Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Ðại Viên Mãn Vô Ngại Ðại Bi Tâm Ðà La Ni Kinh

Hán dịch: Ðường, Tây Thiên Trúc, Sa Môn Già Phạm Ðạt Ma

Thiển giảng: Vạn Phật Thánh Thành, Hòa Thượng Tuyên Hóa.

 

13 4 5

(tiếp theo)

 

Kinh Văn:

 

Âm: THỜI QUÁN THẾ ÂM BỒ-TÁT, Ư ÐẠI HỘI TRUNG, MẬT PHÓNG THẦN THÔNG QUANG MINH, CHIẾU DIỆU THẬP PHƯƠNG SÁT ÐỘ CẬP THỬ TAM THIÊN ÐẠI THIÊN THẾ GIỚI, GIAI TÁC KIM SẮC. THIÊN CUNG, LONG CUNG, CHƯ TÔN THẦN CUNG, GIAI TẤT CHẤN ÐỘNG. GIANG HÀ ÐẠI HẢI, THIẾT VI SƠN, TU DI SƠN, THỔ SƠN, HẮC SƠN, DIỆC GIAI ÐẠI ÐỘNG. NHẬT NGUYỆT CHÂU HỎA, TINH TÚ CHI QUANG, GIAI TẤT BẤT HIỆN.

Nghĩa: Bấy giờ, Quán Thế Âm Bồ-tát từ trong đại hội mật phóng ánh thần thông quang minh, chiếu sáng mười phương sát-độ cùng cõi Tam Thiên Ðại Thiên thế giới này, khiến tất cả đều biến thành sắc vàng. Thiên cung, Long cung, và cung điện của chư tôn thần đều chấn động. Sông hồ, biển cả, núi Thiết-vi, núi Tu-di, cùng Thổ sơn, Hắc sơn cũng đều rung động dữ dội. Ánh lửa ngọc của mặt trời mặt trăng và ánh sáng của các vì tinh tú đều không hiện hữu nữa.

 

Lược Giảng:

Bấy giờ, Quán Thế Âm Bồ-tát từ trong đại hội mật phóng ánh thần thông quang minh, chiếu sáng mười phương sát-độ cùng cõi Tam Thiên Ðại Thiên thế giới này, khiến tất cả đều biến thành sắc vàng. Hào quang do Quán Thế Âm Bồ-tát bí mật phóng ra chiếu dọi khắp nơi, làm cho mười phương quốc độ và luôn cả cõi Tam Thiên Ðại Thiên thế giới của chúng ta như nhuộm một màu vàng rực rỡ.

"Mười phương quốc độ" này là ở ngoài chứ không phải ở trong cõi Tam Thiên Ðại Thiên thế giới của chúng ta. Có ai biết thế nào gọi là "tam thiên đại thiên thế giới" không? Chẳng lẽ không có người nào biết cả sao?

Thế thì, thế nào gọi là "một thế giới"? Cứ một núi Tu-di, một cái Tứ Thiên-hạ, một mặt trời và một mặt trăng, thì gọi là "một thế giới." Một ngàn núi Tu-di, một ngàn mặt trời, một ngàn mặt trăng, và một ngàn cái Tứ Thiên-hạ gộp lại thì gọi là "một tiểu thiên thế giới." Một ngàn cái tiểu thiên thế giới gộp lại thì gọi là "một trung thiên thế giới." Một ngàn cái trung thiên thế giới thì gọi là "một đại thiên thế giới."

Bởi "tam biến ngôn thiên"—chữ "thiên" (ngàn) được lập lại ba lần—nên gọi là "tam thiên." Và do đó, một ngàn cái tiểu thiên thế giới, một ngàn cái trung thiên thế giới và một ngàn cái đại thiên thế giới được gộp lại gọi là "tam thiên đại thiên thế giới." Hiện nay con người đã có thể du hành từ trái đất đến mặt trăng và cho rằng đó là một điều vô cùng tuyệt diệu. Thế nhưng, ngoài mặt trăng này ra còn có bao nhiêu mặt trăng, bao nhiêu tinh cầu khác nữa mà khoa học chưa hề biết tới? Nhiều đến vô lượng vô biên! Quý vị đến được chỗ này, nhưng chỗ kia thì vẫn chưa thể đến được. E rằng đến khi nơi nào quý vị cũng tới được hết thì thế giới này cũng không còn nữa!

 

Thiên cung, Long cung, và cung điện của chư tôn thần đều chấn động. Theo quý vị thì tại sao các cung điện ấy lại bị rung chuyển?

Chẳng những thế, luôn cả sông hồ, biển cả, núi Thiết-vi, núi Tu-di, cùng Thổ sơn, Hắc sơn cũng đều rung động dữ dội. Khắp nơi đều có địa chấn, mọi ánh sáng đều không còn nữa. Vì sao có hiện tượng chấn động này? Ðó là do Quán Thế Âm Bồ-tát đã vận dụng sức thần thông bí mật, làm cho tất cả các cõi giới đều lung lay, dao động.

 

Ánh lửa ngọc của mặt trời mặt trăng và ánh sáng của các vì tinh tú đều không hiện hữu nữa. Vì sao ánh sáng do mặt trời, mặt trăng, và các ngôi sao phát ra đều biến mất, không còn thấy rõ nữa? Bởi vì các thứ ánh sáng đó đã bị hào quang quá lớn mạnh, quá chói lọi của Quán Thế Âm Bồ-tát lấn át và "ăn" mất! Nói như thế không có nghĩa là ánh sáng bị "ăn" hoặc bị "nuốt chửng" thật sự; chẳng qua là hào quang do Bồ-tát phóng ra rực rỡ đến nỗi các ánh sáng kia trở nên lu mờ hẳn, dường như là không còn nữa vậy. Tôi dùng chữ "ăn" là để ví von, ngụ ý rằng ánh sáng này "ăn đứt," sáng trội hơn các ánh sáng kia vượt bực.

 

Kinh Văn:

 

Âm: Ư THỊ TỔNG TRÌ VƯƠNG BỒ TÁT, KIẾN THỬ HY HỮU CHI TƯỚNG, QUÁI VỊ TẰNG HỮU, TỨC TÙNG TÒA KHỞI, XOA THỦ HỢP CHƯỞNG, DĨ KỆ VẤN PHẬT, NHƯ THỬ THẦN THÔNG CHI TƯỚNG, THỊ THÙY SỞ PHÓNG.

Nghĩa: Lúc đó, Tổng Trì Vương Bồ-tát thấy tướng trạng hy hữu ấy thì lấy làm lạ, cho là việc chưa từng có, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay, dùng kệ thỉnh hỏi Ðức Phật xem tướng thần thông kia là do ai phóng ra.

 

Lược Giảng:

Lúc đó, Tổng Trì Vương Bồ-tát thấy tướng trạng hy hữu ấy thì lấy làm lạ, cho là việc chưa từng có. Bấy giờ, Tổng Trì Vương Bồ-tát tự nghĩ: "Kỳ lạ thật! Quả là hết sức kỳ lạ! Từ trước đến nay chưa bao giờ có chuyện kỳ lạ như vậy. Thế này là thế nào nhỉ?"

Quý vị xem, ngay cả Tổng Trì Vương Bồ-tát mà còn không biết về hiện tượng ấy, chẳng trách khi tôi hỏi thì quý vị cũng đều không biết cả! Tổng Trì Vương Bồ-tát thần thông quảng đại biết bao, thế mà Ngài vẫn không hiểu được; huống gì quý vị chỉ mới được nghe qua loa vài câu Phật Pháp thôi thì làm sao có thể biết được thứ đạo lý vi diệu dường ấy! Cho nên, mặc dù quý vị không trả lời được, tôi cũng thông cảm mà tha thứ cho quý vị!

Bấy giờ, Tổng Trì Vương Bồ-tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay, dùng kệ thỉnh hỏi Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni, xem tướng thần thông kia là do ai phóng ra.

 

Kinh Văn:

 

DĨ KỆ VẤN VIẾT:

 

"THÙY Ư KIM NHẬT THÀNH CHÁNH GIÁC,

PHỔ PHÓNG NHƯ THỊ ÐẠI QUANG MINH,

THẬP PHƯƠNG SÁT ÐỘ GIAI KIM SẮC,

TAM THIÊN THẾ GIỚI DIỆC PHỤC NHIÊN?

 

THÙY Ư KIM NHẬT ÐẮC TỰ TẠI,

DIỄN PHÓNG HY HỮU ÐẠI THẦN LỰC,

VÔ BIÊN PHẬT QUỐC GIAI CHẤN ÐỘNG,

LONG THẦN CUNG ÐIỆN TẤT BẤT AN?

 

KIM THỬ ÐẠI CHÚNG HÀM HỮU NGHI,

BẤT TRẮC NHÂN DUYÊN THỊ THÙY LỰC,

VI PHẬT, BỒ TÁT, ÐẠI THANH VĂN,

VI PHẠM MA THIÊN, CHƯ THÍCH ÐẲNG?

