) theo kiểu luân phiên nhau để được dễ nhận thấy hơn. Tấm áo tràng dài phủ chùng xuống của chúng con quả là những bửu bối bảo đảm an toàn giao thông thực sự: rất dễ nhận diện cùng với những cái đầu cạo nhẵn thín! Từ bãi biển, có vài người la ó: "Về nhà đi, mấy gã trọc đầu!" Con tự nghĩ: "Chúng tôi đang cố gắng hết sức để về tới nhà - thực sự trở về nhà!"

Vào năm phút cuối trong ngày, trên con đường tấp nập, dơ bẩn này, bỗng có một người đàn ông và một người đàn bà tiến đến. Người đàn ông lạy một lạy đảnh lễ, xong dúi vào tay con một vật gì đó, và nói "chúc bình an" hay là "xin vui lòng" gì gì đó (tiếng xe vận tải chạy bằng dầu cặn quá ồn ào đến át cả tiếng nói, nên nghe không rõ), rồi vội vàng bỏ đi. Ðó là một tờ giấy bạc 50 dollars - nửa bức tượng Phật cho Vạn Phật Thành.

Ðệ tử Hằng Triều kính lạy

 

Nói thì dễ mà làm thì khó

Ngày 10 tháng 6, năm 1977.

Kính thưa Sư Phụ,

Chúng con đậu xe tại bờ biển Will Rogers; với bên trái là sóng biển Thái bình dương, và bên phải là Xa lộ 1 như một con sông bằng kim loại đang lưu chuyển. Khi lễ lạy, chúng con đã tự tạo ra những làn sóng nhịp nhàng riêng biệt, và núi non dường như đang cúi mình xuống bờ biển trong một dáng điệu thật uyển chuyển, sống động, tưởng chừng như chúng cũng đang lễ lạy trong Pháp thân của Ðức Phật Tỳ Lô Xá Na.

Cơ hội tu hành theo con đường Trung đạo của Ðức Phật dưới hình thức một cuộc hành trình như kiểu "Ba Bước, Một Lạy" thì thật là kỳ diệu. Có người mong mỏi một cơ hội như thế, nhưng lại không thể nào tìm được. Con ghi chép về việc tận dụng cơ hội này vào sổ tay và con sẽ gởi nó (một bài luận văn dài) về Vạn Phật Thành khi cuốn tập đã đầy chi chít. Nói tóm tắt, thì bài luận văn ấy nói rằng tu Ðạo muốn thành tựu thì không thể cẩu thả, giải đãi, hay chỉ tu bán thời gian, hoặc bất cứ hình thức tu tập nào mà không luôn hoàn toàn thành tâm trong mọi thời khắc. Không thể gian dối, ham nghỉ ngơi. Chúng ta phải thực tâm muốn hành đạo Bồ tát, và muốn làm cho toàn bộ công việc khống chế thân, khẩu, ý trở thành một nề nếp tự nhiên và chân thật của đời sống phát xuất từ cốt tủy/tự tánh. Không có gì khác hơn. Nếu cố gắng hành động có đạo đức được một lần rồi lần sau lại quên bẵng đi, thì đó không phải là Ðạo (con đường) của Ðức Phật! Ðể thực sự xứng đáng với sự giáo huấn của Sư Phụ, để trở thành con thuyền có giá trị đối với Ðạo Pháp, thì sự tu hành của chúng con cần phải luôn luôn đúng đắn và chân chánh trong mọi thời khắc. Ðối với con, điều này có nghĩa là lúc lễ lạy con nên lễ lạy mà không có bất cứ một vọng tưởng, một dục niệm, một sự trông chờ, hay một điều mong cầu, ao ước nào cả. Và rồi, khi công việc lễ lạy hoàn tất, thì phải hành động một cách vô tư, không ích kỷ, không mong cầu, không có những ý nghĩ ích kỷ, và chỉ hành động thuận theo lẽ phải; cho nên, mỗi tình huống đều phản ảnh quá trình tu tập và sự nhận thức của một tu sĩ ở Chùa Kim Sơn. Thái độ của chúng con khi ở ngoài đường phố chính là thái độ khi ở tại Chùa Kim Sơn, chẳng có gì khác biệt.

Ðó là lý tưởng và nói thì dễ mà làm thì khó; và muốn cho lý tưởng ấy trở thành sự thật thì cần phải chuyển hóa toàn bộ tự tánh của con. Ngoài ra, không có gì khác có thể đáp ứng được lý tưởng này. Và nếu cứ chậm chạp như chúng con hiện nay, thì có lẽ chỉ vưà đủ thì giờ để đập bể cái "thùng sơn đen." Không lâu quá một phút, và sự kiện này khiến con thật lấy làm xấu hổ. Việc lễ lạy hằng ngày cho thấy là con có đủ lượng tham, sân, si bằng bất kỳ ba người nào. Và như thế có nghiã là con phải siêng năng, tích cực gấp ba lần để sửa đổi; và nếu con được trở nên hữu dụng cho Tam Bảo, thì đó chính là mục tiêu mà công việc sửa đổi này đang nhắm tới.

Ðệ tử Hằng Thật kính lạy.

*

Vọng Tưởng Gây Ðau Ðớn

Sáng nay (ngày 7 tháng 6), khi lạy dọc theo Pacific Coast Highway, con bắt đầu vọng tưởng về một lá thư mà con cần phải viết. Ðột nhiên con thấy nhức đầu dữ dội - tưởng chừng như có một cái đinh điện đang xoáy vào đầu vậy. Lập tức, con niệm Phật và cơn đau biến mất trong vòng 30 giây.

Tại Kim Sơn tự, trước kia cũng xảy ra tương tự như vậy ngay trước bàn thờ Quán Âm. Cơn đau như một lằn sét đánh và hầu như đã hạ gục con. Sự buốt nhói dần dần lắng dịu xuống khi con bắt đầu niệm Phật.

Dường như lúc bên ngoài tĩnh lặng nhất, thì bên trong lại ồn ào đến điếc tai. Lạy dọc theo công viên ven biển lặng yên, sương mù mờ mịt này tưởng chừng như dễ tập trung tư tưởng lắm. Nhưng bởi một vài nguyên do nào ngờ đó, cái tâm điên cuồng của con lại chạy quay tán loạn, tốc độ thật mau: cố nhớ tên những người bạn cũ, những thức ăn thú vị, những chuyến du lịch thuở xưa, gia đình con. Một số vọng tưởng là "thiện," một số vọng tưởng là "ác". Có vẻ chẳng thành vấn đề gì cả. Ðiểm chính là chúng đến và đến mãi như những làn sóng nhấp nhô vỗ về bãi biển dưới kia. Chuyển động liên tục: biển cả và tâm trí con. Con không thể tưởng tượng nổi là con có thể thực sự ngăn chặn được "cái tâm điên cuồng". "Kiên nhẫn, kiên nhẫn, phải kiên nhẫn!"

Ngay tại điểm này, con cảm thấy được là nó muốn vụt trào ra. Khí lực và sự căng thẳng chồng chất, và nếu con không chú ý kỹ thì sự giận dữ sẽ bùng nổ, hoặc mắt con sẽ bắt đầu đắm vào ngoại cảnh, tai con sẽ để ý và bám theo âm thanh, con cảm thấy bực bội và mất kiên nhẫn - "lửa nổi lên", và nếu con cẩu thả, vụng về thì nhiều nghiệp xấu sẽ chuyển vận thêm. Lắm khi lạy ngang qua những băng đảng phá phách hay những nhóm thợ xây cất hằn học mà còn dễ chịu hơn là lạy qua một công viên yên tĩnh! Nguy biến bên ngoài bắt buộc bên trong phải hoàn toàn chú tâm: bên ngoài êm dịu dễ chịu thì bên trong lại tự do giải đãi, tán loạn.

Ðệ tử Quả Ðình kính lạy.

* * * * * *

Có vẻ "ngu đần" trong chiếc áo tràng đời nhà Ðường

Thứ bảy, ngày 11 tháng 6 năm 1977.

Kính thưa Sư Phụ,

Lạy ngang qua lề đường đầy dẫy những dầu, mỡ, mảnh chai lọ bể và ghét bẩn của nhựa đường làm lem luốc cả áo tràng lẫn y cà sa...tăng y đầy dầu.

Tại bãi biển. Từ đàng sau vang lên một giọng nói nhỏ nhẹ: "Này, bộ các ông không tự thấy mắc cỡ sao?" Chúng con vẫn cứ lạy. Lại nữa: "Này, các ông đang làm gì thế?" Con trả lời: "Chúng tôi là những tu sĩ Phật giáo. Chúng tôi đang cầu nguyện. Ông đang làm gì?" Ông ta đáp lại không chút do dự: "Ngóng đợi các ông thành những kẻ ngu đần."

Nhìn sang bên tay trái, con thấy có hàng loạt người mặc đồ tắm đang chơi bóng chuyền, tắm nắng, bơi lội, lướt sóng, chèo thuyền, ăn uống - hưởng thú vui chiều thứ bảy trên bãi biển. Ðôi khi con có vẻ rất "ngu đần" đối với chính mình. Nướng mình dưới cái nắng cháy người này trong chiếc áo tràng đời nhà Ðường, phủi các mảnh chai cùng cát sạn dính ở tay và trán..., ngay lúc này, con thấy mặt nước kia trông thật quyến rũ. Dầu sao, con cũng đã hưởng qua những thú vui tắm biển và phơi nắng đó rồi, cho nên con sẽ tiếp tục công việc tu hành này nhiều hơn. Song le, mặt biển vẫn có vẻ như mời mọc và chúng con trông vẫn "ngu đần". Ngay đó, con sực nhớ lại lời nguyện của mình và tâm trí con đã sáng suốt, an lạc như thế nào khi phát nguyện; và đột nhiên việc lễ lạy và sạn sỏi và mảnh chai đều cảm thấy như đang ở tại nhà. Chưa bao giờ vui sướng hơn, không bao giờ có vẻ "ngu đần" nữa. Kinh Hoa Nghiêm dạy: "Tất cả niềm vui trên thế gian này đều là đau khổ." Chúng con tìm được phản đề cũng xác thực như vậy: "Tất cả nỗi đau khổ trong khi tu hành đều là nguồn vui."

Ðệ tử Hằng Triều

Kính cẩn đảnh lễ.

 

Một bài thực tập khác về hạnh "quên mình vì người"

Ngày Lễ Lao động cuối tuần.

Kính thưa Sư Phụ,

"Bồ tát, thiên, long đến không vui,

Tà ma, ngoại đạo tới chẳng buồn."

Lắm khi thật khó mà kiềm chế được cảm giác vui mừng tột độ. Hôm nay tâm con tràn đầy niềm vui - con khó thể dằn lòng được. Cảm giác ấy tựa như tất cả các dịp lễ Phật đản, Sinh nhật Sư Phụ và Lễ Vu Lan đều được gộp chung lại thành một món quà bất ngờ - một chuyến viếng thăm từ hư không của Sư Phụ cùng với mười bốn hành giả và đạo hữu từ Chùa Kim Sơn.

Nhân dịp gì? Chỉ là một bài thực tập khác về hạnh "quên mình vì người" của hàng Bồ tát. Có nơi nào khác trên thế giới này có những người như những người này, thức dậy lúc bốn giờ sáng, rồi từ San Francisco lái xe suốt 350 dặm về hướng nam để tới Santa Barbara, chỉ để mang thức ăn trưa và động viên, khuyến khích hai thành viên của gia đình đang trên một cuộc hành trình làm việc dài dằng dặc? Không thể diễn tả được! Làm thế nào mà họ tìm ra chúng con - phân nữa bị che trong bóng mát tách khỏi xa lộ độc nhất bên ngoài thành phố Santa Barbara? Vì sao mà cả Thầy Hằng Triều và con đều linh cảm là hôm ấy sẽ có chuyện đặc biệt xảy ra? Sáng nay Thầy Hằng Triều nói: "Hôm nay chúng ta hãy lạy ở phía ngoài và để cho dễ thấy." Tại sao vài tiếng đồng hồ trước khi mọi người tới, con lại đi quét dọn chỗ ngồi dưới một tàng cây khuynh diệp - chính là gốc cây mà chúng ta đang ngồi này? Tại sao cả ba chiếc xe theo nhau chạy hết tốc độ, không bị giấy phạt, đều phải hỏi khách qua đường mới biết đường đi, mà lại có thể đến đây cùng một lúc - ngay trước giờ thọ trai - được chứ? Chỉ duy nhất là do thiện lực mới có thể khiến cho điều kỳ diệu nhỏ nhoi mà chúng con nhìn thấy hôm nay xảy ra được mà thôi. Tất cả chúng con đều được chứng kiến tận mắt một kỳ công của kỹ thuật thần thông, điều thường hay xảy ra tại Chùa Kim Sơn.

Như thường lệ, hôm ấy, chúng con đang ngồi trong xe van vào giờ thọ trai, vừa tụng xong bài kệ cúng ngọ và mới bới cơm ra chén. Trước khi kịp đút muỗng cơm đầu tiên vào miệng, con thấy đôi mắt Thầy Hằng Triều mở lớn rồi reo lên: "Sư Phụ!" Con tự nghĩ: "Vô lý! Làm gì có chuyện đó. Nhưng, khoan đã! Mình từng biết cảm kích những chuyện không thể có!" Thầy Hằng Triều lại reo: "Sư Phụ!" Con quay nhìn và trông thấy Sư Phụ, thân đắp tấm y vàng rực rỡ, đang băng qua những vệt nắng và tiến đến chỗ xe chúng con.

Kìa, tất cả đang bước đến - ba chiếc xe đầy những khuôn mặt rạng rỡ với ánh sáng từ nội tâm - Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Sa di, Sa di ni và các cư sĩ - đối với con thì những bậc anh hùng, anh thư của Ðạo vốn chăm chỉ và có phẩm cách tốt này còn thân thiết hơn cả bà con ruột thịt: Thật là một chúng hội kỳ diệu và hiếm có!

Tất cả đồng ngồi xuống thọ trai và lắng nghe những mẩu chuyện cùng những lời thuyết giáo. Mọi người cười vui vẻ và chia xẻ thức ăn cùng các thức cúng dường với chư Pháp hữu; sau đó, đại chúng lại đứng lên và ra đi tiếp tục cuộc hành trình diệu vợi trở về thành phố. Họ xuống đây chỉ để mang ánh sáng lại cho chúng con. Kỳ diệu trong kỳ diệu. Con tưởng như mình là người gỗ - sững sờ, bất động. Con muốn cảm ơn và đáp lại lòng tử tế cũng như việc làm của mọi người - nhưng chỉ biết dùng đôi mắt và một tấm lòng nói thay cho mình.

Ngồi cạnh Sư Phụ giống như ngồi cạnh dòng suối ánh sáng trong mát. Mọi ý niệm trong đầu (đầu của ai?) đều dứt bặt. Chú Ðại Bi dường như tự niệm - đều đặn và bình thường như nhịp đập của trái tim. Những cảm nhận đều trong sáng, sắc nét và thanh thản. Không còn âu lo, không còn áp lực. Ngay cả nếu con được giáo huấn hay bị la mắng đều cảm thấy như nước cam lồ. Con chắc chắn rằng ngồi trong Pháp hội của Ðức Thế Tôn cũng rất giống như thế này.

Sau đó, thật là bất khả tư nghị, Sư Phụ đưa tay xoa đảnh đầu con và Thầy Hằng Triều. Con cảm thấy khí lực như một luồng điện chạy xuyên qua tim xuống tới đầu ngón chân, và ngược trở lại. Khi búng đầu ngón tay vào trán chúng con, Sư Phụ cười hỏi: "Chín chưa? Có chín không? Qủa dưa này chín tới chưa?"

Buổi chiều hôm đó, chúng con lễ lạy mà cứ như ở trên không. Chúng con ngước nhìn thấy một đám mây trắng lớn bằng cỡ vùng Sierra Madres bên dưới. Ðám mây độc nhất trên nền trời xanh thẳm này đang bay về hướng tây bắc và có hình dáng tương tự như một con rồng đang uốn lượn với đầy đủ các chi tiết như đuôi, tai, móng... Và khi trời chiều chuyển dần sang đêm tối, con rồng ấy bay xa dần về phương bắc. Chúng con có cảm giác là con rồng này đang bay lượn ở phía trên đoàn xe của các hành giả đang trên đường trở về Chùa Kim Sơn.

Do đó có những ngày đặc biệt, khó lòng mà đè nén được nỗi vui mừng khôn xiết; và Ngày Lao động 1977, cây khuynh diệp cao thon, tàng cây "Bạch hoa thọ" che mát bữa thọ trai dọc bên xa lộ Hoa Nghiêm, tất cả sẽ sống mãi trong ký ức chúng con. Có chia sẻ nhân duyên với những hành giả nguyện dành trọn cuộc đời để làm cho người khác được vui sướng mà không hề có mảy may ý nghĩ về bản thân của chính họ, quả thật sự là một cuộc sống đáng sống.

 

Ðệ tử Quả Chân (Hằng Thật)

Kính cẩn đảnh lễ.

 

Sư Phụ và các đệ tử thọ nhận cúng dường vào buổi trai ngọ và chia sẻ Phật pháp cùng các thí chủ cúng dường. (Mùa thu, 1977)

*

Kính thưa Sư Phụ,

Sáng chủ nhật, khi đang lạy, con chợt thấy một cảnh tượng là mọi người ở Chùa Kim Sơn đều đang có cơ hội tự thực hành hạnh lạy một lạy sau mỗi ba bước. Tại gia cũng như xuất gia, tất cả đều theo cái Pháp đặc biệt "tận hư không" của riêng chúng con. Vẻ mặt cùng sự hiện diện của mỗi người đều rạng rỡ và điềm tĩnh. Những gương mặt hân hoan dường ấy! Không một khuôn mặt nào lộ vẻ băn khoăn, nghi ngờ; mỗi mỗi đều dịu dàng, chân thành, rực sáng niềm vui! Thật là đặc biệt! Tuy mỗi người đều khác biệt nhau, song tất cả đều phản ảnh sự thanh tịnh và chân thật như nhau. Có một sự gắn bó mật thiết; một đại gia đình Pháp hữu soi chiếu lẫn nhau.

Và rồi, thứ hai, ngày mốt, ai sẽ đến nữa? Sư Phụ cùng tứ chúng! Con muốn ôm chầm lấy mọi người và tặng họ một vài thứ gì đó. Vài giọt lệ rơi vào tô mì sợi khi con mãi nhìn các gương mặt vây quanh; rồi lòng tốt được san sẻ và chói ngời khi mọi người cùng ngồi dưới những tàng cây khuynh diệp, nơi mà vài phút trước đây đối với chúng con chỉ là một trạm dừng chân tạm nghỉ mà thôi.

Tỳ kheo ni Hằng Ẩn nhón chân đẽo khắc và ghi dấu kỷ niệm buổi họp mặt hôm nay bằng con dao Thụy Sỹ trên một thân cây khuynh diệp to lớn, trong khi một du khách tên Malcolm với dĩa thức ăn chưa được đụng đến đặt trên đùi đang ngạc nhiên trố mắt nhìn. Malcolm đã mang một trái dưa đến chia xẻ với hai tăng sĩ trong một buổi thọ trai tịch lặng, và sau đó mọi người quen nhau. Với lòng từ bi quảng đại và khó cưỡng lại, Sư Phụ ra hiệu mời anh ta cùng đến tham dự. Con thấy mình giống Malcolm một chút: không thốt nên lời và bị choáng ngợp bởi oai đức trang nghiêm của đại chúng.

Mọi người ra về cũng lẹ làng như khi đến. Sư Phụ nói: "Không có vấn đề gì cả!" Một đám mây trắng lớn có hình dạng như con rồng dài chừng một dặm lơ lửng hàng giờ trên bầu trời đáng lẽ không có mây. Nỗi hân hoan và thư thái mà Sư Phụ mang lại cho nội tâm cùng công việc của chúng con, sẽ sống với chúng con qua nhiều dặm đường lễ bái.

Nhưng lại có việc còn kỳ diệu hơn nữa. Sư Phụ biết đích xác đoạn kinh văn trong bộ Kinh Lục Tổ mà chúng con vừa xem đúng vào buổi sáng hôm ấy. Những lời bình phẩm, ám chỉ của Sư Phụ về đoạn kinh văn ấy chỉ thẳng ngay trước mũi! Không những thế, Sư Phụ còn biết được những ý tuởng thầm kín và những vấn đề rắc rối trong tâm con trong mấy ngày qua. Con chưa bao giờ nói với ai, ngay cả với thầy Hằng Thật. Sư Phụ cười và hỏi: "Vậy thì làm thế nào mà Sư Phụ biết được?" Và thầy Hằng Thật cũng gặp trường hợp tương tự. Sau khi mọi người rời khỏi, chúng con trở lại như những đứa bé mười tuổi, tươi cười và chuẩn bị đối mặt với những thử thách mới trên xa lộ Ngày Lễ Lao Động. "Nguyện cho tất cả chúng ta sẽ cùng nhau đi đến Toàn Giác. Tôi hy vọng thế. Tôi ước ao như thế."(1). Chúc tất cả được nhiều an lành trên đường Ðạo.

Ðệ tử Qủa Ðình (Hằng Triều)

Kính cẩn đảnh lễ.

 

Chú thích:

(1) Lời trong bản nhạc "Study Buddhism": Hoà Thượng viết lời, Sư Cô Hằng Ẩn phổ nhạc (trong Kinh Nhật Tụng của Vạn Phật Thánh Thành).

 

***

Những cư sĩ thường đến chỗ lễ bái, mang theo thực phẩm và sự khích lệ. (Mùa thu, 1977)

 

******

Hai "tu sĩ" hành hung một thiếu niên

Ngày 16 tháng 6 năm 1977.

Kính thưa Sư Phụ,

Chúng con hiện ở cách Malibu ba dặm và đang lạy dọc theo những rãnh nước và những lối xe chạy của Xa Lộ Ven Biển Thái Bình Dương (Pacific Coast Highway). Ông Hồ Quả Thật và bà Hồ Quả Tướng sẽ đến đây vào Chủ nhật này với chiếc xe đẩy nhỏ mà chúng con đã đậu ở Chùa Kim Luân, và họ sẽ lái chiếc xe van màu xanh lá cây về lại South Pasadena. Vùng ngoại thành Malibu trông giống như chốn thôn quê mở rộng và chúng con có thể sẽ tìm được những địa điểm để dựng lều cắm trại lúc về đêm. Bấy giờ, hương vị của cuộc hành trình sẽ thay đổi - không còn "nhảy cừu (leap-frogging)" băng qua traffic tới một khoảng trống đậu xe, và rồi đi bộ trở về nơi khởi điểm để lại bắt đầu lễ lạy. Nhưng để vượt qua những chặng đông dân cư trong cuộc hành trình, vượt qua Los Angeles, thì xe van là phương tiện duy nhất để di chuyển. Hiện tại, chúng con đang lạy trên con đường thênh thang với xe cộ vù vù lướt qua, chân lý của câu cách ngôn: "Hễ đến được núi, tất có đường lên," thật là rõ ràng. Cái gì dưới con mắt của các tăng sĩ và khách bộ hành như là một chặng đường hoàn toàn không vượt qua được, thì dường như nhìn từ đầu gối lại rất khác biệt . Chỗ trống để lạy luôn luôn hiện ra trước mắt chúng con một cách tự nhiên và không tốn công sức. Thật rất đáng ngạc nhiên. Có nhiều người tiến đến và hỏi: "Các ông đã lạy xuyên qua đó thật ư? Ở đâu?" Con hy vọng là khi chúng con gặp các xa lộ thì chúng cũng giống như vậy.

Phật tử Chùa Kim Sơn từng được tiếng tốt với giới chức luật pháp - vì là những công dân biết sống hòa thuận, tôn trọng luật pháp, tuân theo luật lệ. Tuần vừa qua, tại Topanga, không cách xa đây lắm, đã xảy ra một vụ phạm pháp tệ hại: Có hai người đàn ông trẻ tuổi mặc áo tràng, đầu cạo nhẵn, được mô tả là rất giống chúng con, đã hành hung một nam thiếu niên 16 tuổi và dí dao vào người đứa bé ấy cả một tiếng đồng hồ. Hai nhân viên cảnh sát Los Angeles đã chận chúng con lại, khám xét chúng con, và làm một loạt kiểm tra đối chiếu với các lệnh truy nã, thẻ căn cước (I.D.), vân vân.... Khi họ khẳng định rằng chúng con không phải là những kẻ mà họ đang truy lùng, họ mới dịu đi bớt (họ nói là họ nghĩ rằng hung thủ là người thuộc phái Hare Krishnas) và hỏi thêm đôi chút về cuộc hành trình của chúng con. Các viên chức cảnh sát đều có khả năng và họ ra đi sau khi chúc chúng con may mắn. Ba ngày sau (chiều qua), một đoàn gồm bốn chiếc xe tuần tiễu của cảnh sát và một chiếc quân nhu bao vây chúng con một cách bất ngờ. Không biết họ từ đâu hiện ra, mà tụ lại đông đảo như bướm đêm nhung nhúc chung quanh bóng đèn. Nhóm này không biết là đã có nhóm khác đến khám xét trước rồi, nên hầm hừ, thận trọng tiến đến hỏi: "Các ông có mang theo dao gì trong người hay không?" Thầy Hằng Triều trả lời: "Chúng tôi không được phép mang theo vũ khí, vì như thế là trái với luật lệ." "Ồ! Các ông là Phật tử hay là người theo phái Krishnas?" "Chúng tôi là Phật tử!" "Ồ! Thì ra là các ông. Okay. Không có gì cả. Này, các ông lạy như thế suốt ngày phải không?" Thầy Hằng Triều đáp: "Phải. Chúng tôi thức dậy lúc 4 giờ sáng, rồi cầu nguyện, ngồi thiền, và đi lạy cho đến 10 giờ tối. Chúng tôi chỉ ăn mỗi ngày một bữa cơm chay mà thôi." Có tiếng huýt gió thán phục, những nụ cười toe toét và những cái lắc đầu nhè nhẹ từ phía các cảnh sát viên: "Ồ! Mỗi ngày chỉ một bữa ăn duy nhất? Thôi được, hẹn gặp lại các ông sau. Hãy coi chừng xe cộ. Chúc các ông được may mắn!"

Bạch Sư Phụ, chuyến viếng thăm Chùa Kim Luân của Sư Phụ đã đem lại cho chúng con một nguồn khích lệ vô hạn và đã điều chỉnh công việc của chúng con theo những đường hướng kỳ diệu. Ðược tận mắt nhìn thấy Sư Phụ với tấm lòng bao dung, không ích kỷ, đầy đạo đức, và từ bi đã mang lại cho chúng con một niềm hoan hỷ lớn lao. Tại Chùa Kim Sơn, thật dễ dàng để nương tựa vào sự hiện diện thường xuyên và đức hạnh mẫu mực hằng ngày của Sư Phụ. Xa Chùa Kim Sơn, trên đường phố này, va chạm với mọi tầng lớp từ khắp mọi nơi, chúng con càng nhớ và càng cảm kích phong cách cao thượng, biện tài vô ngại, khả năng biết rõ bản tánh chúng sanh và thông hiểu được nhân duyên cũng như căn cơ kẻ khác của Sư Phụ. Ðiều kỳ lạ nhất ở bậc Thánh nhân là sức mạnh của nước: nó không bao giờ tranh chấp dù ở bất cứ thời điểm nào. Nó nhường nhịn, giữ lấy chỗ dưới chót, chỗ thấp kém nhất, tùy thuận theo mọi nhân duyên mà không hề tranh chấp. Nói thì rất dễ, làm thì lại quá khó, và được chứng kiến là đáng kinh ngạc nhất. Con nhận ra mình đang hỏi chính mình: "Sư Phụ sẽ đối phó ra sao nếu gặp phải hoàn cảnh như thế này?" Câu trả lời là: "Ðừng sanh vọng tưởng. Không hề chi! Con định làm gì? Con không thể dựa vào Sư Phụ cả đời được. Hãy tự đứng dậy! Hãy sử dụng trí huệ của riêng con! Hãy tùy duyên mà bất biến! Hãy hồi quang phản chiếu, hãy nhẫn nhục và 'đừng nóng giận, Ta bà ha.' Hãy nhu nhuyễn như nước. Tánh mềm dịu thắng được tánh cứng rắn.

Con có viết một bài văn cảm ứng và trong đó có đoạn như sau:

"Con có đạt cảm ứng gì chưa? Không, không có gì huyền diệu. Con là một kẻ sơ cơ quá mới mẻ với quá nhiều nghiệp chướng nợ nần cần phải trả; nhưng mặt khác, con đã từng đạt được sự cảm ứng ngay trong pháp thế gian. Con thấy rõ nền tảng tu hành cùng mục đích đời mình. Ðây là một sự cảm ứng. Con không biết cách bay ngay cả cách chạy. Con chưa biết cách đi như thế nào, nhưng con đang thực hành lễ bái; và chắc chắn, dần dà, dưới sự dẫn dắt nhẫn nại và từ bi của vị Thiện tri thức, sẽ có ngày con biết được cách làm thế nào để tự đứng dậy, cũng như làm thế nào để ủng hộ Phật giáo (2)."

Viết vội trong lúc đợi một cơn tiêu chảy nữa vào một buổi trưa rất nóng nực:

Ba Bước Một Lạy/Tu Hành Tại Kim Sơn Tự Là:

Không nói chuyện, không uống rựợu, chỉ tụng kinh.

Không nhìn đó đây, không hút thuốc, chỉ tự xấu hổ.

Không đùa giỡn, không đặt lưng nằm xuống, chỉ tự phản tỉnh.

Không nhìn ngắm, không giải đãi, chỉ nghĩ đến kẻ khác.

Không nghe ngóng, không trốn tránh.

Không có tự ngã (no self).

 

Ðệ tử Hằng Thật kính lạy

 

Chú thích:

(1) Là ông Bác sĩ Westley Woo (Quả Thật) và vợ là bà Quả Tướng (Helen Woo), hai cư sĩ hộ pháp nhiệt thành cho Vạn Phật Thánh Thành và cho chuyến hành trình Tam Bộ Nhất Bái này.

(2) Thừa truyền mạch Pháp, vị giáo tăng quang.

 

Suýt chết trên Xa Lộ số 1 

Ngày 16 tháng 11 năm 1977.

 

Kính thưa Sư Phụ,

Lắm khi, tu hành Bồ tát đạo lại rất "có thể nghĩ bàn". Chúng con nghỉ chân nơi bãi cát có cây sồi um tùm và cỏ cháy khô cằn. Trên ngọn đồi, ở về hướng tây là Nhà Tù Liên Bang Lompoc, và nằm về phía bắc là Căn Cứ Không Quân Vandenberg. Khó mà hình dung ra được một phong cảnh của tháng mười một âm u, mây mù ảm đạm. Chúng con vừa hoàn tất việc lễ lạy trong ngày và cơn gió lướt qua đỉnh đồi từ ban trưa bây giờ thổi ngược trở lại. Con thắp đèn dầu để viết những dòng chữ này về những gì xảy đến cho con lúc nãy ngay khi mặt trời lặn, ráng đỏ và có gió thổi mạnh.

Công việc của Bồ tát thì không bao giờ xong cả; việc tu hành không phải là ngày ngày từ chín giờ sáng tới năm giờ chiều. Không phải ngày đi làm là thứ hai đến thứ sáu, cũng không có hưu bổng lúc 65 tuổi. Kinh Hoa Nghiêm dạy rằng chúng sanh thì vô lượng vô biên, không cùng tận, song bậc Bồ tát phát nguyện cứu độ hết thảy. Cho nên, công việc của Ngài không hề ngừng dứt. Bồ tát cũng tự độ lấy chính Ngài; và nhờ y theo Chánh Pháp tu hành, Ngài chứng đắc được trí huệ, lòng từ bi cùng các năng lực thiện xảo. Trí huệ này giúp Ngài nhập vào giữa chốn thế gian dày dạn, bùn lầy mà làm việc để cứu độ chúng sanh ngay tại nơi họ đang sinh sống và chịu nhiều đau khổ nhất. Tuy nhiên, bậc Bồ tát đã phá vỡ, xả bỏ hết mọi ngã chấp. Ngài không còn lòng tham dục, cho nên, những việc mà Ngài làm vì người khác đem lại cho Ngài nhiều an lạc và toại ý hơn là một đời sống với các trò tiêu khiển cùng các thú vui hưởng thụ ích kỷ. Bồ tát nghỉ ngơi ngay trong công việc và làm việc trong lúc nghỉ ngơi. Cuộc sống là công việc và công việc là phúc lạc - một trạng thái kỳ diệu thật sự của nội tâm.

Con vừa viết đến đây thì nghe có tiếng ai gõ vào cửa xe và một giọng nói vội vã vang lên trong bóng đêm: "Này, xe chúng tôi bị lún cát, quý ông có thể giúp kéo lên không?" Thầy Hằng Triều không chút do dự, bước ngay ra ngoài cửa, và thấy hai thanh niên thần thái bất an. Thầy nói: "Ðược, chúng tôi sẽ đến ngay!" Chúng con thu xếp đèn nến và thiền cụ lại, rồi lái xe băng trên cát để lôi một chiếc pickup truck lên đường lộ. Việc trì tụng Chú Ðại Bi vào những lúc không lạy hay tụng kinh đã thành tự động với chúng con. Chính thần lực của Chú Ðại Bi đã nhấc bổng chiếc xe vận tải nhỏ ấy lên dễ dàng và chiếc Plymouth của chúng con cũng góp thêm sức mạnh cứng cáp vào đó. Chúng con băng qua ánh đèn pha trở lại xe mình.

Người đàn ông đã thấy nhẹ nhõm đi nhiều, nói với chúng con: "Xin cảm ơn các bạn. Các bạn thực là vị cứu tinh của tôi!"

Thầy Hằng Triều đáp: "Không có chi!"

Việc nhỏ và thành tựu dễ dàng, nhưng nó đã tiếp thêm niềm vui và ánh sáng cho vùng duyên hải California hiu quạnh này.

Vào những lần khác, những sự kiện xảy ra trong khi tu Ðạo thì quả thật không thể nghĩ bàn. Chúng ta nhìn thấy được rất ít của những gì đang thật sự đang xảy ra trên thế gian đằng sau bề mặt của tri giác. Chúng ta chỉ chắp nối, vá víu những mảnh nhỏ và các tiếng dội của hiện thực lại với nhau. Chiều thứ sáu đang lạy đột nhiên con cảm thấy như có sự hiện diện của Sư Phụ ngay trong tâm mình. Ngài ngồi kiết già, có vẻ đang niệm chú, và ảnh tượng này làm tâm con lắng dịu sâu xa. Ðột nhiên, con nghe tiếng xe thắng rít và một đám khói đen lớn bốc lên ở khoảng 50 thước về phía trước. Sau này thầy Hằng Triều mô tả lại bối cảnh: "Rõ ràng là một người lái xe đã ngủ gật ngay trước tay lái nên đã lái chệch khỏi đường lộ. Chiếc xe ấy phóng lên dốc đá cao sáu bộ Anh (6 feet - khoãng 1 mét 8) rồi quẹo, vẫn chạy hết tốc độ, và lao thẳng xuống hai chiếc xe hơi cùng một chiếc vận tải đang chen chúc ở những đường lanes bên dưới. Không hiểu sao chiếc xe ấy lại len vào giữa một chiếc van và một chiếc vận tải, tránh được cả hai xe trong đường tơ kẽ tóc và tiếp tục lao xuống đường lộ, để lại mấy người lái xe mặt mày thất sắc, tay chân bủn rủn, nhưng vui mừng được sống sót. Nếu mấy chiếc xe này đụng nhau thì chúng ta hẳn sẽ ở ngay chính giữa chỗ xảy ra tai nạn - Diêm Vương sẽ có một ngày bận rộn đón tiếp những linh hồn mới đến từ Xa Lộ 1!". Kỳ diệu hơn nữa, ngay sau khi sự việc này chấm dứt thì hình ảnh của Sư Phụ trong tâm con cũng từ từ mờ nhạt đi rồi mất hẳn. Cái gì thật sự liên quan? Ai đã cứu những sinh mạng này từ một khoảng cách chừng 400 dặm một cách vô hình và người ấy cũng chẳng trông đợi một lời cảm tạ hay bất cứ một sự ghi nhận về công lao nào cả? Con không hoài nghi gì cả rằng chính sự thị hiện đúng lúc của Sư Phụ đã ngăn cản vụ đụng xe trên đường. Chứng minh ư? Không có cách nào giải thích được làm thế nào một chiếc xe đang chạy rơi xuống lại chen sít sao vào lại đường lộ. Đã bao nhiêu lần rồi những việc tương tự như thế này đã từng xảy ra trong đời nhiều đệ tử : những lần vừa kịp thoát chết, khi Bồ tát Quán Thế Âm hiện ra trước mặt mọi người trong khoảnh khắc nguy hiểm rồi lại biến mất lúc tất cả đã được an toàn?

Khi chúng con nỗ lực làm cho tâm mình thành một nơi thanh tịnh, con thấy mình luôn quay về căn bản. Như điều đầu tiên mà một Phật tử sơ cơ phải học là chắp tay với lòng thành kính chẳng hạn. Chắp tay biểu hiện sự nhất tâm. Vì việc dụng công tu hành vốn đặt trên đất tâm, cho nên sự nhất tâm là trọng yếu nhất. Con nhận thấy cái ấn chắp tay của mình từ từ cẩu thả, có các khe hở giữa các ngón tay và ngón cái. Tuần trước, lúc đứng cạnh Sư Phụ trước khi Ngài thuyết pháp ở Kim Luân tự, con chăm chú ngắm nhìn Sư Phụ lễ Phật. Con thấy lòng xúc động sâu xa. Khi Sư Phụ chắp tay lại, Ngài triệt để quy vào sự lễ bái - một sự hoàn hảo chỉ có được khi tâm niệm quy nhất. Con cố gắng áp dụng lối chắp tay mới mẻ, hoàn hảo trong lúc lễ lạy và sự để tâm vào hình thức bên ngoài quả đã khiến cho nội tâm con lắng dịu. Những vọng tưởng cũng dễ trừ khử hơn khi hai bàn tay con chắp lại khít khao, không còn khoảng cách hay có kẽ hở. Hãy quay về căn bản.

Ðược mục kích sự lễ lạy của Sư Phụ là một bài học về tánh khiêm tốn, một thứ lương dược đối trị ngã mạn và cũng là một mẫu mực cho chư thiên cùng nhân loại. Sự lễ lạy của Sư Phụ là một sự chuyển hóa mầu nhiệm toàn bộ: khi Sư Phụ lạy, Ngài biến mất. Tình trạng hoàn toàn không có tự ngã của Sư Phụ thể hiện rõ rệt, chừng như Sư Phụ đã khế hợp, trở thành một thể với chư Phật mà Ngài đang đảnh lễ vậy. Con không biết được cảnh giới của Sư Phụ khi Ngài cúi lạy hay trong những trường hợp khác, nhưng có cái gì đó rất thanh tịnh và đặc biệt đã xảy ra lúc Ngài lễ Phật. Chỉ là đảnh lễ. Dường như không có người lễ lạy và cũng chẳng có người để đảnh lễ, đó chẳng qua chỉ là một sự kính cẩn thâm sâu và đơn thuần; kỳ diệu khi được nhìn thấy. Trở về đường lộ, con học lại từ đầu để lạy cho đúng đắn. Hết lòng hạ bản ngã thấp xuống mặt đất với tâm chí luôn tưởng đến Thường Trụ Tam Bảo, rồi đứng dậy và chắp hai tay lại với một sự nhất tâm trên suốt quãng đường tìm đến Vạn Phật Thành. 

 

Ðệ tử Quả Chân (Hằng Thật)

Kính cẩn đảnh lễ.

 

Kính thưa Sư Phụ,

Con hiện đang đợi xe tại một trạm xăng thuộc vùng Lompoc. Trước mặt con là vùng đồng quê hoang vu, trống trải, không có phố xá ngoại trừ một vài trạm xăng dành cho cuộc hành trình "lạy dặm trường." Do đó, con phải vào thành phố mua đồ phụ tùng và tu bổ lại những chỗ cần thiết để chuẩn bị cho nhiều tuần lễ sắp tới. Thầy Hằng Thật đang lạy trong cánh đồng cao nguyên trơ trọi, nằm trên những ngọn đồi ngó ra Nhà Tù Liên Bang ở bên ngoài Căn Cứ Không Quân Vandenberg. Ðây là nơi chúng con cắm trại tối qua. Những người thợ máy có lời khuyến cáo và bông đùa về những chặng đường sắp đến, và chúc chúng con được may mắn.

Bạch Sư Phụ, thật là buồn cười, nhưng mới đây trong chuyến hành hương này con khám phá ra rằng càng lúc con càng tự nhiên và thành thật giữ im lặng. Nó chẳng phải là không có ý nghĩ hay sự cảm xúc. Con vui vẻ và no nê, nhưng không phải về những lời đàm luận, chuyện trò. Cho nên thật khó đặt bút, bởi vì đây là một chốn mới mẻ và xa lạ. Các lời trong kinh là những gì con thích nghe và thích lập lại nhất, mà đặc biệt là Kinh Hoa Nghiêm. Những lời kinh vang vọng trong tâm chúng con suốt ngày và là một phần của sự tĩnh lặng này. Sự huyên náo cùng các âm thanh khác đến rồi đi, nhưng âm vang của lời kinh vẫn cứ tồn tại, trực tiếp nói lên các kinh nghiệm và hoàn cảnh của chúng con. Âm thanh của lời kinh đều tự nhiên và hòa lẫn với sự tĩnh lặng của gió, cây.

Có một sự khế hợp tinh tế, hài hòa giữa những đạo lý này với tâm chúng con. Khi chúng con đọc các lời trong Kinh điển cho nhau nghe, cả hai khuôn mặt và cặp mắt đều sáng rực, reo lên: "Ồ! Ðúng rồi đó! Nó là như thế đó!" Rồi hai cái đầu cùng gật gù, hai khuôn mặt cùng tươi cười tán thành. Chúng con thường có cảm giác như có thêm một pháp hữu khác nữa - một pháp hữu thông thái, không hề nhầm lẫn, hiểu rõ những ý nghĩ và cảm xúc sâu kín nhất của chúng con - đó là Kinh Hoa Nghiêm!

Những gì chúng con trải qua, kinh điển đều giải thích rõ; và những gì được giảng giải trong kinh điển, chúng con đều trải qua. Khi đạt tới một giai đoạn trong sự tu hành mà trước kia cả hai chúng con đều chưa hề biết đến, thì bao giờ tối đến kinh điển cũng soi tỏ, giảng giải và cắt nghĩa về cảnh giới ấy. Thật là bất khả tư nghị! Và, có quá nhiều điều để thâm nhập, tìm hiểu!

Hôm thứ ba, khi chúng con lạy ngang qua thành phố nhỏ Vandenberg Village vào lúc mặt trời lặn, thì có một nhóm khoảng ba mươi người xúm lại chung quanh - dòm ngó, bàn tán xôn xao và lấy làm lạ về chúng con. Một cụ già thấp bé bước ra khỏi nhà, kính cẩn tiến đến cúng dường. Với nụ cười hiền hòa và dáng điệu chỉ tay về hướng bắc, ông ta bày tỏ không bằng lời nói: "Hy vọng vật thực này sẽ trợ giúp các ông trên đường đi. Hãy tiếp tục. Chúc các ông được may mắn!" Ðột nhiên nhóm người căng thẳng và bất an đang lặng lẽ quan sát lại tản mác ra. Nhiều phút sau, họ trở lại và hùa nhau mang ra tiền bạc cùng những thực phẩm cúng dường. Già, trẻ, cháu chắt, ông bà, tất cả đều tươi cười, bố thí và chúc phúc cho chúng con. Sức mạnh từ sự bố thí và thâu nhiếp của một người đã chuyển hóa cả nhóm người hầu như đối nghịch thành những kẻ chúc phúc hoan hỷ!

Lúc từ trạm xăng trở lại, con thấy thầy Hằng Thật đang lễ bái trong một cánh đồng trống, lộng gió bên ngoài Highway 520, với khuôn mặt tươi cười và tràn ngập vẻ khinh an (nhẹ nhàng, thanh thản). Khi chúng con im lặng ngồi thọ trai trong chiếc xe Plymouth cũ kỹ - bữa ăn gồm có bánh mì, trái cây, đậu và rau cải - con nhận thấy như chúng con đã tự mình lễ lạy vào một thế giới khác - một nơi trong suốt như lưu ly, thanh tịnh và hỷ duyệt - và chúng con chỉ vừa bắt đầu. Tâm trí con đi đến Chùa Kim Sơn và một thoáng về Sư Phụ cùng toàn thể đại chúng. Từng khuôn mặt hiện ra, chen chúc nhau trong chiếc xe, tất cả đều sung mãn pháp hỷ, cùng nhau rời bỏ cõi Ta Bà bụi bặm. Ðây đích thực là nhà : Thường trụ Tam Bảo không nơi chốn hay giới hạn.

Một ngày nào đó, những khuôn mặt mà chúng con gặp gỡ trong lúc lễ lạy sau mỗi ba bước - cảnh sát, trẻ con, thợ máy, hươu nai, kiến, người già, kỹ nữ, phóng viên, gió, đá và mây trời - sẽ thành một khuôn mặt. Tất cả sẽ quay về và nương tựa nơi Thường trụ Tam Bảo ở ngay trong tự tánh thật sự của chúng con. Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh. Tất cả đều sẽ thành Phật. Hôm nay là một ngày rất vui!

Một người đàn bà chạy băng qua bốn lanes của đường freeway với xe cộ chạy hết tốc lực, bị trượt chân trượt té xuống một lề đường dốc để cúng dường những bánh ngọt do bà tự làm lấy và 5 dollars - khuôn mặt nở đầy nụ cười suốt đường đi.

 

Nhiều an lành trong Ðạo,

Ðệ tử Qủa Ðình (Hằng Triều) 

Kính cẩn đảnh lễ.

*

Trong chánh điện Chùa Kim Luân sau khi Hòa Thượng khai thị. (tháng 11, 1977)

*

Sai một ly, đi sai ngàn dặm

Ngày 21 tháng 1 năm 1978.

 

Kính thưa Sư Phụ,

Bây giờ, sau lưng chúng con là thành phố San Luis Obispo và khoảng 12 dặm về phía trước là vịnh Morro Bay; và kế đó, không gì khác ngoài những dặm đường dài tít mù quanh co uốn lượn dọc theo bờ biển dẫn đến thành phố San Francisco. Chặng đường San Luis có vẻ đặc biệt và trông giống một cổng thâu tiền xe không có cổng hơn. Nhiều thử thách lớn lao về sự quyết tâm và tâm chuyên nhất. Chúng con biết rất rõ tin là khoá thiền đang tiến hành tại Vạn Phật Thành và đều cảm thấy công việc của chúng con tựa hồ như một khóa Thiền ngoài xa lộ.

Các khóa Thiền thất phản chiếu sự tu hành của chúng con. Nếu công việc hàng ngày làm cẩu thả thì sẽ thấy ngay trong khi vào thiền thất . Áp lực cho thấy ngay nhựng chỗ rạn nứt và khiếm khuyết. Thay vì thu hoạch, thiền thất lại trở thành tiệm sửa chữa. Lạy trong thành phố cũng giống như vậy. Các tập khí xấu xa thường xem phớt qua hay không rèn luyện đều hiện rõ khi chúng con lễ lạy trong thành phố. Những phương diện giả tạo và che dấu của tâm chúng con đột nhiên hiện rõ dưới ánh đèn pha. Kệ rằng:

"Ờ vùng quê, hãy rèn luyện nó,

Thử tánh nóng ở thị thành,

Vượt qua hay không, vẫn tiến bước

Quán bản thể."

Khi vị hành giả thật sự dụng công thì thử thách xảy đến không ngừng, ở cả thôn quê lẫn thành thị. Là đệ tử của Sư Phụ, chúng con biết rằng:

"Mọi việc là thử thách,

Xem coi ta làm gì,

Ðối trước mà không rõ,

Phải đào luyện trở lại."

Thầy Hằng Triều thuật lại thử thách Thầy đối mặt: Nơi công viên quốc gia, Pismo, không một bóng người, Thầy ngước mắt để ngắm xem đôi vòng mống cầu rực rỡ trên nền trời hướng đông trong nhiều giây. Trong chớp mắt, trong đầu hiện đầy những hình ảnh tham dục và tập khí cũ. Ngay chớp mắt đó, thầy "Ngã lăn theo bánh xe." như bài kệ:

Thấy việc rõ việc, xuất thế gian,

Thấy việc mê việc, đọa trầm luân.

Chỉ vì sai lệch chừng một kẽ tóc ngay lúc khởi đầu mà đến phút cuối, Thầy Hằng Triều đã trật xa cả ngàn dặm và phải luyện lại.

Con cũng đối mặt và thất bại trong một cuộc khảo nghiệm tương tự. Trong trường hợp này, nó sai lệch một khoảng cỡ bằng bề ngang của cá voi thì đúng hơn, nhưng kết quả vẫn là sự hồ đồ giống như vậy.

Chiều tối nọ, gần Căn cứ Không quân Vandenberg, một chiếc xe van quen thuộc tạt vào đậu ngay trước mặt. Đó là chiếc xe loại Chevy của Chùa Kim Sơn. Không mang kính nhưng con đã nghĩ đó đó là chiếc xe của Chùa. Lúc ấy là thời gian cuối của một ngày dài lễ lạy; bản ngã của con mong muốn một bất cứ sự biện minh nào đó cho sự phóng ra bên ngoài. Tự nghĩ "Thật tuyệt diệu! Một cuộc thăm viếng bất ngờ của gia đình chúng ta." Con phóng chiếu rằng đó là một thầy Tỳ kheo mang đến kinh điển mới, hay thức ăn, hay có thể là lời nhắn nhủ của Sư Phụ. Ngay lập tức con có nguyên một cảnh tượng tham lam diễn bày trong đầu óc. "Nghĩ tức cười! Không ai bước ra khỏi xe đó cả. Không biết họ đang đợi gì? Tại sao thầy Hằng Triều chưa bước qua để đón họ? Ồ! Kệ, hãy lạy cho xong hôm nay rồi nhận phần thưởng sau cũng được. Kìa, cửa xe mở. Ai vậy cà?"

"Này bạn, bạn có nhận Chúa Giê su là đấng cứu rỗi không?"

"Ô không! Một người truyền đạo Thiên Chúa lại trùng hợp lái chiếc xe van Chevy màu xanh lá cây! đó."

Hãy trở lại tay lái để đào luyện trở lại.

Tiến trình đào luyện cũng giống như công việc hằng ngày tại tu viện. Phải đúng giờ, đừng vội vàng, ăn vừa đủ, chớ tham nhiều, thời thời khắc khắc, nhất tâm nhất ý hành lý Trung đạo, hàng phục bản ngã mọi lúc. Nếu kiên nhẫn, tinh tấn, thành tâm rèn luyện, thì khi đường phố hiển hiện dưới đầu gối của chúng con là lúc đo được độ cứng và độ bền của kim loại. Những chỗ cứng vượt được thử nghiệm; chỗ yếu phải trở lại lò rèn thêm một vòng nữa. Cũng giống như trong khóa thiền, việc tu hành diễn tiến như bình thường, nhưng có phần nhiều hơn. Với sự tập trung tâm trí vào việc trì tụng và ngồi thiền, kết quả công việc hàng ngày được đưa vào kho (để kiểm điểm). Những cây trơ trụi phải tỉa cành ngắn lại để mọc ra vào mùa tới. 

Một ví dụ về nội tâm đối thoại khởi lên trong quá trình rèn luyện: "Hàng phục tâm tham danh chưa? Định lực của mình như thế nào khi phóng viên địa phương đến chụp hình 'cắc, cắc, cắc' hàng giờ ? Mình có bị chệch ra khỏi tâm điểm và bắt đầu làm bộ dạng? Lăn theo bánh xe. Về thức thì như thế nào? Vẫn bám víu mùi vị cùng ăn cho no đầy phải không?" Hãy thử xem. Ông bà của Sa di Qủa Hữu, Bill và Pat đến với một mâm bánh mì nóng hổi vừa làm tại nhà. Tất cả sáu căn đều động cùng một lúc; tâm thì đầy cả mây mù vọng tưởng. Trở lại lò rèn! Nói đi, mình đang tu hành cái gì ngoài tâm tham bánh mì bắp nóng? Còn ngủ nghê thì thế nào? Giờ là tám giờ rưỡi tối; đã tụng Kinh Hoa Nghiêm xong; bây giờ mỏi mệt trong từng lằn gân tế bào; tập khí xấu làm mình thiếu kiên nhẫn, lại sắp sửa muốn đắm vào giấc ngủ. Đến giờ ngồi thiền, nhưng để làm gì? Mình sẽ chỉ ngủ gục. Sư Phụ, con phải làm gì? Con đã tuyệt vọng rồi! Càng đi sâu hơn vào tâm con, con càng quậy ra thêm nhiều bùn nhơ và rác rưởi. Không có hoa sen ở đây, chỉ có bùn lầy. Nghiệp chướng qúa thâm trọng. Được, đi hỏi thầy mình thì không bị sai, dù trường hợp của con là trường hợp tuyệt vọng. Lòng từ bi của Sư Phụ thâm sâu hơn sự ngu si của con. Con đang tận lực để tự đứng, nhưng đây là thời điểm cần sự giúp đỡ. Trước mặt là quyển Kinh Bốn Mươi Hai Chương Lược Giảng, hãy mở ra xem kinh nói gì:

"Bậc Sa môn học Đạo phải giữ lòng bền vững và tinh tấn lướt tới, chẳng sợ cảnh trước, phá diệt bọn ma, chứng được Đạo quả.

... Liên kết ba sức mạnh của Giới, Định, Huệ với nhau, tất sẽ dứt trừ được những thói hư tật xấu và thói quen giả dối có từ vô thủy. Vô số thói hư tật xấu này được ví như chúng ma ... chớ bỏ dở nửa chừng, và tinh tấn lướt tới, dũng mãnh dấn thân, chỉ có tiến chứ không chịu lùi bước." (1)

Thật kỳ lạ! Dường như Sư Phụ đang ngồi ở ngay đây! Khi ấy, trong tai con nghe có tiếng Sư Phụ văng vẳng: "Này Quả Chân, con sâu lười biếng! Sao chưa làm xong công quả mà lại dám nghĩ tới chuyện ngủ nghê? Con phải lo làm công quả y hệt như con lo mặc y phục, hay lo ăn cơm vậy. Con có bỏ bữa thọ trai vì quá mệt mỏi không? Chắc chắn là không! Vậy thì, sao con lại không ngồi thiền? Mọi người đều đang nỗ lực dụng công trong kỳ thiền thất, còn con thì viện cớ gì chứ?"

Con ngồi thẳng dậy và bắt tréo chân ngồi kiết già. Bao nỗi mệt nhọc cùng nghi hoặc trong lòng con tan biến dần như màn sương mù trước ánh nắng ban mai. "Dầu thành hay bại, chúng ta vẫn tiếp tục quán tưởng về thực thể." Ai dám hoài nghi việc thân cận bậc Thiện tri thức là tất cả (một trăm phần trăm) của Ðạo?

Vịnh Morro Bay - cách 13 dặm.

Monterey - cách 135 dặm.

San Francisco - cách 249 dặm.

Vạn Phật Thành - cách chỉ một niệm.

 

Ðệ tử Quả Chân (Hằng Thật) 

kính cẩn đảnh lễ.

 

Ghi chú:

(1) Kinh Bốn Mươi Hai Chương Lược Giảng - Chương thứ 33.

 

 

Phạm giới khởi nguyên từ vọng tưởng

Tháng 1 năm 1978.

 

Kính thưa Sư Phụ,

Chủ nhật, 3 giờ 45 sáng: Thức dậy làm lễ công phu khuya, trườn người lấy áo ấm mặc vào để tránh cái lạnh ban mai. Xa lộ còn vắng vẻ và yên tĩnh, chỉ có tiếng trăng và tiếng róc rách êm tai của dòng suối nhỏ trước khi chúng con bắt đầu với Chú Lăng Nghiêm.

Từ 5 giờ đến 6 giờ 30 sáng: Chúng con chép và xem kinh điển, đổ dầu đầy cây đèn dầu. Ngồi thiền.

Từ 6 giờ 30 đến 7 giờ sáng: Tập Thái cực quyền - con trượt chân và trượt té trên những trái cây khuynh diệp.

7 giờ 15 sáng: Lái xe đến điểm lạy trên đường đèo trong núi Santa Lucia Mts. Gió thổi nhè nhẹ, lạnh và trong lành. Mặt trời đang nhô lên trên rặng núi.

8 giờ sáng: Bốn đệ tử tại gia từ Los Angeles ra gặp, họ mặc đồ ấm dày và sẵn sàng để lạy.

9:00: Một thanh niên tên Richard, thầm lặng tham gia lễ lạy ngang qua cổng nhà tù tiểu bang bên ngoài thành phố San Luis Obispo. "Tôi vừa thấy quý vị, cảm nhận quý vị rất thành tâm và cảm nhận được mối quan hệ nên tôi quyết định tham gia, có được không?" Anh Richard cũng cho biết rằng đã có tập chút ít Thái cực quyền, Yoga, thiền tập. "Và việc lễ lạy này trông thấy và cảm nhận đều giống nhau". Anh ta cúng dường rồi rời khỏi lúc 10 giờ để trở về đi làm. Anh là người làm vườn; dự định đến Vạn Phật Thành trong mùa xuân này khi được một tháng nghỉ hè.

10:30: Ngừng lạy, hồi hướng công đức; lái xe ra khỏi xa lộ đến cánh đồng trống thọ trai.

10:45: Hết xăng (xe không có đồng hồ đo xăng).

11:00-11:30: Ngồi thiền.

11:30-12:30: Cúng ngọ, thọ trai. Ðang thọ trai bỗng có một người từ xa đi lại chắp tay, vái và cung kính cúng dường một bọc trái cây cùng một số cành hoa hồng đỏ.

1:00-2:00: Tụng tán Quán Âm, tụng Chú Ðại Bi, Kinh Hoa Nghiêm - phẩm Ðao Lợi (thầy Hằng Thật dịch).

2:00-6:00: Lễ lạy. Trên đường trở về chỗ lạy, con nhập trong định "Vọng tưởng" về việc làm thế nào để đem thực phẩm cúng dường còn dư về Vạn Phật Thành. Chợt thấy một con rùa đang ngước cổ ngay giữa xa lộ; có vẻ hoang mang . Lúc đó con thức tỉnh, suy nghĩ muốn cứu nó, nhưng chúng con đã chạy quá xa. Phải quay xe trở lại. Chúng con trở lại chỉ vừa đúng lúc để nghe thấy con rùa bị dập nát tung tóe bên dưới bánh xe của một chiếc xe Cadillac. Chúng con cảm thấy sinh mạng con rùa chấm dứt ngay trong tâm can mình. Đây là một bài học lớn lao: "Ban đầu sai một ly, cuối cùng sai ngàn dặm." Nếu con thuận theo duyên, không để thân nơi này, tâm nơi kia, thì chắc con đã quyết ngừng xe lại ngay khi vừa trông thấy nó mắc kẹt giữa đường. Thay vào đó, cơn "định" vọng tưởng về thực phẩm của con khiến con xa rời vài giây và chính điều này đã làm sự việc hoàn toàn khác. Trong giới Bồ tát nói rằng Bồ tát phải giải thoát và cứu giúp chúng sanh. Bài học là: "Phạm giới khởi nguyên từ vọng tưởng và tạo ra bao hoạn nạn khổ đau."

3:00 pm: Một ông băng ngang xa lộ đầy xe lưu thông để cúng dường, ông ta nói: "Tôi chưa bao giờ biết đến một nơi như thế (Vạn Phật Thành) hiện hữu tại Cali này. Tôi muốn giúp."

4:00 pm: Một bà ngừng xe trước cổng nhà tù liên bang tiến đến: "Các ngài có nhận thứ này không?" Vừa hỏi vừa chìa tay ra một xấp tiền tem phiếu (1), "Và khi tụng kinh, nhớ cầu nguyện giùm chồng tôi. Ông ta đang ở trong đó.", bà chỉ tay về phía nhà tù. "Cầu Chúa ban phước lành cho các ngài."

5:30 pm: "Về nhà, lũ đầu trọc!" một chiếc xe lướt qua.

5:40 pm: Một ông bước đến từ nơi bờ rìa xa lộ nhỏ hẹp, gần như bị trượt té, nhưng vẫn tới, đưa tiền cúng dường cho con, nói rằng: "Khi tâm sùng kính, thì ngay cả răng chó cũng phát ra ánh sáng." Ông ta quay mình và bỏ đi.

6:00 pm: Chúng con hồi hướng công đức, lạy Tam Bảo và Sư Phụ.

6:30-7:30: Ngồi thiền.

7:30-9:00: Tụng Kinh A Di Ðà cùng các bài tán. Dịch Kinh Hoa Nghiêm.

9:30-10:30: Con tập thể dục võ Thiếu Lâm, sau đó đứng thiền bên ngoài để tỉnh ngủ và xua đuổi cơn lạnh.

10:30-11:15: Tụng chú, lạy chư Tổ.

11:15-12:30: Ðọc nguyệt san Kim Cang Bồ Ðề Hải và ngồi thiền.

12:30: Thổi tắt đèn dầu, nghe tiếng chim cú cô độc kêu "ai, ai" (2), và ngủ thiếp.

Ðệ tử Quả Ðình đảnh lễ.

 

Ghi chú:

(1): Foodstamps: loại phiếu mua thức ăn do chính phủ phát hành để giúp những người có lợi tức thấp.

(2): Tiếng chim cú kêu gần giống tiếng Anh là "who, who", có nghĩa là "ai, ai", là đề mục tham thoại đầu lúc tham thiền (thường tham cứu "Ai, Ai" - "Ai đang niệm Phật?").

 

 

A Di Ðà Phật!

Ngày 22 tháng 2 năm 1978.

 

Kính thưa Sư Phụ,

Trở lại thiên nhiên.

Chúng con, đệ tử Ba Bước Một Lạy, cầu chúc Sư phụ cùng đại chúng những lời chúc tốt đẹp nhất. Chúng con đang ở thành phố Harmony, tiểu bang California, dân số khoảng 18 ngàn người, ở chặng giữa thành phố Cayucos và Cambria. Ngày ngày, đồi núi càng thêm xanh tươi, nền trời càng xanh thẳm, người càng thưa dần, sương mai càng dầy đặc. Quang cảnh có những con rắn dài và con bò lông dài trên đồng cỏ lạnh. Một sinh viên sinh vật học tại đại học Cal. Poly xác nhận rằng con vật mà thầy Hằng Triều thấy hôm chủ nhật chính là sư tử núi.

Nghe lời khuyên của một hộ pháp, chúng con bắt đầu ăn rau dại mọc dọc theo đường lộ. Hái rau quả là một thiện pháp. Rau dại miễn phí, cũng giống như Phật tánh; không cần dùng tiền mua. Trước khi chúng con khám phá ra rằng chư Phật khắp thời gian và không gian đều do tâm tạo, chúng con đã rong ruỗi khắp Pháp Giới để tìm Đạo. Sau đó chúng con được nghe rằng là Đạo ở ngay trong chân tâm chúng con - điều chúng con cần làm là khai mở ra. Ồ! Rau dại cũng giống như vậy. Cánh đồng trông có vẻ đầy cỏ dại cho đến khi có người nói: "Này, rau dại mà các ngài đang dẫm lên đó có mùi vị giống những thứ rau ngon nhất trong các siêu thị, và hơn thế nữa vì chúng miễn phí, xanh tươi và có rất nhiều." Ồ! Cánh đồng cỏ dại trở thành vườn rau bổ dưỡng. Thử thách hiện giờ của người hành giả là đừng nghĩ đến bao tử mỗi khi nhìn xuống đất.

Ba bước một lạy mang lại lòng biết ơn nhiều thứ chúng ta đã bỏ sót hoặc cho là đương nhiên. Những rau dại này xứng đáng được đề cập là kho tàng thực phẩm vô tận dành cho những người hành hương và các ẩn sĩ sơn lâm trong tương lai. Chúng con không đi ra xa để thu nhặt - chúng con có thê nhận ra 5, 6 loại rau mọc hầu như khắp nơi. Trong năm phút, chúng con hái đầy một nồi (nhưng phải lưu ý đến côn trùng vì đây cũng là thế giới của chúng!). Sau đó, rửa sạch, luộc khoảng hai phút. Thế là xong. Còn gì nữa? Chúng con tìm rau "đắng" để tẩy trừ "khí nóng" phát sanh do tọa thiền. Cây bồ công anh, cây cải xen xanh có đủ chất đắng thiên nhiên để hạ nhiệt lửa trong người nhưng không quá đắng để có thể nuốt. 

Sinh hoạt hằng ngày của chúng con trở nên tự nhiên và đơn giản hơn khi lễ bái dẹp trừ lần lần những tập khí nhân tạo chúng con đã tích tụ qua nhiều năm. Chân lý tự nhiên và đơn giản: "Tất cả pháp duyên sanh đều sẽ hủy diệt." Thân thể do bốn yếu tố tạm kết hợp: đất nước gió lửa. Không có số lượng thức ăn thiên nhiên nào có thể giữ thân thể khoẻ mạnh khi đến lúc phải chết. Phong trào trở về thiên nhiên thì đi đúng đường, nhưng nếu ngừng ở chỗ "rau dại, hạt" bên vệ đường thì không "quay lại" đủ cho lắm. Phật tử là một phần tử trong phong trào chân thực quan trọng trong thế giới tân tiến hiện nay - phong trào "quay trở về tự tánh chân thật". Tự tánh chân thật không hư hoại, đó là quyền bẩm sinh của chúng sanh. Bằng cách tu hành theo đường tất cả chư Phật đã qua, chúng ta trở về Thiên Nhiên vĩ đại nhất. 

"Gió và ánh sáng của đất tâm có mùi vị đặc biệt vi diệu vô hạn. Nếu chúng ta muốn nếm thử mùi vị của nó, chúng ta đơn giản chỉ cần thanh tịnh tự tâm. 

- Thủy Kính Hồi Thiên - Hòa Thượng Tuyên Hóa

Có thể nói rằng ở đây Hòa Thượng nói về cây bồ đề; cây mà chúng ta muốn nhận diện, được ăn và chia xẻ với tất cả pháp hữu. Cây này không có trong sách hướng dẫn các loại cây có thể ăn được ở ngoài các cánh đồng, bởi vì cây này rất đặc biệt - nó sinh trưởng trong đất tâm. Sư phụ chỉ cho chúng con tìm nó ở đâu, làm thế nào để nhận diện, để thu hoạch. Dưới đây là cách thức cây này có thể được liệt kê trong sách Hoa Phật Giáo:

Chủng loại: giác ngộ.

Thứ loại: vi diệu

Môi trường: trong chân tâm tất cả chúng sanh.

Phân bố: khắp Pháp Giới.

Mùa thích hợp: mãi mãi

Mô tả: xem Kinh Hoa Nghiêm để tham khảo.

Vi diệu không thể nghĩ bàn.

Câu chuyện về chiếc xe: 

Chiếc xe hang-động-trên-bánh-xe Plymouth của chúng con chẳng phải một chiếc bình thường. Chúng con nghi ngờ rằng nó là một con rồng, có thể là một đệ tử Sư phụ hóa thân tính nguyện làm việc cho hành trình Ba Bước Một Lạy. Chiếc xe vừa hộ pháp vừa nói Pháp cho chúng con. Có những đêm nằm dưới ánh trăng sáng nó thực giống rồng, có đủ râu quai hàm, đuôi dài thườn thược. Ðáng lẽ đã rã rời hàng chục lần rồi, nhưng vẫn còn hăng hái lăn bánh. Lần nọ, đầu tháng Hai, gặp một trận bão lớn, xe không chịu nổ máy. Chúng con đành phải đậu xe bên lề xa lộ. Một người thợ máy trong trạm xăng ra rồ máy "rồng" nhưng chẳng nổ máy. Chiếc xe nằm ù lỳ trong khi chúng con lạy bên đường bùn lầy ngập đến mắt cá chân. Dự tính sẽ lái vào vịnh Morro buổi sáng đó để phơi khô đồ của chúng con tại một tiệm giặt ủi, nhưng không có cách gì cả; xe bị ướt hoàn toàn. Ðột nhiên, một xe buýt màu xanh quen thuộc hiện ngay bên cạnh chúng con, với ba tượng Phật vàng kim cột chặt vào ghế xe. Ðó là ưu bà tắc Quả Tài, đến để đón chúng con và mang ba tượng Phật xuống Los Angeles . Nếu chúng con đi đến tiệm giặt đồ thì anh ta chẳng bao giờ tìm được chúng con. "Ðược hãy thử xe lần nữa coi!" Rồ! rồ!, nó bắt đầu chạy như nôn nóng và chúng con đi. Quả Tài nói: "Theo quý thầy, nó cố ý không chịu chạy để đợi tôi xuống à?" "À, còn cách nào khác để giải thích?" Có đủ thứ kỳ lạ vi diệu trên thế gian - vô số, vô tận, vô lương, vô biên - tất cả đều từ số không (zero) ở trong tâm. Thật không thể nghĩ bàn!

A Di Ðà Phật.

Ðệ tử Quả Chân đảnh lễ.

 

 

Ðạo Phật Ở Nước Mỹ

Harmony, California, ngày 23 tháng 2 năm 1978.

 

Kính thưa Sư Phụ,

Sáng hôm nay con có viết một bài văn ngắn ghi lại vài điều đã trở nên rõ rệt hơn đối với con về Ðạo Phật và nước Mỹ trong lúc đi Ba Bước Một Lạy.

Ðạo Phật Ở Nước Mỹ

Vịnh Morro Bay, California.

Con người với mọi chủng tộc, mọi màu da mà chúng ta có thể hình dung được, đã từ khắp nơi trên thế giới đến định cư tại đất nước này. Tất cả đều cùng san sẻ một vật: Hiệp Chủng Quốc, nơi sẵn sàng dành cho mọi người một dịp may để làm lại cuộc đời, một cơ hội để sửa đổi những thói hư tật xấu cũ và trở thành con người mới. Tất cả đều đang tìm kiếm một thiên đường đã đánh mất. Họ lìa bỏ nhà cửa và những thứ quen thuộc, họ đến đây để tìm một mảnh đất thanh tịnh và để tìm lại bản tánh chất phác tự nhiên của họ. Là những kẻ mơ mộng và là những người lý tưởng, những người này là những người tìm kiếm sự tĩnh lặng và đuổi theo sự tự do và hòa bình tối hậu. Cho tới nay, điều này vẫn đúng thật và người ta vẫn còn đến nước Mỹ vì tự do và vì vườn Ðịa đàng.

Tuy nhiên, chúng ta vẫn chưa tìm được nó. Vì sao? Các bạn có thể nêu lên một lý do là chúng ta đã tìm không đúng chỗ. Nó rất giống câu chuyện trong Kinh Pháp Hoa về một người đàn ông giàu có nhưng con ông ta lại không thấy thỏa mãn và còn muốn bỏ nhà ra đi . Nhưng trước khi người con ra đi, cha mẹ của cậu ta vì lo sợ rằng con mình sẽ trở thành một kẻ lang thang phiêu bạt, không một đồng xu dính túi, nên đã lén may một viên ngọc như ý vào trong áo quần của người con. Người con bỏ đi và quả thật, đã trở nên nghèo túng. Nhưng người con không hề biết là một viên ngọc vô giá được may giấu trong áo quần của mình, cho nên cậu ta đã không hưởng được sự ích lợi của viên ngọc như ý này.

Người Mỹ rất giống với người con trai của vị phú ông ấy. Chúng ta cứ không thấy vui vẻ, hạnh phúc ở nhà, và cứ bứt rứt mong muốn được tự do. Thế nên, chúng ta chạy ra ngoài: đuổi theo tiền tài và mưu cầu "nhiều hơn, tốt hơn, lớn hơn" - xe cộ, nhà cửa, và những thứ cao xa. Tuy thế, tất cả mọi thành quả thế gian làm cho đất nước này trở nên một quốc gia phồn vinh nhất thế giới lại không thể nào sản sinh ra thiên đường được. Sự thành công về mặt vật chất của chúng ta mang lại một chút tự do hoặc an toàn. Chúng ta vẫn cứ mãi bồn chồn và không cội rễ như thuở nào, và có lẽ còn hơn tệ thế nữa so với cách đây 200 năm. Càng khổ công và nôn nóng săn kiếm "viên ngọc" ở bên ngoài bao nhiêu, thì chúng ta lại càng rời xa quê nhà mình bấy nhiêu. "Sai một ly ở bước đầu", thì chúng ta "đi sai một ngàn dặm ở chặng cuối". Vịnh Morro Bay chính là "chặng cuối" theo nhiều phương diện và là một thí dụ điển hình về vấn đề vì sao Ðạo Phật lại đang bắt rễ trên mảnh đất phương Tây này.

Virginia, John McKenzie với bốn đứa con ở vùng Morro Bay là một gia đình người Mỹ tiêu biểu. Họ tốt nghiệp Ðại học, lập nghiệp tại South Pasadena, và bắt đầu sống một đời sống tốt đẹp và đầy hứa hẹn. Virginia kể lại rằng: "Nhưng vấn đề không phải ở chỗ có được cái T.V. màu mà là có được bao nhiêu cái T.V. màu; đó mới là điều đáng kể." Nhưng họ vẫn thấy thiếu vắng cái gì đó và những thành công hơn nữa về sau cũng không sửa đổi lại sự thiếu vắng đó được. “Do đó chúng tôi bán mấy cái TV và chiếc Cadillac, mua một chiếc xe có phần sau rộng (station wagon), và dọn lên vùng núi non để ở.” Họ sống ở đó trong ba năm và học hỏi được rất nhiều. "Tôi học cách để dành những sợi dây thun và cảm thấy như đang học lại lớp mẫu giáo.” Nhưng những đứa con nhỏ cần "trường học và hướng đạo" do đó họ dọn đến thành phố Morro Bay như là một thỏa hiệp – là một thành phố, nhưng không ô nhiễm và điên đảo như thành phố Los Angeles, theo họ nghĩ.

Trong thời gian ngắn, các công ty dầu hỏa, các công ty điện lực xây cất những nhà máy khổng lồ. Các "nhà phát triển xây dựng" tràn vào, chia lô và xây dựng, cho đến khi thành phố Morro Bay tăng phồng lên về kích thước và các sự nhức đầu. "Xa lộ từ từ kề cận; và " cộng đồng an vui yên tĩnh" lại có vấn đề ma tuý trầm trọng đến với trẻ em. Chúng tôi rất lo ngại." Virginia nói tiếp: "Con của chúng tôi là những đứa trẻ ngoan, nhưng khi ma túy ngay trong trường học thì..."

Gia đình họ McKanzie đọc qua về Vạn Phật Thành đăng trong báo thành phố San Francisco, và thấy chúng con lễ lạy. Họ xông xáo vận động ủng hộ và họ "thật vui vì có dịp cho ra." Họ thường gởi cho chúng con xăng, nước và thức ăn. Con giải thích ngắn gọn như thế nào mà Tăng đoàn là "ruộng phước" như thế nào. Mọi người bố thí qua chúng con chứ không phải cho chúng con. Bố thí là một cách để trồng thiện căn, trưởng dưỡng những điều Phật giáo tiêu biểu: giác ngộ, từ bi, dứt khổ, và trí huệ viên mãn. Virginia bảo: "Rất chí lý, giống như gieo hạt. Tôi không hiểu nhiều. Tất cả điều tôi suy nghĩ khi tôi cho ra là nơi đó (Vạn Phật Thành). Tôi thấy những khuôn mặt hiền hòa, vùng đất an lạc, những toà nhà tốt đẹp và đang được sử dụng. Tôi gởi lên đó để giúp họ phát triển." Bà ra điệu bộ như người trưởng đội cỗ võ (cheerleader). Về năm giới, Virginia nói: "Ồ! Giữ giới sẽ giúp lấy gánh nặng lớn ra khỏi lưng, có phải không?"

Cliff và Vicky, một cặp vợ chồng trẻ, hiện sống trong một khu chung cư phát triển cộng đồng có "tiền mướn mắc" và đông đúc gọi là Bay Wood, ở thành phố Boro Bay. Họ không mấy vui vẻ hay có vẻ ổn định. "Chúng tôi đang tìm kiếm những gì có thể diễn tả được phù hợp với tư tưởng và cảm giác nội tâm của chúng tôi - ở bên trong, bạn có biết không? Sự thành công và các tôn giáo truyền thống không đáp ứng được. Cái đó không phải là 'nhà' cho chúng tôi. Rất nhiều người bàn về Con Đường và về Ðạo, nhưng chúng tôi thực chưa tìm thấy ai chân chánh thực hành," họ giải thích. Khi biết rằng chúng con là một phần của cả một cộng đồng cư sĩ và tu sĩ đang thực hành Phật giáo, Vicky nói: "Tôi không thể xóa đi nụ cười trên khuôn mặt mình trong mấy ngày qua vì tôi quá sung sướng." Họ cùng bạn bè mang đồ cúng dường, tham gia buổi tụng tán Quán Âm chiều chủ nhật, cùng tụng Chú Ðại Bi.

Tuần rồi Cliff lúc đang lái xe về nhà trong một cơn bão dữ dội. Mưa to gió lớn đã đưa xe anh ta từ lằn đường này sang lằn đường khác trên xa lộ; bỗng chợt một đàn chim tránh bão liệng mình trước xe. Cliff bảo: "Tôi nhìn kiếng hậu thấy một con chim lăn cuộn trên xa lộ. Tôi đã đụng nó, tôi biết con chim đang chết dần. Tôi cảm thấy mình phải làm cái gì đó để giúp nó. Khi ấy, vì lý do nào đó, không suy nghĩ, tôi niệm "Nam mô Quán Âm Bồ tát" khoảng năm hay sáu lần vì tôi nhớ Bồ tát Quán Âm luôn cứu giúp khi đau khổ hay bệnh hoạn. Sau đó điều kỳ lạ xảy ra. Ðột nhiên bầu trời trở lại quang đãng, gió dịu lại. Trời nắng lên và an toàn suốt đoạn đường về nhà.

"Khi bước chân vào nhà, mặt anh ta ngời sáng và vui vẻ!" Vicky nói.

"Tôi biết việc ấy có liên hệ với việc niệm danh hiệu Bồ tát Quán Âm, nhưng tôi không biết tại sao, thế nào? Trong đời tôi chưa bao giờ gặp việc như thế, thật lạ quá !" Cliff bảo.

Họ xin tất cả bản in của Chú Ðại Bi do một cư sĩ ở Los Angeles cúng dường. Họ liên tiếp hỏi han, thành tâm tìm hiểu Phật Pháp. "Pháp thân thanh tịnh là gì?" "Chúng tôi có thể bắt đầu đọc từ đâu?" "Bồ tát là gì?" "Chúng tôi có thể giúp được những gì khác?" "Ai là Phật A Di Ðà?" ....

Hai con chim ưng cuối cùng trong nước được bảo vệ chu đáo tại địa điểm đặc biệt trong vùng vịnh Morro - một hòn đảo nhô cao giữa vịnh. Tự thành phố là nơi nương náu của các loài chim. Mọi người đều biết rõ họ đang sống sát bờ đại lục. Không còn chỗ để mở rộng hay để chạy thẳng lên đồi thưởng thức cỏ xanh tươi hơn. Là một quốc gia, hiện tại cũng như thế: chúng ta đã hết chỗ để chạy ra ngoài.

“Cuộc lẩn tránh vĩ đại", như một sử gia đã gọi việc tự trốn chính mình của chúng ta, đang đến một giới hạn thiên nhiên và về mặt tâm linh chúng ta đã đi sai cả ngàn dặm. Nhưng người Mỹ là những người lạc quan, đầy nhựa sống. Họ không thất vọng. Sống thực tiễn, tự lực cánh sinh, họ lại tự đứng dậy và tránh lỗi lầm xưa. Ðây gọi là sám hối và sửa đổi. Những người chúng con gặp thường không cảm thấy xấu hổ hay sợ hãi khi chấp nhận rằng họ lạc đường và muốn khởi sự lại cho đúng. Cởi mở và đầy năng lực, nhiều người sẵn sàng rời bỏ “thế giới mới can đảm" để đến "thế giới Hoa Tạng". Họ sẵn sàng "hồi quang phản chiếu". Nhưng bắt đầu từ đâu?

"… nơi đó có ai là người trí, được gặp và nghe Phật mà không tu hành nguyện thanh tịnh và bước đi trên cùng con đường mà Đức Phật đã đi?" 

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Ðao Lợi Thiên.

Sư Phụ thường nhấn mạnh: "Phải xem Phật Giáo là trách nhiệm của chính mình.” Chỉ có điều này mới quan trọng: mỗi Phật giáo đồ phải cố gắng hết mình để buông bỏ cái giả và tìm cái thật. Điều làm cảm động và gây hứng khởi cho người khác là thật sự thực hành - những nguyện thanh tịnh và thực hành. Như chỉ nói suông thì không giá trị. Có rất nhiều người như thầy Hằng Thật và con nhận thức được rằng chúng con thực chưa chân chánh lo làm phận sự của mình, chúng con chỉ lên toa tàu và đi nhờ miễn phí mà thôi. Chúng con đã xài gần cạn phước báo bằng cách thọ hưởng phước. Giống như người con của ông trưởng giả giàu có, chúng con đã chạy ra ngoài phan duyên và phải khởi sự lại từ đầu.

Vạn Phật Thành rất quan trọng. Đó là nơi chốn thanh tịnh chúng ta có thể rửa sạch tâm hồn nhơ bẩn và đặt nền móng đức hạnh cho cuộc đời mình. Vạn Phật Thành đại biểu niềm hy vọng cho vô số chúng sanh để họ chấm dứt khổ não và tìm được tự do chân thật. Vạn Phật Thành đang trở thành một biểu tượng, giống như tượng Nữ Thần Tự Do, của cơ hội và nơi nương náu: một cơ hội để hoàn thành cuộc Cách Mạng Độc Lập Thật Sự bằng cách giải thoát tâm địa. 