 

DUY NGUYỆN THẾ TÔN ÐẠI TỪ BI,

THUYẾT THỬ THẦN THÔNG SỞ DO DĨ."

 

Nghĩa:

Lời kệ hỏi rằng:

 

"Hôm nay ai được thành Chánh Giác,

Phóng đại quang minh khắp thế này,

Mười phương sát-độ thành sắc vàng,

Tam thiên thế giới cũng như vậy?

 

Hôm nay ai chứng đắc tự tại,

Phô diễn đại thần lực hiếm có,

Vô biên nước Phật đều rúng động.

Cung điện Long Thần cũng chẳng yên?

 

Ðại chúng hôm nay có thắc mắc,

Chẳng rõ nhân duyên bởi sức ai?

Là Phật, Bồ-tát, Ðại Thanh Văn?

Hoặc trời Phạm, Ma, chư Ðế Thích?

 

Chỉ mong Thế Tôn đại từ bi,

Nói rõ thần thông nọ do đâu."

 

 

Lược Giảng:

Lời kệ hỏi rằng: "Bạch Ðức Thế Tôn! Hôm nay ai được thành Chánh Giác, Phóng đại quang minh khắp thế này, Mười phương sát-độ thành sắc vàng, Tam thiên thế giới cũng như vậy?" Tổng Trì Vương Bồ-tát bạch cùng Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni: "Bạch Ðức Thế Tôn! Phải chăng hôm nay có ai được thành Phật? Cả đại địa đều chấn động và chói lòa ánh sáng. Có một thứ hào quang màu vàng rực rỡ soi chiếu khắp nơi, khiến cho các cõi nước trong mười phương và luôn cả cõi tam thiên đại thiên thế giới, hết thảy đều biến thành sắc vàng."

 

"Hôm nay ai chứng đắc tự tại, Phô diễn đại thần lực hiếm có, Vô biên nước Phật đều rúng động. Chẳng hay hôm nay có vị Bồ-tát nào chứng đắc được sức thần thông tự tại thế? Vị ấy thị hiện phóng ra sức đại thần thông hy hữu nhất, khiến cho tất cả mọi quốc độ của Phật đều rúng động, đều xảy ra địa chấn. Cung điện Long Thần cũng chẳng yên? Ðời sống của rồng ở chốn long cung vốn rất bình yên, song nay thì cung điện cũng không được yên ổn nữa!"

 

"Ðại chúng hôm nay có thắc mắc, Chẳng rõ nhân duyên bởi sức ai? Hiện tại tất cả đại chúng đều thắc mắc, không hiểu nhân duyên này là như thế nào, ai đang vận dụng sức thần thông, và ai phóng ra thứ ánh sáng này? Thỉnh cầu Ðức Thế Tôn chỉ dạy cho chúng con được rõ. Ðó Phật, Bồ-tát, Ðại Thanh Văn, hoặc trời Phạm, Ma, chư Ðế Thích? Hiện tượng địa chấn và hào quang có phải là do Phật thị hiện? Hay là do Bồ-tát phóng ra? Hay là do hàng Ðại Thanh-văn, A-la-hán phô diễn? Hoặc giả, hào quang này là do chư thiên cùng Ma vương ở trời Ðại Phạm phóng ra? Hay là do các thần đất phóng ra?"

 

"Chỉ mong Thế Tôn đại từ bi, Nói rõ thần thông nọ do đâu. Con nay cúi xin Ðức Thế Tôn mở lòng từ bi rộng lớn mà nói rõ nguồn cơn, cho chúng con được biết thần thông quang minh này vốn từ đâu đến?"

 

Kinh Văn:

 

Âm: PHẬT CÁO TỔNG TRÌ VƯƠNG BỒ TÁT NGÔN: "THIỆN NAM TỬ! NHỮ ÐẲNG ÐƯƠNG TRI, KIM THỬ HỘI TRUNG, HỮU NHẤT BỒ-TÁT MA-HA-TÁT DANH VIẾT QUÁN-THẾ-ÂM TỰ-TẠI, TÙNG VÔ LƯỢNG KIẾP LAI, THÀNH TỰU ÐẠI TỪ ÐẠI BI, THIỆN NĂNG TU TẬP VÔ LƯỢNG ÐÀ-LA-NI MÔN, VI DỤC AN LẠC CHƯ CHÚNG SANH CỐ, MẬT PHÓNG NHƯ THỊ ÐẠI THẦN THÔNG LỰC."

PHẬT THUYẾT THỊ NGỮ DĨ,

Nghĩa: Ðức Phật bảo Tổng Trì Vương Bồ-tát: "Thiện nam tử! Các ông nên biết, trong Pháp hội hôm nay có vị Bồ-tát Ma-ha-tát hiệu là Quán Thế Âm Tự Tại, từ vô lượng kiếp đến nay đã thành tựu tâm đại từ đại bi và khéo tu tập vô lượng pháp môn Ðà-La-Ni, vì muốn chúng sanh được an vui nên mật phóng sức đại thần thông như thế."

Ðức Phật nói những lời ấy xong,

 

Lược Giảng:

Ðức Phật bảo Tổng Trì Vương Bồ-tát: "Thiện nam tử! Các ông nên biết, trong Pháp hội hôm nay có vị Bồ-tát Ma-ha-tát hiệu là Quán Thế Âm Tự Tại. Hiện trong đại hội này có một vị Ðại Bồ-tát tên là Quán Thế Âm và là một vị Bồ-tát rất tự tại. Vị Bồ-tát này từ vô lượng kiếp đến nay đã thành tựu tâm đại từ đại bi, công đức đại từ đại bi, và khéo tu tập vô lượng pháp môn Ðà-La-Ni, vì muốn chúng sanh được an vui nên mật phóng sức đại thần thông như thế." Chính vì muốn làm cho tất cả chúng sanh đều được bình yên, vui vẻ, nên Bồ-tát Quán Thế Âm đã bí mật phóng ánh sáng đại quang minh, phô diễn sức đại thần thông như thế.

 

Ðức Phật nói những lời ấy xong…, ... Sau khi Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni nói xong thì thế nào?

  

Kinh Văn:

 

Âm: NHĨ THỜI QUÁN-THẾ-ÂM BỒ-TÁT TÙNG TÒA NHI KHỞI, CHỈNH LÝ Y PHỤC, HƯỚNG PHẬT HỢP CHƯỞNG, BẠCH PHẬT NGÔN: "THẾ TÔN! NGÃ HỮU ÐẠI BI TÂM ÐÀ-LA-NI CHÚ, KIM ÐƯƠNG DỤC THUYẾT, VI CHƯ CHÚNG SANH ÐẮC AN LẠC CỐ, TRỪ NHẤT THIẾT BỆNH CỐ, ÐẮC THỌ MẠNG CỐ, ÐẮC PHÚ NHIÊU CỐ, DIỆT TRỪ NHẤT THIẾT ÁC NGHIỆP TRỌNG TỘI CỐ, LY CHƯỚNG NẠN CỐ, TĂNG TRƯỞNG NHẤT THIẾT BẠCH PHÁP CHƯ CÔNG ÐỨC CỐ, THÀNH TỰU NHẤT THIẾT CHƯ THIỆN CĂN CỐ, VIỄN LY NHẤT THIẾT CHƯ BỐ ÚY CỐ, TỐC NĂNG MÃN TÚC NHẤT THIẾT CHƯ HY CẦU CỐ, DUY NGUYỆN THẾ-TÔN TỪ AI THÍNH HỨA."

Nghĩa: Ngay lúc đó, Quán Thế Âm Bồ-tát từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa y phục cho chỉnh tề, rồi chắp tay hướng về Ðức Phật và bạch với Phật rằng: "Bạch Ðức Thế Tôn! Con có Chú Ðại Bi Tâm Ðà-La-Ni, nay xin nói ra là vì muốn cho chư chúng sanh được an lạc, được trừ tất cả các bệnh, được thọ mạng dài lâu, được giàu có sung túc, được dứt trừ tất cả ác nghiệp trọng tội, được xa lìa chướng nạn, được tăng trưởng tất cả các công đức bạch pháp, được thành tựu tất cả các thiện căn, được xa lìa tất cả sự sợ hãi, được mau có đủ tất cả những thứ mong cầu. Cúi xin Ðức Thế Tôn từ bi hứa khả cho."

 

Lược Giảng:

Ngay lúc đó, Quán Thế Âm Bồ-tát từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa y phục cho chỉnh tề, rồi chắp tay hướng về Ðức Phật và bạch với Phật rằng: "Bạch Ðức Thế Tôn! Con có Chú Ðại Bi Tâm Ðà-La-Ni. Con có một thần chú tên là Ðại Bi Tâm Ðà-La-Ni Thần Chú và nay xin nói ra là vì muốn cho chư chúng sanh được an lạc. Con nói ra Thần Chú Ðại Bi này để làm cho hết thảy chúng sanh đều được vui vẻ, an ổn, không gặp nguy hiểm, không bị đe dọa, khủng bố; và được trừ tất cả các bệnh, bất cứ bệnh gì cũng có thể giải trừ được cả.