Nhiều người chúng con gặp đã chia sẻ niềm xác tín này và họ rất vui mừng về Chánh Pháp và Vạn Phật Thành.

Thực tế, cuộc Cách Mạng Hoa Kỳ để dành độc lập chưa hề hoàn tất. Nhiều người Mỹ cảm nhận được ý nghĩa của công việc chưa hoàn tất trong tâm trí họ. Lịch sử và hành vi của chúng ta tiếp tục trở thành một cuộc tìm kiếm không ngừng nghỉ để tìm gốc rễ tự nhiên và sự giải thoát tối hậu của chúng ta. Có ai ngờ rằng "bảo châu" được may vào ngay trong vạt áo của chúng ta? Bảo châu là gì? Có phải đó là sự giàu có thịnh vượng của chúng ta không? Không! Bảo châu này là thể tánh sáng ngời của tự tánh thanh tịnh thường trụ, tâm bất biến chân thật của chúng ta. Chúng ta thường cho rằng Phật giáo rất mới mẻ tại Hoa Kỳ, những điều này không hoàn toàn chính xác. Như viên ngọc bảo châu, Phật giáo luôn có mặt tại đây. Chúng ta chỉ không biết tìm ở đâu mà thôi. Nay "Mộ Trung Tăng," vị tăng trong phần mộ đến nước Mỹ và nhắc nhở chúng ta về bảo châu may trong áo của chúng ta – viên ngọc như ý. Lục Tổ nói “Chính thân này là đất giác, chính tâm này là Tịnh Độ".

Ông Stan, là người gốc ở thành phố Boise, tiểu bang Idaho, tuổi gần 80, về hưu sinh sống với vợ tại vịnh Morro, vẫn mặc áo có in hình, tánh thẳng thắng, đơn giản, chân thật. Ông nói: "Chúng tôi đã đọc báo về quý vị, và về những gì quý vị đang làm tại Bắc Ukiah..."

 "Ông nói về Vạn Phật Thành à?"

"Đúng rồi. Ồ, những gì tôi muốn nói là đất nước này cần thêm nhiều người như quý vị.

Ông Stan đem đồ cúng dường và mời chúng con trú lại nhà ông qua đêm khi còn ở trong vùng này. Con giải thích về những lời nguyện của chúng con không cho phép chúng con làm việc đó, nhưng đó là một sự mời mọc tử tế. "Dạ, rất vinh dự được biết quý vị. Vợ tôi và tôi rất thích thú về việc quý vị đang làm. Ðây là việc sẽ làm cho đất nước vững mạnh. Chúc quý vị may mắn và cảm ơn quý vị!"

Mộ Trung Tăng, vị tăng trong phần mộ đến đây không vô ích. Virginia Mckenzie tỏ lòng muốn cám ơn người nào đó. Chúng con bảo bà ta rằng nếu muốn cám ơn thì tốt nhất nên thực hành giáo pháp, và chúng con nói với bà về những chữ phía trên cửa ra vào tại Chùa Kim Sơn Thánh Tự: "Hãy cố gắng hết mình!"

"Ồ, đúng rồi, có phải không?" Virginia la lên, "Và nếu bạn làm lầm lỗi, thì hãy cố gắng hết mình để cố gắng làm tốt hơn!"

 

Ðệ tử Quả Ðình đảnh lễ.

 

 

Có phải là cái đó không? Chỉ chừng ấy thôi sao?

Bắc Hearst Castle, ngày 16 tháng 3 năm 1978.

 

Kính thưa Sư Phụ,

Xuân chợt đến hôm nay và chúng con mới cởi mấy lớp y phục lần đầu tiên kể từ tháng 11, có vẻ như vậy . Mặt trời nóng và hàng đàn côn trùng đến thăm viếng. 

Rõ ràng mọi việc đều do tâm tạo. Tháng rồi con lục trong giỏ xách tìm đôi vớ ấm. Quá lạnh, vớ mỏng muà hè không thể dùng được. Hôm nay con lục lọi lần nữa, những chiếc vớ len nặng nề trông khổ não trong những ngày nóng bức chẳng còn quyến rũ nữa. Dưới đáy giỏ là những đôi vớ mỏng. Ồ, tuyệt diệu. Những đôi vớ có biến hóa gì trong bốn tháng rồi không? Không chút nào cả. Chính tất cả là do tâm con tạo, tâm đại phân biệt, tìm cầu thoải mái cho túi da. Là một chúng sanh thì có thể chắc chắn là phức tạp và phiền toái.

Thầy Hằng Triều và con từng có nhận thức rõ ràng trong mấy tháng vừa qua rằng Sư Phụ có ở đây với chúng con. Chúng con đạt được sự nhận biết này sau khi kinh nghiệm những khai thị của Sư Phụ đều trở thành sự thật trong tâm của chúng con hết lần này đến lần khác. Thật rõ ràng, đúng thời điểm chính xác! Sự tỉnh thức rất kỳ diệu. Bất cứ nơi nào chúng con đi xa ra khỏi ý định ban đầu là đi trên Trung đạo, bất cứ cảnh giới nào phát sinh trong thiền định, chúng con khám phá ra rằng Sư Phụ đều biết hướng đi của chúng con. Và Sư Phụ hoặc chỉ ra một cánh cửa đang mở, và/hoặc dùng vài phương tiện thiện xảo qua lời ẩn dụ hay bài kệ... để dẫn dắt chúng con rời khỏi con đường nào đó, hoặc để đến con đường thẳng tắp hơn và cao cả hơn. Rất khó diễn bày bằng lời, cả hai chúng con đều cảm thấy Sư Phụ luôn hiện diện trong khi tu hành. Điều này luôn rõ ràng, đáng tin cậy, và thường xuyên nếu chúng con vẫn dụng công. Năng lực và trí tuệ của bậc thiện huệ tri thức thật không thể nghĩ bàn. 

Trong lịch sử, nhiều hành giả dụng công rất nỗ lực, nhưng lại rơi vào chấp có chấp không, ngưng tiến bộ đơn giản chỉ vì không có bậc thầy, thiện tri thức như vậy dẫn dắt. Thầy Hằng Triều và con đảnh lễ Sư Phụ hằng ngày trên xa lộ: sáng, trưa, chiều, tối, với lòng thành kính thâm sâu, cảm kích vô ngần sự may mắn không ngờ được gặp Thiện Tri Thức trong đời này.

Ðệ tử Quả Chân đảnh lễ.

****

Kính thưa Sư Phụ,

Xuân đến, đột nhiên có gió ấm, âm thanh nhè nhẹ. Những cơn bão tuyết lạnh rét đã qua chỉ để lại những cánh đồng cỏ hoa xanh thẳm, những khe suối chảy róc rách. Chim chóc tìm bạn và xây tổ. Ðó là thời điểm và tất cả năng lực "tự nhiên" của trái đất đều di chuyển về chiều hướng này: ghi dấu tích trên thế gian, xây tổ (căn nhà), và trở nên sáng tạo.

Còn chúng con thì sao? Chúng con cũng đang quay về tự nhiên - tự nhiên bổn nguyên, tự tánh không duyên. Hết đời này sang đời khác, chúng con đã chịu thua trước những dục vọng và khoái lạc của mùa xuân. Hết đời này sang đời khác, chúng con đã "trôi theo dòng" và trở về tổ. Nhưng tổ (nhà) trở thành lồng củi, và chẳng bao lâu, câu hỏi tối hậu nẩy sanh: "Có phải là cái đó không? Chỉ chừng ấy thôi sao? Giao phối và chết đi, chết đi và giao phối. Sanh, trụ, hoại, không chỉ trong nháy mắt. Không gì ngoài ăn, ngủ, và mặc áo quần hay sao ? Nên nhìn như thế nào và nhìn ở đâu?"

"Nếu có chúng sanh không biết cách để vượt thoát ra

Không cầu giải thoát, chỉ lo khóc lóc, mê muội, 

Bồ tát vì những chúng sanh đó, thị hiện thí xả quốc thành tài bảo, 

Xuất gia tu Ðạo, hằng thường tịch tĩnh, an lạc."

Kinh Hoa Nghiêm

Hôm qua, Quả Chu, Nicholson ghé qua và Quả Kuei cho hay: "Ngày mai là ngày đặc biệt."

"Ồ ?" con nói.

"Phải, ngày mai là ngày Phật Thích Ca Mâu Ni cạo đầu và cỡi ngựa trắng ra đi - ngày xuất gia của Ngài."

Thật là một hình ảnh mãnh liệt của thanh tịnh và giải thoát: Ðức Phật cạo tóc và cỡi ngựa trắng đi tu hành. Đức Phật đã có một trong những "tổ ấm" tuyệt hảo, tại sao Ngài lại rời bỏ?

"Nhà là chốn tham ái và phiền trược.

Bồ tát mong muốn chúng sanh có thể xả ly;

Nên thị hiện xuất gia đắc giải thoát,

Giữa dục lạc mà không thọ dục lạc."

Kinh Hoa Nghiêm

Buổi sáng nay, khi đang lạy dọc trên đường lộ vắng vẻ, con chợt nhận thức rằng con đã xuất gia hơn một năm và mỗi ngày con đều an lạc vui sướng hơn. Có một thôi thúc tự nhiên khác dâng tràn trong tâm chúng sanh. Ðó là sự thôi thúc về sự giác ngộ và tự do tuyệt đối. Sự thôi thúc này mạnh mẽ hơn và căn bản hơn việc giao phối và xây tổ (cần bạn) và đến lúc thì tất cả chúng ta đều theo sự thôi thúc này. Đến lúc thì tất cả chúng ta đều nhận ra nó. "Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, đều sẽ thành Phật." Xuân này, một số người tìm cầu đôi lứa, một số người sẽ tu hành. Và điều này sẽ đem lại sự khác biệt. Nhưng nguyên thủy vốn không có sự khác biệt, và sớm hoặc muộn tất cả chúng ta đều "có thể xả ly" và ra đi trên con ngựa trắng. Thế nên Sư Phụ thường dạy: "Mọi việc sao cũng được (everything is okay)."

Mọi người đáng được tự do và hạnh phúc vào mùa xuân này và mỗi ngày đều đi về hướng thiện. Hãy giúp trái tim nhẹ đi, thanh tịnh tâm và tìm cách giúp đỡ tha nhân. Trong một năm lễ lạy, Thầy Hằng Thật và con đang khám phá ra rằng tu hành là ngay tại trong những điều căn bản này. Dẹp trừ tham, sân, si là điều quan trọng và giúp người khác được vui vẻ và tự do. “Nguyện cho tất cả chúng ta sẽ cùng nhau đi đến toàn giác thật sớm. Con hy vọng như vậy (1) . An lạc trong Đạo thật nhiều.

Ðệ tử Qủa Ðình đảnh lễ.

Tái bút: Chư cư sĩ hộ pháp vùng địa phương cực lực đề nghị chúng con nên rời xa lộ số 1 và tìm một đường khác. Con đường có vẻ trở nên quanh co, hẹp và nhiều xe lưu thông. Các người bạn của chúng con trong Cơ quan Kiểm Lâm đang vẽ lộ trình mới cho chúng con đi xuyên qua vùng Ventana hoang vu, cùng rừng cây quốc gia Los Padres. Con đuờng này sẽ đi vòng qua đoạn khúc khuỷu nơi xa lộ số 1 cho đến vùng Carmel. Chúng con sẽ tùy duyên tính đến chuyện này. Chúng con đã học được là không nên ép buộc hay chấp trước, dầu là việc nhỏ. Bất cứ chuyện gì xảy ra đều thuận theo nhân duyên phải như vậy, không theo vọng tưởng của chúng con.

Chúng con chỉ có thể nói là chúng con sẽ ở trên xa lộ số 1 thêm bốn hay năm tuần nữa; và sẽ thưa cho Sư Phụ biết ngay khi tìm được đường mới để về Vạn Phật Thành. Không có đường nhất định để đến Vạn Phật Thành! Tất cả các con đường đến đó cuối cùng đều trở về.

Ghi chú:

(1) Lời trong bản nhạc "Study Buddhism": Hoà Thượng viết lời, Sư Cô Hằng Ẩn phổ nhạc (trong Kinh Nhật Tụng của Vạn Phật Thánh Thành).

 

 

Bảy dặm của đoạn đường nguy hiểm nhất

Thành phố Monterey, thác nước thứ ba trên đỉnh Ragger, ngày 8 tháng 4 năm 1978.

 

Kính thưa Sư Phụ,

Chúng con sẽ không thể về tham dự buổi sinh nhật của Sư Phụ, nhưng xin thành tâm đảnh lễ Sư Phụ chín lạy trên đường lộ, kính chúc Sư Phụ được nhiều vui vẻ. Dưới đây là những thay đổi nội tâm gần đây của chúng con trên hành trình Ba bước một lạy.

Thầy Hằng Triều, Quả Chu và con đang lạy quanh một dốc cao bỗng nhiên trước mắt hiện ra một quang cảnh mà chúng con sẽ sống trong ba tuần lễ sắp đến, nỗi rõ trên nền đá xanh và mặt nước xanh lơ: hai mươi dặm trải dài với những tảng đá kỳ vĩ trong nắng chiếu nghiêng bóng. Quang cảnh đầu tiên của các dốc đá cao vút thằng đứng với mặt đại dương trong xanh làm con há hốc kinh ngạc. Chúng con có thể thấy những đốm lóe của ánh nắng phản chiếu trên kiếng xe: xe hơi, xe cắm trại di chuyển trên xa lộ nhỏ như sợi chỉ dính vào sườn núi. Chúng con sẽ lạy trên đoạn này. Cảm giác đầu tiên là theo tập khí cũ, cho tâm đắm vào mơ mộng giữa ban ngày để tránh đối đầu thực tế. Nhưng con không thể làm như vậy. Một năng lực dương mới đang chậm chạp thành hình chế ngự và đưa tâm con trở về tập trung trong công việc. Ðoạn kinh văn đọc tối qua nầy lại xuất hiện:

Ðều khiến các cõi đều thanh tịnh

Cũng chẳng phân biệt nơi các cõi

Biết tánh các cõi đều không có

Mà khiến ý hoan hỷ thanh tịnh.

Nơi một Phật độ không sở y.

Tất cả Phật độ đều như vậy

Cũng chẳng nhiễm trước pháp hữu vi

Biết pháp tánh kia không y xứ.

Kinh Hoa Nghiêm, phẩm Thập Hồi Hướng

Con đã áp dụng đoạn kinh trên vào hoàn cảnh này: chỉ vài giờ trước, con đã lạy liên tục trên đường Huntington phía ngoài Kim Luân tự, ở thành phố Los Angeles; Ở đâu có pháp nào để nương vào ? Hiện giờ thành phố Los Angeles ở đâu? Khi ở thành phố Los Angeles, dốc núi đây, biển cả này ở đâu? Giây phút này khác giây phút lúc đó như thế nào? Con không tìm thấy sự khác biệt nào cả! Như thế có cái gì để trốn chạy ? Tại sao lại tìm chỗ nghỉ ngơi trong vọng tưởng ? Chẳng có gì ngoài việc bản ngã nhỏ bé buồn bã tìm cách thối thoát ra khỏi áp lực của việc dụng công chậm chạp, đều đặn trên đất tâm. Sư Phụ sẽ nói gì? "Mọi việc sao cũng được, không vấn đề gì cả. Cứ dụng công. Sợ hãi không ích lợi gì cả!" 

Do đó, con lại nhìn vào phong cảnh trước mặt: "A! Thật là một nơi chốn đẹp đẽ, thanh tịnh để tu tập. Thật là một đạo tràng tốt đẹp!" 

Tâm con như muốn chấp cánh bay vào vùng không khí trong lành bên trên vũng bùn phiền não. Những tảng đá này chưa thành vi trần thì con nguyện vẫn mãi hành đạo Bồ tát, làm dứt khổ não của tất cả chúng sanh.

Bây giờ, chúng con chú tâm vào những điều căn bản: Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn. Cùng tất cả các đệ tử của Sư Phụ, chúng con đang làm việc để tặng thế giới một Vạn Phật Thánh Thành, nơi giới luật sẽ là nền tảng làm người. 

Về nhẫn nhục, thì có rất nhiều cơ hội thực hành nhẫn nhục trên sườn núi này. Cư sĩ Quả Ðề Schmitz đang chia sẻ công việc với chúng con trong tuần này, đang nhẫn nại chịu đựng một số thời tiết bất thường nhất của cả chuyến hành trình.

Chúng con đang đi trên bảy dặm của đoạn đường nguy hiểm nhất mà chúng con từng đối diện: cây sồi độc mọc khắp nơi, muỗi mòng độc hại ẩn trong các tàn cây, nắng cháy, gió cuồng của vùng Big Sur, mưa lạnh cóng liền ngưng khi chúng con vừa mặc áo mưa mang giày ống vào, và mưa trở lại khi chúng con vừa cởi áo mưa ra! Hành trình này dạy chúng con biết ơn về môi trường của tu viện. Những tường vách, mái ngói và nền nhà sạch sẽ thật đẹp! Con đã không tận dụng cơ hội để tu hành trong không gian thiền tập lý tưởng của Chùa Kim Sơn. Bây giờ con thật sự muốn dụng công thì đủ loại chướng ngại trổi lên: mỗi chướng ngại trở thành một thử thách về tánh kiên nhẫn, lòng quyết tâm, và công phu chịu đựng gió, côn trùng dưới chân, khu phố chật chội, quá nhiều mưa, nắng, xe cộ - tất cả các pháp này giúp hành giả rèn đúc tâm kim cang. Chúng con hồi hướng công đức, cầu mong Vạn Phật Thành sớm và dễ dàng thành hình để bất cứ người nào phát tâm tu hành, sẽ có một nơi chốn thanh tịnh để thực hiện mong muốn của mình. Họ sẽ không phải chịu đựng bao sự quấy rầy trước khi ngồi thiền Không phải con đang than phiền! Chưa bao giờ con cảm thấy hạnh phúc hơn và khỏe mạnh hơn lúc này.

Những thân xác vụng về chúng con mang đi lòng vòng thật là phiền hà! Chúng con mất qúa nhiều thời gian để lo lắng săn sóc thân thể. Điều có lý duy nhất để dùng chúng là tu Đạo. Con giống như vị Bồ Tát trong HạnhThứ Nhất của phẩm Thập Hạnh (Kinh Hoa Nghiêm): Bồ tát phát nguyện khi thọ sanh sẽ được hóa thân to lớn để dầu có nhiều chúng sanh bị đói muốn ăn thịt ngài thì tất cả đều đuợc thỏa mãn. Sau đó Bồ tát quán sát thân thể của chúng sanh trong qúa khứ, hiện tại, vị lai. Bồ Tát quán sát thân chúng sanh thọ nhận, thọ mạng, hư hoại, hủy diệt của chúng. Kinh nói:

"Bồ tát lại suy nghĩ: lạ thay cho chúng sanh ngu si, vô trí, ở trong sanh tử, thọ vô số thân mỏng manh chẳng tạm dừng, mau về nơi hoại diệt, hoặc đã, hoặc hiện, hoặc sẽ hoại diệt, mà họ chẳng thể đem thân chẳng bền để cầu thân kiên cố. Tôi phải học tập những điều mà chư Phật đã học tập, để được chứng nhứt thiết trí, biết nhứt thiết pháp, rồi vì chúng sanh diễn thuyết tam thế bình đẳng tùy thuận pháp tánh tịch tịnh bất hoại, khiến họ được vĩnh viễn an ổn khoái lạc."

Con học thuộc đoạn kinh này trong Kinh Hoa Nghiêm, đoạn kinh này đã giúp cho tâm con tiếp tục lạy vượt qua nhiều hoàn cảnh mà túi da cũng như tâm phàm phu của con cứ sợ là không thể tiếp tục được..

Một áp dụng hữu ích tức thời: khi sức nóng và áp lực tạo nên trong chân khi ngồi thiền, điều con phải làm là ôn lại lời trí tuệ trong Kinh và tìm sức mạnh để tiếp tục ngồi mà không lay động thân mình hay phải buông chân ra khỏi thế ngồi kiết già. Kinh gọi điều này là “Lên đường đến thành giải thoát vô ưu”.

Sự khám phá lớn nhất trong tháng Ba: "Có chí thì nên." Chúng ta có rất nhiều phương pháp tu hành. Điều quan trọng là quyết tâm muốn thành tựu. Lúc đó Đạo (con đường) sẽ mở ra.

Ðệ tử Quả Chân (Hằng Thật) đảnh lễ.

 

 

Làm thế nào ông có thể đi sai được?

Ngày 18 tháng 5 năm 1978.

 

Kính thưa Sư Phụ,

Sư Phụ thường dạy chúng con: "Mọi thứ đều thuyết pháp." Trong trường hợp này, ngay cả những kẻ trộm cũng trở thành những thiện tri thức giúp phá tan chấp trước của chúng con. Lời khai thị của Sư Phụ tại Chùa Kim Luân rất rõ ràng: "Nếu quý vị không làm tốt việc buông bỏ vọng tưởng những pháp thế gian hàng ngày như thức ăn, áo quần, ngủ nghỉ, thì sự dụng công của quý vị sẽ không giúp ích gì trên đường Ðạo. Hãy tu hành từ những gì gần gũi, hãy tu hành những điều căn bản. Hãy nhẫn chịu những gì không nhẫn chịu nổi."

Thực tế, con chưa dụng công đúng mức để buông xả những vọng tưởng căn bản của con. Con thường dán mắt vào những pháp cao thâm xa vời, và trượt té về những việc hằng ngày mà con luôn cho là điều đương nhiên. Như vậy trong xe bị lấy cắp những gì? Một phần ba thức ăn của chúng con, mấy bình bát, một đồng hồ báo thức, và quần áo. Vi diệu thay nếu không làm tốt việc niệm kinh của chính mình thì thiện tri thức sẽ xuất hiện để chỉ rõ những khuyết điểm và chấp trước của mình. Hiển nhiên, việc dụng công trước hết phải áp dụng vào những sinh hoạt bình thường hằng ngày: "Tâm bình thường là Ðạo. Trực tâm là đạo tràng." Như lời của Quốc Sư Thanh Lương:

"Chân, vọng kết hợp lẫn nhau. Chính tâm phàm thấy tâm Phật. Tu cả lý và sự, dựa trên trí huệ căn bản để cầu trí huệ Phật."

Kinh Hoa Nghiêm - Phần Tựa

Con nhớ lúc nhỏ thường thích gần gũi những người đàm luận chân lý. Họ là những người thực sự là "người lớn" trưởng thành hiểu luật lệ, và họ xây dựng hành vi hàng ngày trên nền tảng chân lý kiên cố. Ðiều con thích nhất trong Phật Pháp là mọi người đều đáp ứng với sự thật của Phật Pháp. Mọi người thuộc mọi tầng lớp trong xã hội đều nghe Phật Pháp trong tận cùng đáy tim của họ. Và Phật pháp không bao giờ không làm hiển lộ phần tốt đẹp nhất trong chúng ta.

Cư sĩ Quả Trần xuống đây hôm qua, thuật ngắn gọn việc khám phá Phật Pháp của ông và Phật Pháp có ý nghiã gì đối với ông ta. Quả Trần quy y Tam Bảo trong ngày sinh nhật của Sư Phụ tại Vạn Phật Thành, thọ giới cư sĩ vào dịp Phật đản tuần trước. Ông nói: "Cuối cùng, tôi cảm giác rằng mình đang ở tại nhà. Trên nền trời xanh, tôi thấy vầng cầu vồng ngũ sắc đẹp chưa từng thấy. Và ông biết còn gì nữa không? Tôi thấy một hũ vàng ngay phía cuối của cầu vồng, ngay chỗ chúng tôi đứng tại Vạn Phật Thành." Quả Trần giải thích: "Trước khi gặp Sư Phụ và đạo Phật, mọi việc đều làm tôi chán nản. Cuộc đời là một chuỗi dài thất vọng. Tôi thực hiện một dự án nào đó thành công đến cuối nhưng rồi lại thấy mình không đi đến đâu cả. Sau này, sau khi nghe Sư Phụ thuyết pháp rồi tôi nhìn lại chính mình, đột nhiên nhận thức rằng cuộc đời mình không phải là cuối cùng chẳng có giá trị gì cả. Tôi có một vai trò phải làm - chỉ có việc giữ giới là đại sự. Thêm nữa, nhìn lại tất cả vấn đề, tôi thấy rằng mọi vấn đề việc tôi phải đối diện đều phát sinh từ tâm tôi. Các câu trả lời cho những vấn đề đó cũng phát sinh từ cùng chỗ đó!"

Quả Trần lo lắng là cha mẹ ông ta sẽ khó mà chấp nhận con là một thành phần của một tôn giáo xa lạ. Thầy Hằng Triều nói: "Hãy rất kiên nhẫn đối với cha mẹ của ông. Ðừng tìm cách thuyết phục họ. Ðừng nói ngay cả việc thay đổi của ông. Chỉ giữ giới thật cẩn mật. Ông sẽ được cảm ứng tùy theo sự thành tâm của ông. Giới luật quét dọn tâm một cách tự nhiên và giúp chúng ta hướng thiện. Cha mẹ ông muốn ông được hạnh phúc an lạc, khi họ thấy ông mỗi ngày càng thanh tịnh và sáng hơn, thì tự nhiên họ sẽ tự nhận ra chân lý Phật Pháp. Trên hết là đừng có sự ép buộc nào cả và đừng nóng giận! Ðiều này rất quan trọng. Sau đó, ông đừng giết hại, không dùng ma túy hay rượu, thì ông sẽ rất hạnh phúc. Làm thế nào ông có thể đi sai được?"

Mỗi lần nhìn một bạn đạo đệ tử của Sư Phụ, con đều nhận thấy đặc điểm ánh sáng và sự thiện lành chiếu phát từ đôi mắt cùng trái tim của họ. Điều này khiến chúng con thật vui mừng được làm việc trong đạo pháp và cố gắng hết sức mình để "từng bước, từng bước, đi lần đến điều thiện."

Ðệ tử Quả Chân đảnh lễ.

 

 

Tôi có thể nghiền ngẫm một câu kệ trong nhiều tuần

140 dặm hướng nam San Francisco, xa lộ số 1, chủ nhật, ngày 18 tháng 6 năm 1978.

 

Kính thưa Sư Phụ,

Kinh Hoa Nghiêm thật tuyệt diệu, là người hướng dẫn toàn mỹ và là ngọn đèn chiếu sáng mọi cảnh giới tâm mà chúng con kinh nghiệm. Hơn nữa, Kinh này còn là cẩm nang chỉ dẫn làm thế nào để sống còn trên đường lộ. Đối với mỗi thứ xuất hiện, từ những con dã thú đến những lần hư xe, chúng con đều quay về Kinh để tìm câu trả lời. Những ai chưa từng nghe Kinh điển hãy đến đây để chỉ nghe Thầy Hằng Thật làm những chữ Hoa ngữ sống lại cho họ. Họ cảm thấy có cái gì đó đặc biệt, gần như là huyền diệu về Kinh điển, và họ có ấn tượng sâu đậm là có người có thể ngồi xuống và đem những chữ xưa này và dịch thành lời mà họ thông hiểu, những lời đi sâu vào tâm khảm.

Một ông nói: "Sao từ trước đến nay chưa ai làm việc này ở Tây phương? Tôi không thể hiểu nó. Kinh này (Hoa Nghiêm) là điều xa vời nhất mà tôi từng đọc hay nghe. Kinh nói hoàn toàn đúng như vậy. Tôi có thể nghiền ngẫm một câu kệ trong nhiều tuần mà vẫn chưa hiểu hết." Ông ta rất vui mừng khi biết có báo Kim Cang Bồ Ðề Hải và có phần dịch Kinh Hoa Nghiêm cùng chú giải trong đó.

Hôm nay, Kinh Hoa Nghiêm giúp con câu giải đáp mà con đã tìm kiếm trong hai hoàn cảnh. Cảm giác hay tinh thần ở trong tâm con, nhưng Kinh có thể chiếu ánh sáng vào và làm nó nở hoa. Càng lạy nhiều chừng nào, tâm chúng con càng hòa nhập với Kinh. Và tâm chúng con càng hòa nhập gần với Kinh chừng nào thì cuộc sống chúng con càng trở nên đơn giản và trong sạch hơn.

Một cư sĩ nói: Nơi đây lạnh và nhiều gió. Khi mưa xuống nhất định sẽ trở ngại cho quý thầy!

Thầy Hằng Triều trả lời: Mỗi ngày vui hơn một chút. Thời tiết không thành vấn đề.

Cư sĩ: ồ! Thầy đã gần đến đó rồi.

"Gần đến đâu? Cho đến khi mọi người đều đến đó và vì vẫn còn người khác chưa đến, như vậy làm sao chúng tôi có thể đến đó được? Vì còn có đau khổ trên thế gian cho đến khi tất cả chúng sanh đều được sự an lạc họ tìm kiếm, công việc của chúng tôi chưa hoàn tất."

Bồ Tát chỗ được vui thắng diệu

Ðều đem hồi hướng cho quần sanh

Dầu vì quần sanh nên hồi hướng

Nhưng không chấp trước nơi hồi hướng

Bồ Tát tu hành hồi hướng này

Hưng khởi vô lượng tâm đại bi

Như đức hồi hướng của Phật tu

Nguyện tôi tu hành trọn viên mãn.

Như chư Như Lai đã Thành tựu

Không cầu lợi ích cho tự thân,

Chỉ muốn mọi loài đều an lạc."

Kinh Hoa Nghiêm, phẩm Thập Hồi Hướng.

Vì nhiều công việc để làm và không có thời gian vọng tưởng về tại sao hay "đến đó," hay ngay cả hồi hướng công đức. Tu hành là tự nhiên, không cần suy nghĩ hoặc sắp đặt kế hoạch hay mục tiêu. Khi chúng con nhất tâm lễ lạy thì muôn sự đều tự giải quyết và mọi dị biệt đều biến mất.

Cư sĩ nói: "Có người nói rằng đây là thức ăn mà quý thầy thích, nên chúng con đem lại rất nhiều."

Thầy Hằng Triều: "Chúng tôi không có ưa thích. Tất cả đều giống nhau. Bất cứ gì làm người khác vui vẻ là điều chúng tôi ưa thích. Những gì người khác vui mừng làm, những gì họ thích cho đó là những thứ chúng tôi thích. Câu: "Qúy thầy có cần gì không, như có cần gì đặc biệt không?" thường được hỏi. Chúng con trả lời: "Bất cứ thứ gì quý vị muốn cho chúng tôi, bất cứ điều gì làm quý vị vui vẻ, đó là điều chúng tôi cần."

Kinh Hoa Nghiêm dạy rõ:

Vì chẳng tham chấp ngã

Và chẳng chấp ngã sở

...

Thích thật lợi chánh pháp

Chẳng ưa thọ dục lạc

Tu duy pháp đã nghe

Rời xa hạnh chấp trước.

Chẳng tham cầu lợi dưỡng

Chỉ thích Phật Bồ đề

Nhứt tâm cầu Phật trí

Chuyên ròng không niệm khác.

Kinh Hoa Nghiêm, phẩm Thập Ðịa

Con đã phí nhiều thời gian và công sức để mưu cầu lợi ích và cúng dường cho chính mình và cố gắng thỏa mãn các tham muốn của mình. Thật đơn giản và tự tại tuyệt diệu hơn nhiều khi không còn lo lắng về điều đó nữa, và “Nhất tâm cầu Phật trí, chú tâm không phân tán bởi một niệm nào khác'. Khi chúng con chú tâm thì "mọi chuyện đều tốt đẹp cả". Phát tâm “mọi chuyện đều tốt đẹp” là báo đáp từ ân của cha mẹ và là món quà cao cả nhất để tặng cho tất cả chúng sanh.

Ðệ tử Quả Ðình (Hằng Triều) đảnh lễ.

 

Tái bút: Báo Kim Cang Bồ Ðề Hải như là một mặt trời khác trên thế gian. Báo "phát sinh ánh sánh vi diệu soi sáng muôn loài."

 

Nhưng không có gì để bám vào

Monterey, Cali., ngày 20 tháng 7 năm 1978.

 

Kính thưa Sư Phụ,

Chúng con đến thành phố Monterey, trở lại thành phố sau ba tháng cô lập giữa những tảng đá và sóng biển của vùng Big Sur. Thật rất kỳ diệu. Những sự khác biệt con kinh nghiệm qua chỉ hiện hữu trong tâm con. Pháp giới là một tổng thể an lạc. Khi tâm con động thì không còn thấy tổng thể, mình và người trở thành hiện hữu, và vùng Big Sur, thành phố Monterey, và Vạn Phật Thành trở thành những tên gọi trên bản đồ, chia cách bằng những dặm đường lễ bái gian truân. Khi vọng niệm lắng lại và sự phân biệt dừng nghỉ, thì lúc đó dầu ở đâu đi nữa, chúng còn vẫn đang đảnh lễ trước tượng Ðức Bồ tát Quán Âm khổng lồ tại chánh điện Vạn Phật Thành.

Kinh Hoa Nghiêm nói:

"Như thế thì thế gian là gì? Cá gì là không phải thế gian? Thế giới và không thể giới chỉ là danh tự sai biệt. Pháp của quá khứ, hiện tại, tương lai và ngũ uẩn, khi đặt tên thì mang thế giới thành hiện hữu. Khi các pháp nầy diệt thì thế giới không còn. Như thế, cũng chỉ là giả danh mà thôi."

Kệ tán Dạ Ma Thiên Cung

Ngôn ngữ và danh cú chỉ là sự tạo tác của tâm thức. Chúng là dụng cụ của tư tưởng và cũng hư vọng như như vậy.

Tại sao Sư Phụ phải đã cho chúng con lời khai thị luôn được nhắc nhở: "Đừng có vọng tưởng nào cả! Phải tìm cách chặn đứng luồng vọng tưởng ngay khi chúng vừa phát khởi." Vì vọng tưởng tạo nên thế giới chúng ta cư ngụ. Vọng tưởng tạo nên nghiệp và quả báo chúng ta gánh chịu. "Mười Pháp giới không ngoài một tâm niệm." Từ địa ngục đến Phật quả, chúng con gặt quả của những hạt giống chúng con đã trồng trong tâm thức. Khi chúng con kết hợp với Ðạo thì chúng ta làm đúng cũng ngay trong chính tâm đó.

Tổ thứ Ba là Tổ Tăng Xán nói về ngôn ngữ, tư tưởng và Đạo. Ngài nói:

"Càng nói càng suy nghĩ,

Thì càng xa cái ấy.

Nếu ngừng bặt ngôn tưởng,

Sẽ thấy nó cùng khắp."

(Tín Tâm Minh)

Thiền thất vưà rồi, Sư Phụ có dạy: "Người tu Đạo tâm không thì đồng với Phật."

Ðệ tử: Sư Phụ, con đã cố gắng hết sức để dẹp bỏ phàm niệm, chỉ còn Phật niệm.

Sư Phụ: Tốt, hãy nói xem, Phật niệm là gì? Nói đi, câu trả lời của ông là gì?

Ðệ tử: Ồ, à ..., ồ, Con biết đó không phải là vọng niệm, con có nhiều vọng niệm ...

Sư Phụ: Vì con có nhiều vọng niệm mà con không biết. Cái gì không thể tả ra, không diễn bày được, đó là Phật! Bất cứ cái gì có thể diễn bày bằng ngôn ngữ thì vẫn chỉ là bên ngoài. Người xưa có nói:

Vọng tâm muốn phan duyên,

Nhưng không có gì để bám vào

Đường ngôn ngữ dứt bặt

Chỗ tâm hành bèn diệt. (1)

Hễ còn có niệm tưởng thì vẫn chưa thành Phật quả"

Ðệ tử: Ồ, vậy vô niệm là Phật niệm!

Sư Phụ: (không trả lời.)

"Bồ tát nguyện tất cả chúng sanh được thân không mệt mỏi như kim cang."

Kinh Hoa Nghiêm, phẩm Thập Hồi Hướng.

Sư Phụ dạy con rất nhiều về thân cũng như về tâm của con. Trong chuyển hành trình lễ bái nầy, còn đang học niệm kinh "Pháp thân" để thay đổi túi da âm, cong, cứng để lấy thân thắng đứng, uyển chuyển, đầy năng lực dương. Việc bái lạy cùng thiền định đang làm thay đổi toàn thế giới của con. Tu hành là ngọn suối vi diệu. Mỗi ngày con giữ giới và chế phục vọng tưởng con càng cảm thấy trẻ trung ra, thành thật hơn và chân chính hơn. Một cách tự nhiên!

"Tu hành hàng phục thân tâm. Chúng ta điều phục thân để có thể tiếp tục làm việc ngay cả những lúc mỏi mệt; chúng ta điều phục tâm để không khởi sinh vọng tưởng."

Sư Phụ Khai Thị, Kim Luân Tự, tháng 5, 1978.

 

Ðệ tử Quả Chân kính lạy.

 

Ghi chú: :

 

(1) Nguyên văn Hoa ngữ:

言語道斷,心行處滅

即念離念,念而無念

 

Ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xử diệt

Tức niệm ly niệm, niệm nhi vô niệm

 

 

Những sinh vật ngoài không gian đang đến 

Santa Cruz, Cali., ngày 28 tháng 10 năm 1978.

 

Kính thưa Sư Phụ,

Chúng con vừa lạy qua lằn ranh của thành phố Santa Cruz. Phía trước là 80 dặm dọc theo bờ biển hoang vắng trước khi đến San Francisco, và cộng thêm những gì "tâm tạo". Con sung sướng nhất khi lạy nhiều, ngồi thiền lâu, và không hở môi chuyện vãn. Khi tu hành, con để ý thấy rằng người xung quanh mình trở nên tự nhiên và an lạc hơn nhiều. Quan tâm đến việc của mình làm và để ý đến lỗi của chính mình dường như giúp cho người khác có thêm không gian để phát triển và di chuyển mà không cảm thấy bị áp bức hay cản trở. Con đã giữ tâm mình không lo lắng hay giận dữ, dầu hoàn cảnh thế nào đi nữa. Con đã đầy ắp phiền não quá lâu rồi. Phiền não làm ô nhiễm không khí và làm tóc bạc da nhăn. Bài kệ trong kinh Hoa Nghiêm dưới đây đã đánh vào tâm thức con chỉ con đường đúng đắn phải như thế nào :

"Bồ tát hoàn toàn tự do khỏi sự tranh chấp, 
Khỏi rắc rối, bức hại và sân hận.
Ngài biết hổ thẹn, khiêm cung và ngay thẳng.
Và khéo bảo vệ gìn giữ các căn."

Trong ngày thỉnh thoảng con tụng bài kệ này. Không sai chút nào, bài kệ làm tan đi bóng tối trong tâm con và đem lại cảm giác nhẹ nhàng rất nhiều. Con thật chưa bao giờ gặp cái gì tuyệt diệu và chân thật hơn Phật Pháp.

Tại Santa Cruz chúng con gặp ông Don Penners cùng gia đình . Ông là nha sĩ tại vùng địa phương, ông đang bán cơ sở hành nghề để cùng gia đình về Vạn Phật Thành sinh sống và làm việc. Ông nói: "Chúng tôi đang trông đợi dọn đi. Đó là điều tốt đẹp nhất đang xảy ra trên thế gian này. Sư Phụ là một con người vĩ đại. " Khi họ mới gặp Sư Phụ lần đầu tiên, họ đã hơi bối rối. "Ồ! lúc đầu chúng tôi không có ấn tượng gì. Ngài trông rất trẻ và khỏe - quá mức để làm Hoà Thượng Trụ Trì - do đó tôi đường đột hỏi: 'Ông là ai?' Tôi tưởng ngài là một vị tri khách phụ tá phương trượng. Tôi chưa từng gặp một người trạc tuổi ngài mà trẻ trung và vui vẻ đến thế! Chúng tôi không được ngài trả lời." 

Penners tiếp tục nói: "Ngài chẳng nói câu nào với chúng tôi trong lần gặp đầu tiên. Giống như đang đứng nhìn một tấm kính lớn, những gì chúng tôi thấy là chính mình. Giống như Sư Phụ bên trong đều trống không. Không có những chào hỏi thông thường như 'Ông mạnh giỏi chứ? Ông hiện nay như thế nào ?' Chỉ về sau chúng tôi mới biết trân quý cái kinh nghiệm hiếm có và quý giá đó. Chúng tôi đã thấy đuợc hình ảnh rõ ràng của chính mình. Rõ ràng thật là một cái gì kỳ diệu."
Chúng con cũng đã gặp những người kỳ lạ. Một buổi tối, trong khi con đang ngồi nấu trà sau xe bỗng chợt có hai thanh niên tiến đến, hỏi về cuộc hành trình Ba bước một lạy. Giữa cuộc đàm luận vui vẻ, chợt có một người nói: "Người ta nghĩ rằng Chúa Giê su sẽ trở lại thế giới này; nhưng họ sai lầm hoàn toàn. Những sinh vật ngoài không gian (UFO) đang đến. Họ ở ngoài không gian đang trông chừng chúng ta giống như người nông dân trông coi đồng bắp. Khi đến tinh cầu này, họ sẽ mang đi một số người - bắt sống - ra ngoài không gian. Những người còn lại trên địa cầu sẽ tự hủy diệt bằng vũ khí nguyên tử và không khí ô nhiễm. Đó là những lời trong Kinh Thánh."
"Vậy sao ?!"
"Phải, ông có đọc Thánh Kinh chưa?"
"Ngày xưa ...." con bắt đầu.
"Tôi đã đọc hết rồi! Như vậy ông sẽ làm gì?" anh ta hỏi gấp rút.
"Về việc gì?"
"Khi họ đến - những sinh vật ngoài không gian (UFO). Ông sẽ đi với họ hay ở lại địa cầu ?" anh ta thúc hối.
"Tôi sẽ chỉ tiếp tục lạy đến Vạn Phật Thánh Thành.", con trả lời.
"Các ông sẽ như vậy? Được, tôi đoán ... , nhưng ... được, các sinh vật đó sắp đến rồi. Tôi biết rõ..." Anh ta ngẩng đầu nhìn lên bầu trời đầy trăng sao, âm thanh từ từ bay mất.
Có rất nhiều cách khác nhau để nhìn sự vật. Thầy Hằng Thật và con đã từ từ khám phá ra là với tâm chánh trực, những gì nhìn thấy cũng là chánh trực, với tâm tà kiến những gì nhìn thấy cũng là tà kiến. Chánh tri chánh kiến rất quan trọng, bởi vì chúng ta nhìn bằng tâm như thế nào thì sự vật trở thành như thế. Như kệ của Sư Phụ: 


"Gieo nhân tất gặt quả - hãy tự nhìn lại chính mình,
Đến và đi với lòng tôn kính,
Vô tư chính là Đạo".

Tất cả đều tốt đẹp. Không có vấn đề nào quá lớn đến nỗi một ngày lễ lạy không giải quyết được."
 


Đệ tử Quả Đình (Hằng Triều)
đảnh lễ.

 

 

Tháo băng vết thương cũ

Ngày 28 tháng 10 năm 1978 .

 

Phía trên Santa Cruz , trên Xa lộ 1

Kính thưa Sư Phụ,

Hãy thành thật nhận lỗi mình,

Đừng nhìn vào lỗi nguời.

Lỗi nguời đồng lỗi mình;

Đồng thể tức đại bi.

Hòa thuợng Tuyên Hóa

Một nguời bạn cũ của thầy Hằng Triều nhìn thấy chúng con bên ngoài một công truờng xây cất ở Santa Cruz . Thầy Hằng Triều nói: “Mặt anh ta trông có vẻ nhăn nhó và chỉ sau một cuộc nói chuyện ngắn ngủi, anh chàng bỏ đi khá vội vã”. Sáng hôm sau, truớc thời công phu sáng, con quên canh giữ tâm ý mình và con đã phá luật bằng việc viết một tờ giấy tầm phào và lắm chuyện cho thầy Hằng Triều. Khi đang với tay lấy cây viết và mảnh giấy, con đụng vào cây nhang đang cháy, làm nhang rớt ra khỏi lư hương và làm áo khoác ngoài của con cháy một lỗ. Đây là một dấu hiệu nhắc con phải cẩn thận và nên tự kiểm — hình như có gì đó không ổn? (Nhưng con đã bỏ qua dấu hiệu đó và tiếp tục buớc thêm một buớc sai lầm). Con viết: “Bạn anh chắc nghĩ là anh không những xuống dốc mà còn bị mát điện nữa: Bò lạy dọc theo ven đuờng trong bộ quần áo rách ruới, chung với một nguời bạn tồi tệ chẳng khác gì anh”, và con đã đưa mảnh giấy ấy cho thầy Hằng Triều xem. 

Ngay truớc khi nhìn thấy thái độ trên mặt của thầy Hằng Triều, con biết mình đã phạm sai lầm. Thầy Hằng Triều đọc mảnh giấy con đưa, không nói gì nhưng thầy biểu lộ sự thất vọng. Con dùng nguyên cả phần công phu sáng và giờ thiền định sau đó để sám hối tội ngu ngốc của mình. Truớc đó con đã phá luật một lần, giờ đây phải phạm luật lần nữa để nói lên lỗi lầm của mình và xin lỗi. Con ghi: “Viết ra những lời đó quả là một sai lầm. Thứ nhất, nó hủy báng Tam Bảo bằng việc nói dáng vẻ bề ngoài của chúng ta là “tồi tệ” và “rách ruới”. Điều đó phạm vào giới Bồ tát thứ muời: “Không đuợc hủy báng Tam Bảo”. Thứ hai, nó gieo hạt giống hoài nghi vào tâm thức của mình (‘Có thật Hằng Thật cảm thấy như thế đối với việc chúng ta đang làm?’). Thứ ba, nó duy trì thói quen cũ của tôi là xem mình tài giỏi hơn nguời và thuờng hay khó khăn với nguời khác. Thật ra tôi không cảm thấy bị kiệt sức hay thất bại, và dĩ nhiên tôi không có cảm giác như thế đối với anh. Mảnh giấy đó là một cái tát mỉa mai và thiếu từ bi với bạn anh. Thật ra chiếc áo tỳ kheo là chiếc áo đẹp nhất mà tôi có thể mơ tuởng đến. Hơn nữa, tôi không muốn đánh đổi công việc của chúng ta để làm bất kỳ vị vua chúa nào. Bây giờ tôi phải bắt đầu sống xứng đáng với chiếc áo tràng và lời phát nguyện của mình. Tôi có thể bắt đầu bằng việc không bao giờ viết những dòng ngu ngốc và ác nghiệp như thế nữa! 

Tất cả những điều tôi có thể nói là trời vẫn còn sớm quá, tôi chưa kịp rút ra thanh kiếm chém vọng tuởng của mình. Một ý tuởng luời biếng, bậy bạ đã biểu hiện qua mảnh giấy. Xin lỗi vì đã gây ra phiền phức.” “Lỗi nguời là lỗi mình.”

Tu Đạo để có sức khỏe tốt thật sự. 

Tu Đạo là con đuờng trở về với sức khỏe chân thật của mình. Kinh là liều thuốc. Hòa Thuợng như một vị lương y giỏi, cho nguời những toa thuốc hiệu quả nhất để đối trị với 84.000 loại phiền não đang ngăn cản con đuờng quay trở về với an lạc và hạnh phúc. 

Xét về nguồn gốc, mọi phương thuốc chúng ta cần để điều trị căn bệnh trầm kha - bệnh sinh tử - chúng ta đã tự sẵn có, nhưng mình không nhận ra nó, không biết sử dụng nó, do vì dính mắc các tật xấu và các ý tuởng giả tạo điên đo. Vị thầy lương y đến bảo cho ta biết: Một là chúng ta đang bệnh. Hai là nguyên nhân căn bệnh là vì chúng ta tìm kiếm hạnh phúc ở bên ngoài tự tánh. Ba là có thuốc điều trị, và Bốn là phương thuốc đó là sự tu hành Phật pháp.

Tiếp theo, do vì lòng từ bi bác ái, vị lương y cho chúng ta liều thuốc toàn hảo thích hợp với nhu cầu của ta. Nhưng tùy chúng ta có can đảm uống thuốc đã đuợc ông kê đơn hay không? Về điểm này, thực hành Pháp trở thành phương pháp tự điều trị, tự dứt bệnh.

Con phải nhớ rằng con bị bệnh, cần phải tin vào hiệu quả của liều thuốc và phải tiếp tục uống thuốc. Ý quyết đuợc khỏe mạnh cần có niềm tin vào vị lương y và phương thuốc, cũng như phải đều đặn tu hành, tạo điều kiện cho sự bình phục. Niềm tin, lời nguyện và thực hành chính là toa thuốc để trở thành hoàn toàn khỏe mạnh.

Đoạn đuờng chúng con đi qua Santa Cruz trong tháng này là một tấm gương phản ánh các giai đoạn đầu của phương pháp chữa bệnh bằng Phật pháp. Con suy nghĩ khá lâu về những nghiệp quá khứ của mình chiếu theo lời dạy của Sư phụ và hành vi gương mẫu của Bồ tát trong các Kinh. Lễ lạy qua Santa Cruz , con dễ dàng nhìn thấy con thật sự bị bệnh. Những hành vi trong quá khứ của con giống như danh sách của Thập Ác: Con đã làm điều mà loài quỷ đã làm: sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối và uống ruợu. Con không thể nói rằng con đã thay đổi kể từ khi con thực hành để có đuợc sức khỏe tốt. Nhưng bây giờ con nhận ra con đã quá sai lầm và các thói hư tật xấu vẫn còn đủ mạnh để lôi kéo con từ nơi khoẻ mạnh trở về các bệnh cũ. Các thói hư này vẫn còn mạnh và không dễ gì thay đổi chúng. Nhưng con muốn trở thành một đệ tử chân chính của đức Phật. Cho dù phải chịu đựng sự khổ cực thế nào đi nữa, dù có phải uống thuốc gì đi nữa, con quyết định đuợc lành bệnh trở lại. Cảnh giới an lạc và lành mạnh của Sư phụ, lòng thiện tâm sáng ngời của chư Bồ tát trong Kinh Hoa Nghiêm quả thật là kỳ diệu –đó là điều con mong muốn nhất trong tất cả mọi thứ khác. 

Các ngài nguyện chúng sanh vĩnh viễn thoát khỏi thân bệnh và đạt đuợc thân tuớng Như Lai.

Kinh Hoa Nghiêm, phẩm “Thập hồi huớng”

Sư phụ dạy rất rõ: “Hằng Thật, sai lầm nghiêm trọng nhất của con là sự dính mắc với mọi người, đặc biệt với phụ nữ.” Điều đó gọi là “nhận ra căn bệnh”. Buớc kế tiếp là xem bệnh ấy xuất hiện như thế nào trong cách cư xử của con. Và buớc thứ ba là tìm cách chuyển đổi nó. Lời Sư phụ nói dĩ nhiên là đúng. Sư phụ đã chỉ ra vòng nhân quả tạo ra rắc rối cho con. Trong kiếp này con đã tự làm tổn hại mình và gây ra nhiều đau khổ cho nguời khác bằng hành động ích kỷ của mình. Trong quá khứ con đã tự trói buộc mình qua các mối quan hệ xấu với phái nữ, dẫn đến kết quả lối sống tình dục bừa bãi và nguy hiểm cho đôi bên trong đời nay. Truớc khi con gặp đuợc chánh pháp trong kiếp này, con đã gieo trồng các hạt giống xấu xa mà chắc chắn sẽ nẩy nở trong tương lai.

Kinh Lăng Nghiêm nói: “Nếu không thoát khỏi dục niệm, sẽ không ra khỏi bụi trần” (Dâm tâm bất trừ, trấn lao bất khả xuất). Nếu con không hoàn toàn đoạn đuợc dục niệm, không thể cắt đứt nó, con sẽ không thể tu tập để trở thành Bồ tát và trở thành một vị Phật. Con sẽ không thành công. Con tin vào nhân quả. Con thấy những điều con làm trong kiếp này, thấy những điều xấu con đã làm vì những ác nghiệp trong quá khứ. Con đã nhìn thấy bản vẽ cuộc đời tương lai mà con đang tự vẽ nên, và bản vẽ tương lai đó không phải là một bản vẽ tốt đẹp.  

Con muốn thay đổi và trong Phật Pháp con đã tìm đuợc thuốc trị bệnh của mình. Thuốc đó được gọi là “Tam bộ, Nhất bái, sám hối và sữa lỗi”. Mỗi ngày con lập lại lời nguyện đoạn trừ dục niệm, và tụng lời nguyện cùng với tất cả chúng sanh, đồng quay về nguồn gốc bổn lai thanh tịnh của mình. Lời phát nguyện có đoạn nói rằng: “Con nguyện các nghiệp duyên xấu từ xa xưa sẽ đuợc chuyển thành quả báo theo một cách thức nào đó khác với tình dục. Con sẽ không bao giờ phải chịu cảnh trả quả bằng hình thức tình dục. Bao nhiêu nợ nần còn thiếu đối với con về vấn đề này, con nay xóa bỏ.” Không biết có đuợc không? Con thật có thể nhổ tận các hạt giống xấu xa mà con đã gieo trồng trong kiếp này để không còn phải nhận quả báo tương tự trong tương lai như con đã chịu đựng trong kiếp này? Con tin lời nguyện của mình sẽ thành tựu. Tuần rồi khi lạy ngang qua bãi đậu xe của một thương xá ở làng Aptos, con đuợc “cúng duờng nuớc cam mà không có ly để uống”, như thầy Hằng Triều đã nói đùa. Khi bị tưới ướt cả người bằng nuớc cam rít chịt do từ một xe tải nhỏ chạy ngang qua, con đã lập tức nghĩ nhớ đến lời nguyện của mình. Cũng chiều hôm đó con đuợc tắm bằng một ly bia do một xe tải màu xanh vứt liệng vào nguời con. Con lập lại lời nguyện của mình, với lòng ước mong hồi huớng mọi công đức có được từ việc làm của con cho tất cả các chúng sanh, để họ có thể trở về với tự tánh thanh tịnh của họ. 

Sáng hôm sau con pha trà nóng hổi vào tách Sierra của con. Lúc với tay lấy bình thủy, con hụt tay làm đồ cả tách trà nóng vào bàn chân trần của mình. Nuớc sôi đổ vào vùng bụng của con vì con ngồi kiết già chuẩn bị công phu sáng. Vết bỏng lột da nhức nhối! Và trong đầu con ký ức về việc con đã làm cho nguời khác đau đớn nhức nhối qua các hành động dâm dục, ích kỷ, thiếu trách nhiệm lại trở về với con. (Thầy Hằng Triều nhận xét như sau: “Quả thật trà ngon đã giúp huynh thức tỉnh, phải không?”). Những sự việc này có phải thật là nghiệp dâm dục con đã tạo ra, giờ đuợc thể hiện qua một hình thức khác như con đã nguyện? Con nghĩ là thế. Con tin như thế. 

Tam bộ, Nhất bái giúp chữa căn bệnh của con. Ai ném nuớc cam và bia vào nguời con? Là những Thiện Tri Thức. Họ có thể là những nguời con đã gây đau khổ trong quá khứ. Những cô nữ sinh trung học Santa Cruz - những nguời đã ném đá và nguyền rủa con khiến cho tài xế xe tải phải nguợng ngùng là ai? Con thấy họ là những hành vi của chính con trả về lại cho con. Họ là bạn của con, là ruộng phuớc cho con. Như Bồ tát trong Phẩm Thập Thiện của Kinh Hoa Nghiêm nói:

“…Khi nhìn thấy nhóm nguời hành khất đến xin thịt của thân mình để ăn, Bồ tát nói: “Những nguời này là bạn tốt của tôi. Tôi thật sự sẽ đuợc lợi ích. Mặc dù không yêu cầu, nhưng họ vẫn đến giúp tôi thâm nhập vào Phật pháp.”

Con bắt đầu nhìn thấy mức độ nghiêm trọng của căn bệnh của mình. Nhưng đó chỉ là sự bắt đầu, và với liều thuốc tốt con uống, con sẽ dần dần đuợc hồi phục. Sư phụ đã giải thích nguồn gốc cơ bản của nghiệp chướng mê lầm là:

Tất cả rắc rối trên đời này đều do sự hiện hữu của cái tôi mà ra. Không có ngã, ai là nguời đau khổ? Ai là nguời cảm thấy đau đớn? Ngã là ảo tuởng. Quý vị cần nên vô ngã.


Đó là lời nói của vị Lương Y, xé toạc vết băng trên vết thương cũ thay vì chầm chậm tháo gỡ từng miếng như đa số chúng ta đều làm. Sư phụ muốn chúng con đuợc hồi phục ngay bây giờ. Cho đến khi tất cả chúng con thành Phật, Sư phụ vẫn tiếp tục trở về để điều trị cho các đệ tử đau ốm này. Tuy nhiên, một trong những đại kiếp nào đó, tất cả chúng con có thể sẽ chứng được quả Phật. Việc làm của bậc đại truợng phu sẽ đuợc hoàn tất và tất cả chúng con sẽ có thể vân tập lại tại Vạn Phật Thánh Thành và “chiếu hào quang vào phẩm liên hoa cho nhau” trong hệ thống thế giới nhiều như vi trần.

 

Đệ tử Hằng Thật

Kính cẩn đảnh lễ Sư phụ.

 

Tu Sĩ và những người khiêu khích

Ngày 8 tháng 11, 1978
Davenport , California

 

Kính thưa Sư Phụ,

Cuộc sống của nguời xuất gia có một cái gì đó thật an toàn và viên mãn. Sau khi để lại sau lưng những tình cảm riêng tư cá nhân, nguời tu sĩ trở về ngôi nhà rộng lớn bao trùm cả thế giới. Bạn đồng hành của nguời xuất gia là chúng sanh khắp nơi, chốn nương tựa là trụ xứ an lạc với Đấng Vô Thượng Sĩ, Đức Phật, trí tuệ viên mãn và những vị giác ngộ trong Kinh điển, và các thành viên tăng đoàn vô ngã, thanh tịnh, phuớc điền. Còn có niềm hạnh phúc và an lạc nào lớn hơn điều này chăng? Vài tuần trruớc đây con chứng kiến một câu chuyện khá hay mà con xin gọi là “Tu sĩ và Nguời Quá Khích”. Khi chúng con đang lạy ngang vùng Santa Cruz thì có một phóng viên của tờ báo truờng đại học cộng đồng tại điạ phương đến phỏng vấn Thầy Hằng Triều. Cô ta tỏ ra quan tâm đến công việc và thệ nguyện của chúng con. Cô ấy ngạc nhiên khi biết tất cả những đồ dùng chúng con có đều là do sự cúng duờng thiện nguyện. 

Ngày hôm sau, sau giờ thọ trai, chúng con đang lạy dọc theo dòng suối Branciforte thì nguời phóng viên đó lại xuất hiện, dáng vẻ hơi lúng túng và bối rối. Đi với cô ta là một nữ sinh viên khác với nét mặt khó chịu.

Nguời phóng viên nói, "Tôi có một vài câu cần hỏi ông nhưng cảm thấy hơi e ngại". Đó là những câu hỏi thuần về chính trị và kinh tế, lời lẽ có phần giận dữ, hung hăng, đôi lúc sặc mùi đấu tranh. Hình như cô nữ phóng viên này đang bị các bạn cùng lớp chỉ trích và gây áp lực. Họ mạ lị Phật giáo như một thứ ký sinh trùng ăn bám, còn cái gọi là “tam bộ nhất bái” là một thứ trò chơi thuợng lưu, chỉ thu hút và lợi ích đối với một nhóm nguời thiểu số da trắng giàu có, một thành phần thượng lưu nào đó trong xã hội.

Nhưng những nguời quá khích này đã chọn lầm đối thủ. Những câu ứng đáp của Thầy Hằng Triều đã làm nhóm sinh viên này cứng miệng không nói nên lời: Cô phóng viên ngạc nhiên trong thích thú, còn nguời bạn khó chịu của cô thì cứng miệng ê chề. Thật ra Thầy Hằng Triều không phải là nguời khờ khạo, không hiểu biết gì về chính trị. Thầy là nguời từng trải với nhiều kinh nghiệm về trò chơi chính trị salon. Truớc khi xuất gia để thành tu sĩ, Thầy đang nghiên cứu cho một luận án tiến sĩ tại Đại Học Wisconsin trong phân khoa Lịch Sử, một viện nghiên cứu với những đòi hỏi khó khăn. Thầy đã truởng thành trong “khói lửa” chính trị của thập niên 60 đầy sôi nổi - một thời đại của xuống đuờng, của sự tụ tập biểu tình và tranh đấu bằng ý thức. Trên thực tế, vì sự cùng đuờng và những hạn vi hẹp hòi của các giải pháp chính trị đối với những vấn đề của thế giới, nó đã làm Thầy thất vọng, đã khiến Thầy đi tìm đến Phật Giáo. Nơi đây Thầy đã tìm thấy các cách giải quyết thật sự cho sự thống khổ mà mọi nguời đang chịu đựng. Thầy đã xuất gia để làm một vị tu sĩ tu học và thực hành Phật Pháp.

Sau đây là những câu trả lời của nguời tu sĩ đối với những câu hỏi khiêu khích cuả nhóm nguời cực đoan:

H: Các thành viên của Hội Phật Giáo Trung Mỹ (Sino-American) thuộc chủng tộc và tầng lớp nào trong xã hội?

Đ. Chúng tôi đến từ giai cấp của tất cả chúng sanh. Hội Phật Giáo Trung Mỹ thật sự có tánh cách quốc tế. Phật Pháp vuợt xuyên qua tất cả những phân chia về giai cấp xã hội, chủng tộc, giới tính tuổi tác, quốc gia, hoàn cảnh tôn giáo và kinh tế. Đây là một thứ ngôn ngữ tâm truyền tâm; là sự giáo hoá tất cả chúng sinh, giáo pháp của tâm. Đây là nguồn gốc vô giai cấp thực sự của con nguời. Không ai trong Hội Phật Giáo Trung Mỹ có lối suy nghĩ theo sự phân biệt này nữa.

H. Làm sao trên thực tế ông có thể tránh đuợc “các thứ loại phân biệt" đó ?

Đ. Tất cả đều do tâm tạo. Nếu bạn muốn nhìn thế gian qua sự giàu và nghèo, trắng và đen, có sở hữu hay không có sở hữu, thì thế giới sẽ là như vậy. Nhưng nếu bạn buớc 2 phân về bên trái hay 2 phân về bên phải hoặc quay đầu ngoái nhìn thì thấy tất cả đều khác hẳn. Nếu bạn cởi mở để chấp nhận tất cả, nếu bạn xoay đầu hẳn lại, thì lúc đó là bạn đến với cái nhìn của Phật giáo. Phật Giáo là giáo pháp của tâm và tất cả các cảnh giới của tâm. Cả hai đều không có khởi thủy và không có kết thúc.

H. Làm sao ông có thể cảm thấy thoải mái dư thì giờ đi làm cuộc hành hương như thế này trong khi những nguời thế giới thứ ba đang có những quan tâm khẩn thiết hơn, như là lo làm sao cho no bụng. Chuyến hành hương của ông chỉ có trong một quốc gia mà nơi đó ai cũng đuợc ăn no mặc đủ. Chỉ như vậy ông mới có thể ngồi không và nghĩ về sự hỷ lạc trừu tuợng.

Đ. Những ai có hiểu biết về con nguời không khi nào cho rằng mối quan tâm duy nhất của con nguời là làm đầy bao tử. Đó chỉ là một nhãn hiệu rẻ tiền mà những kẻ quấy rối dùng để chỉ định cái mà họ gọi là “Thể Giới Thứ Ba” . Trên thực tế, nguời của “Thế Giới Thứ Ba” cũng là con nguời, không phải là những cái miệng ăn hay bao tử . Họ suy nghĩ về sự sống chết, về việc họ đến từ đâu và sẽ đi về đâu. Tất cả mọi nguời đều nghĩ về điều này. Chúng tôi vừa mới trở về từ chuyến du hành Á Châu và chúng tôi đã thăm viếng những vùng nuớc đọng nơi nguời thuộc thế giới thứ ba sinh sống. Những nguời ở nơi đó đã đón nhận Phật Pháp rất nồng nhiệt, cũng mạnh mẽ và nhiệt tình như bất cứ nơi nào trên nuớc Mỹ. Tại sao? Vì Phật Giáo là ngôn ngữ của tâm. Mọi người đều nhận ra nó. Nó vượt lên các quan tâm đơn giản như ăn no bụng. Phật Giáo là ngôi nhà nguyên thủy của chúng ta, những thứ còn lại chỉ là sự hời hợt bên ngoài.

H. Làm sao ông có thể đóng góp vào sự sản xuất của thế giới? Sống như những ký sinh trùng mềm yếu trong một tu viện an toàn, các ông giúp nguời khác bằng cách nào?

Đ. Những nguời tại Tu Viện Kim Sơn, Vạn Phật Thánh Thành, và tại Viện Dịch Kinh Quốc Tế đều quan tâm sâu xa đến những sự đau khổ của con nguời trên thế giới. Và chúng tôi tin rằng chúng tôi phải:

Chân thật nhận lỗi mình,

Không bàn luận lỗi lầm nguời .

Lỗi nguời là lỗi mình,

Đồng thế tức Đại Bi.

Nhưng chúng tôi không chỉ nói suông. Do đó chúng tôi mỗi ngày chỉ ăn một bữa. Một số thầy chỉ ăn một chén cơm một ngày. Vì sao? Vì có nhiều nguời trên thế giới không có đủ thức ăn để ăn mỗi ngày. Chúng tôi đóng góp vào sự sản xuất của thế giới bằng cách không tham lam và giảm bớt sự tiêu thụ của mình.

Chúng tôi không xin bất cứ thứ gì. Tất cả những gì chúng tôi có và sử dụng đều từ việc cúng duờng tự nguyện. Chúng tôi không dùng tiền để mua thức ăn, chỉ dùng rau cải của các siêu thị vứt đi hoặc tự trồng trọt lấy. Chúng tôi sống bằng những thứ mà nuớc Mỹ vứt bỏ. Tiền bạc cúng duờng nào cũng đều dùng để xây dựng đạo tràng và in sách, không ai có tài sản riêng cho mình, tất cả đều thuộc về tu viện. Chúng tôi không mua quần áo mà dùng lại những áo quần nguời khác không cần nữa. Chúng tôi không quan tâm về thời trang bề ngoài, cũng không có giuờng nước trong chùa chúng tôi. Hầu hết những Tăng Ni và ngay cả nguời cư sĩ đều không ngủ nằm - họ ngồi ngủ trong tư thế thiền. Trong các tu viện của chúng tôi cũng không có mở lò sưởi cho dù mùa nào đi nữa. Chúng tôi không làm các công chuyện chỉ vì danh vọng hay lợi ích riêng tư, cũng không sống cho đời sống cá nhân. Các vị Tăng Ni đều sống đời tịnh hạnh xa rời ái dục, họ tin vào việc dẹp trừ tất cả những dục vọng ích kỷ. Đây chính là cuộc cách mạng thật sự. Ba Đại Tông Chỉ của chúng tôi là:

Dù rét chết, không phan duyên.

Dù đói chết, không van nài.

Dù nghèo chết, không cầu cạnh.

Tùy theo nhân duyên, nhung không đổi chí huớng.

Không đổi đạo phong, nhung vẫn thuận theo ngoại cảnh.

 

Xả mình vì Phật sự.

Tạo mạng là bổn phận.

Sửa mình là việc Tăng.

Gặp sự việc hiểu đạo lý

Hiểu đạo lý làm sự việc

Truyền thừa mạch huyết Tổ sư.

Khi chúng ta thực hành theo những tông chỉ này thì ta mới thật sự giúp đỡ các chúng sanh và Thế Giới Thứ Ba. Giải pháp cho sự đau khổ của thế giới không chỉ đơn thuần là cho họ những gì Hoa Kỳ có, mà đúng ra chúng ta phải chuyển cái phước báo dồi dào của mình thành công đức qua việc nỗ lực dụng công và tu hành trong tự tánh của chúng ta. Có câu nói:

Thọ khổ thì hết khổ,

Huởng phuớc thì hết phuớc

Theo Phật Pháp, lý do thế giới ngày nay rối loạn là vì tâm chúng ta nổi loạn. Nếu chúng ta muốn “trị quốc, bình thiên hạ“, thì truớc tiên ta phải biết thanh tịnh tâm của chúng ta. Là Phật tử, chúng tôi không nói suông, không chỉ bảo nguời khác, mà phải tự mình tu tâm duỡng tánh, tu hành thanh tịnh. Tất cả các vấn đề trên thế giới đều do sự ích kỷ và lòng tham muốn làm lợi cho riêng mình. Vì vậy trọng tâm của Phật Giáo là dạy chúng ta không còn bản ngã. ”Bây giờ nếu bạn không còn câu hỏi nào nữa thì tôi sẽ trở lại tiếp tục công với việc bái lạy của tôi.” Thầy Hằng Triều nói như thế và chấm dứt cuộc phỏng vấn.

Bằng cách đó, họ huớng về các đạo lý chân thật và đi vào chốn thâm sâu không có tranh cãi.

Kinh Hoa Nghiêm (Avatamsaka)

 

Phần II: 

Vào một buổi trưa Chủ Nhật, Thầy Hằng Triều kể cho con nghe về câu chuyện thầy gặp gỡ những người sinh viên. Thầy nói, “Tôi đã có suy nghĩ về các câu trả lời của tôi và tôi đáng lẽ tôi còn nói thêm nữa nhưng không có thời gian hay nơi chốn thuận tiện để trình bày cặn kẽ. Tôi sẽ nói về đạo lý từ bi và nhân quả. Hai đạo lý này thật sự mở rộng tâm trí tôi ra khỏi tầm nhìn duy vật và phân chia chính trị. Trước đây, cách suy nghĩ của tôi rất thiển cận. Chỉ là thuần túy tri thức. Quan điểm duy vật chỉ là một chiều, nó chia rẽ thế giới, nó dựa trên đấu tranh. Tư Bản hay Cộng Sản chỉ như là hai mặt của đồng xu, không lối thoát. Không có tấm lòng ở đó. Con người không đơn thuần chỉ là miệng và bao tử và lòng tham giàu sang. Mà về bản thể , chúng ta là những sinh vật có tâm linh.

“Điều này đã làm tôi thay đổi ý kiến. Tôi nhìn sâu vào tâm mình và ý thức rằng trong đó còn có nhiều thứ hơn là chỉ ý muốn làm lợi cho chính mình. Làm sao tôi có thể cho rằng tất cả chỉ có chừng đó trong những người khác? Phật Giáo dựa trên từ, bi, hỷ, xả. Phật Giáo bao gồm tất cả mọi người, không loại trừ một ai. Đại bi tâm thì cao cả và bao la, còn đại phân chia thì nhỏ mọn và đầy thù hận. Và mọi người đều có Phật tánh."

Thầy chúng ta đã nói gì về giai cấp? Ngài nói:

Tất cả chúng sinh là gia đình tôi,

Toàn vũ trụ là thân tôi.

Hư không là trường tôi,

Vô hình là tên tôi.

Từ, bi, hỷ, xả là dụng của tôi.

"Sau khi nghe chân lý này, còn ai có thể thoả mãn về đấu tranh giai cấp và giặt áo quần dơ của người khác?”, Thầy Hằng Triều hỏi.

"Bây giờ tôi hiểu rằng nhân quả định đoạt thế giới của chúng ta đang sống. Nếu chúng ta phung phí phước và không tu công đức, thì cho dù chúng ta đang giàu có, chúng ta sẽ mất sự giàu có đó ngay trong chính cuộc đời này. Nếu không làm gì cả ngoài việc tiêu hết phước báu và chạy theo lòng tham lam, thì trong kiếp kế tiếp chắc chắn là bị thiếu thốn. Nói một cách khác, trong đời này người ta bị lâm vào cảnh nghèo khó vì trong quá khứ họ đã ăn cắp, phí phạm tài nguyên, bần tiện và không thành thật. Đây là những điều đang thật sự diễn tiến bên dưới bề mặt thế giới vật chất."

Thầy Hằng Triều nói, “Thật không khó để nhìn xa hơn quan điểm thuần túy chính trị của những người trí thức. Quan điểm đó không có tấm lòng. Bên trong lại có thái đó thật kiêu ngạo và trịch thượng đối với người khác. Điều căn bản cho rằng người nghèo thì khổ hơn người có tiền, và sẽ không hạnh phúc cho đến khi người nghèo có những gì mà người giàu có sở hữu và mong muốn. Nếu nhìn thế giới bằng cách đó, thì nó là như thế: một sự trộn lộn xen lẫn giữa tham lam và tội lỗi. Nếu người của Thế Giới Thứ Ba không muốn những gì chúng ta đang có, thì việc đó làm chúng ta cảm thấy như thế nào về sự dư thừa của chúng ta? Có phải có hai chiếc xe và một cái TV màu và một đời sống sung túc thực sự là phần chia sẻ đúng của chúng ta hay không?"

Tôi đã từng nghe nhiều ngườI ở Á Châu, nhất là những bậc cao niên, nói rằng khi quốc gia của họ hiện đại hóa và dân chúng dời đến gần hơn các thành phố lớn, họ đều bị nhiều căng thẳng hơn vì cuộc sống ít đơn giản hơn. Không còn có thì giờ để tận hưởng đời sống nữa. Điều mà mọi người chỉ biết là chạy theo đồng tiền, tham muốn chồng chất và khi đó những vật chất giản dị, những tư tưởng đơn giản không làm người ta thỏa mãn nữa. Gia đình bắt đầu đổ vỡ, trở thành nhức đầu và vấn nạn gia tăng liền khi cái văn hoá của Thế Giới Thứ Nhất được nhập cảng vào."

Thầy Hằng Triều nói, “Thêm nữa, Phật pháp trực diện với những vấn đề trọng đại như sinh tử và đau khổ. Người nghèo ấp ủ Phật Pháp vì họ nhìn thấy rất gần cái rỗng không của cuộc đời và cái đau khổ chung của nhân loại. Họ không bị làm êm ái đối với những điều này như cách của "phần nửa kia tốt đẹp hơn" đang ”bị”.

"Điểm chuyển biến của sự gặp gỡ với những sinh viên này xảy đến khi tôi giải thích sự tu hành thật sự của những thành viên của Hội Phật Giáo Trung Mỹ. Trước đó những người phỏng vấn tôi cho rằng chúng ta cũng chỉ là những sinh viên, mặc y phục ngộ nghĩnh và đang chơi cùng trò chơi chính trị giống họ. Họ cho rằng chúng ta cùng ăn thức ăn giống họ, cùng nghe nhạc giống họ và cùng khiêu vũ những nhịp điệu giống họ. Khi họ nghe về cách tu khổ hạnh của Cuộc cách mạng Phật Pháp của Hội Phật Giáo Trung Mỹ, cuộc đối thoại nhanh chóng trở thành rất chân thực. Đại bi là một tấm lòng tuyệt diệu như thế đó. Hễ bạn bao dung chứa nạp hết tất cả chúng sinh thay vì phân chia, thì sự phân chia và kỳ thị sẽ khô héo đi.” Thầy Hằng Triều nói, "Như Sư Phụ có nói với chúng ta ở thành phố Los Angeles, một khi bạn nắm được các đạo lý căn bản của Phật Giáo, thì lúc đó không ai mà bạn không thắng được khi tranh luận. Còn ai có thể từ chối không chịu đứng bên trong ánh sáng an bình và hạnh phúc của Đức Phật? Phật pháp là thật sự cao thượng nhất trong tất cả các giáo pháp. Phật pháp không có ngụy biện, nó vượt xa ngôn ngữ và tư duy. Nó thật không thể nghĩ bàn!”.

Đệ Tử Quả Chân (Hằng Thật) kính lễ

 

Đừng khóc, hãy chết đi!

Ngày 13 tháng 11, 1978

 

Scott Creek, California

 

Kính thưa Sư Phụ,

Hôm nay Sư Phụ đi cùng một chiếc xe chở những huynh đệ có đôi mắt sáng đến từ Vạn Phật Thành, mang cho hai vị tăng đang bái lạy “một ít xăng” như lời Sư Phụ nói. Làm thế nào mà chúng con lại hết nhiên liệu? Con cạn nhiên liệu vì nhìn phụ nữ. Rồi con bị nhuốm bệnh. Khi Sư Phụ bước xuống từ chiếc xe buýt rồng vàng (*), ngài bắt đầu quét sạch mọi chướng ngại và phiền não của chúng con. Sư Phụ nói: “Thầy nghe Quả Chân nói rằng con bị bệnh. Thầy hỏi y xem con đã chết chưa. Y nói con chưa chết. Vì con vẫn chưa chết nên Thầy tới gặp con. Nếu con chết rồi thì Thầy không tới nữa. Con hiểu không?” Những câu nói kỳ lạ của Sư Phụ đi thẳng vào tim con. Cuối cùng, con cũng đã hiểu. Đây là toàn bộ câu chuyện:

Lẽ ra con nên xuất gia ngay từ lần đầu tới Tu viện Kim Sơn gần 3 năm về trước. Con đã trở về ngôi nhà thực sự của mình và biết rằng mình thuộc về nơi này. Nhưng con đã không thể buông bỏ ham muốn vị kỷ của mình. Vì thế con đã quay lưng lại với Giác ngộ và quay về bụi trần. Khi là người thế tục, sự thanh tịnh cùng hạnh phúc mà con kinh nghiệm được khi ở tu viện Kim Sơn mau chóng tan biến mỗi khi con trở về nhà. Chẳng bao lâu sau con luôn bị phiền não và tán loạn, con đã cố gắng làm như một người tu Đạo tại gia. Con cố gắng tu Đạo và lãng mạn cùng một lúc. Chỉ vô dụng! Vào lúc cơn khủng hoảng nội tâm t mình gây ra này lên đến tột đỉnh khi bạn gái con dọa bỏ đi, con đã gọi cho Sư Phụ, mong nhận được sự cảm thông. Sư phụ đã không phí lời hay bày tỏ những cảm xúc giả tạo, nói rng “Vậy sao? Vậy là cô ta đi. Tốt lắm! Đâu có ai chết đâu! Phải không? Đừng khởi vọng tưởng hay chấp trước!”. Sư phụ cảnh cáo con phải thận trọng và hành xử cho đúng đạo. Con đã không nghe theo. Con không thể đoạn dục nên mọi thứ mới trở nên tồi tệ và cơn “bệnh” làm kiệt quệ sức mạnh tâm linh của con. 

Lúc con xuất gia, Sư Phụ từng nhấn mạnh, “Thầy tin rằng con có thể xuất gia tu đạo bởi vì con đã buông bỏ bạn gái rồi. Hãy tinh tấn!” Sau đó Sư Phụ nói với các tu sĩ có mặt tại đó một cách thân tình và từ bi: “Quý vị không thể tùy tiện hay cu thả, đặc biệt là bây giờ trên nước Mỹ. Đây là cách duy nht Pht Giáo sẽ đưc kiến lp tại phương Tây. Quan trọng nht là đng dính mc vi nữ giới... đó là tấm gương quan trọng nhất để quý vị chứng tỏ với nước Mỹ. Quý vị không thể quá gần hoặc quá xa nữ giới, làm vậy đều là sai lầm! Tất cả quý vị đều là bảo vật quý giá của tôi. Tôi sẽ không bán bất kỳ ai. Đừng để lãng phí kho tàng quang minh (quang minh tạng) của mình!” Con có hiểu không? Không!

Vào lúc bắt đầu cuộc hành hương lễ lạy, vọng tưởng về nữ giới đã gây ra cho con cơ man nào là rắc rối. Ác mộng và ma quỷ, khí hậu khắc nghiệt và những cuộc tranh cãi, tất cả đều do cái “mao bệnh” (ti xấu) này của con, con tin là như vậy. Chẳng hạn, tại Santa Barbara, trong khi vọng tưởng về người bạn gái cũ khởi lên, một trái chanh bay ra từ một xe rác chạy ngang qua và trúng vào hàm con, khiến con khụy xuống. Con tự nhủ, “Chỉ là trùng hợp ngẫu nhiên mà thôi! Nếu thực sự nó trúng vào mình vì tâm mình nghĩ đến phụ nữ, thì nếu mình tiếp tục nhất định chuyện đó sẽ xảy ra lần nữa.” Vì vậy con tiếp tục tự hỏi liệu bạn gái cũ của con đã có người đàn ông khác chưa và VỤT! Lại một trái chanh nữa trúng ngay vào lưng con, khiến con gục ngã lần nữa! Sau này Sư Phụ nói “Những trái chanh chua đó đến từ suy nghĩ chua chát của con về bạn gái. Giờ thì con biết rằng vọng tưởng của mình là không tốt, đừng làm vậy thêm một lần nào nữa”. Con có hiểu không? Không!

Mã Lai, con đã không thể điều phục được đôi mắt hay ý nghĩ của mình, và bị điên đảo. Nhưng lần này nhiên liệu công đức d tr của con đã cạn kiệt. Con bị bệnh nng vì đã phân tán hết năng lượng của mình vào việc khởi vọng tưởng về nữ giới, con gần như chết. Sư Phụ đã cứu mạng con và mang con trở về từ tay Diêm vương. Lúc nằm liệt giường ở Malacca, chưa bao giờ con thấy rõ ràng đến thế, kể cả lúc mơ lẫn khi tỉnh, rằng sắc dục chính là cội gốc của sanh tử. Sư Phụ đến bên giưng con, xoa đầu con và tụng chú vào nhng lúc nghiêm trọng, xua tan cơn sốt và thanh lọc độc tố. Mọi lúc ngài đều mỉm cười và hỏi “Tốt, tốt. Con chết chưa? Con sẽ chết hả?” Tại Singapore và Hồng Kông, nhân quả vọng tưởng của con và việc con bị bệnh tht kỳ lạ và không th chi bỏ được. Chưa đầy mt giờ sau khi con động tâm là con lại bị bnh. Sư Phụ vẫn nói: “Bệnh nữa hả? Tốt. Thầy hy vọng con mau chết.” Con có hiểu không? Con nghĩ là có. Nhưng tập khí của con thì ngoan cố và sự ngu si của con thì sâu dày. Con nguyện sẽ vĩnh viễn không bao giờ theo đuổi hình sắc đẹp đẽ nữa.