 

"Ðược thọ mạng dài lâu. Có người nếu trì tụng Chú Ðại Bi thì được phước báo trường thọ, được giàu có sung túc, tiền của dồi dào, được dứt trừ tất cả ác nghiệp trọng tội." Quý vị xem, Chú Ðại Bi có công năng diệt trừ hết thảy ác nghiệp của tất cả chúng sanh. "Ác nghiệp" tức là bao gồm luôn cả các tội thuộc Ngũ Nghịch, Thập Ác. Cho nên, những nghiệp tội nghiêm trọng nhất, nặng nhất, đều có thể tiêu tan.

 

"Ðược xa lìa chướng nạn, thoát khỏi mọi ma chướng, khó khăn, được tăng trưởng tất cả các công đức bạch pháp." "Bạch pháp" (pháp trắng) tức là thanh tịnh pháp—thứ pháp trong sạch, không nhiễm ô. Pháp nhiễm ô tức là "hắc pháp" (pháp đen); còn không nhiễm ô thì gọi là "bạch pháp." "Công đức bạch pháp" có nghĩa là công đức thanh tịnh.

 

"Ðược thành tựu tất cả các thiện căn." Chú Ðại Bi còn có công năng khiến cho hết thảy căn lành đều được thành tựu.

 

"Ðược xa lìa tất cả sự sợ hãi." Nếu quý vị nào sợ đi máy bay thì hãy trì niệm Chú Ðại Bi, bởi như thế sẽ giúp quý vị không còn sợ hãi nữa.

 

"Ðược mau có đủ tất cả những thứ mong cầu." Chú Ðại Bi lại có thể giúp cho quý vị được mãn nguyện, khiến cho những hy vọng, ước muốn của quý vị đều được thành tựu một cách mau chóng.

 

"Cúi xin Ðức Thế Tôn từ bi hứa khả cho. Con nay thỉnh cầu Ðức Thế Tôn phê chuẩn sự thỉnh cầu của con, từ bi cho phép con tuyên thuyết Chú Ðại Bi cho đại chúng cùng nghe!"

  

Kinh Văn:

 

Âm: PHẬT NGÔN: "THIỆN NAM TỬ! NHỮ ÐẠI TỪ BI, AN LẠC CHÚNG SANH, DỤC THUYẾT THẦN CHÚ, KIM CHÁNH THỊ THỜI, NGHI ƯNG TỐC THUYẾT, NHƯ LAI TÙY HỶ, CHƯ PHẬT DIỆC NHIÊN."

Nghĩa: Ðức Phật dạy: "Thiện nam tử! Ông thật đại từ bi, vì sự an lạc của chúng sanh nên muốn tuyên thuyết thần chú. Nay chính là lúc ấy, vậy ông hãy mau nói ra. Như Lai tùy hỷ, và chư Phật cũng thế!"

 

Lược Giảng:

Ðức Phật dạy: "Thiện nam tử! Ông thật đại từ bi." Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni nghe Bồ-tát Quán Thế Âm thỉnh cầu, muốn được tuyên thuyết Ðại Bi Chú, bèn trả lời rằng: "Quán Thế Âm ơi, lòng từ bi của ông thật là quảng đại một cách phi thường, vì sự an lạc của chúng sanh nên muốn tuyên thuyết thần chú. Ông hằng ao ước được nói ra Ðại Bi Thần Chú, thì nay chính là lúc ấy. Bây giờ chính là thời điểm thích hợp để tuyên thuyết Chú Ðại Bi, vậy ông hãy mau nói ra. Như Lai tùy hỷ, và chư Phật cũng thế! Chẳng những Ta, Như Lai, tùy hỷ theo công đức của ông, mà cả mười phương chư Phật thảy đều tùy hỷ tán thán công đức đó."

  

Kinh Văn:

 

Âm: QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT TRÙNG BẠCH PHẬT NGÔN: "THẾ TÔN! NGÃ NIỆM QUÁ KHỨ VÔ LƯỢNG ỨC KIẾP, HỮU PHẬT XUẤT THẾ DANH VIẾT THIÊN QUANG VƯƠNG TĨNH TRỤ NHƯ LAI. BỈ PHẬT THẾ TÔN, LÂN NIỆM NGÃ CỐ, CẬP VI NHẤT THIẾT CHƯ CHÚNG SANH CỐ, THUYẾT THỬ QUẢNG ÐẠI VIÊN MÃN VÔ NGẠI ÐẠI BI TÂM ÐÀ-LA-NI, DĨ KIM SẮC THỦ, MA NGÃ ÐẢNH THƯỢNG, TÁC NHƯ THỊ NGÔN:

Nghĩa: Quán Thế Âm Bồ-tát lại bạch Phật rằng: "Bạch Ðức Thế Tôn! Con nhớ vô lượng ức kiếp về trước, có đức Phật ra đời hiệu là Thiên Quang Vương Tĩnh Trụ Như Lai. Ðức Phật Thế Tôn ấy vì thương nghĩ đến con cùng tất cả chúng sanh, nên đã tuyên thuyết Quảng Ðại Viên Mãn Vô Ngại Ðại Bi Tâm Ðà-La-Ni này, lại dùng tay kim sắc xoa đảnh đầu con và dạy lời như vầy:

 

Lược Giảng:

Quán Thế Âm Bồ-tát lại bạch Phật rằng: "Bạch Ðức Thế Tôn! Con nhớ vô lượng ức kiếp về trước" "Vô lượng ức kiếp" tức là vô lượng vô biên, không biết rõ được là bao nhiêu kiếp, không cách nào tính ra được con số cụ thể.

Quán Thế Âm Bồ-tát nhớ lại một sự việc trong đời quá khứ, xảy ra từ vô lượng kiếp về trước. Vào thuở ấy, "có đức Phật ra đời hiệu là Thiên Quang Vương Tĩnh Trụ Như Lai. Bấy giờ, Ðức Phật Thế Tôn ấy, tức là Thiên Quang Vương Tĩnh Trụ Như Lai, vì thương nghĩ đến con cùng tất cả chúng sanh, nên đã tuyên thuyết Quảng Ðại Viên Mãn Vô Ngại Ðại Bi Tâm Ðà-La-Ni này."

Rồi Thiên Quang Vương Tĩnh Trụ Như Lai "lại dùng tay kim sắc xoa đảnh đầu con—Quán Thế Âm Bồ-tát—và dạy lời như vầy:"

 

Kinh Văn:

 

Âm: "‘THIỆN NAM TỬ! NHỮ ÐƯƠNG TRÌ THỬ TÂM CHÚ, PHỔ VI VỊ LAI ÁC THẾ NHẤT THIẾT CHÚNG SANH, TÁC ÐẠI LỢI LẠC.’

NGÃ Ư THỊ THỜI. THỦY TRỤ SƠ ÐỊA, NHẤT VĂN THỬ CHÚ CỐ, SIÊU ÐỆ BÁT ÐỊA, NGÃ THỜI TÂM HOAN HỶ CỐ, TỨC PHÁT THỆ NGÔN:"

Nghĩa: ‘Thiện nam tử! Ông nên thọ trì tâm chú này, vì khắp tất cả chúng sanh trong đời ác ở thời vị lai mà làm sự đại lợi lạc.’

Con lúc đó mới đang ở Sơ Ðịa, vừa nghe xong Chú này thì liền vượt lên Bát Ðịa. Bấy giờ, trong lòng hoan hỷ, con lập tức phát lời thệ nguyện:

 

Lược Giảng:

‘Thiện nam tử! Ông nên thọ trì tâm chú này.’ Thuở ấy, Thiên Quang Vương Tĩnh Trụ Như Lai dặn dò Quán Thế Âm Bồ-tát rằng: "Này Thiện nam tử, ông cần phải thọ trì tâm chú này. Tâm chú nào ư? Ðó là Ðại Bi Tâm Chú, hay cũng gọi là Ðại Bi Tâm Ðà-La-Ni. Và ông hãy vì khắp tất cả chúng sanh trong đời ác ở thời vị lai mà làm sự đại lợi lạc. Ông nên làm cho hết thảy chúng sanh ở đời sau đều được hưởng sự lợi ích và được an vui."

 

"Con lúc đó mới đang ở Sơ Ðịa." Sơ Ðịa có tên là gì? Ðó là Hoan-hỷ Ðịa.

Khi ấy, Quán Thế Âm Bồ-tát chỉ mới chứng đắc Sơ Ðịa; thế nhưng Ngài "vừa nghe xong Chú này—tức là Chú Ðại Bithì liền vượt lên Bát Ðịa." Như thế tức là từ Sơ Ðịa, Quán Thế Âm Bồ-tát đã vượt qua Nhị Ðịa, Tam Ðịa, Tứ Ðịa, Ngũ Ðịa, Lục Ðịa, Thất Ðịa, tiến thẳng đến Bát Ðịa.

 

"Bấy giờ, do trong lòng hoan hỷ, con lập tức phát lời thệ nguyện:" Phát thệ nguyện gì?

  

Kinh Văn:

 

Âm: ‘NHƯỢC NGÃ ÐƯƠNG LAI, KHAM NĂNG LỢI ÍCH AN LẠC NHẤT THIẾT CHÚNG SANH GIẢ, LINH NGÃ TỨC THỜI THÂN SANH THIÊN THỦ THIÊN NHÃN CỤ TÚC!’

PHÁT THỊ NGUYỆN DĨ, ƯNG THỜI THÂN THƯỢNG THIÊN THỦ THIÊN NHÃN TẤT GIAI CỤ TÚC, THẬP PHƯƠNG ÐẠI ÐỊA LỤC CHỦNG CHẤN ÐỘNG, THẬP PHƯƠNG THIÊN PHẬT, TẤT PHÓNG QUANG MINH, CHIẾU XÚC NGÃ THÂN, CẬP CHIẾU THẬP PHƯƠNG VÔ BIÊN THẾ GIỚI.

Nghĩa: ‘Nếu trong đời vị lai tôi có thể làm lợi ích an lạc cho tất cả chúng sanh, thì xin khiến cho thân tôi lập tức sanh đủ ngàn tay ngàn mắt!’

Phát nguyện ấy xong thì trên thân liền ứng thời hiện đủ ngàn tay ngàn mắt. Lúc ấy, mười phương đại địa chấn động sáu cách; ngàn Ðức Phật trong mười phương đều phóng ánh quang minh soi đến thân con, cùng chiếu dọi vô biên thế giới ở khắp mười phương.

 

 

Lược Giảng:

"‘Nếu trong đời vị lai tôi có thể làm lợi ích an lạc cho tất cả chúng sanh, thì xin khiến cho thân tôi lập tức sanh đủ ngàn tay ngàn mắt!’" Trong đời quá khứ ấy, Quán Thế Âm Bồ-tát đã nguyện rằng: "Giả sử trong tương lai, tôi có thể trở nên hữu ích đối với hết thảy chúng sanh, có thể mang lại sự an lạc cho muôn loài, thì tôi hy vọng rằng thần lực của Chú Ðại Bi này hãy khiến cho một ngàn cánh tay và một ngàn con mắt mọc ra đầy đủ nơi nhục thân của tôi ngay tức khắc!"

 

"Phát nguyện ấy xong, sau khi con lập nguyện, thì trên thân liền ứng thời hiện đủ ngàn tay ngàn mắt. Ngay trên nhục thân của con liền hiện ra cả một ngàn cánh tay và một ngàn con mắt trong cùng một lúc."

 

"Lúc ấy, mười phương đại địa chấn động sáu cách." Khắp mười phương thế giới, đại địa rúng động theo sáu cách khác nhau, gọi là "lục chủng chấn động." Ðó chính là 1) Chấn (vang dội); 2) Hống (gào lên); 3) Kích (đánh ra); 4) Ðộng (động cựa); 5) Dũng (phun ra); 6) Khởi (vùng dậy). Chấn, hống, kích là những biến động thuộc về âm thanh; động, dũng, khởi là những biến hóa thuộc về hình thể.

 

Ngàn đức Phật trong mười phương đều phóng ánh quang minh. Từ thế giới của ngàn đức Phật trong mười phương đều đồng thời phóng ra hào quang đại quang minh, hào quang ấy dọi đến thân con, cùng chiếu soi, tỏa ánh sáng rực rỡ tới vô biên thế giới ở khắp mười phương.

  

Kinh Văn:

 

Âm: TÙNG THỊ DĨ HẬU, PHỤC Ư VÔ LƯỢNG PHẬT SỞ, VÔ LƯỢNG HỘI TRUNG, TRÙNG CÁNH ÐẮC VĂN, THÂN THỪA THỌ TRÌ THỊ ÐÀ-LA-NI, PHỤC SANH HOAN HỶ, DŨNG DƯỢC VÔ LƯỢNG, TIỆN ÐẮC SIÊU VIỆT VÔ SỐ ỨC KIẾP VI TẾ SANH TỬ."

Nghĩa: Từ đó về sau, trong vô lượng Phật sở, vô lượng Pháp Hội, con được nghe lại và đích thân nhận lãnh, thọ trì Ðà-La-Ni này, lại sanh hoan hỷ, phấn chấn vô lượng, nên được siêu vượt vi tế sanh tử trong vô số ức kiếp."

 

Lược Giảng:

 

"Từ đó về sau, trong vô lượng Phật sở, vô lượng Pháp Hội, con được nghe lại và đích thân nhận lãnh, thọ trì Ðà-La-Ni này. Kể từ đó, tại vô lượng vô biên cõi nước của Phật cũng như tại vô lượng Pháp hội, con thường được nghe lại Chú Ðại Bi Ðà-La-Ni và tự thân con cũng thọ trì chú tổng trì này. Con lại sanh hoan hỷ, phấn chấn vô lượng. Con mừng rỡ đến nỗi muốn nhảy múa reo vui, nên được siêu vượt vi tế sanh tử1  trong vô số ức kiếp, lại còn được vượt qua biến dị sanh tử vô cùng vi tế trong vô số ức kiếp ở quá khứ?"

 

Kinh Văn:

 

Âm: TÙNG THỊ DĨ LAI THƯỜNG SỞ TỤNG TRÌ, VỊ TẰNG PHẾ VONG. DO TRÌ THỬ CHÚ CỐ, SỞ SANH CHI XỨ, HẰNG TẠI PHẬT TIỀN, LIÊN HOA HÓA SANH, BẤT THỌ THAI TẠNG CHI THÂN.

Nghĩa: Từ ấy đến nay. con thường xuyên trì tụng, chưa từng quên bỏ. Nhờ thọ trì Chú này nên con luôn được sanh ra tại Phật tiền, hóa sanh từ hoa sen, không còn thọ thân thai bào nữa.

  

Lược Giảng:

"Từ ấy đến nay. con thường xuyên trì tụng, chưa từng quên bỏ. Kể từ khi ấy cho đến nay, con vẫn luôn tụng trì Chú Ðại Bi, không một ngày xao lãng. Nhờ thọ trì Chú này nên con luôn được sanh ra tại Phật tiền, vào thời có Phật trụ thế, được hóa sanh từ hoa sen chứ không còn thọ thân thai bào nữa, không còn phải mang thân thể do cha mẹ hoài thai, cưu mang nữa."

 ____________

  1 Có hai loại sanh tử: 1) Phân đoạn sanh tử. Ðây là sự sanh và tử của nhục thân. Các bậc A-la-hán đều đã kết thúc sự sanh tử này; 2) Biến dị sanh tử. Ðây là nói về sự thay đổi, chuyển biến vi tế của dòng tư tưởng. Các bậc Bồ-tát đều đã dứt được cả hai thứ sanh tử này. Ở đây, vi tế sanh tử chính là Biến dị sanh tử.

 

Kinh Văn:

Âm: "NHƯỢC HỮU TỲ KHEO, TỲ KHEO NI, ƯU BÀ TẮC, ƯU BÀ DI, ÐỒNG NAM, ÐỒNG NỮ, DỤC TỤNG TRÌ GIẢ, Ư CHƯ CHÚNG SANH KHỞI TỪ BI TÂM, TIÊN ÐƯƠNG TÙNG NGÃ PHÁT NHƯ THỊ NGUYỆN: ..."

Nghĩa: "Nếu có Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, đồng nam hay đồng nữ nào muốn trì tụng, thì nên phát khởi lòng từ bi đối với mọi chúng sanh, và trước tiên phải theo con mà phát những thệ nguyện như vầy ..."

 

Lược Giảng:

"Nếu có Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, đồng nam hay đồng nữ nào muốn trì tụng ..." Quán Thế Âm Bồ-tát lại bạch Phật rằng: "Giả sử có các Thầy hoặc các Sư cô, đã xuất gia, người nam hoặc người nữ còn tại gia, và đồng nam hoặc đồng nữ nào phát tâm muốn trì tụng Chú Ðại Bi, thì nên phát khởi lòng từ bi đối với mọi chúng sanh, và trước tiên phải theo con mà phát những thệ nguyện như vầy ..." Trước hết, vị phát tâm ấy cần phải đối trước Quán Thế Âm Bồ-tát mà lập mười lời thệ nguyện như sau ...

  

Kinh Văn:

Âm:

1) "NAM MÔ ÐẠI BI QUÁN THẾ ÂM, NGUYỆN NGÃ TỐC TRI NHẤT THIẾT PHÁP;

2) NAM MÔ ÐẠI BI QUÁN THẾ ÂM, NGUYỆN NGÃ TẢO ÐẮC TRÍ HUỆ NHÃN;

3) NAM MÔ ÐẠI BI QUÁN THẾ ÂM, NGUYỆN NGÃ TỐC ÐỘ NHẤT THIẾT CHÚNG;

4) NAM MÔ ÐẠI BI QUÁN THẾ ÂM, NGUYỆN NGÃ TẢO ÐẮC THIỆN PHƯƠNG TIỆN;

5) NAM MÔ ÐẠI BI QUÁN THẾ ÂM, NGUYỆN NGÃ TỐC THỪA BÁT-NHÃ THUYỀN;

6) NAM MÔ ÐẠI BI QUÁN THẾ ÂM, NGUYỆN NGÃ TẢO ÐẮC VIỆT KHỔ HẢI;

7) NAM MÔ ÐẠI BI QUÁN THẾ ÂM, NGUYỆN NGÃ TỐC ÐẮC GIỚI ÐỊNH ÐẠO;

8) NAM MÔ ÐẠI BI QUÁN THẾ ÂM, NGUYỆN NGÃ TẢO ÐĂNG NIẾT-BÀN SƠN;

9) NAM MÔ ÐẠI BI QUÁN THẾ ÂM, NGUYỆN NGÃ TỐC HỘI VÔ-VI XÁ;

10) NAM MÔ ÐẠI BI QUÁN THẾ ÂM, NGUYỆN NGÃ TẢO ÐỒNG PHÁP TÁNH THÂN.