Khi chúng con trở về Mỹ, thầy Hằng Thật và con bắt đầu tiếp tục lạy gần thành ph Santa Cruz. Chúng con vào thị trấn để liên lạc với cảnh sát và thông báo với họ về cuộc hành trình của mình. Ngạc nhiên quá! Người cảnh sát là một phụ nữ. Con bị động tâm và bắt đầu mỉm cười, và nói huyên thuyên với cô ta trong khi làm công việc. Tối đó con lại bị bệnh. Hoc là tâm trí dành cho phụ nữ của con sẽ chết hoc con sẽ chết. Bây giờ thì thật rõ ràng đối với con, mọi tham dục đều khởi nguồn từ sắc dục. Chạy ra ngoài t tánh của mình và tìm cầu bt c thứ gì đu là Chết – một cái chết từ từ của lậu hoặc. Thật vậy, công đức và trí huệ của bổn tánh bị rỉ dần cho đến khi Pháp bảo sáng ngi chỉ còn lại là đống phân chó. Ging như Kinh Hoa Nghiêm có nói:

Lại các chúng sanh bị lưới ái vấn, lọng si che, mà nhiễm trước cõi hữu lậu theo mãi không rời bỏ, vào trong lồng cũi khổ não, thật hành nghiệp ma, phước trí đều hết thường ôm lòng nghi hoặc, chẳng thấy chỗ an ổn, chẳng biết đạo xuất ly, ở trong sanh tử luân hồi mãi, luôn bị ngập chìm trong khổ bùn lầy.

Trong lúc từ từ bình phục ở phía băng sau của chiếc xe Plymouth, con có rất nhiều thời giờ để quán chiếu về “bệnh” của mình và suy nghĩ làm sao để khỏe lại. Những gì con cho là hạnh phúc của thế gian thực ra là khổ đau; và thứ mà con từng nghĩ là khổ đau (tu hành) thực ra lại là hạnh phúc. S vic không luôn luôn đúng như mi thoạt nhìn. Vì thế Kinh nói:

Chẳng phải vì tự thân mà con cầu đạo Vô thượng. Cũng chẳng phải vì cầu hưởng phước lạc trong ba cõi mà con tu Bồ đề hạnh. Tại sao vậy? Vì phước lạc thế gian không gì chẳng phải là khổ...

Kinh Hoa Nghiêm Phẩm Thập Hồi Hướng

Đó quả là những lời trực chỉ! Trong tim con, có những thứ không lời nào có thể diễn đạt được, bây giờ con biết nó là như thế, là những gì Sư Phụ muốn nói khi hỏi khi nào con “chết”. Lời của ngài chứa đầy từ bi và trí huệ. Chính cái vọng tưởng chạy ra ngoài đuổi theo ái dục phải chết để chữa trị căn bệnh sanh tử. Lời của Sư Phụ là liều thuốc hay nhất! “Khi cái tâm hướng về nữ giới của con chết rồi, con có thể tự do. Nếu con không thể giết nó thì con sẽ mãi bị giam hãm trong lồng. Con có hiểu không?”

Con đáp: “Có thưa Sư Phụ. Con đã cố gắng, nhưng con hầu như không thể buông bỏ.”

Sư Phụ nói với một nụ cười từ ái: “Thầy là một người thầy dở. Thầy không thể giáo hóa đệ tử của mình. Tất cả những gì Thầy có thể làm là nói ra những điều xui xẻo và nói mong họ sẽ chết”. 

Con viết ra để kể lại toàn bộ câu chuyện, nhờ đó sẽ không có ai nghĩ rằng nhng li của Sư Phụ là không cát tưng. Con cũng là một đệ tử d. Ngay cả sau khi được Sư Phụ cứu mạng, con cũng không thể lo liệu để “chết”. Cho nên, Sư Phụ và tất cả huynh đệ của con đã bất chấp giá lạnh và mưa gió để mang đến cho những tu sĩ đang bái lạy một ít “xăng”. Khi mọi người lên xe, Sư Phụ cười và nói: “Hãy cố gng hết sức mình”. Mt cơn bão đang tụ lại bỗng nhiên tan biến và mặt trời chiếu rọi chúng con. Con đã rất cảm kích và muốn khóc. Thực sự tất cả chúng ta đang nhất tâm đảnh lễ Vạn Phật Thành! Rồi con nảy ra một ý nghĩ: “Hãy cố hết sức, Quả Đình. Đừng khóc, hãy chết đi!”.

Ging như Tổ B Đ Đạt Ma giải thoát chú chim trong lồng, Sư Phụ đã chỉ cách cho con thoát khỏi lồng. Nhưng do lầm lầm những thứ trước mắt, con đã bay trở lại vì lầm tưởng cái lồng là lâu đài. Không còn nữa. Khởi đầu của sự trở về với sức khỏe là biết rằng mình bị bnh. Để tái sanh vào Đạo, người ta phải chết đối với thế gian.

 

An lành trong đạo,

Đệ tử Quả Đình (Hằng Triều)

Cung kính đảnh lễ

 

Ghi chú:

(*) Xe buýt của Chùa màu vàng có vẽ hình rồng.

Tìm Cái Giả Trong Cái Thật

Ngày 21 tháng 11, 1978

Ano Nuevo , California

 

Kính thưa Sư Phụ,

Mẹ của Trời và Đất,

Được sinh ra từ Đạo.

Nhật Nguyệt đều sáng ngời,

Vận hành trong quỹ đạo.

Tính căn nguyên mọi loài:

Thật tuyệt vời vô tận!

Thiền Sư Tuyên Hóa

Bài thơ hôm nay trở thành sống động, khi mặt trời vừa ló dạng trên ven biển đẫm ướt nước mưa. Mưa đã hai hôm nay ở Ano Nuevo. Mọi thứ trong thế giới của chúng con đều ẩm ướt. Hơi nước còn nặng trĩu trong không khí, làm bão hòa không gian vô tận. Ướt ngoài da, ướt trong xương tủy. Sườn núi đầy bụi cát này ửng màu vàng thô của đất, những bụi hoa ngải trắng và cỏ đuôi chồn đã nhú xanh. Cơn mưa làm cảnh vật hân hoan.

Sáng nay mây bị thổi ra xa và mặt trời xuất hiện. Lúc chín giờ sáng có sự chuyển biến; một sự chuyển hóa xảy ra. Sự ẩm ướt bắt đầu nhấp nháy, thay đổi và biến mất. Có thể thấy và cảm nhận giai đoạn ẩm ướt âm tính của chu kỳ thời tiết đạt đến cực điểm và đột nhiên sự khô ráo nảy sanh. Chẳng bao lâu hơi nước bốc ra khỏi quần áo lấm bùn, ra khòi túi ngủ của chúng con, và ra khỏi những vũng nước. Sanh và biến dịch, âm và dương, đều đang tự xảy ra, thật kỳ diệu được chứng kiến. Tất cả đều đúng thời điểm của chúng. Thiên nhiên luôn kiên nhẫn, Đạo dung chứa vạn vật.

Tu đạo còn được gọi là sự đại chuyển nghịch. Sư Phụ nói “Hãy hướng thiện. Hãy hồi quang phản chiếu trong từng tâm niệm. Hãy thay đổi thói xấu thành tốt. Hãy tìm lại cái chân ngã của mình.” Đây là điều mà tất cả những Kinh điển Phật giáo nói với chúng con. Bởi vì người đi trên đường Đạo đem trở lại năng lực trước đây thường chạy ra ngoài do thói xấu, không bao lâu năng lực ánh sáng tích luỹ này sẽ đạt đến điểm nhấp nháy chuyển hóa. Giống như mặt trời chuyển hóa sự ẩm ướt, quyết tâm hướng thiện và thực hành mang ánh sáng trở vào trong (hồi quang phản chiếu) sẽ chắc chắn đưa hành giả lên con đường cao cả mới mẻ.

Sẽ có sự sản sanh trí tuệ, một sự thay đổi từ bóng tối thành ánh sáng nội tâm. Cơ thể rỉ sét chuyển hóa thành kim cương, sự ích kỷ do vọng tưởng chuyển hóa thành ngọn đèn phố chiếu Đại Bi. Sanh, thay đổi, quay trở về, chuyển hoá. 

“Nếu quý vị muốn tìm xem cái gì thật sự là chân thật, đừng tìm nó bên ngoài cái giả”, Hòa thượng nói tại Kuantan ở Mã Lai, “Chính ngay trong cái giả quý vị tìm xem cái gì là thật. Và quý vị cần phải rất kiên nhẫn.”.

“Làm sao tìm ra cái giả trong cái thật?”, một nam cư sĩ hỏi.

“Kim cương từ lòng đất mà ra, có phải không?” Hòa Thượng trả lời.

Bí quyết có vẻ là sự kiên nhẫn và lòng tin. Ba điều tiên quyết được về thế giới Cực Lạc là Tín, Nguyện, Hạnh (đức tin, tâm nguyện và thực hành). Tin có thể có nghĩa là không thúc ép Đạo, không ép buộc và tìm cầu kết quả nhanh chóng. Điều huyền bí của sự thay đổi thời tiết ở Ano Nuevo là sự đúng thời điểm hoàn hảo, không mất công sức. Sự thay đổi diễn ra chậm chạp và hoàn toàn tự nó, ẩm ướt chuyển đổi thành khô ráo, âm chuyển đổi thành dương, tất cả xảy ra trong sự hoà hợp hoàn hảo. Như câu thơ nói: “Nhật Nguyệt đều sáng ngời, Vận hành trong quỹ đạo.”.

Dù chúng ta đã đi nhiều con đường sai lầm trước khi chúng ta bắt đầu thực hành Phật pháp, một khi chúng ta nhận ra lỗi lầm và quyết tâm thay đổi là chúng ta đang bước vào quỹ đạo của Giác ngộ. Kiên nhẫn, tin tưởng “đi về hướng thiện, từng bước một,” như lời Hòa Thượng nói, sẽ chắc chắn mang lại sự Đại Hồi Chuyển. Bây giờ cơn mưa lại đến và gió mùa thu reo vi vu quá mái xe bằng thiếc, là đạo tràng trên bốn bánh xe của chúng con. Chẳng bao lâu nữa mặt trời sẽ mọc và cả một chu kỳ sẽ tiếp tục vận hành trong quỹ đạo. Từ hư không lại có sự sanh ra và biến dịch. “Vi diệu vô tận.”

 

Đệ tử Quả Chân (Hằng Thật)

Kính Bái.

 

 

Nhân Duyên với Phật Tỳ Lô Xá Na
Ngày 23 tháng 11 năm 1978
Ano Nuevo, California
 

Kính thưa Sư Phụ,


Trong Kinh Hoa Nghiêm Ðức Phật có nói:

Thuận theo tâm nguyện hành trì của mọi chúng sanh

Thấy khắp pháp giới đều tịch tĩnh nhất như .

Con vừa thấy điều này thật đúng trong trường hợp những giấc mộng.

“Nguyện lực”

Phật Pháp rộng lớn, không có ranh giới và sự phân biệt. Các nguyện của chư vị Bồ Tát cũng vậy:


Lại phát đại nguyện : Nguyện ở khắp tất cả thế giới thành Vô thượng Chánh giác, chẳng rời một chân lông mà nơi tất cả chân lông thị hiện sơ sanh, xuất gia, đến đạo tràng, thành Chánh giác, chuyển pháp luân, nhập Niết Bàn, được sức đại trí huệ cảnh giới của Phật trong mỗi niệm thuận theo tâm của tất cả chúng sanh mà thị hiện thành Phật làm cho họ được tịch diệt, dùng Nhứt thiết trí biết tất cả pháp giới chính là tướng Niết Bàn, dùng một âm thanh thuyết pháp làm cho tâm tất cả chúng sanh đều hoan hỷ. Thị hiện nhập đại Niết Bàn mà chẳng dứt hạnh Bồ Tát, thị hiện bực đại trí huệ an lập tất cả pháp. Dùng pháp Trí thông, Thần túc thông, Huyễn thông, tự tại biến hóa khắp tất cả pháp giới. Rộng lớn như pháp giới, rốt ráo dường hư không, suốt tất cả kiếp số vị lai không thôi nghỉ.

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Ðịa

Vào tháng Năm năm 1977, khi chúng con bắt đầu khởi hành từ Kim Luân Thánh Tự ở Los Angeles, Sư Phụ đã nói trong một bài giảng rằng tất cả chúng ta trong quá khứ đã cùng với Phật Tỳ Lô Xá Na nghiên cứu Phật Pháp. Và vào thời xa xưa đó, Sư Phụ đã nói là tất cả chúng ta nên đến Hoa Kỳ để nghiên cứu Phật Pháp tại đó. “Bởi vậy giờ đây chúng ta cùng nhau đến đây để hòan thành hạnh nguyện của chúng ta. Những nhân duyên trong quá khứ tạo nên lực liên hợp nơi đây, giờ đây lực liên hợp đó tồn tại qua mọi hòan cảnh. Từ vô lượng kiếp trong quá khứ đến nay, các nhân duyên giữa chúng ta với nhau rất sâu đậm… Mọi người đều là Tỳ Lô Xá Na. Tất cả chung quanh quý vị, phía trước, phía sau chung quanh quý vị đều là Phật. Pháp Thân thanh tịnh của Ðức Phật tràn đầy khắp mọi nơi.”

Tất cả chúng sanh đều có liên quan sâu xa với nhau. Ai có thể nói chúng ta từng ở đâu trong quá khứ hay sẽ ở đâu trong tương lai để tu Đạo và hoàn thành các hạnh nguyện của chư Bồ Tát ? Không có gì là cố định cả. Cái chúng ta có thể thấy không phải là luôn luôn thật, và cái thật thì chúng ta lại thường không thấy được. Sư Phụ kết thúc bài giảng với lời bình luận: “Trong giấc mộng, tất cả chúng ta đến đây làm Phật sự”.


Bình an trong Đạo,

Ðệ tử Quả Ðình (Hằng Triều)

Kính cẩn đảnh lễ.

 

*** 

Đau đến cực điểm!

Ngày 3 tháng 1, 1979

Phía dưới Vịnh Bán Nguyệt (Half Moon Bay)

Bồ Tát nguyện rằng mọi chúng sanh đều được cửa thiền thanh tịnh. 

Kinh Hoa Nghiêm.

Những thiền giả kiên nhẫn đều biết rằng khi cơn đau xảy đến ở đầu gối , ở mắt cá chân, ở chân và ở lưng sau nhiều giờ ngồi thiền lâu dài, thì hành giả sẽ đạt đến một điểm mà cơn đau thình lình biến mất. Nó giống như cánh cổng mở ra và hành giả đi xuyên qua đến một thế giới khác, không còn phiền não. Đó là một kinh nghiệm kỳ diệu.

Tuy nhiên, trên đường xuyên qua cổng, cần có lòng quyết tâm và kiên nhẫn không để cho sự khó chịu lay chuyển.

Những gì người khác không thể chịu đựng nổi, thì quý vị phải chịu đựng. Khi ngồi thiền mọi người đều phải trải qua kinh nghiệm đau chân. Tất cả chúng ta phải đi qua giai đoạn chịu những gì mà người khác không chịu nổi. Và khi chúng ta đến chỗ chịu đựng cơn đau mà những người khác không thể chịu đựng nổi, thì chúng ta có thể được tin vui. Đây được gọi là "đi xuyên qua cổng khó vào," và "phá thủng tường cản khó khăn.".

Hòa Thượng Tuyên Hóa, Khai Thị Thiền Tháng 12, 1997

 

Trong xe wagon của chúng con, con ngồi trong chỗ trũng nơi băng ghế sau xếp xuống. Để đến chỗ ngồi của mình, Thầy Hằng Triều phải bò qua đầu gối của con ở phía sau. Giờ giấc ngồi thiền của chúng con thì khác nhau. Vào một buổi tối Thầy Hằng Triều trở vào xe sau khi đứng thiền, vừa đúng lúc đó con đang ngồi thiền và đang đến điểm đau tột cùng ở đầu gối. Con thực sự toát mồ hôi. Thân thể của con đau nhức rất nhiều, nhưng con quyết định chịu đựng. Niềm hạnh phúc phía bên kia cổng thật tuyệt diệu.

Bây giờ chúng ta đang ở trong Thiền đường và vì sao chúng ta không có định lực nào cả ? Quý vị đau một chút thì chịu không nỗi ... thậm chí vì chịu không nỗi, quý vị muốn khóc … quý vị chưa phá xuyên qua cửa đau. Bây giờ, chúng ta muốn phá xuyên qua nó. Chúng ta phá xuyên qua những cửa đau này và chúng ta có thể tự tại với đau nhức .

Lắng Nghe và Suy Nghĩ

 

Con lúc đó đang ở tại điểm đau tột cùng và do tánh thiếu kiên nhẫn bình thường của con, lúc đó con đang tự tranh luận xem có thể vượt qua được cổng hay không. Sự đau đớn đã tiếp tục có vẻ lâu như nhiều kiếp. Thật ra chỉ chừng nửa giờ, nhưng con đã sẵn sàng để khóc và kêu la. Nếu một con ruồi hạ cánh trên chân của con thì đó cũng là quá sức chịu đựng của con. Mọi tế bào đều đang căng thẳng để giữ chặt thế ngồi kiết già.

Đau đến cực điểm, đến điểm mà chúng ta quên là có mình, có người.

Lắng Nghe và Suy Nghĩ

 

Thầy Hằng Triều có một cách khéo để đóng cửa xe với bàn chân của Thầy khi Thầy leo qua chỗ ngồi của con. Thầy dùng những ngón chân để móc vào tay kéo cửa xe và kéo chân vào để đóng. Cửa xe quay và đóng lại mà Thầy không cần phải quay mình lại trong khoang cửa hẹp. Đó là một thao tác điệu nghệ, chỉ có điều là lần này lại không hữu hiệu. Thầy Hằng Triều đã trượt trên mép gờ và rơi với tất cả sức nặng của Thầy ngay trên đầu gối đang chịu đau của con. Úi da! Đau đến cực điểm! Đến thấy cả luồng điện xanh trắng! Quá đau đến nỗi không còn thấy đau nữa!

Làm thế nào có đau được ? Không có cái đau. Dù quý vị làm bất cứ việc gì, quý vị cần phải làm cho tới điểm rốt ráo. Khí quý vị tu hành đến cực điểm, ánh sáng của quý vị chiếu khắp.

Lắng Nghe và Suy Nghĩ

Nếu con từng phóng quang thi chắc chắn chính là lần này. Con phải cháy bừng bừng như một ngọn đuốc trong vài giây. Nước mắt ràn rụa – nước mắt của vui mừng. Mũi còn chảy nước và con chỉ có thể cười. Thật là một cảnh tượng nực cười và cái đau thật khổng lồ to lớn. Thầy Hằng Triều xin lỗi, Thầy biết điểm đau này trong việc ngồi thiền, và Thầy thương cảm cho nỗi khổ của con. Câu nói của Thầy: "Có phải tôi đã đưa ông qua cổng?" thật quá đúng. Thầy vừa làm điều đó. Khi mắt con đã khô con nhận ra rằng mình vẫn còn đang ngồi kiết già và con đang ở phía bên kia qua khỏi tường cản khó khăn. Hết còn đau đớn và tâm trí con tĩnh lặng. Không có Hằng Thật và không có Hằng Triều. Không có xe Plymouth và không có Thiền. Đó thật sự là một trạng thái tĩnh lặng. Tu hành Bốn Mươi Hai Thủ Nhãn trong nơi chỗ tĩnh lặng này là một kinh nghiệm hoàn toàn mới mẻ.

Con không khuyên rằng hành giả tu Thiền nên dựa vào bên ngoài để vượt qua các tường ngăn của Thiền, nhưng có khi những phương tiện bất ngờ xuất hiện để đưa chúng ta vượt qua khi lòng quyết tâm chịu đau của chúng ta vững chắc kiên cố.

Đệ tử Quả Chân (Hằng Thật)

Cung kính đảnh lễ.

 

Nghĩ thế nào thì nhn thế nấy!

Ngày 24 tháng 1, 1979

El Granda , California

 

Kính thưa Sư Phụ,

Đây là những dòng vắn tắt về hai ngày bái lạy hướng về Vạn Phật Thành vừa qua:

Chủ Nhật, ngày 22 tháng 1: Một buổi sáng êm ả. Một đoàn người phi ngựa qua, họ nói: “Việc hai thầy đang làm rất vĩ đại. Tôi cũng sẽ làm vậy nếu có thì giờ”. Rồi họ phi ngựa đi. Một gia đình trẻ trong chiếc xe hơi cũ ngừng lại. “Chúng tôi đang quay lại Bờ Biển Phía Đông (East Coast), nhưng thực sự cảm thấy cần phải thấy chỗ Vạn Phật trước khi đi”

Con đáp “Vạn Phật Thành”.

“Đúng. Có cái gì đó về chỗ đó ... chúng tôi sẽ chưa thấy sẵn sàng quay về miền Đông chừng nào chưa thăm được nơi đó. Chúng tôi đang tìm một nơi thanh tịnh và linh thiêng để đặt tên thánh cho đứa con mới chào đời, và thấy Vạn Phật Thành là một nơi thích hợp.” Người mẹ hãnh diện nâng đứa con nhỏ bé của mình lên. “Tôi niệm Án Ma Ni Bát Mê Hồng. Tôi học được từ một tu sĩ Phật giáo Tây Tạng ở New Jersey . Đó là một người tốt, nhưng ở đó không có cảm xúc, thầy biết không? Ý tôi là nó toàn là tri thức. Chúng tôi đang tìm kiếm một phương pháp, một Con Đường thực sự để tu tập và đi trên đó. Chúng tôi có thấy một bức hình Vạn Phật Thành. Bức hình cho cảm nhận thanh tịnh và nhiều ánh sáng. "

Người đàn ông ngồi ghế sau hỏi “Phật giáo mà các ông theo là loại Phật giáo nào?”

“Phật giáo chính là những gì tốt đẹp nhất trong tâm của tất cả chúng sanh. Nó không có quốc gia hay tông phái. Nó thuộc về tất cả mọi người. Phật giáo là giáo pháp của tất cả chúng sanh. Không ngoại trừ thứ gì, chúng tôi không có phân biệt”.

Họ cười và gật đầu tán thành. “Các thầy đang tu tập theo hệ phái nào?”

“Phật giáo Thế giới. Tất cả truyền thống và mọi tông phái đều được chỉ dạy và thực tập. Bt c tông phái nào thích hợp với quý vị thì đều có sẵn – Thiền tông, Luật tông, Mật tông, Tịnh độ tông hay Giáo tông ... và có người để chỉ dạy phương pháp. Có mọi pháp môn cho mọi chúng sanh”. Họ lại cười.

“Có bản đồ không?” “Nơi đó có gần núi Shasta không?” “Tốt quá! Hay lắm!"

Sau khi họ đi, có hai người truyền giáo trẻ của phái Mormon trong trang phục sạch tinh đi tới. "Đây là Thầy ____ còn tôi là Thầy ____. Chúng tôi muốn biết các thầy đang làm gì".

"Chúng tôi là những tu sĩ Phật giáo đang trong hành trình bái hương."

"Ồ, những Phật tử. Chúng tôi cũng nghĩ vậy. Với mục đích gì?"

"Để chừa bỏ lỗi lầm của chúng ta và cứu giúp thế giới." Con lúc đó chờ đợi một bài thuyết pháp và cuộc đối thoại để mời vào Đạo của họ, nhưng họ chỉ nói:

"Thật kỳ diệu! Chúng tôi ủng hộ các thầy 100%. Chúc các thầy may mắn!" Rồi họ đi. Có nhng làn sóng thin lành.

 

“Cng thu l phí”

Khi chúng con bái lạy tới ngã tư cuối cùng của thành phố, một người đàn ông lạ xuất hiện. Ông ta di chuyển từ từ, hoàn toàn tự chủ. Khuôn mặt ẩn khuất phía sau bộ râu rậm và bị bóng của cái mũ đen cao đang đội che khuất. Ông ta đi vòng quanh chúng con rồi dừng lại trong cánh đồng cách chúng con chừng 75 thước về phía trước và quan sát chúng con. Ông ta ly trong cái túi lớn mua đồ những chai rượu whiskey và bia rồi tu hết chai này đến chai khác như uống nước vậy. Ông ta toát ra một vẻ hắc ám và lạnh lùng. Vừa mới nhìn thấy ông ta, con thấy mình đang làm vài thủ nhãn trong Bốn Mươi Hai Thủ Nhãn.

Sau khi ông ta ổn định xong xuôi ở đó rồi, những việc lạ kỳ bắt đầu xảy đến. Xe cứu hỏa và xe cảnh sát rú còi inh ỏi qua ngã tư, rồi xuất hiện những kẻ kỳ lạ. Một chiếc xe hơi thắng rít lại, chỉ cách đầu của thầy Hằng Thật vài phân, rồi có một người đàn bà đề nghị chở thầy đi. Một gã đàn ông vẫn tiếp tục la lớn từ phía sau người đàn ông đội mũ đen, "Ông theo tôn giáo nào?" rồi cười một cách lạ lùng. Những người trong những bộ đồ kỳ quái và tóc dài lôi thôi vừa đi vừa lầm bầm. Người đàn ông đội mũ đen điềm tĩnh theo dõi tất cả, gật đầu và cười. Rồi ông ta rung những chiếc chuông đeo trên cổ.

Lập tức, trên bờ đê phía bên kia xuất hiện năm hay sáu người đàn ông, la hét và chửi rủa. Họ dữ dằn và hung tợn. Một gã nói "Đây là đất của quỷ". Gã kia hét lên "Quỷ tha ma bắt các ngươi!". Một người khác nữa thì đe dọa với một điệu cười đầy hăm dọa "Hãy chờ đến lúc các ngươi tới Dc Ác Quỷ (Devil’s Slide - là một con đường dốc đứng và hẹp trên vách đá núi, khoảng 7 dặm về phía Bắc. Chúng con đã được cảnh báo nhiều về nơi này). Họ ném đá vào chúng con nhưng trượt. Người đàn ông đội mũ đen tu một hơi dài. Rồi ông ta rung chuông và vẫy những người kia. Họ leo trở lại bờ đê rồi khut bóng, vẫn chửi rủa và la hét.

Người đàn ông đội mũ đen đến gần để kiểm tra chúng con. Ông ta cười gằn "Ha ha, Phật tử, Krishnas , Phật tử, ha ha..." Con thoáng nhìn thấy khuôn mặt hắn. Nó khiến con có cảm giác rùng mình. Con không thể mô tả cảm giác đó ngoài việc phải nói rằng khuôn mặt đó đầy sự thích thú xấu ác, mập đỏ úng. Ông ta đi lang thang qua ngã tư và đứng sát chiếc xe của chúng con. Ông ta chỉ nhìn chòng chọc và uống. Không cần di chuyển, nhưng người ta có thể cảm thấy được rằng ông ta đang điều khiển toàn bộ màn trình diễn với sự có mặt của mình. Ông ta ra hiệu rồi những gã kia và những con người kỳ quái kia trở lại và kéo đến phía chúng con.

Tình huống này có thể rất gay go. Thầy Hằng Thật và con đã khám phá ra rằng dù xảy ra bất cứ chuyện gì, chúng con có thể vượt qua nếu không để cho tinh thần lui sụt. Nếu không để cho sự sợ hãi, sân hận hay những tâm nim bất thiện đi vào tim, chúng con có thể lướt qua những nơi khó khăn nhất giống như cá được bôi mỡ vậy. Chúng con đang học trả đòn bng lòng từ, bi, hỉ, xả thay vì dùng nắm đấm, lời nói và vọng tưởng của mình. " Tất cả duy tâm tạo... nghĩ thế nào thì nhn thế nấy (Kinh Hoa Nghiêm). Thật quá đúng. Sự sống sót của chúng con tóm lại là không cho phép một chút nghi ngờ hay năng lượng âm thâm nhập hay làm ô nhiễm tâm mình. Cho ra ánh sáng thì mặt trời chiếu rọi. Cho ra bóng tối thì mưa tuôn rơi. Mưa rơi càng nặng thì càng phải đứng dậy và tỏa rạng.

Vì thế mà họ ở đây, những kẻ thù địch, những người lạ mặt kéo đến để khảo nghiệm tâm tính và quyết tâm của chúng con, và có thể còn tệ hơn thế. Phải làm gì? Mới chỉ ngày hôm trước, chúng con đọc Kinh Hoa Nghiêm, và bài kệ đi vào tâm trí con khi đang bái lạy vào “cng thu l phí” này:

 

Dường như vừng mặt trời

Khắp soi mười phương cõi

Chẳng phải mặt trời không mọc lên

Kẻ mù không thấy được 

Lúc Bồ Tát chịu khổ thế chúng sanh như vậy càng tinh tấn hơn, chẳng bỏ chẳng tránh, chẳng kinh chẳng sợ, không nhàm mỏi.

Tôi chẳng vì tự thân mà cầu giải thoát, chỉ vì cứu tế tất cả chúng sanh, khiến họ đều được Nhứt thiết trí, qua khỏi vòng sanh tử thoát tất cả khổ.

Khi đang niệm thầm những câu Kinh này, thầy Hằng Thật và con bị ngập chìm trong một biển trẻ em. Một chiếc xe búyt chở học sinh dừng lại ngang đường và có khoảng 40 vị hộ pháp nhỏ tuổi, những khuôn mặt trong sáng, vui sướng ùa ra. Các em hoàn toàn vây quanh chúng con – một số em ngồi, một số em đạp xe, và một số thì đứng. Các em cúng dường đồ ăn trưa và những con heo đất của mình. Những gã đàn ông kỳ lạ bối rối và bị cản trở. Chúng không thể đến gần chúng con. Hai gã tiến đến và có gắng quấy rầy thầy Hằng Thật, nhưng sự ngây thơ và năng lượng thiện của các em làm chúng dịu đi ngay tức khắc. Những người xấu trở nên rất lịch sự và mau chóng giữ im lặng.

Một chú bé hỏi "Có thật là có mười nghìn ông Phật trên đó không?” “Lạy cả ngày có mệt không?” “Việc cứu thế giới tht là hay, phải không thầy?” “Các thầy có tắm không?" Chị chú bé đá nhẹ một cái và mắng chú vì hỏi quá riêng tư. Cô bé nói nhỏ "Đương nhiên, các thầy có tắm ch".

Chú tiếp tục "Nhưng bằng cách nào? Em muốn tìm hiểu vấn đề sâu hơn"

Một em lại hỏi "Nếu người xu ném đá vào các thầy thì sao ?"

Con trả lời "Chúng tôi chỉ thấy những điều tốt"

Một em khác thắc mắc "Nếu người ta đi qua và gọi các thầy là kẻ lập dị thì sao ?"

Con trả lời "Chúng tôi chỉ nghe những điều tốt"

"Khi cầu nguyện, thầy nói gì ? Thầy kia (Hằng Thật) có nói li cầu nguyện không ?

"Nói tht nhỏ, có phải không? Suỵt! Nghe đi, có lẽ chúng ta có thể nghe thầy kia đó!" Những đứa trẻ đứng im lặng ở đó, trên đường xa l số 1 ồn ào để nghe tiếng nim "Hoa Nghiêm Hải Hi Pht B tát lúc thầy Hằng Thật lạy đến gần.

Những gã đàn ông tức giận, hắc ám lầm bầm, rồi lần lượt biến đi. Kẻ đến đầu tiên và ra đi cuối cùng là ngưi có dáng vẻ hắc hám, đội chiếc mũ cao màu đen. Ông ta chờ đợi phía bên kia ngã tư. Nhưng khi chúng con qua đường, lũ trẻ đạp xe đi theo hộ tống chúng con bằng xe đạp, thế là ông ta từ từ quay mình rồi bỏ đi.

Phía bên kia ngã tư là một khoãng đng trng. Ngã tư đánh dấu điểm kết thúc về mặt địa lý của vịnh Half Moon (Bán Nguyt). Rất nhiều vị hộ pháp nhiệt tình đã mang cho chúng con đồ cúng dường và những lời tốt lành. Họ hoan hỷ và tràn đầy ánh sáng. Lũ trẻ từ từ hướng về nhà.

Một phụ nữ lớn tuổi đang cúng dường nói: "Thật thú vị. Một tư tưởng kỳ diệu. Tôi tự hỏi những đứa trẻ kia đt nhiên đến từ đâu t ch đàng kia ... Thầy có thấy chúng không? “

Con đáp "Có. Chúng tôi đã thấy chúng. Chắc chắn chúng tôi có thy!"

Bảng hiu ghi "San Francisco, 25 dặm". Phía trước là Dc Ác Quỷ (Devil’s Slide). Bản đồ của chúng con là Kinh Hoa Nghiêm. Mọi người đều là vị thầy. "Mọi việc đều tốt đẹp. Không sao cả".

 

An lành trong Đạo,

Đệ tử Quả Đình (Hằng Triều)

Cung kính đảnh lễ

 

*

San Francisco !

21 tháng Hai, 1979

 

Kính thưa Sư Phụ,

Khi đến nơi vô cầu, sẽ không còn phiền não.

Hôm qua thầy Hằng Triều và con đã lên được đỉnh đồi – phóng tầm mắt về phía Nam , chúng con thấy Dốc Ác Quỷ (Devil’s Slide) và thành phố Pacifica. Hướng về phía Bắc, thật không tưởng tượng nổi, chúng con thấy những cột tháp màu cam của Cầu Cựu Kim Sơn ( Golden Gate ), ngọn núi Tamalpais, tháp TV trên ngọn núi Sutro - San Fransisco! Dường như chỉ mới hôm qua chúng con còn ở Santa Monica suy nghĩ về Xa Lộ số 1 và cuộc hành trình dị thường còn ở phía trước. Vậy mà giờ đây, chưa đầy một cái búng ngón tay, chúng con đã lạy vào tận vùng Vịnh (Bay Area) và rời Xa Lộ số 1 để đi qua thành phố này. Cuộc đời quả thật như một giấc mộng. Như trong Kinh có nói:

Quá khứ, hiện tại, vị lai đều bất khả thuyết.

Hôm qua có th là ngày hành hương thứ nhất của người đệ tử này. Con đã được một bài học từ tận đáy lòng mà phải mất 21 tháng học tập và kiên nhẫn để thực hành cho tới khi hoàn toàn nắm được. Bây giờ có thực là con đã nắm được không ? Con hy vọng là không, bởi vì mỗi lần con chấp trước vào mt cảnh giới là lúc con lại vấp ngã. Bài học như thế nào? Nó có tên là "không mong cầu".

Sư phụ đã chỉ dạy hàng chục lần theo bng những phương tiện thiện xảo nhng điu này : "Đừng mong cầu bất cứ điều gì. Đừng cầu chứng quả Phật, đừng cầu đại trí huệ, đừng cầu giác ngộ. Mong cầu là đặt một cái đầu lên trên đầu của quý vị. Đó chỉ là lòng tham. Chỉ nhất tâm tu hành. Thế là đủ. Tu hành mà không nghĩ tới tự lợi. Tu hành như mình ăn, mặc, và ngủ. Chỉ cần như vậy là đủ rồi. Và đừng nên có cái niệm th hai. Hãy nhất tâm!".

Kinh Hoa Nghiêm đặc biệt chỉ dạy Bồ tát không tham cầu.

Bồ tát chỉ bền giữ tịnh giới. Bồ tát chẳng cầu oai-thế, chẳng cầu chủng-tộc địa vị cao sang, chẳng cầu giàu có, chẳng cầu sắc-tướng, chẳng cầu ngôi vua, tất cả đều không nhiễm trước.

"Phẩm Thập Hạnh"

Lại nữa:

Bồ-Tát này làm đại-thí-chủ, phàm có vật gì đều bố-thí được cả, lòng bình-đẳng không hề hối tiếc, chẳng trông quả báo, chẳng cầu tiếng tăm, chẳng tham lợi lộc.

"Phẩm Thập Hạnh"

Thông điệp trên thật quá rõ ràng, không hiểu sao lại không kết nối được với phần sâu thẳm nhất trong trái tim con. Con đã tưởng mình kiểm soát được lòng tham. Thực ra, con lại bị lòng tham khống chế.

Tuần trước chúng con có nói chuyện với Chùa Kim Sơn qua đin thoại. Thầy Hằng Triều cho văn phòng Chùa biết về lộ trình mới của chúng và con dịch lại câu chuyện đã xảy ra với chúng con vào sáng hôm đó. Thật quá vui mừng khi gần về đến nhà. Nhưng trở lại con đường để l lạy, đột nhiên con thấy bồn chồn và lo lắng. Tại sao? Con nghĩ "Chà, mình đã làm vic này gần hai năm và mình đã có cái gì để biểu lộ sự thành tựu thật sự ? Mình có thay đổi chút nào không?"

Tóm lại, con đã tìm cầu trong Phật pháp. Nhưng vì đối tượng mà con tìm kiếm là trí huệ giác ngộ và từ bi nên con đã cho phép ý nghĩ của mình trụ vào, cảm thấy đó là "mong muốn thanh tịnh".

Con tự quán chiếu càng lâu thì phiền não tăng trưởng càng sâu.

Sau đó con hiểu được bài học của con. Có ba cậu bé đi ngang qua con trên đường Monterey khi chúng con lạy lên đồi dưới mưa. Lúc đi ngang qua, my cậu bé rạng rỡ và tươi cười. Nhưng vừa trông thấy khuôn mặt con, cả ba lập tức mất đi sự rạng rỡ. Những nụ cười biến thành những vẻ buồn bã và đầy lo lắng. Con nhìn thấy sự cố gắng gượng gạo của mình, sự tham cầu của mình được phản chiếu qua đôi mắt của chúng. Con hoàn toàn khiến chúng thất vọng. Khuôn mặt của chúng lặng lẽ nói lên rằng "Này, người này chẳng có gì đặc biệt. Cho du ông ta là mt tu sĩ, nhưng ông ta cũng không hạnh phúc như những người khác. Ông ta đang tìm điều gì đó và chưa thấy. Thật đáng thất vọng! Ông ta là ai chứ? Một Phật tử? Xì!

Con thật hổ thẹn. Sự mong cầu kết quả tu hành của con đã làm tổn thương ba đứa nhỏ và có lẽ đã khiến chúng quay mặt đi với Pht Pháp.

Không mong cầu sẽ không lo nghĩ.

Thực hiện một việc thánh thiện để đạt điều gì đó sẽ làm ô nhiễm sự thanh tịnh tột cùng của các Pháp. Nếu cầu giác ngộ vì đó là điều lợi tốt nhất thì chuyện đó sẽ không xảy đến. Việc muốn có kết quả lại ngăn cản chúng. Con nhận ra rằng chướng ngại khổng lồ mà con mang trên đỉnh đầu chỉ là bản ngã, cái tôi, sự cầu lợi. Con buông xả chúng ra và đột nhiên cảm thấy như một đám mây đen khổng lồ được nhấc ra khỏi đôi vai con. Con làm điều này không vì bản thân mình, con sẽ thả lỏng và sẽ đón nhận khi nó đến. Trong Kinh nói: 

Khi công phu đầy đủ,

Thành tựu đến tự nhiên.

Chẳng vì thân mình cầu lợi ích,

Muốn khiến tất cả đều an vui.

Chưa từng tạm khởi tâm hí luận,

Chỉ quán các pháp không vô ngã.

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Hồi Hướng

 

Thay vì khởi vọng tưởng về tự lợi, sẽ tốt hơn biết bao nếu đem nguồn năng lượng này tin tưởng dùng vào phương pháp thực hành. Thật là một chân lý dễ hiểu và thật lâu biết bao để con có thể thấy được điều đó.

***

Kính thưa Sư Phụ,

Bồ-Tát lại nghĩ: "Từ lâu tôi vì mến chấp thân nầy muốn cho nó được no đủ nên ăn uống. Nay tôi đem thức ăn nầy ban cho chúng-sanh. Nguyện tôi đối với thân thể dứt hẳn sự tham chấp. "

Kinh Hoa Nghiêm - Phm Vô-Tận-Tạng

Ai cũng thích một hương vị nào đó. Cho tới lúc bắt đầu chuyến bái hương, con đã rất thích đồ ngọt. Mọi thứ thay đổi khi việc bái lạy bắt đầu sinh ra nhiều khí dương hơn. Con nhận thấy đường ngọt làm phân tán sự tập trung của con. Thậm chí giờ đây con không thể nhìn vào đồ ngọt mà không cảm thấy đỏ mặt. Đó là trạng thái tạm thời của con – những người khác có lẽ không có vấn đề gì trong việc ăn đồ ngọt. Cuối cùng, tất cả những sự phân biệt có thể gây trở ngại cho một cá nhân thấy được sự thống nhất cơ bản của pháp thân.

Hai bài thơ rác:  

Bài Ca Bi Ai Của Người Hám Ngọt

hay "Đắng hơn thì Tốt hơn" (với con lúc này)

 

Đường là thuốc độc của tỳ kheo này,

Chỉ một miếng làm mờ tâm trí.

Miếng bánh qui tan chảy xương sống,

làm tôi mê mẩn như người rượu say.