NGÃ NHƯỢC HƯỚNG ÐAO SƠN, ÐAO SƠN TỰ TỒI CHIẾT;

NGÃ NHƯỢC HƯỚNG HỎA THANG, HỎA THANG TỰ KHÔ KIỆT;

NGÃ NHƯỢC HƯỚNG ÐỊA NGỤC, ÐỊA NGỤC TỰ TIÊU DIỆT;

NGÃ NHƯỢC HƯỚNG NGẠ QUỶ, NGẠ QUỶ TỰ BÃO MÃN;

NGÃ NHƯỢC HƯỚNG TU-LA, ÁC TÂM TỰ ÐIỀU PHỤC;

NGÃ NHƯỢC HƯỚNG SÚC SANH, TỰ ÐẮC ÐẠI TRÍ HUỆ."

 

Nghĩa:

 

1) "Nam mô Ðại Bi Quán Thế Âm, con nguyện chóng biết tất cả pháp;

2) Nam mô Ðại Bi Quán Thế Âm, con nguyện sớm được Trí Huệ Nhãn;

3) Nam mô Ðại Bi Quán Thế Âm, con nguyện chóng độ các chúng sanh;

4) Nam mô Ðại Bi Quán Thế Âm, con nguyện sớm được thiện phương tiện;

5) Nam mô Ðại Bi Quán Thế Âm, con nguyện chóng lên thuyền Bát-nhã;

6) Nam mô Ðại Bi Quán Thế Âm, con nguyện sớm vượt qua biển khổ;

7) Nam mô Ðại Bi Quán Thế Âm, con nguyện chóng đắc Giới Ðịnh Ðạo;

8) Nam mô Ðại Bi Quán Thế Âm, con nguyện sớm lên núi Niết-bàn;

9) Nam mô Ðại Bi Quán Thế Âm, con nguyện chóng về nhà Vô-vi;

10) Nam mô Ðại Bi Quán Thế Âm, con nguyện sớm đồng thân Pháp tánh.

Nếu con hướng núi đao, núi đao tự sụp đổ;

Nếu con hướng nước sôi, nước sôi tự khô cạn;

Nếu con hướng địa ngục, địa ngục tự tiêu diệt;

Nếu con hướng ngạ quỷ, ngạ quỷ liền no đủ;

Nếu con hướng Tu-la, ác tâm tự điều phục;

Nếu con hướng súc sanh, liền đắc đại Trí Huệ."

 

Lược Giảng:

Mười lời nguyện đó là:

 

1) "Nam mô Ðại Bi Quán Thế Âm, con nguyện chóng biết tất cả pháp."

"Nam mô" nghĩa là gì? "Nam mô" là tiếng Phạn, và có nghĩa là "quy mạng." Do đó, "Nam mô Quán Thế Âm Bồ-tát" có nghĩa là giao phó tất cả thân tâm, tính mạng của mình cho Quán Thế Âm Bồ-tát.

"Nam mô" lại cũng có nghĩa là "kính đầu," tức là cung kính quy y, cung kính quay về nương tựa. Như vậy, "nam mô Phật" tức là cung kính quay về nương tựa Phật; "nam mô Pháp" là cung kính quay về nương tựa Pháp; "nam mô Tăng" là cung kính quay về nương tựa Tăng; và "nam mô Ðại Bi Quán Thế Âm" là cung kính quay về nương tựa Ðức Quán Thế Âm Bồ-tát đại từ đại bi.

Sau khi đã quay về nương tựa Ðại Bi Quán Thế Âm Bồ-tát rồi thì sao nữa? Thì hãy phát nguyện rằng: "Con nguyện chóng biết tất cả pháp. Cầu xin Quán Thế Âm Bồ-tát gia bị, phù hộ cho con được hiểu rõ Phật Pháp một cách nhanh chóng." Ở đây, "biết" (tri) tức là hiểu rõ, hiểu thấu đáo.

 

2) "Nam mô Ðại Bi Quán Thế Âm, con nguyện sớm được Trí Huệ Nhãn." Ở thế gian chúng ta, những người hiện đời có được Ngũ Nhãn, Lục Thông đều là nhờ thuở trước họ đã từng trì tụng Chú Ðại Bi và quy y với Quán Thế Âm Bồ-tát, nên Trí Huệ Nhãn khai mở và họ có được "con mắt trí huệ."

 

3) "Nam mô Ðại Bi Quán Thế Âm, con nguyện chóng độ các chúng sanh." Chúng ta cần "mau biết tất cả pháp, sớm được Trí Huệ Nhãn" để làm gì? Chính là để "chóng độ các chúng sanh."

 

4) "Nam mô Ðại Bi Quán Thế Âm, con nguyện sớm được thiện phương tiện." Muốn độ tất cả chúng sanh thì chúng ta cần phải biết mọi pháp môn phương tiện ngõ hầu có thể tùy theo căn cơ của chúng sanh mà thuyết giảng thứ giáo pháp thích hợp, "tùy bệnh cho thuốc." Do đó, sớm chứng đắc các pháp môn thiện xảo phương tiện là điều rất thiết yếu.

 

5) "Nam mô Ðại Bi Quán Thế Âm, con nguyện chóng lên thuyền Bát-nhã. Con lại quay về nương tựa Ðại Bi Quán Thế Âm Bồ-tát, và nguyện sẽ chóng được ngồi thuyền trí huệ Bát-nhã."

 

6) "Nam mô Ðại Bi Quán Thế Âm, con nguyện sớm vượt qua biển khổ. Sau khi được lên ngồi trên thuyền trí huệ Bát-nhã rồi, con nguyện sẽ dùng con thuyền này để nhanh chóng vượt thoát biển khổ sanh tử."

 

7) "Nam mô Ðại Bi Quán Thế Âm, con nguyện chóng được Giới Ðịnh Ðạo. Con cung kính quy y Ðức Quán Thế Âm Ðại Từ Ðại Bi, và nguyện sẽ sớm thông đạt được đạo Giới, Ðịnh, Huệ."

 

8) "Nam mô Ðại Bi Quán Thế Âm, con nguyện sớm lên núi Niết-bàn. Sau khi đắc được Giới Ðịnh Ðạo, con nguyện sẽ mau chóng lên được cõi Niết-bàn."

 

9) "Nam mô Ðại Bi Quán Thế Âm, con nguyện chóng về nhà Vô-vi." "Nhà Vô-vi" tức là Vô-vi pháp; do đó, "chóng về nhà Vô-vi" có nghĩa là sớm chứng đắc pháp môn Vô-vi vậy.

 

10) "Nam mô Ðại Bi Quán Thế Âm, con nguyện sớm đồng thân Pháp tánh. Con xin cung kính quay về nương tựa Ðại Bi Quán Thế Âm Bồ-tát, và nguyện sẽ sớm chứng đắc tự thân của Pháp tánh."

 

"Nếu con hướng núi đao, núi đao tự sụp đổ. Khi niệm Chú Ðại Bi, nếu con quay về hướng núi đao mà niệm, thì núi đao sẽ tự nhiên tan rã, đổ sụp xuống."

 

"Nếu con hướng nước sôi, nước sôi tự khô cạn. Nếu con hướng về địa ngục nước sôi mà niệm Chú Ðại Bi, thì lửa sẽ lụn tắt và nước cũng cạn khô."

 

"Nếu con hướng địa ngục, địa ngục tự tiêu diệt. Nếu con hướng về địa ngục mà niệm Chú Ðại Bi, thì địa ngục sẽ biến thành thiên đường—không còn có địa ngục nữa."

"Nếu con hướng ngạ quỷ, ngạ quỷ liền no đủ. Nếu con hướng về loài ngạ quỷ mà niệm Chú Ðại Bi, thì hết thảy ngạ quỷ đều được no đủ, không còn bị cái khổ đói khát hành hạ nữa."

 

"Nếu con hướng Tu-la, ác tâm tự điều phục. Nếu con hướng về những chúng sanh Tu-la hung ác nhất mà niệm Chú Ðại Bi, thì tâm địa độc ác của loài Tu-la sẽ tự nhiên được điều phục và tất cả đều phát tâm muốn quy y, hướng thiện."

 

"Nếu con hướng súc sanh, liền đắc đại Trí Huệ. Nếu con hướng về những súc sanh ngu muội mà niệm Chú Ðại Bi, thì chúng sẽ có được trí huệ rộng lớn."

 

Kinh Văn:

Âm: "PHÁT THỊ NGUYỆN DĨ, CHÍ TÂM XƯNG NIỆM NGÃ CHI DANH TỰ, DIỆC ƯNG CHUYÊN NIỆM NGÃ BỔN SƯ A-DI-ÐÀ NHƯ-LAI; NHIÊN HẬU TỨC ÐƯƠNG TỤNG THỬ ÐÀ-LA-NI THẦN CHÚ. NHẤT TÚC TỤNG MÃN NGŨ BIẾN, TRỪ DIỆT THÂN TRUNG BÁCH THIÊN VẠN ỨC KIẾP SANH TỬ TRỌNG TỘI."

Nghĩa: "Phát những nguyện này xong, hãy chí tâm xưng niệm danh hiệu của con và cũng phải chuyên niệm danh hiệu Ðức Bổn Sư của con là Ðức A-Di-Ðà Như Lai; sau đó phải luôn trì tụng Thần Chú Ðà-La-Ni này. Nếu mỗi đêm tụng đủ năm biến thì có thể tiêu trừ được trọng tội trong trăm ngàn muôn ức kiếp sanh tử."

 

Lược Giảng:

Quán Thế Âm Bồ-tát lại bạch cùng Ðức Phật: "Sau khi các chúng sanh phát tâm thọ trì Chú Ðại Bi đã phát những nguyện này xong, hãy chí tâm xưng niệm danh hiệu của con–Quán Thế Âm Bồ-tát."

Quý vị muốn thọ trì Chú Ðại Bi, thì trước tiên, mỗi người phải đối trước Quán Thế Âm Bồ-tát mà lập mười thệ nguyện như trên; rồi kế đến là phải chí tâm xưng niệm danh hiệu của Ngài, tức là Quán Thế Âm Bồ-tát. "Chí tâm" tức là thành tâm thành ý, một lòng một dạ.

 

"Và cũng phải chuyên niệm Ðức Bổn Sư của con. Các chúng sanh đó nếu chỉ niệm danh hiệu của con thôi thì vẫn còn chưa đủ, họ cần phải chuyên tâm trì niệm cả danh hiệu của Bổn Sư của con nữa; Bổn Sư của con là ai ư? Chính là Ðức A-Di-Ðà Như Lai." Bởi "uống nước nhớ nguồn," cho nên chúng ta cần phải biết nghĩ đến Ðức Phật A-Di-Ðà, vốn là Thầy của Quán Thế Âm Bồ-tát tự thuở ban sơ. Do đó, chúng ta cũng cần phải niệm "Nam mô A-Di-Ðà Phật" nữa, chứ không phải chỉ niệm "Nam mô Quán Thế Âm Bồ-tát" mà thôi.

"Sau đó, phải luôn trì tụng Thần Chú Ðà-La-Ni này. Trước hết, các chúng sanh đó phải niệm danh hiệu của con—‘Nam mô Quán Thế Âm Bồ-tát’; rồi tiếp đến là niệm danh hiệu Ðức Bổn Sư của con—‘Nam mô A Di Ðà Phật’; và sau đó mới bắt đầu tụng Thần Chú Ðà-La-Ni. Nếu mỗi đêm tụng đủ năm biến thì có thể tiêu trừ được trọng tội trong trăm ngàn muôn ức kiếp sanh tử."

Mỗi tối, nếu quý vị có thể chuyên cần trì tụng Chú Ðại Bi đủ năm biến, đều đặn như thế, thì có thể khiến cho bao nhiêu nghiệp chướng mà bản thân quý vị trót gây tạo đều được tiêu trừ. "Trọng tội trong trăm ngàn muôn ức kiếp sanh tử" tức là những tội lỗi thâm trọng mà chúng ta đã tạo tác trong quá trình luân hồi luẩn quẩn, sanh rồi chết, chết rồi lại tái sanh, lập đi lập lại mãi trong suốt cả hằng trăm ngàn vạn ức kiếp.

 

Kinh Văn:

Âm: QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT PHỤC BẠCH PHẬT NGÔN: "THẾ TÔN! NHƯỢC CHƯ NHÂN THIÊN TỤNG TRÌ ÐẠI BI CHƯƠNG CÚ GIẢ, LÂM MẠNG CHUNG THỜI, THẬP PHƯƠNG CHƯ PHẬT GIAI LAI THỌ THỦ; DỤC SANH HÀ ÐẲNG PHẬT ÐỘ, TÙY NGUYỆN GIAI ÐẮC VÃNG SANH."

Nghĩa: Quán Thế Âm Bồ-tát lại bạch Phật rằng: "Bạch Ðức Thế Tôn! Nếu chư nhân thiên tụng trì Thần Chú Ðại Bi, thì lúc lâm chung, mười phương chư Phật đều đến cầm tay tiếp dẫn; và muốn sanh về cõi Phật nào cũng đều được tùy nguyện vãng sanh."

  

Lược Giảng:

Quán Thế Âm Bồ-tát lại bạch Phật rằng: "Bạch Ðức Thế Tôn! Nếu chư nhân thiên tụng trì Thần Chú Ðại Bi, thì lúc lâm chung, mười phương chư Phật đều đến cầm tay tiếp dẫn." Giả sử các chúng sanh trong cõi người và cõi trời tụng trì Chú Ðại Bi này thì đến lúc hấp hối, họ sẽ được chư Phật từ khắp mười phương hiện đến và đưa tay tiếp dẫn, đích thân nắm tay họ mà dắt về cõi nước của các ngài.

 

"Và muốn sanh về cõi Phật nào cũng đều được tùy nguyện vãng sanh." Lại nữa, các chúng sanh này muốn sanh về cõi Phật nào thì đều được vãng sanh về cõi Phật đó, đúng như ước nguyện của họ.

 

Kinh Văn:

Âm: PHỤC BẠCH PHẬT NGÔN: "THẾ TÔN! NHƯỢC CHƯ CHÚNG SANH TỤNG TRÌ ÐẠI BI THẦN CHÚ, ÐỌA TAM ÁC ÐẠO GIẢ, NGÃ THỆ BẤT THÀNH CHÁNH GIÁC.

TỤNG TRÌ ÐẠI BI THẦN CHÚ GIẢ, NHƯỢC BẤT SANH CHƯ PHẬT QUỐC GIẢ, NGÃ THỆ BẤT THÀNH CHÁNH GIÁC.

TỤNG TRÌ ÐẠI BI THẦN CHÚ GIẢ, NHƯỢC BẤT ÐẮC VÔ LƯỢNG TAM-MUỘI BIỆN TÀI GIẢ, NGÃ THỆ BẤT THÀNH CHÁNH GIÁC."

Nghĩa: Lại bạch Phật rằng: "Bạch Ðức Thế Tôn! Nếu các chúng sanh tụng trì Thần Chú Ðại Bi mà còn bị đọa vào ba ác đạo, thì con nguyện sẽ không thành Chánh Giác.

Tụng trì Thần Chú Ðại Bi, nếu không được sanh về các cõi nước của chư Phật, thì con nguyện sẽ không thành Chánh Giác.

Tụng trì Thần Chú Ðại Bi, nếu không chứng đắc vô lượng Tam-muội và biện tài, thì con nguyện sẽ không thành Chánh Giác."

 

Lược Giảng:

Ðức Quán Thế Âm Bồ-tát lại bạch Phật rằng: "Bạch Ðức Thế Tôn! Nếu các chúng sanh tụng trì Thần Chú Ðại Bi mà còn bị đọa vào ba ác đạo—địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh—thì con nguyện sẽ không thành Chánh Giác." Như vậy, nếu tất cả những chúng sanh tụng trì Chú Ðại Bi đều không còn bị đọa vào ba đường ác, thì Quán Thế Âm Bồ-tát mới thành Phật!

 

"Tụng trì Thần Chú Ðại Bi, nếu không được sanh về các cõi nước của chư Phật, thì con nguyện sẽ không thành Chánh Giác." Giả sử có người trì niệm Thần Chú Ðại Bi và phát nguyện muốn được sanh về quốc độ của đức Phật nào đó, nếu người ấy không được toại nguyện thì Quán Thế Âm Bồ-tát sẽ không thành Phật!

 

"Tụng trì Thần Chú Ðại Bi, nếu không chứng đắc vô lượng Tam-muội và biện tài, thì con nguyện sẽ không thành Chánh Giác." Giả sử có người trì niệm Thần Chú Ðại Bi mà lại chẳng chứng được vô lượng Tam-muội cùng đại biện tài—không có được khả năng biện luận và giảng kinh thuyết pháp, cũng chẳng được khai mở đại trí huệ—thì Quán Thế Âm Bồ-tát cũng sẽ không thành Phật.