Điên đảo bởi đồ ngọt ăn vào,

Tôi quên hết thảy việc tu hành.

Khuôn mặt đỏ và hơi thở dốc,

Tôi chẳng thiết gì chuyện tử sinh.

Đường ngọt khiến tôi mun nhảy nhót,

Khiến lưỡi tôi muốn nhảy liên hồi.

Khiến tôi cười và muốn đùa giỡn,

Và dn xa con đường Phật đạo.

Đường ngọt khiến ming tôi không nghỉ,

Cho đến lúc Định mất đi rồi.

Tỳ kheo này ăn miếng sau rốt,

Đường nho, nước ngọt và mía đường.

Liếm chút đường có lẽ ổn thôi,

Nhưng tham ái làm tôi phát bệnh.

Đường tôi từng nếm quả là tuyệt,

Giờ tôi lại thích chú tâm hơn.

Đường là bạn của kẻ đang yêu,

Ngọt và dính cho tới cui.

Đường là keo dính của gia đình,

Gắn tôi với anh và anh với tôi.

Trong mọi hương vị, tôi thú nhận,

Tôi gắn chặt với vị đắng cay.

Nên khi được thiết đãi đồ ngọt,

Xin thứ lỗi nếu tôi bỏ qua.

Rồi một ngày, tr thành rt thật,

Tôi cũng phải buông bỏ đường ngọt.

Cho tới lúc đó tôi thích là,

Ngọt ngào, cay đắng và không đường.

 

Thức Ăn Là Một Trong Ngũ Dục

Đồ ăn thật ngon; tôi thích ăn

Nhưng lòng tham thì thật thông thường.

Ăn quá nhiều khiến tôi thỏa mãn,

nhưng chỉ được một lúc mà thôi.

Quỳ trên lửa,

lửa dục phá thiền định của tôi.

Bữa trưa chỉ ăn nhiu thêm chút ít

là cản trở việc tôi tu hành.

Không quá ít, giữ gìn Trung Đạo.

Đừng tham dục.

Thật hổ thẹn, ham muốn đồ ăn

không cho tôi đến bờ giải thoát

Khi bụng tôi đã no nê rồi,

là lúc tâm Bồ đề thối thất

Thức ăn ngon, nhưng là cái giá

Tôi phải trả vì quá ham ăn

***

Cảnh ngũ-dục này là thứ chướng đạo, nhẫn đến chướng ngại chứng đắc vô-thượng bồ-đề. Do đây nên Bồ-Tát chẳng có một niệm dục-tưởng, lòng thanh-tịnh như Phật. Chỉ trừ phương-tiện giáo-hóa chúng-sanh, nhưng vẫn không rời tâm nhứt-thiết-trí... 

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Hạnh

 

Đệ tử của Phật,

Quả Chân (Hằng Thật)

Cung kính đảnh lễ

 

 

Chân lý phải là điều đơn giản

Tháng Hai, 1979

Daly City, California

 

Kính thưa Sư Phụ,

Sáng hôm qua, trong lúc chờ quần áo được sấy khô tại một tiệm giặt đồ tự động, con nhận thấy một điều thật rõ ràng: mọi vấn đề của con và mọi vấn đề trên thế gian này đều đến từ vọng tưởng. Chưa đầy một giây, chân lý đơn giản này tỏa sáng và cắt đứt sự mê lầm vô tận. Con không bao giờ có thể diễn tả thành lời, nhưng ngay khi thấy vậy, con đã nghĩ "Gần hai năm bái lạy, Hằng Triều, ngươi vẫn còn vọng tưởng! Ngươi vọng tưởng về điều gì? Về cái tôi. Về “ngã và sở hữu ngã". Rồi con tiếp tục độc thoại và hỏi "Nhưng tại sao ý nghĩ về cái ngã lại sai? Ý ta là, ngươi đang ở đây, trong tiệm giặt đồ này. Nếu đó chẳng phải là ngã thì cái gì là thật? Không phải là ta sao?"

Ai là ta?

Ta là ai?

Ngươi hỏi ta,

Ta hỏi "Ai?"

Bài kệ luôn trả lời câu hỏi của con. Không có cái tôi. Do đó ngã là vọng tưởng. Ngã vốn không hiện hữu. Cho nên Kinh Hoa Nghiêm có nỏi:

Phân biệt quán nội thân

Trong đây gì là ta ?

Nếu hiểu được như vậy

Thời biết ta không.

Thân này là giả tạo

Chỗ trụ không nơi chỗ

Nơi thân khéo quan sát

Tất cả đều thấy rõ

Biết pháp đều hư vọng

Chẳng khởi tâm phân biệt.

Mạng sống nhơn gì có

Rồi nhơn gì tan mất

Khác nào vòng lửa xây

Ðầu đuôi chẳng biết được. (1)

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Bồ Tát Vấn Minh

 

Thật là những lời dạy trực chỉ! Lời đó thật đơn giản nhưng con vẫn không thể hiểu dù chỉ là những sự thật giản đơn nhất. Con cứ làm ra vẻ thông minh, khéo dùng từ và mang nhng khuôn mt gi mạo đến nỗi không thể thấy được điều hiển nhiên. Tuần trước có một người chạy bộ xuất hiện để giúp con tỉnh giấc mộng này.

Rạng sáng, chúng con đứng phía ngoài xe, mặc y phục để bái lạy sau khi tập thể dục. Như một cơn gió, người chạy bộ này bất thình lình chạy đến. Ông ta khỏe và vạm vỡ, sạch sẽ và thẳng thắn, khoảng 45 tuổi. Ông ta có gì đó khác thường. Ông ta tiến thẳng đến không ngừng bước, hầu như hung hãn. Quanh mắt và đầu ông ta, chúng con có thể thấy một nguồn năng lượng – giống như những ngọn lửa bập bùng. Thật khó mà nhìn vào mắt ông ta, bởi vì cái liếc qua của ông ta thật sắc sảo, và khó mà không nhìn bởi ông ta l một vẻ đáng kính. Ông ta không một tí lịch sự hay cung kính gì hết. Ông ta hỏi thầy Hằng Thật có nói không và thầy Hằng Thật ra dấu cho ông ta nói với con. Ông ta thách thức và tiến về phía con "À, vậy ra ông nói hả?"  

"Các ông là những kẻ đang cố gắng từ bỏ tham lam, sân hận, đố kỵ, kiêu ngạo và tất cả những thứ bất thiện khác, và đi tìm chân lý?" Ông ta lên giọng trêu chọc và gần như là nhạo báng, như thể ông ta không hề tin lấy một lời của chúng con về việc chúng con đang cố gắng làm gì. Con thấy mình thủ thế và không thể trả lời. Ông ta tiến sát gần hơn nữa cho đến khi chỉ cách mặt con vài phân. Gã đàn ông này đang khiến con hồi hộp. Cuối cùng con cũng thốt ra "À...thì, phải, chúng tôi đang..."  

Ông ta nói "Tôi thấy rằng bất kỳ một chân lý nào mà ông tìm ra phải là một chân lý đơn giản". Ông ta nhìn thấu con mà không cần chớp mắt, chờ đợi câu trả lời. Con thấy mọi điều mình nói ra sẽ là ngu ngốc và giả tạo, giả vờ thông thái và tự tại. Sự thật là con đã lúng túng và thấy mình y như một gã ngốc.  

"Ông không nghĩ vậy sao?" - ông ta lại hỏi dồn, nhìn chằm chằm xuyên thủng thế phòng ngự và vỏ bọc giả tạo của con. Rồi ông ta cười nói “Được rồi, chúc các ông may mắn!" và chạy đi.

Sau khi ông ta đi, con nhận ra tại sao ông ta khiến con hồi hộp. Con vẫn còn trốn sau từ ngữ và ý nghĩ. Con dùng "con đường ngôn từ" để bám chấp vào ngã. Với cái lưỡi, cây viết và vọng tưởng, con đã tạo ra một sự thật nhân tạo để tránh đối mặt với một chân lý đơn giản: "chân lý của vô ngã".

Vào những thời điểm gay go nhất của chuyến hành hương, đặc biệt là tại Big Sur, sự trống rỗng của mọi ngôn từ và ý niệm nhìn thẳng vào con y như người chạy bộ đã làm. Con đã sẵn sàng buông xuống đồng hồ, lịch và lưỡi chỉ để bái lạy và ngồi cho đến khi:

Dứt đường ngôn ngữ, bặt tướng tâm hành

Nơi niệm rời niệm, niệm nhưng vô niệm. (2)  

Nhưng con đã không thể buông bỏ. Người chạy bộ - vị Thiện tri thức – đã nhắc nhở con rằng "chân lý" thì rất đơn giản: không có tự ngã. Nếu con thực sự hiểu những đạo lý cơ bản của đức Phật thì "ngay cả một từ cũng là quá nhiều". Con vẫn chưa nhìn thủng được cái tánh không của bản ngã. Nếu con thực sự hiểu đạo lý này thì làm sao con có thể thấy bối rối khi đối diện với người chạy bộ? "Ai" lúng túng và cảm giác như bị dồn vào chân tường?

Mọi người thường hỏi trở ngại hay điều phiền nhiễu lớn nhất mà chúng con gặp phải trong chuyến hành hương là gì. Tâm con chính là chướng ngại lớn nhất. Con là kẻ thù xấu xa nhất của chính mình. Tâm trí con cứ muốn đi vào vòng quay điên đảo của nó và từ không làm cho có. Nơi nào không có rắc rối thì con mang tới rắc rối; nơi nào không có chuyện thì con mang tới chuyện. Ích kỷ là căn nguyên của mọi tội lỗi.

Sau khi người chạy bộ đi khỏi, con thấy quyết tâm. Con nghĩ "Ông ấy đúng! Đừng giả vờ ẩn sau thứ gì, kể cả 1 từ hay một ý nghĩ cho tự ngã. Hãy đi theo cái chân thật. Đừng quá tỏ ra thông minh".

Niệm trong hiện tại, vọng về chân

Môt niệm không sanh toàn thể hiện (3)  

Mấy giờ rồi? Ngày, tháng, năm nào? Đường này, lối kia bao dặm ? Bao giờ chúng ta tới được? Chúng ta tới đó bằng cách nào? Trước giờ chúng ta làm gì? Mai chúng ta sẽ làm gì?  

Đây đều là vọng tưởng. "Ai" cần biết chứ? Đã đến lúc làm một kẻ đại ngốc nghếc, và nhất tâm bái lạy, để đóng miệng và mở tâm.

 

An lạc trong Đạo,

Đệ tử Quả Đình (Hằng Triều)

Cung kính đảnh lễ

 

Ghi chú:

 

(1) Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Bồ Tát Vấn Minh http://www.dharmasite.net/KinhHoaNghiem10.htm

 

(2) Nguyên văn Hoa ngữ:

言語道斷,心行處滅

即念離念,念而無念

 

Ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xử diệt

Tức niệm ly niệm, niệm nhi vô niệm

 

(3) Nguyên văn Hoa ngữ:

念茲在茲歸真
一念不生全體現

 

Niệm tư tại tư vọng quy chân

Nhất niệm bất sanh toàn thể hiện

 

Đừng dính mắc mầm bệnh

12 tháng Ba, 1979

Sausalito , California

 

Kính thưa Sư Phụ,

Dường như trong khoảng một niệm mà chúng con đã đi được hàng bao nhiêu dặm. Cúi xuống lạy, thấy cát vùng Pacifica tung bay dưới chân. Đứng lên, phía sau là những cột tháp màu cam của cầu Bay Bridge khuất sau những ngọn đồi vùng Marin (*). Chúng con đã gần tới chân núi Tamalpais rồi. Qua ngọn núi này là chúng con sẽ lên Xa lộ số 1, tiến về hướng bắc cho tới khi rẽ sang hướng đông để về Vạn Phật Thành. Thật vậy, trong kinh có nói “Tam thời đều bình đẳng”

Chúng con thường nghe,

Chuyên nhất thì linh ứng

Tán loạn thì vô hiệu.

(Chuyên nhất tất linh,

Phân chi tất tệ.)

Hôm nay trên đường Bridgeway Drive , thành phố Sausalito , con nhận thấy trong tất cả những việc mà con người làm thì tu hành Phật đạo đòi hỏi sự chuyên tâm nhiều hơn cả. Muốn thực sự chuyên tâm phải dùng hết khả năng của con và thậm chí còn nhiều hơn thế. Bái lạy trên xa lộ giúp chuyên chú cao độ bởi vọng tưởng ứng hiện tức khắc trong những ngày này. Thật kỳ lạ!

Bí ẩn về những tiếng còi xe hơi vẫn đang diễn ra là một thí dụ. Kể từ khi cuộc hành trình bắt đầu, mỗi khi tâm con lang thang trong những ý niệm của bản ngã, về những việc mình đã làm hoặc dự định sẽ làm – mỗi lần con dính mắc vào hoàn cảnh chung quanh - là dường như con nghe thấy tiếng còi xe hơi ngay lúc khởi tâm niệm . Thật kỳ lạ! Khi con chuyên chú vào việc bái lạy và tâm niệm không tán loạn thì con đường hoàn toàn tĩnh lặng. Ngày nào cũng hiệu nghiệm như vậy. Đây không thể là trùng hợp ngẫu nhiên được.

Rõ ràng hơn nữa là ở San Francisco vào tháng trước. Buổi chiều đó, lúc con mang mắt kính để bái lạy trên đại lộ Point Lobos, phía bên ngoài quán trọ Seal Rock, thì vọng tưởng khởi lên: "Nhìn vẻ mặt mọi người thay đổi sẽ vui đây”. Không nhận ra đây là một bước đi xuống con đường tâm tán loạn, con để nó ngự trị trong tâm trí.

Thêm hai lạy nữa, một người phụ nữ trông khác lạ đi qua. Vẻ bên ngoài của bà ta không có điểm nào ăn khớp với nhau cả. Bà ta có thể là con người được chế tạo vội vàng. Bà ta trông như một sản phẩm làm vội vàng từ nhà máy chế tạo người. Từ mái tóc tổ ong cong lệch cho đến đôi giày te-nít vàng, trông bà ta thật kỳ lạ.

Bà ta cất lên một giọng nói như máy "Coi chừng. Hãy cẩn thận, đừng dính mắc mầm bệnh" và đi về phía Cliff House.

Con lập tức hiểu rằng việc con để lậu thoát quang minh qua nhãn quang theo đuổi hình sắc không ổn chút nào. Con tháo mắt kính và tiếp tục chuyên chú vào công việc.

Tâm chng luyến thích tt c thế gian, cũng chng nhim trước nơi công hnh ca mình tht hành, chuyên tâm th trì giáo pháp ca Chư Pht.

Kinh Hoa Nghiêm

Một hành giả phải chuyên chú như vật cắt kim cương: tâm cứng và sáng như vậy. Mỗi mặt bóng của nó đều phát sáng. Chuyên chú như thủ môn khúc côn cầu: dục vọng và tập khí bất thiện bay đến từ mọi phía giống như quả bóng cao su cứng. Chuyên chú như chuyên gia tháo gỡ bom mìn: để cho một ý nghĩ sân hận và ích kỷ bám trụ và thế là có thể bị lon Pepsi làm cho mất cái mũi, con đã gần giống như vậy khi ở Pacifica .

Chuyên chú như người huấn luyện sư tử: không cho phép sợ hãi hay hoài nghi cản bước hay làm nhụt chí. Chuyên chú như hoa tiêu bến cảng: biết chỗ nào nước cạn, chỗ nào có đá trong tự tánh của mình, hướng con thuyền Bát nhã qua sông an toàn.

Chuyên chú như người leo núi: đi theo móc leo núi và dấu chân an toàn của những người leo trước để lại. Chuyên chú như bác sĩ phẫu thuật não: hiểu rõ đặc điểm của tâm, lấy ra những bộ phận hỏng mà không làm hư hại những bộ phận lành.

Chuyên chú như người lính phía sau phòng tuyến: tự ngã không muốn bị sai bảo phải chết đột ngột. Phải lừa và hàng phục nó mà không cần đối đầu. Chiến đấu với tâm sẽ chỉ có thiệt mà thôi. Chuyên chú như đức Phật: an nhiên, nhẫn nại, dũng mãnh, với sức mạnh và lòng từ vô thượng. Chuyên chú như một hành giả:

Lấy cảnh giới của Phật
Chuyên niệm không ngừng nghỉ
Người đó thấy chư Phật
Nhiều bằng số tâm niệm.


Dĩ Phật vi cảnh giới,

Chuyên niệm nhi bất tức,
Thử nhân đắc kiến Phật,
Kỳ số dữ tâm đẳng

Kinh Hoa Nghiêm

(Phẩm Đâu Suất Cung Kệ Tán)

 

Đệ tử của Phật,

Quả Chân (Hằng Thật)

Cung kính đảnh lễ

 

Ghi chú:

Pacfica là thành phố phía nam San Francsco, Marin là vùng kế cận phía bắc San Francisco. 

 

 

Kinh “Tự ngã”

Tháng Ba, 1979

Đỉnh Tamalpais, California

 

Kính thưa Sư Phụ,

Tâm con đã có chuyển biến lớn. Trong vài tuần qua, con bắt đầu thấy được những vọng tưởng sâu kín nhất cùng những thói hư tật xấu thâm căn cố hữu của mình. Con thấy rõ bài “Kinh tự ngã” về “tôi và của tôi” mà con đã tụng hết ngày này qua ngày khác, kiếp này sang kiếp khác. Con gọi đó là “Bài kinh của vị đế vương”. Từng chút, từng chút một, sự thật này lần lượt diễn ra trong con trong suốt cả tháng. Khi con tịnh khẩu và bắt đầu không đọc gì ngoài Kinh Hoa Nghiêm thì thấy sáng suốt hơn. Kinh Hoa Nghiêm được mở ra và trở nên sống động, luôn cả căn bệnh cũ – tâm cho mình là số một – cũng vậy.

Rồi một đêm, ngay sau cái lạy cuối cùng trong ngày, vạn vật đều đứng yên. Trong cái khoảng lặng đó, con chưa bao giờ thấy được chính mình như vậy. Con thấy cái tâm vọng tưởng của mình, chưa được thanh lọc và rõ ràng. Nó không đẹp đẽ gì. Con thấy mình luôn kiếm tìm vị trí số một ra sao, rồi còn luôn vạch lỗi người và hạn chế của họ để thấy mình là số một – luôn ganh đua, tranh giành, ganh ghét và gây khó dễ. Niệm này nối niệm kia như những hạt chuỗi kết thành xâu chuỗi “Ta mới tuyệt vời làm sao!” “Chỉ có ta là số một”. Dường như cả thế gian đều lặng im, chỉ có một âm thanh duy nhất : cái tâm điên cuồng bé nhỏ của con đang tụng “Kinh Hoàng Đế”, âm thanh vang như sấm. Nó cứ lơ lửng trong khoảng không trống rỗng. Nó chỉ là quả bóng nhỏ ồn ào, giống như một đứa trẻ đang gào thét trong hư không vậy.

Con xấu hổ đến phát khóc lên được. Thật xấu, thật không tốt chút nào. Làm sao một “bài ca tự ngã” nhỏ bé, ích kỷ lại đang điều khiển sinh mệnh con như vậy! Rồi con ngồi thiền trên một khoảnh đất trống gần khu nhà trọ Howard Johnson lớn. Con nghĩ “Được rồi, vậy là giờ ngươi đã biết. Ngươi đã thấy con người tồi tệ của mình, đã biết bài kinh của mình rồi. Ngươi định tính sao với nó đây?” THAY ĐỔI. Con biết mình có thể thay đổi. Tâm con thực sự chán ngấy việc cứ ngạo mạn, cứ thổi phồng rồi. Làm thế nào? Con không cần phải nghĩ ngợi về nó. Con biết. Chỉ nhất tâm chuyên chú, không sinh một niệm nào tới khi vọng tưởng của con được độ thành những tư tưởng thiện. Giữ giới thanh tịnh và hồi quang phản chiếu. Tu đạo vô trụ, không sao lãng một giây phút nào. Bản thân không được theo đuổi dù chỉ một ý niệm về cái tôi. Không nhọc công mang vác cái thùng rác chứa toàn danh tiếng và ngũ dục thêm nữa. Nhất tâm lễ lạy, làm “Vô tâm Đạo nhân”. Để mọi thứ qua đi.

Không có vọng tưởng, mọi chuyện đều tốt. Nhất tâm sẽ chẳng còn phiền não. Thanh tịnh và hạnh phúc, tất cả đều đến đi theo lẽ tự nhiên. Không có thì giờ để khởi vọng tưởng thì làm sao con còn bắt lỗi người được? Dọn sạch những thứ tạp nham của chính mình và chỉ lo việc của mình mà thôi.

Con thấy hạnh phúc hòa cùng hổ thẹn, khiêm nhường và mới lạ. Thật sự rất khó. Vọng tưởng và tập khí bất thiện của con quá nhiều. Nhưng không sao, cốt yếu là buông bỏ được vỏ bọc hư dối. Chỉ cần chân thật, thành tâm là đủ.

Đêm đó chúng con đọc Kinh Hoa Nghiêm, trong đó có nói làm thế nào mà bồ-tát “trong một niệm có thể biết được tất cả các niệm”. Vì sao vậy? Vì mọi thứ đều từ cái tâm phân biệt mà ra. Chỉ một niệm về ngã khởi lên là sinh ra tất cả. Biết được cái tâm chân thật của mình là biết toàn thể pháp giới. Nhưng con chỉ thấy được tất cả vọng tưởng của mình vào lúc này. Con thấy được chúng. Con biết mình không là người nào, nhưng con không biết mình là ai. Con thấy trống rỗng như một đứa trẻ, nhưng chưa được hoàn toàn.

Vài ngày sau, Sư Phụ cùng thầy Hằng Lai và một số cư sĩ trên đường về Vạn Phật Thành có ghé qua. Hôm đó là vào trước ngày vía Quan Thế Âm Đản Sanh. Con nói “Bạch Sư Phụ, trong vài tuần qua, con đã thực sự thấy được vọng tưởng và lỗi lầm của mình. Con thật hổ thẹn quá!”

Sư Phụ: “Vậy là tâm con đã có chuyển biến lớn phải không?” rồi chuyển hướng sang các cư sĩ “Đây là em gái của Quả Ngộ, con có nhận ra không? Có nhận ra Quả Ngộ không? Nhất định là con nhận ra hai người họ rồi. Thế con có nhận ra anh ta không? Con có nhận ra sư phụ không? Có tự nhận ra mình không?”  

Con cứng miệng không nói nên lời.  

Sư Phụ: “Vậy là con có nhiều vọng tưởng phải không?”  

Con: “Dạ rất nhiều. Rất nhiều…”  

Sư Phụ: “Nhất định rồi. Từ vô thủy vô chung cho đến giờ, con từng làm hoàng đế trong vô số kiếp nên có vọng tưởng cũng là chuyện đương nhiên thôi. Được rồi, thấy được lỗi mình rồi thì con có thể thay đổi.” Lời Sư Phụ đầy khích lệ và lạc quan. Rồi Sư Phụ nói kệ:  

Tự tánh chúng sinh biên thệ nguyện độ;

Tự tánh phiền não vô tận thệ nguyện đoạn;

Tự tánh pháp môn vô lượng thệ nguyện học;

Tự tánh Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.  

và hỏi “Con hiểu không?”  

Con: “Dạ con hiểu”. Những lời ấy đi thẳng vào tim con và đánh vào những điểm trống. Những giọt nước mắt lĩnh hội tuôn trào nơi khóe mắt.  

Sáng hôm sau, khi đang bái lạy, con nhớ lại lời Sư Phụ, nó bắt đầu lớn dần trong tâm con. Tựa hồ như Sư Phụ đang nói “Con có thấy được tất cả là một? Tất cả chúng ta đều có cùng chân như bổn tánh, một pháp cũng bất khả đắc chứ đừng nói đến một cái tôi hay một vị hoàng đế. Giờ con thấy chưa? Không anh, không tôi. Không ta, không người. Con có thấy tự tánh của mình không?“  

Toàn thân con chấn động, xương sống ớn lạnh. Con cũng bắt đầu hiểu được đôi chút. Cuối cùng, những câu kệ trong Kinh Hoa Nghiêm mà con đang suy ngẫm vài tuần nay giờ đã sáng tỏ.  

Pháp thân Như Lai hin công hnh

Tt c thế gian như tướng đó

Nói các pháp tướng đu vô tướng

Biết tướng như vy là biết pháp.

 

Các Pht t kia biết như vy

Tt c pháp tánh thường trng lng

Không có mt pháp hay to tác

Ðng vi Chư Pht ng vô ngã.

Rõ biết tt c các thế gian

Cùng chơn như tánh tướng bình đng…  

Nguyn tt c chúng sanh khéo vào tt c pháp bình đng, rõ biết pháp gii t tánh không hai.

Kinh Hoa Nghiêm

 

Nhưng cái tôi của con mạnh lắm, còn vọng tưởng thì như bão tuyết vậy. Làm thế nào để thay đổi và mở rộng tâm lượng thành “pháp giới tự tánh không hai”? Từ bi. Từ bi độ kiêu căng. Là một với tất cả sẽ chuyển hóa được cái tâm nghĩ mình là số một. Có lẽ đây là lần đầu kể từ khi xuất gia con hiểu được pháp danh của mình, Hằng Triều. Nó không mang nghĩa “luôn là Hoàng đế” mà là “luôn hạ thấp Hoàng đế xuống”. Khiêm nhường và từ bi. Hạ thấp “cái tôi” xuống. Nhất tâm bái lạy tất cả chúng sanh. Làm một người tốt với tâm khiêm nhường và không gây não hại cho bất kỳ ai.

 

An lành trong Đạo 

Đệ tử Quả Đình (Hằng Triều) 

Cung kính đảnh lễ 

 

Tái bút: Bạch Sư Phụ, 120 đô này là của một người mới đến, ông ta nói rằng “Tôi muốn giúp đỡ, ủng hộ việc các thầy làm”. Ông ta dốc cạn túi và thành tâm nói “cảm ơn các thầy” rồi đi.

 

Chỉ nhìn xem nó phát triển như thế nào! 

Mt. Tamalpais, ngày 18 tháng 3 năm 1979.

Kính thưa Sư Phụ,

"Chúng ta đang có Thất Quán Âm. Thầy chắc các con có khởi niệm tham, muốn được về Vạn Phật Thành tham gia phải không? Nhưng đừng lo, đối với hai con đang đi Ba Bước Một Lạy, mỗi ngày đều là ngày Đản sanh của Bồ Tát Quán Âm, và mỗi ngày các con đều ở Vạn Phật Thánh Thành ..."

... Sư Phụ đã nói với như vậy khi đến viếng thăm chúng con vào hôm thứ Sáu. Ngài nói rất đúng. Thất Quán Âm là những ngày rất đặc biệt. Vị Bồ tát Đại Bi ban vui bạt khổ bằng những phương cách vi diệu. Nhất tâm niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Âm chuyển hóa mọi nơi thành Vạn Phật Thánh Thành.

Mỗi ngày, hành giả đều cảm nhận một kho tàng học hỏi phong phú đó là học hỏi và hành trì Phật giáo. Cốt tủy của việc học hỏi, bài học lớn nhất là học làm con người tốt.

Chư Pht t ! B tát này ly đi bi làm trước … lòng tin tăng thượng… phát sanh lòng bi mn… thành tu đc đi từ… lòng h thn trang nghiêm…

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Địa


Dầu Phật Pháp chứa đựng trí huệ vô thượng, vi tế, thâm sâu, viên mãn diệu trí, nhưng sự áp dụng cao nhất là ngay trong cõi giới chúng sanh. Bằng cách hằng ngày đều hướng về điều thiện, bằng cách dùng lòng từ để làm chúng sanh vui vẻ, dùng tâm bi để chấm dứt đau khổ của chúng sanh, thì mỗi ngày đều là Thất Quán Âm .

Trong ngày Sư Phụ ghé thăm, chúng con đang lạy trên xa lộ Shoreline đầy nước mưa bùn lầy ở vùng Thung Lũng Tamalpais. Một bà lão đi trên đường lộ, đầu trần và đơn độc . Bà mang đôi giày lôi thôi, thụt cổ vào đôi vai chống lại cơn mưa phùn lạnh lẽo. Xe cộ chạy quá nhanh trên con đường hẹp, suýt đụng bà chỉ trong gang tấc. Bà đi mua đồ tại một tiệm thực phẩm "thuận tiện", sau đó lại lê bước ngang qua chúng con một lần nữa trên con đường về nhà đơn độc. Tâm con thật thương xót cho bà. Sao bà lại liều lĩnh sanh mạng và sức khỏe của mình trên con đường hiểm trở này chỉ để mua thực phẩm để ăn? Gia đình bà ở đâu? Con biết bà có thể đã từng là quyến thuộc của con trong đời quá khứ.

Có hàng triệu người già trên thế gian này nằm trong hoàn cảnh như bà hoặc còn tệ hại hơn nữa . Con nghĩ rằng việc thiết lập Phật Pháp ở Tây phương này chắc chắn sẽ đem lại rất nhiều sự thay đổi thái độ của chúng ta đối với người già. Bà lão này cần được chăm sóc. Bà cần những tiện nghi căn bản như thức ăn và chỗ ở để tránh mưa nắng. Bằng cách làm nhà ở cho các vị cao niên và chăm sóc những người già yếu cô đơn trên thế giới, chúng ta làm những việc thiện và đền đáp phần nào sự từ bi của chư Phật, của cha mẹ, và của các bậc trưởng thượng. Đây là công việc của Bồ tát Quán Âm. Đây cũng là sự hứa hẹn của Vạn Phật Thánh Thành.

Con nhớ lại gia đình họ Hyatt tại Cambria, cặp vợ chồng trẻ dành riêng chỗ trong nhà họ cho ông già Pappa Joe, người cha bệnh tật của họ. Gia đình họ Hyatt đến thăm chúng con và dẫn theo ông già Joe. Ông được cuốn tròn trong một tấm chăn dầy cộm, khuôn mặt tràn đầy nụ cười. Ông vui sướng mặc dầu tật bệnh, sức khỏe yếu kém . Gương từ bi của gia đình họ Hyatt tỏa tràn ánh sáng thiện lành làm cho ngày ấy rất đặc biệt. Mỗi ngày đều là ngày Bồ tát Quán Âm đối với gia đình họ Hyatt.

Khi con thấy bà lão kia trên đường lộ, con nghĩ sẽ tốt biết bao khi mang tất cả những người già cô độc lại với nhau và dạy họ Pháp môn Tịnh Độ, chia sẻ với họ niềm hỷ lạc của niệm danh hiệu Phật A Di Đà cùng Bồ tát Quán Thế Âm. Làm được công việc này thì Phật giáo đồ sẽ đóng góp rất lớn cho thế giới.

Sáng nay con có một giấc mơ, giống như quảng cáo trên T.V., giống như thông điệp của Liên Hiệp Quốc. Một người đàn ông và một bé trai đứng cạnh nhau. Cặp mắt bé trai đó mở to đầy kinh ngạc. Người đàn ông nói, dường như đang nói với thầy giáo vào ngày khai trường: "Đây, con trai tôi. Xin hãy uốn nắn nó cho tốt. Xin hãy dạy dỗ nó cho tốt trong ngôi trường của quý vị và hãy chỉ cho nó làm thế nào để trở thành con người tốt."

Theo sau ông ta là bốn người đàn ông nữa, mỗi người cũng dẫn theo một đứa con trai và cũng lập lại thông điệp trên. Một người nói bằng tiếng Anh, một người nói bằng tiếng Trung Hoa, một người nói bằng tiếng Nhật, một người nói bằng tiếng Pháp.

Sư Phụ luôn nhấn mạnh tầm quan trọng của nền giáo dục và làm trường học trở thành nơi cung cấp những dạy dỗ thiện tánh căn bản để các em trở thành con người tốt. Đây là con đường dẫn đến quả Phật.

"Bồ-tát… có chí nguyn rng ln không có gì hủy hoi được. Li thêm siêng tu tt c thin căn mà được thành tu… ngày đêm tu tp các căn lành không nhàm đủ… ."

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Địa .

Trường Bồi Đức, Đại học Phật Giáo Pháp Giới, các trường trung tiểu học sẽ được thành lập tại Vạn Phật Thành sẽ rất quan trọng cho thế giới. Các em nhỏ mà chúng con được gặp trên con đường lễ lạy này vẫn còn ánh sáng thanh tịnh và sự tin cậy nhiệt thành. Nếu các em trưởng thành với sự hướng dẫn của các Đạo lý chân thật trong nền giáo dục, nếu các em có thể vượt qua những năm khó khăn của tuổi mới lớn trong một cộng đồng mà mọi người đều tin tưởng thực hành nhân, nghiã, lễ, trí, tín, thì thế giới này sẽ tự nhiên chuyển đổi thành một nơi tốt đẹp hơn. Bằng cách nương theo ánh sáng của Bồ tát Quán Âm và tu hành Pháp Đại Bi, chúng ta có thể hoàn toàn chuyển hóa cốt tủy và tinh thần của nền giáo dục hiện đại về lại đường hướng nên có.

Khi người già vui sướng cầu nguyện hòa bình; người trẻ thích thú khám phá về thế giới, về những tư tưởng vĩ đại, và về những đạo lý chân thật; và khi những người trung niên bận rộn như những vị Bồ tát đang hành Đạo và hồi hướng thiện căn cho toàn Pháp Giới, thì lúc đó mỗi ngày đều là Thất Quán Âm và khắp nơi đều là Vạn Phật Thánh Thành.

Đây không phải chỉ là một giấc mơ mà chân thật như một niệm kế tiếp trong tâm của chúng ta. Chẳng bao lâu thế giới sẽ biết Chánh Pháp đã tìm ra căn nhà mới tại Tây phương. Những người như người nông dân tiểu bang Iowa mà chúng con gặp trên xa lộ gần sở thú San Francisco sẽ không còn nói rằng: "Đạo Phật? Tôi nghĩ đó là một tôn giáo ở Á châu. Nhưng các ông là người Hoa Kỳ có phải không ? Các ông có bao giờ đi qua tiểu bang Iowa chưa ?" Con muốn nói: "Vâng, thưa ông. Tôi trưởng thành tại tiểu bang Ohio. Chẳng bao lâu ông sẽ hãnh diện nói với những người láng giềng ở thành phố River rằng con cháu mình đã quy y Tam Bảo, hoặc ngay cả đã xuất gia học Đạo. Chẳng bao lâu các bạn ông sẽ tìm hiểu về ăn chay và tu thiền. Ông có thể sẽ niệm danh hiệu Quán Âm lúc nào không hay. Hãy nhìn xem Phật giáo sẽ phát triển như thế nào!"

Cuộc Đối Thoại Chúng Ta Muốn Nghe: 1984

"Phật giáo đồ hả? Ồ! Vâng, họ là những người có tấm lòng rộng lớn phải không ? Họ là những nhà giáo dục phải không? Họ lo lắng cho người già, tôi hiểu điều đó. Họ là những người không tranh phải không? Vâng, tôi đã từng nghe về họ. Thực sự tôi đang nghĩ sẽ đặt mua báo dài hạn tờ báo đó để tự mình tìm hiểu. Báo đó gọi là gì? 'Mỹ Phật Hải (Yankee Buddha Sea)', hay tên gì tương tự như thế. Tôi nghe về báo đó trên đài radio mà họ thường đọc hàng tuần. Nghe rất hay, tôi có thể nói như vậy! Tôi thích nhất phần để hát theo mà họ thường tụng theo điệu Nam Mô vị Bồ tát nào đó. Vâng, tôi thường nghĩ Đức Phật là vị Thượng đế Đông phương (Oriental God), nhưng từ bi hỷ xả sao lại mang màu sắc Hoa kỳ giống như bánh mảnh bắp như thế! Vâng, rất đúng."

"Bồ-tát vì nhớ có thể làm lợi ích cho chúng sanh nên sanh vui mừng."

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Địa

Những Bảng Hiệu Chúng Con Thích Nhìn:
(treo trên hàng rào, bên ngoài ngọn hải đăng Bồ Câu (Pigeon Point Lighthouse)

CHÚ Ý: CCấm săn bắn, câu cá, giết chóc, đặt bẫy, hay quấy rầy bất cứ sinh vật nào.
Thừa lệnh Tư lệnh bảo vệ vùng duyên hải 
(by order of the Commandant, U.S. Coast Guard).

******


Kính thưa Sư Phụ,

Hôm nay tâm con bị kinh ngạc ba lần vì Kinh Hoa Nghiêm và báo Kim Cang Bồ Đề Hải. Mỗi lần con cầm kinh hay báo lên để trích một đoạn kinh văn thêm vào bài viết thì lại lật đến đúng đoạn kinh văn phản ảnh chính xác tư tưởng của con. Dường như lời kinh trên trang giấy đang nói chuyện với con, dùng chính tư tưởng của con. Cảm giác vô cùng kỳ lạ. Đệ tử chúng con thường quen với việc không thể nghĩ bàn là bậc Thiện tri thức có thể biết tư tưởng chúng con ngay cả trước khi chúng con suy nghĩ; nhưng khi những tờ báo khởi sự phản chiếu tâm của chúng con thì đó là một điều khác!

Vòng Hoa Nghiêm (Flower Garland Round)

Tất cả đều do tâm tạo,
Tất cả đều hiện hữu trong Pháp Giới,
Pháp Giới nằm trong Kinh Hoa Nghiêm.
Kinh điển từ miệng Phật xuất ra,

Phật sống trong tâm của tất cả chúng sanh,
Tất cả chúng sanh sống trong mười Pháp Giới,
Mười Pháp Giới không rời một tâm niệm.
Tất cả đều do tâm tạo!
(lập lại cho đến khi tâm yên tĩnh)

"Từ từ bi và nguyện lực,
Thị hiện thâm nhập các hạnh của tâm địa,
Từ từ tâm được viên mãn,
Các hạnh của trí tuệ không phải cõi giới ảnh hiện."

Kinh Hoa Nghiêm.

Chúng con đã học hỏi được rằng không có tư tưởng, câu viết hay lời nói nào quan trọng bằng một cái lạy yên lặng, thành tâm. Cái thấy, trực giác, giấc mơ, và những phát hiện do hành trì Pháp thực sự cũng giống như diêm quẹt phản ảnh trên mặt trời. Chính hành động, sự cố gắng, niềm tin trong việc tuân theo lời dạy, và sự bố thí nói lên câu chuyện, một cách không lời. Thật là một sự khám phá! Thực tế hoàn toàn trống rỗng, chân thật. Nhưng đó cũng hoàn toàn là Pháp, sự thật của thực tế giống như là một món quà từ tâm đại từ của Đức Phật..

Con tôn kính quay về và nương tựa trong Tam Bảo của tất cả thời gian và không gian. Nguyện hết thảy chúng sanh đều nhớ đến căn nhà bổn lai trong Chánh Pháp. Nguyện tất cả chúng sanh, phản bổn hoàn nguyên về lại cội nguồn thanh tịnh nguyên thuỷ.

 

Đệ tử của Phật,

Quả Chân (Hằng Thật)

Cung kính đảnh lễ

 

Các con chỉ là những đứa trẻ, đương nhiên là không tin rồi.

Đầu Xuân 1979

Muir Beach

 

Kính thưa Sư Phụ,

Lúc còn ở Dốc Ác Quỷ, con đã phát nguyện vĩnh viễn không bao giờ tìm cầu những mối quan hệ riêng tư hay bất cứ thứ gì để bài xích, cự tuyệt người khác. Đêm đó con mơ thấy Sư phụ đang lâm chung. Con nhìn thấy một con mãnh long. Lúc Sư Phụ quay lại Pacifica thăm chúng con, Người có hỏi “Có mơ thấy gì không?”. Người nghe con thuật lại giấc mơ rồi nói “Ô… vậy là con muốn Sư Phụ chết phải không?”.  

Con quả quyết: “Không, bạch Sư Phụ, hoàn toàn không phải như vậy!” .  

Sư phụ nói: “Sư Phụ sẽ chết thay con”.  

Con đáp: “Con phải tự mình chết lấy” .  

“Vậy Sư Phụ sẽ sống thay con”.  

“Việc này con cũng phải tự mình làm lấy”.  

“Được rồi, vậy một người thầy như ta thì có tác dụng gì chứ?” Rồi Sư Phụ nói kệ:  

Ăn để chính mình no

Giải quyết sinh tử cũng do chính mình.

Sau đó, con nghĩ thầm “Có thực là mình muốn Sư Phụ chết không?”. Con không thực sự chắc lắm. Nhưng con cứ để mọi chuyện qua đi, hoặc giả con đã nghĩ vậy. (Cái “chết” này phải đi cùng với “tâm tham dục” chết. Đây chính là cái chết mà Hòa Thượng muốn ám chỉ khi nói rằng Ngài hy vọng con sẽ mau chết, đó là “mau diệt trừ ngã kiến và tâm tham dục ích kỷ của mình”).  