  

Kinh Văn:

Âm: "TỤNG TRÌ ÐẠI BI THẦN CHÚ GIẢ, Ư HIỆN TẠI SANH TRUNG, NHẤT THIẾT SỞ CẦU NHƯỢC BẤT QUẢ TOẠI GIẢ, BẤT ÐẮC VI ÐẠI BI TÂM ÐÀ-LA-NI DÃ; DUY TRỪ BẤT THIỆN, TRỪ BẤT CHÍ THÀNH."

Nghĩa: "Tụng trì Thần Chú Ðại Bi mà nếu ngay trong đời hiện tại, tất cả những sự mong cầu lại không được kết quả toại ý, thì không gọi là Ðại Bi Tâm Ðà-La-Ni; chỉ trừ bất thiện, trừ chẳng chí thành."

 

Lược Giảng:

Quán Thế Âm Bồ-tát lại bạch cùng Ðức Phật rằng: "Những người tụng trì Thần Chú Ðại Bi mà nếu ngay trong đời hiện tại, tất cả những sự mong cầu lại không được kết quả toại ý, không được mãn nguyện, thì Thần Chú này không gọi là Ðại Bi Tâm Ðà-La-Ni!" Tuy nhiên, có một điều chúng ta cần phải lưu ý trước, đó là các trường hợp ngoại le?#151;"chỉ trừ bất thiện, trừ chẳng chí thành."

"Chỉ trừ bất thiện." Nếu quý vị một mặt thì tụng Chú Ðại Bi, mặt khác lại đi giết người, cướp của, hoặc tà dâm, vọng ngữ, rượu thịt say sưa..., chẳng từ một việc xấu nào cả, thì hẳn nhiên là Thần Chú sẽ không hiển linh, không công hiệu. "Bất thiện" là bao gồm hết thảy mọi hành vi bất chánh, tà vạy như sát sanh, trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ...

"Trừ chẳng chí thành." Nếu quý vị tụng niệm qua loa cho có lệ, nói là muốn thử xem Chú Ðại Bi có thật sự linh nghiệm hay không, như thế có nghĩa là quý vị không có lòng thành. Quý vị không có ý muốn thử, thì Chú sẽ linh ứng; song nếu quý vị muốn thử, thì Chú sẽ chẳng hiển linh! Vì sao ư? Vì Phật và Bồ-tát không phải là đối tượng để cho quý vị tùy tiện thử thách, thí nghiệm—các ngài không cần quý vị đến thử nghiệm! Chư Phật và chư Bồ-tát có thể thử nghiệm chúng sanh, song chúng sanh không được phép thử nghiệm các ngài. Do đó, nếu quý vị rắp tâm muốn thử xem sự việc sẽ như thế nào, tức là quý vị không có lòng chí thành; mà không có lòng thành khẩn thiết tha thì chẳng thể nào có sự cảm ứng linh nghiệm được!

 

Kinh Văn:

Âm: "NHƯỢC CHƯ NỮ NHÂN YẾM TIỆN NỮ THÂN, DỤC THÀNH NAM TỬ THÂN, TỤNG TRÌ ÐẠI BI ÐÀ-LA-NI CHƯƠNG CÚ, NHƯỢC BẤT CHUYỂN NỮ THÂN THÀNH NAM TỬ THÂN GIẢ, NGÃ THỆ BẤT THÀNH CHÁNH GIÁC; SANH THIỂU NGHI TÂM GIẢ, TẤT BẤT QUẢ TOẠI DÃ."

Nghĩa: "Nếu các người nữ chán ghét thân nữ, muốn thành thân nam, tụng trì Thần Chú Ðại Bi Ðà-La-Ni, như không được chuyển thân nữ thành thân nam, thì con thề sẽ không thành Chánh Giác; người nào còn sanh chút lòng nghi tất không được toại nguyện."

 

Lược Giảng:

"Nếu các người nữ chán ghét thân nữ, không muốn phải sanh làm người nữ nữa, muốn thành thân nam, tụng trì Thần Chú Ðại Bi Ðà-La-Ni, như không được chuyển thân nữ thành thân nam, thì con thề sẽ không thành Chánh Giác." Sự "chuyển thân nữ thành thân nam" này không phải là sẽ xảy ra ngay trong đời hiện tại, mà là ứng vào đời sau trong thời vị lai.

Vậy, giả sử những người nữ ao ước được làm người nam đó siêng năng trì niệm Chú Ðại Bi, mà đến đời sau họ lại không được sanh làm thân nam, thì Quán Thế Âm Bồ-tát quyết sẽ không thành Phật.

 

"Người nào còn sanh chút lòng nghi tất không được toại nguyện." Tuy nhiên, nếu trong lòng quý vị có dấy lên dù chỉ một mảy may hoài nghi thì sự mầu nhiệm sẽ chẳng bao giờ xảy ra, và do đó, tâm nguyện của quý vị sẽ không được thành tựu.

 

Kinh Văn:

Âm: "NHƯỢC CHƯ CHÚNG SANH XÂM TỔN THƯỜNG TRỤ ẨM THỰC TÀI VẬT, THIÊN PHẬT XUẤT THẾ BẤT THÔNG SÁM HỐI, TÚNG SÁM DIỆC BẤT TRỪ DIỆT, KIM TỤNG ÐẠI BI THẦN CHÚ, TỨC ÐẮC TRỪ DIỆT."

Nghĩa: "Nếu các chúng sanh xâm tổn tài vật, đồ ăn thức uống của Thường Trụ, thì dẫu một ngàn đức Phật ra đời cũng chẳng được sám hối, mà dù có sám hối cũng không tiêu trừ được; nay tụng Thần Chú Ðại Bi thì tức khắc được tiêu trừ."

 

Lược Giảng:

"Nếu các chúng sanh xâm tổn tài vật, đồ ăn thức uống của Thường Trụ." Thường Trụ tức là nhà chùa.

Những kẻ đến chùa ăn uống, tiêu thụ vật thực của chùa mà không cúng dường tiền lại, hoặc mượn đồ dùng của chùa rồi không chịu trả, lạm dụng tài vật của chùa... thì sẽ mang tội rất nặng. Tội ấy, "thì dẫu một ngàn đức Phật ra đời, cũng chẳng được sám hối. Chư Phật không thể hứa khả cho họ sám hối, mà dù có sám hối cũng không tiêu trừ được."

Cái tội xâm chiếm hoặc làm hao tổn thực phẩm và tài vật của chùa chiền rất nghiêm trọng, cho dù các chúng sanh đó có đối trước chư Phật mà khẩn cầu sám hối thì tội lỗi cũng chẳng thể tiêu tan. Thế nhưng, "nay tụng Thần Chú Ðại Bi, thì tức khắc được tiêu trừ." Nếu ngay bây giờ họ trì tụng Chú Ðại Bi, thì bao nhiêu tội chướng sẽ lập tức tiêu tan!

 

Kinh Văn:

Âm: "NHƯỢC XÂM TỔN THỰC DỤNG THƯỜNG TRỤ ẨM THỰC TÀI VẬT, YẾU ÐỐI THẬP PHƯƠNG SƯ SÁM TẠ, NHIÊN THỦY TRỪ DIỆT; KIM TỤNG ÐẠI BI ÐÀ-LA-NI THỜI, THẬP PHƯƠNG SƯ TỨC LAI VI TÁC CHỨNG MINH, NHẤT THIẾT TỘI CHƯỚNG, TẤT GIAI TIÊU DIỆT."

Nghĩa: "Nếu xâm tổn tài vật, đồ ăn thức uống của Thường Trụ, thì phải đối trước mười phương Sư mà sám hối, mới có thể tiêu trừ; nay tụng Ðại Bi Ðà-La-Ni thì mười phương Sư liền đến chứng minh, tất cả tội chướng đều được tiêu tan."

 

Lược Giảng:

"Nếu xâm tổn tài vật, đồ ăn thức uống của Thường Trụ, thì phải đối trước mười phương Sư mà sám hối, mới có thể tiêu trừ." Những kẻ dám chiếm đoạt hoặc gây tổn thất hư hại cho tài sản, đồ ăn thức uống của nhà chùa, thì phải đối trước chư Ðại Sư ở khắp mười phương—cũng chính là mười phương chư Phật—để sám hối tạ tội thì may ra nghiệp tội tày trời của họ mới có thể được tiêu tan.

Tuy nhiên, những kẻ đó nếu "nay tụng Ðại Bi Ðà-La-Ni thì mười phương Sư liền đến chứng minh, tất cả tội chướng đều được tiêu tan." Chỉ cần ngay bây giờ những kẻ ấy bắt đầu thành khẩn tụng trì Chú Ðại Bi, thì mười phương chư Phật sẽ đến để chứng giám cho họ, và mọi tội lỗi nghiệp chướng của họ liền được tiêu tan.

 

Kinh Văn:

 

Âm: "NHẤT THIẾT THẬP ÁC, NGŨ NGHỊCH, BÁNG NHÂN BÁNG PHÁP, PHÁ TRAI PHÁ GIỚI, PHÁ THÁP HOẠI TỰ, THÂU TĂNG KỲ VẬT, Ô TỊNH PHẠM HẠNH; NHƯ THỊ ÐẲNG NHẤT THIẾT ÁC NGHIỆP TRỌNG TỘI, TẤT GIAI DIỆT TẬN."