Lần tới Sư Phụ đến thăm là lúc chúng con đang trên đỉnh Tamalpais. Trong con đã có rất nhiều biến chuyển. Chưa bao giờ con thấy được những thói hư tật xấu của mình như lúc bấy giờ. Con thấy sau 2 năm bái lạy mà mình mới chỉ bắt đầu đối diện với những lỗi lầm nghiêm trọng và đại ngã kiến của mình. Con thấy ô nhục, thấy hổ thẹn. Hơn nữa, cũng nhờ có Sư phụ kịp thời chỉ dạy và cứu giúp nên con mới có thể thấy được như vậy chứ đó không phải là kiến giải của con. Đặc biệt là Sư Phụ đã khuyên con tịnh khẩu. Và khi miệng khép lại, mắt con mở được đôi chút.  

Khi Sư Phụ thăm chúng con tại Pacifica, ngay lúc Người chuẩn bị ra về, còn con đã sẵn sàng “tự mình đứng vững”, đột nhiên có hai người đàn ông tiến lại gần với vẻ hận thù. Con tự tin mình có thể khiến họ thay đổi thái độ. Con bắt đầu nói huyên thuyên, rồi tranh luận với họ. Sư Phụ tựa người ra ngoài cửa xe, nói lớn “Không cần phải nói. Đừng nói quá nhiều!” Không hiểu sao con cảm thấy khí lực hao tổn khi nói chuyện với hai người này. Nghe Sư Phụ nói, hai “người đàn ông” tái mặt rồi chạy mất hút vào con đường. Họ hoàn toàn không phải là người. Sư Phụ cười nói “Con thấy đó, Sư Phụ đã đuổi những con quỷ khỏi con rồi đó. Ha ha. Tạm biệt” Bài học đó con sẽ mãi mãi bao giờ quên.  

Lúc này đây, trên đỉnh Tamalpais, con đã thấy được sự quả quyết ngu ngốc của mình, quả quyết rằng “Con có thể tự đứng vững” (Để thực sự đứng vững, con cần phải nhận biết chính mình và không còn ngã kiến). Trong suốt chuyến viếng thăm, Sư Phụ nhìn thẳng vào mắt con, cười nói “Vậy là giờ con có thể đứng trên đôi chân mình rồi hả?” Hôm sau, con đã hiểu được giấc mơ chết kia trong khi đang bái lạy. Thực tế con đã hy vọng Sư Phụ sẽ “chết”. Một cách vô thức, tự ngã của con muốn sống, cho nên con mơ thấy Sư Phụ chết. Lần đầu thấy Kinh Kim Cang, con đã chạy trốn và né tránh. Tại sao? Vì con biết Kinh nói lên sự thật của vô-ngã. Lần đầu gặp Sư Phụ, con đã không lạy và sẽ không lạy. Con đã quá kiêu ngạo. “Hoàng đế” không lạy bất kỳ ai cả. Giờ đây, sau hai năm bái lạy và thấy được sự trống rỗng của đại ngã, con vẫn chống cự “cái chết”, thay vào đó là mơ thấy Sư Phụ chết. Ẩn sau giấc mơ là vọng tưởng : “Nếu Sư Phụ chết, sẽ không còn ai ở bên để điều phục mình nữa. Sẽ không còn ai soi đường chỉ lối và hiểu cho mình nữa”. Con căn bản là không muốn đối diện với điều này. Con không muốn thừa nhận rằng mình đã có những suy nghĩ đáng xấu hổ như vậy về Sư Phụ. Con muốn giấu tội, muốn che đậy những cái xấu. Nhưng con đã từng làm thế, giấu giếm và không ngay thẳng. Việc đó chỉ mang lại khổ đau cho mọi người. Con biết mình mắc trọng tội, nhưng con vĩnh viễn sẽ không bao giờ giả tạo để rồi lại mắc tội thêm nữa.

Đã quá muộn để tạ lỗi với Sư Phụ. Người đã đi rồi. Do không thẳng thắn, con lại bỏ lỡ cơ hội. Con luôn che dấu chính mình. Chính vì thế, con cần một vị “Thiện Tri Thức” làm y chỉ.  

Tuần này Sư Phụ lại ghé qua.  

Sư Phụ: “Có gì muốn nói không?”  

Hằng Triều :”Có rất nhiều thay đổi. Bạch Sư Phụ, kể từ lần trước Sư Phụ tới thăm, giờ con đã biết giấc mơ Sư Phụ chết chính là tự ngã của con không muốn chết.”  

Sư Phụ: “Chắc chắn rồi, sau đó thì không ai có thể điều khiển con được nữa”  

Hằng Triều: “Con hổ thẹn lắm, thưa Sư Phụ, con sẽ thay đổi”  

Sư Phụ và con cùng ngồi xuống nói chuyện. Sư Phụ ngồi trên thanh giảm va chạm xe. Trời vừa mưa trước khi Sư Phụ tới. Lúc này trời đang nắng, nhưng mặt đất còn ướt. Chiếc mũ của con nằm trên mặt đất, ngay cạnh chân Sư Phụ. Tình cờ Sư Phụ nhấc chân, dẫm lên mũ con, và bắt đầu chà xuống đống bùn rồi lau vết đất bết ở giày lên đó. Con đã muốn nói “Ơ kìa, Sư Phụ, đừng!!!! Đó là mũ con mà!”.  

Nhưng rồi một ý nghĩ chợt đến: “Lẽ ra Sư Phụ nên giẫm lên đầu mình. Mình đáng bị như vậy.” Con nghĩ có lẽ Sư Phụ tưởng đó chỉ là một chiếc mũ cũ kỹ bên đường. Rồi Sư Phụ nhặt chiếc mũ lên, tử tế phủi sạch bùn đất, gấp lại gọn gàng rồi đưa cho con. Con nghĩ thầm “Ơ! Sư Phụ biết đó là mũ của mình. Vậy là sao?"

Sau khi Sư Phụ đi, con đã thấu hiểu được lời dạy vô ngôn của Người bằng cách dùng chiếc mũ này. Lần đầu tới Kim Sơn tự, con cảm thấy khá tốt. Con thấy như đang ở nhà ngoại trừ việc lễ lạy, đặc biệt là thực tập lễ lạy. Thế rồi trong một buổi giảng Kinh khuya, Sư Phụ nói “Hình như có người luôn muốn mình là đệ nhất. Họ luôn muốn tìm kiếm một chiếc mũ cao để đội… muốn tất cả mọi người đưa họ một chiếc mũ cao và mọi người sẽ tung hô “Thầy ấy thật vĩ đại. Thầy ấy là số một” Chẳng phải thế này sao?” Những lời đó đi thẳng vào tâm con. Chính xác đó là thái độ của con và Sư Phụ đã nhìn thấy, đã đọc được. Đêm đó con đã lạy Sư Phụ, chỉ có điều chiếc mũ cao của con vẫn không rơi xuống trong lúc lạy.  

Con cảm nhận rằng, bằng việc chà sát chiếc mũ xuống bùn, Sư Phụ đang nói “Vậy là giờ đây con thấy được chút ít rồi đó. Tất cả đều được sám trừ nếu con có thể thay đổi để tốt hơn. Đây, đội mũ lên, nhưng nhớ rằng đó không phải là vương miện đâu. Đừng chạy ra ngoài và làm hoàng đế nữa”.  

Tu Di xô đổ giữ tâm bình

Ganh tỵ kiêu căng tuyệt bóng hình

Tu Phật phải đâu cầu diệu quyết

Buông tâm xả tướng đạo viên thành (*).

Hòa Thượng Tuyên Hóa

 

Một chiếc mũ bẩn và một bài học về vạn vật bình đẳng. Không ai là số một cả. Cái bản chất thì phẳng bằng như mặt đất. Hãy khiêm nhường. Giữ tâm tàm quý và từ bi. Hãy buông bỏ tất cả, thành Phật sẽ tự biết. Kệ rằng:  

Tội từ tâm khởi, đem tâm sám.

Tâm đã tịnh rồi tội cũng không.

Tâm tịnh, tội diệt, thảy đều không.

Ðó gọi là chân sám hối.

Bạch Sư Phụ, con vô cùng hổ thẹn về cái ngu si của mình và về những rắc rối con đã gây ra. Con sẽ thay đổi. Con không muốn “quay lại lâu đài” làm một vị hoàng đế nữa. Ngôi nhà của con là Phật, Pháp, Tăng thập phương thường trụ. Con sẽ quay lại trần tục và giác ngộ. Con sẽ gắng hết sức, lạy sám hối.

An lành trong Đạo  

Đệ tử Quả Đình (Hằng Triều)

Cung kính đảnh lễ

* * *

“…đứng trên đôi chân mình”

Đã có lúc con nghĩ rằng tự mình có thể nghênh ngang lên núi tu giác ngộ. “Ai cần một người thầy chứ?!” Con đã nghĩ vậy. Nhưng ở một nơi nào đó trong thâm tâm, con biết rằng con cần một vị Thiện Tri Thức. Thật khó để tự mình nhận thấy những trò gạt gẫm của bản ngã và tất cả cảnh giới của tâm hiện ra khi tu tập. Con ma lớn nhất chính là tự ngã của mình và rất khó để vượt qua. Nó giống như việc một con dao cố tự cắt chuôi mình. Nhưng việc có được một vị Thiện Tri Thức không đảm bảo thành công. Cần phải tuân theo sự chỉ dạy mới được.  

Tháng này Sư Phụ đã thăm chúng con. Trước khi đi, Ngài nhắc nhở chúng con thận trọng về việc tiếp nhận đồ cúng dường. “Phải hết sức cẩn thận” Chúng con đã không cẩn thận và bị ngộ độc thức ăn. Vào thời điểm chúng con bệnh nặng nhất, Sư Phụ trở lại. Ngài hỏi. “Có gì đặc biệt xảy ra không?”  

Con đáp “Có thưa Sư Phụ, chúng con bị bệnh 3 ngày nay rồi. Thức ăn không tốt.”  

“Ồ, thấy chưa?” Sư Phụ đáp với một nụ cười hiểu biết và cái nhìn chứng tỏ “Thầy đã cảnh cáo rồi mà, thấy chưa?”  

Trong suốt chuyến viếng thăm bên đường, Sư Phụ và con nói về thức ăn, dục tính và tu hành. Con nói “Thưa Sư Phụ, hai năm trước ở Los Angeles , Sư Phụ bảo chúng con rằng hành giả ăn đồ ăn ngon có thể gây cản trở cho đạo nghiệp của mình do chứa quá nhiều năng lượng. Con đã không tin, nhưng giờ con biết đó là sự thật”  

Sư Phụ: “Các con chỉ là những đứa trẻ. Đương nhiên là không tin rồi”.  

Con tự nghĩ “Sẽ không bao giờ con không tin và con sẽ luôn tuân theo chỉ dạy của Sư phụ”  

Sư Phụ nói “Hãy nắm giữ năng lực dư thừa đó và nhẫn nại khi nó muốn phóng chạy ra ngoài - chính đó là tu hành. Nếu không… (Hòa Thượng tả một quả bóng căng phồng khi thấy một thứ gì đó hấp dẫn và ngay lập tức xì hơi). Cái con thấy khiến con điên đảo và hốt nhiên con xả ra. Rồi sẽ không còn rắc rối, không còn sức ép nào nữa. Nếu con không thể xả ra, đó chính là tu hành. Nó ở ngay ‘đây’”.  

Ngày hôm sau ấy, sức ép trong con thật dữ dội và dao động rất mạnh. Chúng con nghỉ giải lao để thiền. Con chộp lấy cái chậu rửa để dọn dẹp. Khi con quay ra cửa, có một người phụ nữ đẹp đứng ngay trước mặt chặn đường, vừa cười vừa nhìn con chằm chằm. Cô ta nhẹ nhàng hỏi “Chào thầy, thầy đang làm gì vậy?” Con bắt gặp ánh mắt cô ta và mất chánh niệm trong một thoáng giây. Như một quả bóng đầy hơi…. ”đột nhiên không còn rắc rối nào nữa, không còn sức ép nào nữa”. Gắng một lần nữa, và lần này làm theo lời Sư Phụ dạy.

Nguyn tt c chúng sanh thừơng được gp g chư thin tri thc, phụng hành chng trái li dy.  

Kinh Hoa Nghiêm – phẩm Thập Hồi Hướng

Con không thể tin được! Sao con lại có thể chậm chạp và ngu si đến vậy! Hôm trước đã nhận được lời dạy rõ ràng đến thế, vậy mà con lại không thể “phụng hành” được. Những lời dạy đúng lúc và chân thật của Sư Phụ lọt vào tai này rồi lại ra tai kia và lần nào con cũng vấp ngã.  

“Con có thể đứng trên đôi chân mình” không phải là sự khẳng định của một sức mạnh thực sự. Nó đến từ vọng tưởng, không phải do điều phục tự ngã mà do tự ngã không muốn bị điều phục. Con đã vội vã, đã gượng gạo độc lập – hành động của một bản ngã nổi loạn, không phải giải thoát chân chánh. Con vừa chấp cảnh giới liền bị vọng tưởng làm cho điên đảo. Tự ngã kháng cự cái chết bằng các cách thật khó tin và khó nhìn thấu được. Đây chính là sự quan trọng của Thiện Tri Thức: dù con có tuổi đời bao nhiêu đi nữa thì tuổi trí huệ của con vẫn chỉ là của một đứa trẻ mà thôi. Có câu rằng không thể tin vào tâm ý mình cho đến chừng nào chứng tứ quả A La Hán… huống gì chỉ mới là sa di tập sự? Ngay khi nghĩ rằng mình đạt được cái gì đó cũng chính là thời điểm chín muồi để mất. Lên thì khó, mà xuống thì dễ. Có một vị Thiện Tri Thức là điều rất quan trọng.

 

Đệ tử Quả Đình

Cung kính đảnh lễ

 

Ghi chú:

(*) Tam tâm tứ tướng: ba tâm - quá khứ, hiện tại, vi lai; bốn tướng - tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả.

 

 

Đừng nghĩ!

28 tháng Ba, 1979

 

Kính thưa Sư Phụ,

 

Hãy nhận thật lỗi mình,

Chớ bàn tới lỗi người.

Lỗi người là lỗi mình,

Đồng thể, tức Đại Bi.

Hòa Thượng Tuyên Hóa

 

Bạch Sư Phụ, thật buồn cười, con không còn có thể chỉ trích ai được nữa. Trong những ngày này, hễ thấy có gì để chỉ trích là ngay lập lức tâm con phản hồi “Khoan đã, ta không nhớ chính ta cũng đã từng vậy sao? Sao ta có thể đứng tách biệt với mọi người và phán xét họ chứ? Hãy hồi quang. Ta đang thấy và chê trách lỗi lầm của chính mình đó. Lấy thí dụ chẳng hạn, trông thấy một tay đua tăng tốc trên khúc quanh, con nghĩ “Sao hắn có thể gây nguy hiểm cho mình, cho người như thế, chỉ vì hào hứng cảm giác mạnh thôi sao?” Rồi con nhớ lại mình cũng đã từng phóng xe thế nào – đâu có khác gì. Hãy hồi quang. Không gây chiến.  

Con trông thấy những người khách du lịch nhảy ra khỏi xe, chạy lên và chụp hình cầu Cổng Vàng (Golden Gate), chụp bờ biển đẹp rồi nhảy trở lại xe và phóng đi mà chưa bao giờ thực sự ngắm cảnh, chưa bao giờ ở đó. Có vẻ như đó là một việc làm vô nghĩa. Sau đó con lại nhận được tiếng chuông cảnh báo: “Đừng chỉ trích! Hãy hồi quang. Ta đã từng sống rời xa hiện tại. Mắc kẹt với những ưu lo, những giấc mơ, những ảo tưởng tương lai, chân ta hiếm khi chạm đất. Ta là ai mà đòi chỉ trích người khác? Chỉ là ta đang thấy và bác bỏ tập khí bất thiện của mình mà thôi”. Chuyện gì đang xảy ra vậy? Đó gọi là “chấp tướng” và bị vọng tưởng làm cho mê loạn. Kinh giải thích điều này như sau:  

Tất c thế gian trong mười phương

Đều là chúng sanh tưởng phân bit

Nơi tưởng, phi tưởng không ch được

Vi các tưởng Bồ Tát rõ thu như vy.  

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Hồi Hướng

 

Con bị vọng tưởng lừa gạt hàng bao năm rồi! Con cảm thấy việc gì cũng phải có kế hoạch trước. Con lập ra một danh sách các kế hoạch và ấn định chi tiết trước khi hành động. Tất nhiên con không bao giờ thấy vui lắm. Con bị ràng buộc bởi những suy tính trong tâm trí. Con tìm tự lợi từ mọi hướng. Con biết kết quả trước cả khi thi đấu. Thua cuộc ư? Không bao giờ!  

Tại sao con luôn thấy mệt mỏi và nặng nề? Đó là vì tâm phân biệt đúng sai, cầu lợi và trốn chạy nỗi sợ thua cuộc đã làm hao tổn khí lực, để rồi cuối cùng là tuyệt vọng. Các việc đúng sai không bao giờ chấm dứt. Chỉ có từ bỏ tìm cầu tự lợi thì tâm mới bình an được.  

Về hành trình Tam bộ nhất bái, Sư phụ đã khai thị “Đừng khởi bất kỳ vọng tưởng nào” “Đừng nghĩ.” Tại sao? Vì Bản ngã, vì cái Tôi cầu lợi là ảo tưởng trú trong vọng tưởng của chúng ta. Ngã là ông chủ, đẩy chúng ta vào cuộc truy đuổi danh lợi lố bịch. Khi niệm ngừng bặt và Ngã không còn thì nơi đâu cũng an bình. Các pháp đột nhiên đều phằng lặng rỗng rang. Mọi hình tướng, đúng sai đều biến mất vì tâm không còn cần tách biệt và gán danh tự cho mọi thứ nữa, không còn cái Tôi để bảo vệ. Ma quỷ bị chế phục và mỗi ngày đều an lạc.

 

 

Phụng sự Phật pháp

30 tháng 3, 1979

Phía Trên Bãi Biển Stison

 

Kính thưa Sư Phụ,

Sự nhiệm màu của Kinh Hoa Nghiêm luôn khiến cho chúng con phải ngạc nhiên. Những thay đổi diễn ra thật rõ ràng vào lúc chúng con tụng Kinh sau mỗi thời công phu khuya. Nếu chúng con có căng thẳng và lo lắng vì vọng tưởng và thói xấu thì Kinh xoa dịu và tiếp thêm dũng khí để chúng con tiến bước. Nếu chúng con có cáu kỉnh hay cảm thấy lệch lạc thì Kinh lại làm cho tâm lắng xuống và đưa chúng con quay trở về nhà. Còn nếu chúng con hoan hỷ thì Kinh phóng hào quang tán dương.  

Cách đây vài tuần, có một đêm con thấy đầu nặng trịch, thân thể đau nhức đến từng khớp xương. Con sẵn sàng gây chiến hoặc làm bất kỳ điều gì để xả cái khí này ra. Nhưng khi con mở Kinh để dịch phần Hồi Hướng Thứ Tám thì cái hỏa khí ấy lại chuyển thành một thứ cảm giác của lòng từ bi, sáng rõ như ngọc lưu ly. Nhận ra cảnh giới của mình, con thu lại ánh sáng mà mình chuẩn bị phóng ra. Đọc Kinh xong, khi con đang với tay lấy cây hương để bắt đầu tụng chú Lăng Nghiêm thì hốt nhiên con thấy hiện ra một cảnh tượng về thời đại và tầm quan trọng của Kinh. Thời gian dường như ngừng trôi khi cảnh tượng lóe lên. Đây là những gì con nhìn thấy, nó giống một cuốn phim, cứ như Hollywood đã quay một câu chuyện để làm sáng tỏ một kho báu hiếm có, đó là Phật pháp.

Pháp vô thượng thâm sâu vi diệu,

Trăm ngàn muôn kiếp dễ gặp đâu ...  

Một đoàn người thuộc mọi độ tuổi và chủng tộc đang đi qua những hang động sâu và nhiều nguy hiểm. Con đường dài, hẹp và lắm gian truân. Hành trình của họ đòi hỏi sự can đảm, sức chịu đựng và cả niềm tin. Có rất nhiều khảo nghiệm và chướng ngại, nhưng họ vẫn đi mà không hề nhàm mỏi. Họ được một luồng ánh sáng vàng thanh tịnh dẫn lối qua mọi hiểm nguy. Trên vách hang là dấu tích của các nền văn minh cổ đại. Đoàn người đi qua các nấc thời gian vô tận. Từng lớp, từng lớp thế giới cứ đi qua cùng với những câu chuyện về sự sống và cái chết được tạc lại trên đá.  

Cuối cùng, đoàn lữ khách cũng tới được nguồn sáng vàng. Đó là một pháo đài bí mật, che giấu bên trong là một thư viện. Thư viện làm bằng kim cương và được phép thuật khóa lại. Chỉ những người có phước báu và thiện căn mới vào được. Có Trời, rồng, quỷ thần giữ cửa.  

Vào được bên trong rồi, đoàn người đi về phía những kệ sách đặt ở những phòng ngoài. Trên đó chứa những cuốn sách về tri thức cổ đại: hành tinh, cây cỏ, toán học, âm nhạc, ngôn ngữ, văn học, và bộ sách bách khoa thủ công và lễ nghi. Đoàn người đi qua những kệ sách của tri thức thế gian này. Tri thức ấy quý giá và đáng bảo tồn, nhưng luồng ánh sáng dẫn họ tới một cánh cổng khác bị khóa ở giữa thư viện. Những ng sĩ uy nghi, cao lớn và thuần khiết bảo vệ hầm mộ này. Họ bày tỏ lòng tôn kính sâu nặng với nó. Trong hầm là một rương châu báu phát ra ánh sáng ngọc ngà chói lọi. Đây là nơi trang nghiêm tối thượng, nơi các vị thánh linh thiêng ẩn náu, là đỉnh cao của trí tuệ vĩnh hằng.  

Nắp rương cót két mở và tỏa hào quang thanh tịnh rực rỡ. Đoàn người nín thở quan sát bên trong: những cuộn giấy bị nhàu và một tấm giấy da nát như mạng nhện. Chữ đã mờ, các dấu không còn, khó có thể đoán được nghĩa. Không có ai học hỏi trí tuệ này từ rất lâu rồi, rất ít người thực hành theo. Nhưng có một sự cảm nhận chung quanh rương. Đoàn người nhận ra đây là một bảo vật vô giá, một kho tàng quý giá cần phải được giữ gìn và bảo vệ bằng mọi giá. Kho tàng quý giá này phải được trân quý và tất cả mọi nơi đều phải biết đến. Chân lý của nó phải được mọi người thực hành.  

Nhóm người ngồi xuống phía dưới chân của người lãnh đạo, một người có trí huệ và kinh nghiệm. Ông chỉ cho mọi người biết làm thế nào để tôn kính kho tàng quý giá này cho đúng. Ông giảng cho họ nghe về nó. Ông gọi đó là Pháp, những nguyên lý tối thượng, con đường chấm dứt khổ đau, những phương pháp để đạt đến an lạc vĩnh hằng chân thật.  

Con nay nghe thấy chuyên trì tụng

Nguyện rõ Như Lai nghĩa nhiệm mầu.  

Đoàn du hành rất hoan hỷ. Họ đã nhận chân được giá trị của điều mà họ khám phá được và vận may này khiến họ hết sức ngạc nhiên. Họ cùng lập đại nguyện quy mạng Pháp để bảo vệ, truyền đạt, thực tập và khiến cho Pháp được tuyên lưu ở bất kỳ lúc nào, bất kỳ nơi đâu trong tương lai. Khi họ lập nguyện, luồng ánh sáng tỏa ra từ chiếc rương chói sáng gấp đôi. Những câu văn lại có sự thay đổi: chữ trên các trang giấy cổ xưa càng lúc càng rõ hơn. Những cuốn sách có được sinh khí mới và năng lực mới. Các vị Bồ-tát hộ pháp, trời, rồng đều hoan hỷ. Những lời nguyện của nhóm người đã phục hồi lại chánh Pháp và giữ cho lưu truyền trên thế gian.  

Luồng sáng từ hầm mộ trong thư viện bí ẩn kia chiếu xuyên qua các vách hang, chiếu sáng cả vũ trụ và mọi nền văn minh trong vô lượng thời gian. Bỗng đoàn người thấy chân mình không còn chạm đất. Giờ họ đứng trên mt đỉnh núi thanh khiết, tráng lệ.  

Họ có được vô số phương tiện thiện xảo để truyền Pháp tới tất cả chúng sanh trong đại gia đình của mình. Người lãnh đạo nhóm giải thích rằng thư viện bí mật kia cũng đồng ở trong tâm họ. Nhưng cần có chuyến đi xuyên qua hang động và đương đầu với những hiểm nguy gian truân để tìm ra. Đoàn người vui mừng khôn xiết, và với tinh thần đại tinh tấn, họ xuống núi để làm hoàn mãn thệ nguyện của họ. Họ biết rồi sẽ còn gặp lại nhau.  

Đó là cảnh tượng, và khi con nhìn kệ Kinh sách trong chiếc xe Plymouth của chúng con chứa đựng những quyển Kinh tiếng Anh và tiếng Hoa in rõ ràng được bọc gọn gàng, con hiểu rõ chúng con không được xem thường s may mn của mình.  

Các đệ tử của Phật được thấm nhuần chánh Pháp thanh tịnh nhất. Trách nhiệm tối cao của chúng con đó là giữ cho những nhận thức về bảo vật của chúng ta được tồn tại. Sự có mặt của chánh pháp trong chúng con, con đưng chân tht đi đến Pht qu, là những châu báu hiếm có nht. Không có gì không huyền diệu cả.  

Cũng giống như các thành viên trong đoàn người trong tâm cảnh con thấy kia, hạnh phúc của con khi được phụng sự Phật pháp và đem thân mạng hiến cho Tam Bảo thật vô cùng vô tận.  

 

Đệ tử của Phật,

Quả Chân (Hằng Thật)

Cung kính đảnh lễ

 

 

Từ bi là vô thượng

Tháng Tư, 1979
Xa lộ Shoreline, Stinson Beach
 

 

Kính thưa Sư Phụ,

Đây là một kinh nghiệm của con trong suốt mùa lễ năm ngoái mà đến giờ con mới có thời giờ để viết.  

Tôi phải cứu vớt tất cả chúng sanh này đặt họ ở chỗ rốt ráo an lạc.Vì vậy Bồ Tát liền phát trí tuệ đại từ bi.

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Địa

Tâm từ bi là vô thượng, có thể khiến ta luôn hoan hỷ bởi có được nhờ việc bố thí và khiến người hoan hỷ. Bố thí khiến mọi người đều hoan hỷ. Muốn thực sự từ bi thì phải cho đi bản thân, cho đi phiền não, buông xả tất cả.  

Cáu kỉnh, hà khắc thì dễ thôi

Can đảm mới có được lòng từ

Keo kiệt và ích kỷ tự nhiên

Đến với kẻ nhu nhược kém cỏi

Có sức mạnh mới có lòng bi

Chấp ngã không phải là trí tuệ

Cần có niềm tin để giải thoát

Nghi ngờ, sợ hãi thì hám lợi

Muốn hạnh phúc thì phải cho đi.

 

Giáng Sinh năm ngoái, khi con đang lạy dưới bóng lạnh lẽo của những tảng đá, bỗng văng vẳng bên tai giọng nói của người thầy từ bi và trí tuệ, đã cho con niềm tin và sức mạnh. Người nói “Lẹ lên, hảy buông xả hết đi. Sư phụ sẽ đỡ nếu con trượt ngã.” Trong thâm tâm, con nhắm mắt bước qua vực thẳm, và thấy mình đã sang bờ bên kia. Tâm con không mảy may một niệm, an lạc và nhẹ nhàng là niềm vui tinh khiết. Mọi thứ đều ổn. Tâm con muốn trao tặng niềm hạnh phúc con đã cảm nhận này đến mọi chúng sanh. Con cảm thấy từng nguyên tử thô cứng và ích kỷ vi tế trong thân con tràn ngập ánh sáng của lòng từ bi.

An tr tâm x, các căn thơ thi, công đc tăng trưởng, phát chí nguyn lành, thường ưa tu hành hnh b thí rng ln.  

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Hồi Hướng

Ngay sau đó con ra khỏi bóng râm và lạy dưới ánh nắng. Và con đã nhìn thấu vào cái tâm ích kỷ, sợ sệt này, cái tâm mà bấy lâu nay con đã hằng sống với nó. Khi con cầu lợi từ người khác, khi con mong họ chấp thuận, đó là lúc con không thể có lòng từ. Khi con chấp ngã và làm người khác sợ, đó là lúc con không thể có lòng từ. Mong cầu sự chấp thuận và sợ đau khổ là nguyên nhân của khổ đau. Chính tâm con đã tạo ra tất cả. Sự sợ hãi chính là độc tố và nỗi đau, không phải đối tượng gây sợ hãi đã gây ra nỗi đau. Hãy từ bỏ sự phóng chiếu thói quen sợ hãi, ngừng mong cầu tự ngã, hãy hồi quang và hạnh phúc sẽ ngập tràn thế gian.  

Nương tựa lời Thầy, con thêm sức mạnh

Sức mạnh tiếp dũng khí để tu hành

Dũng khí giúp con cởi bỏ sợ hãi

Không còn sợ hãi, an vui tự đến. 

Ngày hôm đó con nghỉ ngơi trong tâm hoan hỷ. Con cảm thấy luồng hắc khí tan biến khỏi cơ thể. Lòng từ bi đến thật tự nhiên khi thực hành bố thí. Càng xả thí, tâm từ bi càng tăng trưởng; càng từ bi, tâm càng hoan hỷ. Giữ tâm hoan hỷ là chuyện dễ làm khi chúng ta bố thí khiến người an vui. Với thiện niệm, ta luôn hạnh phúc và mong chia sẻ để người khác cũng được hạnh phúc. Như vậy làm đầy tràn lại nguồn hạnh phúc nguyên thủy mà không bao giờ vơi cạn.  

Bố thí pháp là bố thí tối thượng và nhận được trở lại hạnh phúc tối thượng.  

Xuất gia tu đạo là từ bi tối thượng vì khiến một người có thể bố thí Pháp không ngừng nghỉ.  

Khi bái lạy trên con đường đầy đá, con nhận thức được việc thực hành Phật Pháp tốt đẹp thâm sâu biết bao. Niệm danh hiệu Phật là đại từ và đại thiện. Khi bái lạy, chúng con niệm danh hiệu Kinh Hoa Nghiêm và Hoa Nghiêm Hội Thượng Phật Bồ-tát. Mỗi một lần lạy, chúng con niệm chữ “Phật” hai lần và “Bồ-tát” một lần. Chỉ riêng việc đơn giản này là một hành vi hạnh phúc, là một cách bố thí cho người khác. Đó là một thiện hạnh. Nó đủ để làm thế gian và trái tim (không phân biệt) tràn đầy ánh sáng, hoan hỷ và an lạc. Tất cả hạnh phúc đều bắt đầu bằng bố thí, bỏ đi cái tôi, quán sát giải thoát. Thật tốt đẹp biết bao khi biết đủ và không mong cầu, không còn bị trói buộc bởi phiền não do chúng ta tạo nên chỉ vì Bản Ngã.  

Đạt vô cầu xứ tiện vô ưu. (Đạt đến chỗ “không mong cầu” tất hết lo)  

Hãy biết đủ, buông bỏ phiền não, lòng nghi và sợ hãi.  

Tri túc thường lạc,

Năng nhẫn tự an  

(Biết đủ, luôn vui.

Nhẫn được, tất yên) 

Đánh tan mọi ý niệm về Ngã. Dừng khởi niệm và sanh tâm hoan hỷ. Sau đó rải tâm từ và ban vui cho người. Bằng cách nào đây? Bố thí Phật pháp bằng cách tu tập.  

Bồ tát nguyện rằng tất cả chúng sanh sẽ thành tựu nói lên Phật đạo đi đến Bồ Đề, và luôn hoan hỷ bố thí tối thượng Pháp.

Kinh Hoa Nghiêm - Phm Thp Hi Hướng  

Sáng hôm đó, gia đình một đạo hữu đến tham gia lễ lạy và “hiện thân thuyết Pháp.” Người qua đường nhìn bảy đệ tử Phật lễ lạy trên xa lộ, tu tập con đường Bồ đề với tâm hoan hỷ.  

Bồ tát tu hạnh bố thí , khiến cho tất cả chúng sanh đều hoan hỉ.

Kinh Hoa Nghiêm

 

Tu hành xả thí

Xả sinh hỷ

Hỷ sinh từ bi và xả

Từ bi khiến tu hành

 

Trạng thái này có tồn tại không? Không. Đó là một cảnh giới, mà cảnh giới thì do tâm tạo, chúng thay đổi như thời tiết vậy. Đó là lẽ tự nhiên. Con không mong cầu mà tự nó đến. Con không bám chấp mà tự nó đi. Phải nói rằng trong suốt 29 năm sống trên đời này, đây là niềm hạnh phúc lớn nhất mà con có được. Chừng nào chưa hoàn toàn buông bỏ được tự ngã, con vẫn sẽ bị chuyển và trôi trong dòng chấp trước và khởi vọng tưởng. Khi thì hoan hỷ, khi thì phiền não. Con không muốn thế này và cũng không muốn thứ khác đi. Con chỉ muốn nhất tâm tu Đạo và thật sự học bố thí. Con muốn hợp nhất trí tuệ của mình với trí tuệ của Kinh.

 

Bồ tát trong mỗi niệm đều tăng trưởng viên mãn hạnh bố thí.

Kinh Hoa Nghiêm

 

Đệ tử của Phật,

Quả Chân (Hằng Thật)

Cung kính đảnh lễ

 

 

B Đ đo tràng nơi hoang

Tháng Tư, 1979

Gần bờ biển Stison , California

Kính thưa Sư Phụ,

Tâm nguyện chúng con lại thêm sâu mỗi ngày. Mỗi lần chúng con đương đầu với ma chướng là một lần mạnh hơn và hoan hỷ hơn trong Đạo. Cả ngày hôm qua, con đã vật lộn với “con quỷ hoài nghi”. Con quỷ này không đến từ bên ngoài mà lại chính là vọng tưởng của con. Con nương nhờ nguyện lực và trí tuệ của Sư Phụ để hàng phục nó. Hôm nay thấy vạn vật dường như đổi khác. Thế gian chẳng đổi, mà chính là tâm con thay đổi.

Sức nặng và bụi bẩn của tất cả sự hoài nghi, của vọng tưởng đều được nhấc bổng lên giống như những đám mây đen sau cơn bão miền duyên hải. Thứ con nhìn thấy rất đơn giản. Trong muôn dặm, vạn vật đều sáng trong, vắng lặng. Là tu sĩ đã được 2 năm rồi nhưng tu viện duy nhất nơi con sống chính là tâm con.  

Tại Hồng Kông, Sư phụ đã nói “Trực tâm là đạo tràng” khi cùng mọi người leo lên ngọn đồi dốc để lên thăm một đạo tràng giản dị, Tây Lạc Viên. Câu nói đó luôn ở trong con. Hôm nay con thấy mình quay về đó giống như trở về nhà vậy. Tây Lạc Viên để lại nhiều ấn tượng. Rừng thô, đá gồ ghề, tĩnh lặng, ánh nắng chiếu rọi qua cây và xuyên qua những khung cửa. Ở đây không có gì dư thừa mà cũng không có gì được trang trí cả. Nó giống như một nơi chốn giản dị trong miền hoang vắng chỉ với mục đích che mưa nắng và để ngộ Đạo bên trong.

Tu viện của con, tâm con, nên tự nhiên không tô điểm và đơn giản như thế. Cái gì thực sự quan trọng? Việc của con là làm một con người thật sự, buông bỏ tất cả những vỏ bọc ganh tị, kiêu căng, keo kiệt và phiền não. Việc thiện nhất mà con có thể làm ngay lúc này là dọn dẹp đạo tràng của mình và thực sự thanh lọc tâm ý. Bỏ lại phía sau mọi vọng tưởng và "vô tâm dụng Đạo” Không nghĩ tưởng về quá khứ, hiện tại hay vị lai. Không tướng ngã, nhân, chúng sanh, thọ mạng. Con nên tu hành tinh tấn, sống giản dị, gần gũi với thiên nhiên và không gây phiền toái chướng ngại cho người. Chỉ cần “thanh tịnh, hỷ lạc”, đó chính là lời Phật dạy. “Tránh làm điều ác. Làm các điều lành. Thanh tịnh tâm ý. Theo lời Phật dạy.”  

Con cảm thấy như mình đang bắt đầu từ đầu: xây dựng một đạo tràng thanh tịnh nơi hoang dã. Cố gắng từng bước trở nên chân thật trong cái chân thật. Trong mỗi một niệm chế phục tham, sân, si, và trở về với đạo lý. Quét tất cả tướng, liệng bỏ tất cả các pháp. “Luôn luôn phải lau chùi, chớ để dính bụi nhơ” .  

Công việc nền tảng là nhất tâm bái lạy. Bái lạy san bằng lâu đài mạ vàng mà con tự giam mình trong đó. Sống gần thiên nhiên là giữ tịnh giới và bảo vệ tâm tránh khỏi các sai lầm. Thật rõ ràng rằng không có gì ở ngoài cả; tất cả đều do tâm tạo.

Nếu người muốn rõ biết

Tất cả Phật ba đời

Phải quán pháp-giới-tánh

Tất cả duy tâm tạo.

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Dạ Ma Cung Kệ Tán 

 

Chúng con đã đọc vài dòng Kinh Hoa Nghiêm vào đêm trước đó, những câu kinh ấy thực sự đi vào tâm con. Con nghĩ “Điều này thật hay và thật đúng. Mình nên như vậy. Nhưng mình không như vậy. Nên bắt đầu từ đâu?” Ngày hôm sau con nhìn thấy điều này và nhận ra rằng tất cả chư Phật quá khứ, hiện tại, vị lai đều chỉ do tâm tạo. Con nên bắt đầu ngay từ nơi con: thanh tịnh giác địa của chính mình, sửa lại tâm chính mình. Đây chính là Đạo tràng chứ không phải nơi nào khác.

Đây là những câu kệ chúng con đọc từ Kinh Hoa Nghiêm:  

Bồ tát đầy đủ bình đẳng của Chư Phật quá khứ,

thành tựu bình đẳng của Chư Phật vị lai,

an trụ bình đẳng của Chư Phật hiện tại;

đi nơi cảnh giới của Chư Phật quá khứ,

trụ nơi cảnh giới của Chư Phật vị lai,

đồng với cảnh giới của Chư Phật hiện tại;

được thiện căn của tam thế Chư Phật,

đủ chủng tánh của tam thế Chư Phật,

trụ nơi công hạnh của tam thế Chư Phật,

thuận với cảnh giới của tam thế Chư Phật.

Kinh Hoa Nghiêm

Phẩm Thập Hồi Hướng

 

An lạc trong Đạo,

Đệ tử Quả Đình (Hằng Triều)

Cung kính đảnh lễ

 

Tái bút: Tháng trước, khi Sư phụ tới thăm chúng con, Ngài nói: “Ngày mai là ngày vía Quán Âm. Chúng ta sẽ có Thất Quán Âm. Tối nay chúng ta sẽ sái tịnh đạo tràng ( Sư phụ mỉm cười). Các con có khởi niệm tham, muốn được về Vạn Phật Thành tham gia phải không? Nhưng đừng lo, đối với hai con đang đi Ba Bước Một Lạy, mỗi ngày đều là ngày có Thất Quán Âm, và mỗi ngày các con đều ở Vạn Phật Thánh Thành."

Trực tâm là Vạn Phật Thánh Thành. Khi tâm ngay thẳng thì cho dù đang ở đâu cũng vẫn là ở Thánh Thành. Khi tâm không thẳng thì cho dù có ở Vạn Phật Thành cũng sẽ trở thành Bệnh viện cũ của tiểu bang mà thôi.  

Bồ-tát do người mà thành

Phật là do người tu tập

Trực tâm là đạo tràng, có hành mới hiểu;

Trực tâm là Phật Thành, các đức Phật được làm bằng tay.*

 

Ghi chú:

(*) Tâm ngay thẳng là cõi Phật, chư Phật do thực hành mà thành. Còn ngụ ý Vạn Phật Thánh Thành là nơi tu hành trực tâm, các tượng Phật nhỏ (hơn 10 ngàn tượng trong Vạn Phật Điện tại Vạn Phật Thánh Thành) đều do chính tay Hòa Thượng đúc tạo nên.

 

 

NHẤT THIẾT DUY TÂM TẠO  

Tháng Tư, 1979

Gần Pt. Reyes, Bờ biển quốc gia

 

Kính thưa Sư Phụ,

Bồ tát dắt các chúng sanh đi qua đường hiểm sanh tử, đến thành Nhứt thiết chủng trí một cách an toàn. Vì lẽ trên đây nên Bồ Tát phải thường siêng tu.

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Địa 

Con ăn, ngủ và đắp y mỗi ngày. Con không hề giải đãi về những công việc này chút nào. Tại sao con ăn, ngủ và mặc? Là để có thể tu hành, chứ không phải để ngày mai lại ăn, ngủ và mặc. Con nỗ lực là để tu hành. Con nên dũng mãnh và khẩn trương, tự giải thoát để có thể dẫn dắt chúng sanh “vượt qua sự hiểm nghèo của sinh tử”

Đêm qua, con tự nhủ: “Hiện ngươi đang đi trên con đường vô thượng, vậy mà ngươi vẫn chùn bước và tự dối lừa. Những lời dạy của Sư Phụ chính là những lời vàng ngọc, ngàn kiếp khó gặp, thế nhưng ngươi lại không thật trân quý. Hãy vượt qua và phát tâm chân chánh để chấm dứt mọi khổ đau cho tất cả mọi chúng sanh. Đừng có giải đãi! Hãy bắt đầu bằng việc lễ lạy và hành thiền”.

Vị Thiện Tri Thức bên trong chỉ dạy: “Đừng khởi vọng tưởng. Thứ gì con cho rằng không thể buông thì hãy buông hết ra. Tịnh hóa tâm ý, tâm này. Tất cả có ở trong tâm con chứ không phải bên ngoài. Vắng bặt vọng tưởng và tham độc chính là giác ngộ. Chú tâm đến cực điểm trong khi đi, đứng, nằm, ngồi. Nhất tâm chăm chú, vượt sang bờ bên kia”. Những lời dạy đơn giản thường chứa đựng chân lý thâm thúy nhất.

Đêm qua, trong khi thiền định, con đã đấu tranh với cái đau đớn và tâm bực dọc nhu nhược của mình, nó luôn muốn từ bỏ để làm việc khác. Thật bất ngờ, câu kệ trong Kinh Hoa nghiêm hiện lên:

Lòng chẳng vọng chấp pháp quá khứ

Cũng chẳng tham lấy pháp vị lai

Chẳng thấy hiện tại có pháp trụ

Rõ thấu tam thế đều trống lặng  

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Hồi Hướng  

Tất cả vọng tưởng của con bén sâu trong ba thời. Nếu con nhất tâm thì không có thời cũng không có không (vô) thời. Chỉ là không có gì cả. Tất cả đều “hoàn toàn vắng lặng”. Con động viên mình “Trong việc bái lạy và thiền định, từ giờ trở đi, mi phải thấy như vậy. Chỉ cần “vô niệm/tâm”. Không lo lắng, sợ hãi. Đừng để bị lôi cuốn quá. Hãy buông xả mọi hoài nghi và vọng tưởng.” Thế còn tham chấp thì sao? Con nghĩ những điều con thích và những điều con sợ, những thứ con muốn và những thứ con không muốn. Thứ này, thứ kia, tất cả mọi thứ. Những thứ trong quá khứ con mong có, những thứ con giữ chặt trong hiện tại, và những thứ sẽ đến ở vị lai. Con thầm nghĩ “ngươi định buông bỏ tất cả những thứ trói tâm mình ra sao đây?” Thế rồi, cũng giống như lần trước, Kinh Hoa Nghiêm hiện ra từ nơi trống rỗng của tâm con, với một đoạn mới được phiên dịch. 

Nếu Bồ tát có thể không hệ phược với các pháp, thời đối với các pháp cũng không giải thoát. Bởi vì không có chút pháp nào là hiện sanh, đã sanh, sẽ sanh. Không có pháp nào có thể lấy, có thể chấp.Tất cả các pháp : tự tướng nó là như vậy.

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Hồi Hướng

Bùm! Có gì rõ ràng hơn thế? Trong hai đoạn kinh văn này là tất cả những gì con cần để làm lắng xuống cái tâm rong ruổi đầy lo lắng của mình. Không lý do gì để con có thể tiếp tục những việc như trước đây: tu hành một chút thì vọng tưởng một chút; tu hành bao nhiêu thì chấp bấy nhiêu. Không hiểu sao, đêm qua, Kinh Hoa Nghiêm đã mở ra một cánh cửa trong tâm con. Trí tuệ của kinh tiếp cho con động lực cần thiết để con được “chín chắn”. Chỉ còn lại sự thực hành duy trì liên tục “tâm thanh khiết, tiếp tục, tiếp tục”. Nếu cuối cùng con không làm cho mọi hoài nghi và những huyên thuyên ngu ngốc của tâm ngừng nghỉ thì ai sẽ làm đây? Bên ngoài không có nơi nào để dựa dẫm, bên trong không có nơi nào để che giấu. Giờ con đã biết rõ rằng vọng tưởng của mình không ổn, những thứ con chấp không phải là thật. Hầu như trong hai năm và chỉ đến giờ con mới thực sự sẵn sàng để bắt đầu nhất tâm bái lạy Vạn Phật Thành.

Tiết trời đang vào xuân. Toàn thể thế gian đang thuyết pháp. Kinh Hoa Nghiêm khắp nơi nơi và mọi thứ đều thuyết giảng “nhất thiết duy tâm tạo, nhất thiết duy tâm tạo”.

 

Tri ân và hoan hỷ trong Đạo.

Đệ tử Quả Đình (Hằng Triều)

Cung kính đảnh lễ

 

 

Bồ Tát Đạo là nhà

Tháng Tư, 1979

Gần Pt. Reyes, California  

Kính thưa Sư Phụ,

Có người nói: “Đi làm đi! Thật uổng phí tài năng làm sao”. Có người lại nói: “Đúng, nhưng tại sao các ông lại từ bỏ những thứ tốt đẹp trên đời? Các ông có thể sống thật thoải mái… một công việc tốt và mọi thứ”.  

Tại sao chúng con không “thành đạt”? Khi con đang học đại học, số sinh viên còn nhiều hơn số việc cần tuyển. Ai nấy đều căng thẳng, hồi hộp và lo lắng, cạnh tranh khốc liệt đến mức giở trò gian lận và thần kinh suy nhược vì quá lo lắng. Quả thật, đã có nhiều người có thể nói là bị “bệnh lo”.  

Tình trạng này không chỉ xảy ra trong lãnh vực dạy học mà toàn bộ thị trường công việc đều thừa thãi người và rất khó để có được một vị trí tốt đẹp. Các bạn học của con, nhiều người đã kết hôn và phải chăm lo cho gia đình. Xoay sở để sống qua ngày không phải là chuyện đơn giản.  

Con cũng thấy có nhiều công việc được trả lương cao thì lại đòi hỏi rất nhiều thỏa hiệp. Sự thẳng thắn và tự do cá nhân dường như bị xếp sau để không gây xáo trộn và giữ được chỗ đứng tốt, do đó càng khiến người ta thêm lo lắng và bối rối. Họ lo không có được một công việc tốt, còn khi có việc rồi thì lại lo mất việc.  

Con đã tìm những công việc mà không mấy người muốn làm. Phần vì con cảm thấy sẽ bớt đi một người phải lo lắng chuyện kiếm việc hay mất việc, cũng như trợ cấp hay học bổng, cảm thấy như vậy là thành thật và không phải là việc gì to tát. Nó làm giảm đi phần nào sự dằn vặt của người khác và con thích sống một cuộc sống thảnh thơi. Cuộc sống đó cho con nhiều thời gian để nghiên cứu những thứ như yoga, thái cực quyền, đi bộ đường dài (hiking) và thiền định. Những thứ trên tuy không trang trải được mọi thứ nhưng thực sự rất hay.  

Khi bắt đầu giảng dạy, con thấy học sinh phải chịu rất nhiều áp lực và không hoàn toàn chắc chắn về cuộc đời mình. Họ có những câu hỏi: “Ta là ai, ta sẽ đi về đâu, thế giới này có quá nhiều bất công và cảnh bần cùng, ta sẽ làm gì đây?” Cái mà con cần dạy không giải quyết được nhu cầu thực tế của họ. Nó không phù hợp với thực tế. Họ học vì điểm, còn con dạy vì tiền lương. Làm sao cái thứ khiến cho các đồng nghiệp của con quá lo lắng và chẳng giúp ích gì cho các học sinh của con, lại đáng theo đuổi như một nghề nghiệp chỉ để kiếm được 15.000-20.000 đô một năm (1) ?  

Các bạn sinh viên nhận được hàng trăm lá thư từ chối trên toàn quốc, và ghim chúng trên những cánh cửa văn phòng của họ. Trong các kỳ thi tiến sĩ, anh chàng ngay sát con trong phòng thi hoang mang đến mức đờ người ra. Anh ta chỉ nhìn chằm chằm vào bức tường suốt 8 giờ đồng hồ. Đây là cơ hội cuối cùng để thi đậu, nếu không, anh ta sẽ bị đuổi và mất học bổng đi châu Âu. Anh ta chỉ không chịu nổi áp lực. Khi con chia sẻ cảm tưởng với một vị giáo sư thâm niên trong phân khoa, ông nói một cách thẳng thắn rằng: “Thế nên tôi mới chọn lãnh vực này… anh có thể tránh được những việc này”. Mọi thứ đều như không đúng nữa sau đó.  

Bất cứ khi nào con cố giành được một công việc tốt hoặc một vị trí có tiếng tăm là con lại thấy nặng nề và không thành thật. Trong tâm con, con biết mình đang phan duyên, đang gian lận và đang quay lưng lại với lương tâm mình. Khi đó, chính phủ và các doanh nghiệp đầy dẫy nạn tham nhũng và các vụ bê bối. Gần như bất kỳ một công việc tốt nào cũng đều lôi kéo mình đến thứ tà khí này và càng gây thêm khổ đau cho thế gian. Đạo của thế gian là: “Anh mất thì tôi được, ai cũng vì bản thân mình cả”. Con không thể tham gia khi biết như vậy, và cũng không thể buông bỏ nó. Tại sao? Vì con muốn mình là số một ở tất cả mọi thứ. Ham muốn trở thành nhất, thành số một khiến tâm con không còn chân thật nữa và buộc con vào những nút thắt trong một thời gian dài.  

Ngay cả những công việc nhỏ cũng đòi hỏi phải “chịu nhục” (eating crow) (mà có lần thầy giáo con gọi là rút lại các nguyên tắc đạo đức của bạn để sống được trên đời). Cuối cùng, con làm công việc trực ca đêm tại khoa tâm thần của bệnh viện vì không thể chấp nhận những phương pháp điều trị sốc điện, thuốc phẫu thuật thùy não và vờ như không biết mình đang làm gì. “Chịu nhục” là sự thua thiệt của mỗi người. Không ai sống đơn độc một mình như một hòn đảo trơ trọi.  

Con không còn đủ can đảm hay ảo tưởng để tiếp tục. Con đứng giữa ranh giới của sự cố gắng “tồn tại” và làm những việc phải đạo. Chỉ đến khi tới Kim Sơn Tự (Gold Mountain Monastery), con mới bỏ được cái ranh giới đó và giữ vững lập trường. Bồ Tát Đạo là nhà.  

[Bồ-tát] có thể tự độ và khiến người được độ, tự giải thoát và khiến người giải thoát, tự điều phục và khiến người điều phục, tự được tịch tịnh và khiến người tịch tịnh, tự an ổn và khiến người an ổn, tự ly cấu và khiến người ly cấu, tự thanh tịnh và khiến người thanh tịnh, tự Niết-bàn và khiến người Niết-bàn, tự an lạc và khiến người an lạc.  

Phật tử, Bồ-Tát này lại tự nghĩ rằng : “Tôi phải tùy thuận tất cả Như Lai, rời tất cả hành vi thế gian, trọn nên tất cả Phật pháp, trụ nơi vô thượng bình đẳng, xem chúng sanh bình đẳng, rõ suốt cảnh giới lìa lỗi, dứt phân biệt, bỏ chấp trước, khéo xuất ly, tâm luôn an trụ nơi thậm thâm trí huệ vô thượng, vô thuyết, vô y, vô động, vô lượng, vô biên, vô tận, vô sắc.”

Phật tử, đây gọi là Đại Bồ-tát Nhiêu Ích Hạnh thứ hai.

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Hạnh  

Giờ đây, chúng con có một “công việc tốt”, được gọi là “hạnh nhiêu ích”. Cố gắng trở thành số 1 thật vô ích. Ích kỷ làm tổn phước và hao mòn bảo vật bên trong. Truy cầu tự lợi khiến cho toàn thế giới xấu thêm. Chúng ta làm việc cho đức Phật. Đó là công việc tốt nhất ở bất kỳ cõi nào. Bồ tát bố thí (cho tất cả chúng sanh) bằng việc làm Phật sự (Kinh Hoa Nghiêm).

 

Đệ tử Quả Đình (Hằng Triều)

Cung kính đảnh lễ

 

* * *

Tái bút: Chúng con đang ở khu vực để xe của một hiệu giặt tự động. Trong lúc con kết thúc bức thư này, có hai người đàn ông nhìn vào trong xe chúng con. Một người ngó quyển Kinh Hoa Nghiêm đặt trên lòng con và hỏi: “Đang đọc cái gì thế, anh bạn?” Ông ta lắc đầu nói: “Tìm việc mà làm đi chứ!”. Con đang tìm đoạn trích này:  

Không làm dơ nhà Phật

Không lìa giới Bồ Tát

Không vui việc thế gian

Luôn lợi ích thế gian  

Con nghĩ: “Chúng tôi có việc làm rồi. Đó là ‘không ưa thích việc thế gian’ ”.

 

* * *

Kính thưa Sư Phụ,

Người đã nói bài kệ này lúc ở Pacifica :

Lời lẽ chủ hư dối

Là khôn khéo ngụy biện

Bảo quý tinh khí thần

Là nhân thành Phật đạo

Trong mộng tắt lời, tâm dừng niệm

Tỉnh ra một chữ vốn hoàn không.  

Tên con là Quả Chân, Kết quả của sự Chân thật, bởi vì con đã từng là một kẻ dối trá. Khẩu nghiệp của con rất nặng. Chỉ sau khi thực tập “hồi quang phản chiếu”, “phản cầu chư kỷ” thì con mới nhận ra được tập khí bất thiện của mình về nói lời hư vọng sâu dày đến thế nào. Nó thấm vào tận xương tủy con.  

Bồ-tát này thành tựu lời chắc thật đệ nhất... được lời vô nhị của tam thế chư Phật.

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Hạnh  

Hai tuần qua, con đã viết nửa tá bức thư ngắn cho thầy Hằng Triều nhưng cái nào cũng bị hiểu sai, cũng mang lại kết quả không mong muốn và cần phải viết thêm để làm rõ nghĩa.  

Con nhận ra rằng vị hộ pháp của con không tin những gì con nói! Đây là nghiệp nói dối của con. Con phát nguyện dừng viết hẳn, áp dụng đạo lý “vốn không có ngôn từ”.  

Sau đó, việc tiếp tục hồi quang giúp con hiểu nhiều hơn. Câu trả lời không phải là cắt đứt lưỡi mà là cắt lìa cái ngã và thói quen nói dối để bảo vệ nó.  

Con hỏi: “Bạch Sư phụ, tại sao người ta nói dối?”  

Sư Phụ đáp: “Bởi vì người đó muốn che đậy cái xấu của bản thân. Người đó chỉ muốn người khác thấy những điểm tốt của mình nên mới nói dối để giấu tội. Con không nghĩ vậy sao?”  

Con hiểu ra câu trả lời chính là không tự [mình] lừa dối mình. Con cũng đâu có tin những gì con nói. Tâm con không thật thà.  

“Lời lẽ chủ hư dối

Là khôn khéo ngụy biện”  

Cả ngày, con làm gì cũng là vì tự lợi bằng cách né tránh những đạo lý chân thực. Ngôn từ lởn vởn trong đầu óc con mà không có chút thật tâm. Con không ngừng bào chữa cho mình và cho phép mình có hành vi lừa dối mà không hổ thẹn. Con không giữ mình theo những đạo lý mà con biết là chân chánh. Những gì con viết dường như vô nghĩa. Chúng đến và đi như gió ở Bolinas Lagoon, cạnh nơi chúng con đang lạy.  

Phương pháp để thanh tịnh nghiệp nói dối là bản thân phải trung thực, chọn đạo lý và coi trọng đạo lý ấy hơn sự ích kỷ và lòng tham danh lợi. Làm theo đạo lý và không khoan thứ cho sự chệch hướng dù là nhỏ nhất. Không tha thứ cho những tư tưởng ích kỷ. Bố thí thiện hạnh để cúng dường chư Phật và hồi hướng công đức tới chúng sanh khắp mọi nơi. Để cho cái tôi dơ bẩn và tập khí bất thiện trở về hư không, nơi mà từ đó chúng đến.  

Không ngạc nhiên khi Tự Ngã vẫn đang điều khiển cuộc đời con; con không có chút đức hạnh để có thể chuyển hóa nó. Con không có chút “nội lực” của đức hạnh để chuyển hóa tự tánh chúng sanh theo cái tốt.  

Khi lòng tin vào chân tánh của con là vô nhị thì người ta sẽ tin lời con nói. Làm thế nào để đạt được điều đó? “Bảo quý năng lực của mình thì con có thể thành Phật. Vẫn còn mơ? Hãy tịnh khẩu và dừng vọng tưởng…” Nói một cách khác, hãy tu hành! Đừng cố gắng giải quyết bằng ngôn từ. Chính ngôn từ là bệnh. Thay vào đó, tập trung vào kho báu thực sự, phương tiện thực hành vô ngôn: kiếm kim cang, phương pháp lễ lạy, Pháp Luân thanh tịnh thường chuyển. Hồi quang phản chiếu, niệm niệm luôn sám hối. Luôn tin tưởng rằng dương khí mạnh mẽ của Pháp có thể chuyển hóa cái lưỡi gian dối của con thành “lời vô nhị của tam thế chư Phật” (Kinh Hoa Nghiêm – Phẩm Thập Hạnh).  

Và nhớ rằng tu hành là việc gieo trồng những hạt giống trí huệ tự nhiên, khỏe mạnh, mới mẻ vào nơi có những tập khí hủ bại ngày xưa. Bằng tâm từ, hãy dẫn dắt nó phát triển một cách nhẹ nhàng, đừng phá hoại nó. Hãy dùng trí huệ. Hãy để nó co giãn một cách tự nhiên như trái tim, như thủy triều vậy. Gượng ép sẽ làm hỏng, sẽ ngăn chặn Pháp.  

Dầu chẳng y tựa đường ngôn ngữ

Cũng lại chẳng chấp không ngôn thuyết

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Hồi Hướng

 

Ghi chú:

(1) Tương đuơng 55.000 - 65.000 USD ngày nay (2010).

 

 

“Vật bay” xâm nhập Trái đất

Ngày 2 tháng Một, 1979

Phía nam vịnh Bán Nguyệt ( Half Moon Bay)

Kính thưa Sư Phụ,

Giấc mơ tháng trước đã thực sự thúc giục con phải tinh tấn hơn nữa. Trong mơ con thấy: Nó lặng lẽ lướt đến từ không gian bên ngoài, đi qua những dải thiên hà và chỉ trong tích tắc đến được những quãng đường vô tận. Nó khổng lồ, đen và là một thứ hoàn toàn xấu ác. Bị thu hút bởi một đám sương khói bẩn thỉu màu hổ phách, nó đang tiến đến dải thiên hà của chúng ta. Đám sương khói kia là một thứ tà khí có màu, mùi, có kết cấu đang tràn ngập cả vũ trụ của chúng ta. “Vật bay” bị nó hút giống như con ong tìm mật vậy.  

Ai cũng tưởng đám sương khói này đẹp như khi ngắm mặt trời lặn đầy màu sắc qua những tầng không khí bị ô nhiễm. Chẳng ai chú ý đến vật bay kia khi nó lặng lẽ tiến vào dải thiên hà của chúng ta, rồi vào Thái dương hệ, và cuối cùng là Trái đất. Trái đất là trung tâm của thứ tà khí thu hút vật bay kia. Vật bay là một thứ xấu xa, đặc, cứng như kim cương và là sự phá hoại. Nó không hề có một chút gì thiện lành cả.  

Nó lượn quanh mặt trăng. Sư phụ có thể nhìn thấy dấu chân của các phi hành gia trên bề mặt của mặt trăng. Họ đang nhảy nhót và chơi đùa như những đứa trẻ đang đào cát trong hộp cát (sandbox). Họ chẳng lúc nào để ý đến vật bay kia. Nó có thể biến hình từ kích thước của dải Ngân hà cho đến kích thước một hạt nguyên tử nhanh hơn cả một niệm.  

Trên cùng của cầu thang, có một người ging như giáo-sư-đãng-trí sống ở một nơi nguy nga và tuyệt vời. Con hỏi đó là ai thì người ta nói “Ồ, đó là Thượng đế, là Chúa Cha”. Con vô cùng kinh ngạc và nghĩ thầm “Mình sẽ quay trở lại công việc để chống lại vật bay kia”. Sức mạnh của nó vượt xa cả tầm ảnh hưởng của Thượng đế. Ngài đang dự tiệc và như một đứa trẻ vô tư lự, đang chờ đợi niềm vui bất ngờ tiếp theo. Ngài chỉ biết đến vui sướng mà thôi.  

Trong một ngôi đền nghĩa trang đầy âm khí kỳ lạ, các tín đồ mặc những tấm áo choàng Hy Lạp - La Mã dài, trắng, tham gia vào các nghi thức kỳ lạ về cái chết và người chết. Nó giống như một nghĩa trang Forest Lawn tà giáo. Họ đang đổ dầu và rượu lên một xác chết, cười đùa như ở nhà. Vật bay vẫn ở đó, điềm nhiên, không một chút xúc cảm.

Một đài phát thanh ở một thành phố lớn: trông bề ngoài thì có vẻ đang phát sóng nhưng bên trong chính là đầu não của vật bay kia. Nó có lẽ hướng dẫn vật bay đi vào với những chương trình phát thanh của nó.  

Một “nhà chính trị gia của công chúng” tao nhã, trẻ tuổi, chưa lập gia đình đang ở đài phát thanh. Đó là trụ sở vận động bầu cử của anh ta. Những người phụ tá phấn khởi nói với anh ta rằng có một cuộc cách mạng lớn đang diễn ra tại các trường trung học. Đài đang phát thanh tường thuật các trường học bị giành quyền kiểm soát và kích động bạo lực: “Trường Trung học Orange đã bị chiếm... Trường Trung học Glendale đã bị lấy... Phía đông của...” Nhà chính trị gia này là một người lạnh lùng và đầy tính toán. Anh ta sẽ dựa vào cuộc cách mạng để đi đến quyền lực chính trị. Đang xảy ra một trận tắm máu - trẻ em đang sát hại cha mẹ và thầy cô của chúng.  

Mọi người đang bị mê cuồng nặng, như bị bùa ám vậy. Con tim và tâm trí của họ đã bị tê liệt và vượt ra ngoài tầm lý luận hay lòng thương xót. Trên một phi trường, tất cả đều đã sẵn sàng vì có một chiếc phản lực 707 với một chiếc hoả tiễn đáng sợ được gắn ở mũi máy bay. Không gì có thể chặn được hoả tiễn này. Nó có thể xuyên thủng bất cứ thứ gì và bắn đi bất kỳ nơi đâu. Hoả tiễn này giống như một mảnh bạc và nó có thể giết một người bằng cách đâm vào mắt, nó cũng có thể xóa sạch một đất nước. Có rất nhiều hoả tiễn như vậy.  

Tăng đoàn đang làm việc cả ngày lẫn đêm theo từng nhóm. Họ không bị mê cuồng và họ có thể thấy được tà khí của vật bay kia ở tất cả các hình dạng của nó. Chúng con đến mọi nơi, chiến đấu với nó và gieo trồng những hạt giống thiện, vô hiệu hóa độc tố. Phương pháp của chúng con là Chú Đại Bi và các Chú khác. Chú Đại Bi tụng ở nơi nào thì nơi đó xuất hiện một vòng hào quang rực rỡ và thanh tịnh. Vòng hào quang rất sáng và chân chánh, giống như màu sắc trên bờ biển khi mặt trời ló rạng sau cơn mưa. Màu của đám sương-khói-và-vật bay là màu hổ phách đặc của một bức ảnh cũ kỹ, một căn gác ngột ngạt không có cửa sổ.  

Tôi sẽ làm ánh sáng cho tất cả chúng sanh, khiến họ được trí quang diệt si ám; tôi sẽ làm ngọn đuốc cho tất cả chúng sanh để phá tất cả tối vô minh cho họ; tôi sẽ là đèn cho tất cả chúng sanh khiến họ an trụ nơi rốt ráo thanh tịnh.

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Hồi Hướng

Tăng đoàn là ánh sáng tinh khiết, đi đến mọi nơi và không sợ điều gì. Chúng con bảo mọi người chỉ cần thành tâm trì chú và “minh tâm kiến tánh”. Thần chú giúp được tất cả một cách vô hình. Rất nhiều người nhận được cảm ứng của chú Đại Bi. “Minh tâm” - lời này được khắc sâu bên trong và xuyên thủng đám sương khói kia. Bất cứ nơi nào Chú được tụng lên thì một thứ thiện lực trong sạch xuyên thủng màn u ám. Những ai thấy được đều hồi thiện.  

Chúng con di chuyển bằng xe đạp, xe gắn máy hoặc đi bộ, nói với những người bạn của chúng con và cả với những người có nhân duyên. Nhưng vật bay kia rất to lớn và những nỗ lực của chúng con dường như chỉ là cố gắng ngăn chặn một cơn bão bằng một sợi lông mi. Thế nhưng sức mạnh của Chú là vô thượng và không thể bị phá hủy.

Một người thợ điện đã phối hợp với chúng con và có thể đi qua vài đường dây trong một tấm bảng phía trong của đài phát thanh. Đài này trông có vẻ giống như một công ty dịch vụ công cộng bình thường, nhưng với sự khéo léo của người thợ điện, chúng con đã có thể thấy phía trong là vật bay kia, những nghi lễ tà về cái chết, nhà chính trị gia và một làn sóng của cái ác được phát thanh liên tục.  

Ai cũng biết vật bay kia. Nhưng họ thấy nó là một thứ tốt lành. Họ bị mù quáng không thấy được bản chất thực sự của nó vì còn đang mải đắm chìm trong làn sương khói. Họ nói: "Ồ, thật hấp dẫn - giống như truyện khoa học viễn tưởng vậy!” Họ đang hợp nhất tâm trí của mình với nó cũng giống như giáo phái nhà xác vậy. Mặc dù vật bay đang ăn tươi nuốt sống và khuấy đảo cuộc đời họ nhưng họ bị thôi miên và cảm thấy hưng phấn với điều đó. Không ai có thể phân biệt phải trái, đúng sai - họ không còn có “đôi mắt chân chánh” nữa. Sự mù quáng tập hợp đó thật ớn lạnh và khủng khiếp.  

Vật bay, phản lực-hỏa tiễn, đài phát thanh, cuộc cách mạng trong trường học, những tôn giáo kỳ lạ và nhà chính trị khôn khéo, tất cả đều có liên hệ với nhau. Vật bay sẽ vào hầm tên lửa ngầm để đẻ trứng. Đài phát thanh và nhà xác là tổ của nó. Phần lớn mọi thứ được diễn ra phía sau màn ảnh. Chỉ cần có người thợ điện bí ẩn đó để thấy xuyên vào đài phát thanh.  

Thượng Đế giống như một người chỉ huy sở chữa cháy đang chơi bài mà không nhận ra mình sẽ bị thiêu bởi một khu rừng bốc cháy. Ngay phía dưới thiên đường của Ngài là tất cả những hoả tiễn hủy diệt trong hầm này đã sẵn sàng để phóng đi. Những hầm hoả tiễn trông giống như các ống đàn phong cầm hay tác phẩm điêu khắc và không ai có thể thấy vật bay đi vào đẻ trứng trong đó.  

Người thợ điện để cho chúng con nghe phần giới thiệu chương trình của đài với một giọng nói âm vang chải chuốt “Và các bạn hãy nhớ... giết, giết, giết...” Hiện dần lên là một ca sĩ nhạc dân gian nổi tiếng đang che đậy thông điệp xấu với một bài hát đơn giản: “Nơi này là của bạn...” Bài hát khiến thông điệp trở nên dễ nghe.  

Có nhiều người tự treo cổ mình trong một buổi lễ có nhiều màu sắc. Đó là một nhóm tôn giáo. Họ đang tự sát để đạt được một loại cảnh giới và cứu rỗi nào đó. Cái chết và vô minh đang được chuyền sang nhau. Những người này cũng đang bị thôi miên và không có một chút ánh sáng trí tuệ nào.  

Khi tỉnh dậy, lòng quyết tâm của con càng thêm sâu. Lực lượng ma quỷ và bóng tối to lớn tạo bởi nghiệp bất thiện chỉ có thể được ngăn chặn bằng cách tu hành. Thứ thực sự có giá trị là Bốn Mươi Hai Thủ Nhãn, Chú Đại Bi và Chú Lăng Nghiêm.  

Và trên hết, một trái tim thanh tịnh - một trái tim bao la, không vị kỷ, thiện lành và trong sáng. Đó là nơi ánh sáng đến trong giấc mơ của con, những người thanh tịnh, an lạc đang tụng chú và hồi hướng lợi lạc đến toàn thể chúng sanh. Nhà chính trị gia tuy có màu sắc nhưng không có ánh sáng. Nó là thứ màu của thức ăn ngon và mỹ phẩm chứ không phải ánh sáng của trí tuệ và lòng từ bi. Những người có tâm từ bi trong giấc mơ giống như những mặt trời bé nhỏ của từ, bi, hỉ, xả. Dù những nỗ lực của chúng con dường như nhỏ bé so với bóng tối to lớn nhưng chúng trong sạch và được tạo ra bởi những trái tim bao la vì tất cả mọi người.  

Tôi phải như mặt trời, chiếu khắp tất cả mà chẳng cầu báo ân; chúng sanh có kẻ ác hại tôi, tôi đều dung thọ trọn chẳng do đây mà bỏ thệ nguyện; chẳng vì một chúng sanh ác mà bỏ tất cả chúng sanh, tôi chỉ riêng tu tập thiện căn hồi hướng, khiến khắp chúng sanh đều được an lạc. Thiện căn dầu ít, nhưng vì nhiếp khắp chúng sanh tôi dùng tâm hoan hỷ hồi hướng quảng đại. Nếu có thiện căn mà chẳng muốn lợi ích tất cả chúng sanh thời chẳng gọi là hồi hướng.  

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Hồi Hướng

Điều cốt yếu là không ích kỷ và đại từ bi.

 

An lạc trong Pháp,  

Đệ tử Quả Đình (Hằng Triều)

Cung kính đảnh lễ

 

 

Vở Kịch Lớn

Tháng 5 năm 1979

Bãi biển Stinson, Olema, Nhà ga PT. Reyes và Points North

Kính thưa Sư Phụ,

 

Những ngôn ngữ của các chúng sanh

Trong đó rốt ráo vô sở đắc.

Rõ biết danh tướng đều phân biệt.

Hiểu rõ các pháp đều vô ngã.

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Hồi Hướng

 

Bái lạy dọc theo một quãng đường quốc lộ dài vắng vẻ - bên phải là Rừng Quốc Gia Mt. Tamalpais, bên trái là Thái Bình Dương – không khí buổi sáng mát lành, tĩnh lặng và thanh tịnh. Trái lại, trong tâm trí con là một rạp xiếc của sự ngụy biện, tranh luận ngu ngốc về việc sẽ tu hành cái gì để chấm dứt tâm phân biệt và đạt tới vô ngã.  

Bước đi nặng trĩu những lời chỉ dẫn, tất cả đều bị hiểu sai. Dùng đạo lý để kiểm soát từng cử động, từng bước đi, phải làm sao cho đúng. Đúng ư? Sai rồi! Tại sao? Vì nghĩ ngợi không thể trị được vọng tưởng. Hễ con nghĩ mình đã hiểu bản thân và sự tu hành thì cũng là lúc không phải như vậy. Cái hiểu đó là giả. Dùng ngôn từ để phân biệt ngôn từ là một mê cung vô tận, là cái bẫy của phiền não, là đường cùng và là một trở ngại lớn.

Có gì không ổn ở đây? Nó đang gắn với niệm tham ái rằng trong cảnh giới của ngôn từ và suy nghĩ, có thứ có thể nắm bắt được. Nó đang truy cầu, và trong Kinh có nói “Mọi thứ rốt ráo đều bất khả đắc”.

Con đưa câu Kinh vào trong khối óc, và ra rồi! Cả cái rạp xiếc rơi vào im lặng. Tâm con bỗng nhiên thấy nhẹ như một cơn gió thoảng.  

Đạt vô cầu xứ tiện vô ưu. (Đạt đến chỗ “không mong cầu” tất hết lo)

Tất cả đều là một vở kịch! Không có gì là thật cả. Ha! Con đã lo lắng tìm kiếm cái lợi ích nhỏ bé và lừa gạt mình đi vào vở kịch. Phiền não tức Bồ đề, nhưng cần phải dụng công mới chuyển được.

Bồ tát biết tất cả chỉ là một vở kịch lớn. Ngài không bị dính vào đạo cụ, Ngài không chấp vào cảnh vật, Ngài không biến hoàn cảnh của mình thành nghiêm trọng. Ngài muốn mọi chúng sanh biết được rằng đừng chấp pháp, kể cả thân này. Không có gì là tồn tại cả. Ngay khi coi thế giới này là thật thì cũng là lúc nhận lấy khổ đau.

Sự thật căn bản của Phật pháp là: mọi thứ đều là khổ do vô minh và ái dục đã được huân tập. Nó dựa trên tà kiến về sự tồn tại của cái “tôi” và “của tôi”, và con thấy rõ nó trở lại mỗi khi con cố điều khiển thế giới này bằng sức mạnh của thân, khẩu, ý. Khi con xả bỏ tất cả và chỉ tu đạo với một trái tim hoan hỷ, thanh tịnh thì mọi thứ lại đâu vào đó.

Các báo, tùy nghiệp sanh

Giả dối như giấc mơ

Luôn luôn thường diệt hoại

Không người tác nghiệp

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Bồ Tát Vấn Minh

 

Đó là bí mật. Bồ tát dùng pháp nói với ngài rằng mọi cảnh giới đều bình đẳng, trống rỗng và vô ngã. Và với trí huệ này, ngài giải thoát khỏi khổ đau. Không còn tự ngã thì ai lo lắng đây? Không còn tự ngã thì ai cảm giác đau khổ? Còn có gì để tham ái trong khi tự ngã không còn mong cầu cái lợi cho “số 1 của ngày xưa” nữa?

Một người bình thường, trước khi tu hành, có thể nghe những lời này và nói “Nhưng làm sao có thể như vậy được chứ? Hãy nhìn đống hóa đơn chưa thanh toán trên bàn tôi đi! Hãy nhìn những tờ báo đầy rẫy cái xấu và nỗi khổ đau bất tận mà xem! Hãy nhìn 2 chỗ húp dưới mắt tôi. Hôm nay tôi phải đầu tắt mặt tối và tôi chán ngán lắm rồi! Kinh lại nói rằng đó là một vở kịch. Làm sao tôi có thể tin được chứ?”

Như mặt gương sáng sạch

Tùy theo cảnh đối tượng

Hiện bóng sai khác nhau

Nghiệp tánh cũng như vậy.

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Bồ Tát Vấn Minh

 

Vậy thì tại sao lại không buông xuống cái giả và lo tu Đạo? Tại sao con không nhận thấy sự thanh tịnh, bình đẳng của Phật pháp vô thượng? Tại sao lại không? Bởi vì từ kiếp vô thủy vô chung con đã bị rơi vào cái bẫy của vở kịch, lang thang qua các màn kịch bất tận của Vở Kịch Lớn. Bị lòng nghi ngờ che mờ, bị nỗi sợ hãi thúc đẩy, con đã không tin vào con đường giải thoát. Tu tập hoàn toàn tùy thuộc vào mỗi người. Con gieo nhân gì thì sẽ gặt quả nấy.

Cũng như ruộng gieo giống

Chúng đều chẳng biết nhau

Tự nhiên mọc lên cây

Nghiệp tánh cũng như vậy.

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Bồ Tát Vấn Minh

 

Chư Phật và Bồ tát đã nhẫn nại nói đi nói lại với chúng ta rằng “Mọi chuyện đều ổn cả. Căn bản không hề có rắc rối nào, nhưng chúng ta cứ tự rước rắc rối cho mình. Hãy dừng sự luyên thuyên của tâm trí và mọi sự đều được giải quyết”.

Hôm nay con có thể viết ra điều này một cách dễ dàng. Nhưng do nghiệp vô minh nặng nề và sự ham cầu, hôm nay con sẽ có khả năng ra ngoài và lại bắt đầu hối thúc con đường Đạo trong tâm trí. Hôm qua con đã như vậy và bắt được cả lồng ma qủy. Con sẽ tiếp tục làm vậy cho đến khi nhân mà con đã gieo trong quá khứ bị mất hết. Trong khi ấy, con sẽ không có ý định dừng tu tập và than vãn về vận rủi và sự ngu si của quá khứ. Giờ con muốn gieo trồng những hạt giống thiện. Tín tâm của con đối với phước điền của Phật ngày càng lớn.  

Tuần này chúng con bái lạy trong trời gió mạnh, mặt đen kịt vì cát bụi, tập trung vào đan điền ở giữa cơ thể để không bị thổi về phía sau mỗi lần đứng dậy.

Một người đàn ông dừng xe tải và nói “Thật đáng kinh ngạc. Các Thầy chỉ dùng tâm để vượt qua mọi trở ngại và khổ đau sao?”

Con nghĩ “Đúng vậy, và không phải buồn cười sao khi tâm cũng chính là nguồn gốc của chướng ngại và khổ đau?” Nếu biết rằng tất cả chỉ là một vở kịch và đừng để tâm bám chấp và cái thiện hay tránh xa cái bất thiện, hãy chỉ ra ngoài và tu tập hạnh thanh tịnh để làm lợi cho người thì chướng ngại và khổ đau không thể cản trở được, và chúng cũng không làm khổ ta được. Tất cả đều bình đẳng. Nó không khiến bạn bớt đau nhưng nó cũng không làm phiền bạn nữa. Không có gì quan trọng cả, kể cả sinh tử. Không còn gì quan trọng nữa. “Nếu con có thể hiểu thực sự rằng mọi việc sao cũng được, chỉ từng đó nhưng vi diệu không thế nói hết.” đó là lời Hòa Thượng nói vào tháng trước, gần Bolinas Lagoon.

Kinh nói rằng:

Nếu được nơi thế gian

Trọn xa lìa chấp trước

Vô ngại lòng hoan hỷ

Nơi pháp được khai ngộ.

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Đâu Suất Kệ Tán

 

Người đàn ông kia hỏi “Các Thầy không dùng đồ đạc (tư lương) gì đặc biệt sao?” Con nghĩ “Thực ra thì có.” Y giới này khiến chúng con có thể quay về. Chúng con có cuốn Kinh chỉ đường (Đạo). Chúng con có Thiện tri thức bảo vệ và chỉ dạy. Chúng con đang nuôi dưỡng tín tâm đối với Tam Bảo. Chúng con hổ thẹn vì phải mất rất lâu để thức tỉnh và quay về chân thật tu hành. Đây đều là tư lương. Nhưng nó sẵn có cho tất cả mọi người.

 

Đệ tử của Phật,

Quả Chân (Hằng Thật)

Cung kính đảnh lễ

 

 

 

Tất cả đu là thử thách!

 

Ngày 16 Tháng 5, 1979

Marconi Cove

 

Sư Phụ từ giám,

Con là ai? Cái thân thể này của con là vay mượn và rồi tất cả sẽ sớm về với cát bụi. Dẫu con cố gắng thế nào cũng không thể giữ cho nó khỏi tan rã. Nó là như thế . Con có phải là những gì con nghĩ không? Có lẽ như nhà triết học Descartes từng nói, “Tôi tư duy, vì thế tôi tồn tại (Cogito ergo sum).” Nhưng dường như suy nghĩ của con còn không thực bằng thân thể con. Chúng cũng như sương sớm mai vụt tan rã trước giờ trưa. Tâm là một cơn gió thoảng.

Sáng nay, con thức dậy và bước ra ngoài. Trời vẫn còn tối và tĩnh lặng. Không một chiếc xe, một bóng người –chỉ là hơi sương từ Vịnh Tomales và một vài chú chim. Con bắt đầu cười nhạo quãng thời gian và sức lực mà con đã phí phạm cho việc chiều chuộng cái tôi này và những gì thuộc về tôi! Thật là một sự lãng phí! Trong bức tranh to lớn ấy chẳng hề có con trong đó. Con thật là ngốc nghếch mà! Con đã rong đuổi vọng tưởng và chấp trước cho đến khi ngập cổ trong biển khổ và phiền não này. Ấy vậy mà con chẳng hề hay biết.

Những gì con đã làm thật điên đảo, “ kết hợp với sự đảo ngược” như Kinh Hoa Nghiêm đã dạy. Thậm chí con chẳng hề hay rằng nó là sai trái. Thỉnh thoảng, con thấy dường như tu hành chẳng mang lại kết quả nào. Tất cả những gì con làm chỉ là mắc lỗi. Nhưng, tự bản thân tu hành lại là một lời đáp. Nhận ra những lỗi lầm của mình chính là đang nhận được kết quả.

Tu hành thanh tịnh một lát và rồi có một cách nhìn khác về thế giới này khiến ta thấy rõ ràng hơn đâu là thật, đâu là giả. Sự tương phản rất lớn. Sự tu hành mang đến một cái nhìn sắc bén hơn. C