Nghĩa: "Tất cả các tội Thập Ác, Ngũ Nghịch, báng nhân báng Pháp, phá trai phá Giới, phá chùa hủy tháp, trộm của Tăng-kỳ, làm nhơ Phạm hạnh thanh tịnh; bao nhiêu nghiệp ác tội nặng như thế đều được dứt sạch."

 

Lược Giảng:

"Tất cả các tội Thập Ác, Ngũ Nghịch ..."

 

Thập Ác tức là mười việc ác: 1) Sát sanh; 2) Trộm cắp ; 3) Tà dâm; 4) Tham lam; 5) Sân hận; 6) Si mê; 7) Nói lời thêu dệt; 8) Nói lời gian dối; 9) Nói lời hung ác; 10) Nói lời đâm thọc (nói lưỡi đôi chiều).

Ngũ Nghịch là năm tội nghịch tày trời: 1) Giết cha; 2) Giết mẹ; 3) Giết bậc A-La-Hán; 4) Phá sự hòa hợp của Tăng chúng; 5) Làm cho thân Phật chảy máu.

 

"Báng nhân, báng Pháp." "Báng nhân" tức là hủy báng, chê bai, bôi nhọ người khác. Thí dụ, người ta vốn là một vị tu hành, có đạo đức, mà mình lại buông lời miệt thị: "Ui chao! Hắn là một kẻ chẳng ra gì, đừng nhắc tới nữa!"; như thế là hủy báng tha nhân vậy.

"Báng Pháp" tức là hủy báng Phật Pháp, hủy báng chư Tăng Ni, khinh chê lời Phật dạy.

"Phá trai, phá Giới." Nếu quý vị đã nguyện là chỉ ăn chay, song lại không giữ lời, tùy tiện ăn thịt; như thế tức là quý vị "phá trai" vậy. Nếu quý vị thọ Giới mà lại không giữ Giới, cứ làm những điều trái với Giới Luật, thì đó gọi là "phá Giới."

 

"Phá chùa hủy tháp, trộm của Tăng-kỳ, làm nhơ Phạm hạnh thanh tịnh." "Phá chùa hủy tháp" tức là phá hoại, triệt hạ chùa chiền và tháp miếu thờ Phật; "trộm của Tăng-kỳ" là lấy cắp đồ đạc của người xuất gia; "làm nhơ Phạm hạnh thanh tịnh" là khiến cho người đang tu hạnh thanh tịnh bị ô uế, không giữ được hạnh trong sạch nữa.

Những tội lỗi kể trên đều rất nghiêm trọng, tuy thế, nếu quý vị đã trót phạm mà nay lại có thể thành tâm trì tụng Chú Ðại Bi thì "bao nhiêu nghiệp ác tội nặng như thế đều được dứt sạch."

 

Kinh Văn:

Âm: "DUY TRỪ NHẤT SỰ, Ư CHÚ SANH NGHI GIẢ, NÃI CHÍ TIỂU TỘI KHINH NGHIỆP, DIỆC BẤT ÐẮC DIỆT, HÀ HUỐNG TRỌNG TỘI? TUY BẤT TỨC DIỆT TRỌNG TỘI, DO NĂNG VIỄN TÁC BỒ ÐỀ CHI NHÂN."

Nghĩa: "Chỉ trừ một việc, nếu đối với Thần Chú còn sanh lòng nghi thì ngay cả tội nhỏ nghiệp nhẹ cũng không được tiêu trừ, huống hồ tội nặng? Tuy không thể tức khắc tiêu trừ được tội nặng, song vẫn có thể làm nhân xa của Bồ-đề."

 

Lược Giảng:

Tuy nhiên, "chỉ trừ một việc." Câu này vô cùng quan trọng; vậy thì ngoại trừ trường hợp nào? Ðó là trường hợp "nếu đối với Thần Chú còn sanh lòng nghi."

Nếu quý vị cứ phân vân: "Không biết Chú này có linh nghiệm như thế thật không nhỉ? Có thật là có sự mầu nhiệm đến thế không? Tuy nói rằng trì tụng Chú này thì được cảm ứng, nhưng đó chỉ toàn là nghe người ta kể lại chứ mình vẫn chưa được chứng kiến tận mắt; chẳng biết có đúng là như vậy hay không?"; tức là quý vị không có lòng tin đối với Thần Chú. Mà hễ quý vị không tin thì thế nào? Thì sẽ hoàn toàn không linh nghiệm! Vì sao ư? Bởi vì quý vị không đặt trọn lòng tin nơi Thần Chú!

Thí dụ, khi quý vị nhờ bạn bè làm giùm một việc gì đó, thì quý vị cần phải thật tâm tín nhiệm họ; bằng không, họ sẽ chẳng muốn giúp quý vị! Tương tự như thế, quý vị cần phải tuyệt đối tin tưởng vào Thần Chú này; bằng không, "thì ngay cả tội nhỏ nghiệp nhẹ cũng không được tiêu trừ."

"Ðối với Thần Chú còn sanh lòng nghi" cũng có nghĩa là không "y giáo phụng hành," không làm đúng theo các đạo lý bao hàm trong Thần Chú. Thí dụ Quán Thế Âm Bồ-tát căn dặn là hành giả mỗi ngày phải tụng Chú Ðại Bi đủ năm biến, thì quý vị không tụng năm biến mà lại tụng bốn biến, còn nói rằng: "Bớt đi một biến thì đâu có gì quan trọng?! Tụng nhiều hay ít thì cũng vậy thôi; miễn có tụng là được rồi!" Thế là, hôm nay lười biếng nên chỉ tụng một biến rồi nghỉ; hôm sau siêng năng hơn nên tụng luôn một lúc đến một trăm biến để bù lại! Như vậy thì có khác gì hôm nay ăn một lúc hết hai mươi chén cơm, rồi sang ngày mai thì không ăn gì cả? Không ăn gì cả thì đói chịu không nổi; còn ăn luôn hai chục chén cơm thì bụng no anh ách cũng chẳng dễ chịu tí nào! Việc tụng Chú Ðại Bi tuy về hình tướng thì không hoàn toàn giống như việc ăn cơm, song tính cách thì cũng tương tự. Trong kinh đã dặn mỗi ngày tụng năm biến thì chúng ta phải mỗi ngày chăm chỉ tụng đủ năm biến; nhất định phải đều đặn như thế, chứ đừng tụng sáu biến, mà cũng chớ nên tụng bốn biến!

Có người phân trần: "Tôi vốn kém trí nhớ, nên cứ lẫn lộn, không biết là mình đã tụng đủ năm biến hay chỉ mới tụng bốn biến!" Nói như thế tức là quý vị hoàn toàn chẳng có tụng niệm gì cả! Bởi quý vị không thể nhớ được kia mà! Tụng được bao nhiêu biến mà chính mình cũng không nhớ rõ, thì một biến cũng chẳng thành lập! Do đó, quý vị cần phải ghi nhớ cho rõ ràng rành mạch.

Lại có người thắc mắc: "Tôi vừa bắt đầu niệm Chú thì đầu óc cứ mơ mơ màng màng; như thế có kể là có tụng không?" Như thế thì không kể; đó là ngủ gà ngủ gật chứ không phải là tụng Chú!

Có người thì kể lể: "Mỗi lần tôi tu Pháp là hai mắt cứ ríu lại, mở không ra!" Như thế cũng không tính, bởi quý vị chỉ tu niệm một cách hồ đồ, điên đảo, thiếu sáng suốt. Quý vị cần phải y theo giáo pháp mà tu tập trong sự tỉnh táo, minh mẫn mới được!

Cũng có người tự biện hộ rằng: "Tôi chỉ phạm một vài sai sót nho nhỏ thôi thì chắc cũng không sao; vị Thần của Chú không thể nào biết được! Hiện tại tôi chưa tụng Chú, thì vị Chú Thần chưa đến, vậy tôi có uống chút xíu rượu cũng chẳng hề gì!" Suy nghĩ như thế tức là quý vị "còn sanh lòng nghi," không có tín tâm đối với Chú. Phải như thế nào mới gọi là thật sự có tín tâm đối với Chú? Phải thành khẩn, không mảy may gợn chút hoài nghi, và phải theo đúng khuôn phép, nền nếp mà tu hành!

 

"Huống hồ tội nặng?" Tội nhỏ nghiệp nhẹ mà còn không tiêu trừ được, thì tội lớn nghiệp nặng lại càng khó thể tiêu trừ hơn nữa!

 

"Tuy không thể tức khắc tiêu trừ được tội nặng, song vẫn có thể làm nhân Bồ-đề về lâu xa." Mặc dù quý vị tụng Chú với lòng nghi thì tội nặng không thể được tiêu trừ ngay, song quý vị vẫn có thể gieo được cái nhân Bồ-đề cho chính mình về sau. Hạt giống Bồ-đề này, đến một đại kiếp nào đó trong tương lai sẽ nẩy mầm Bồ-đề và sẽ lớn mạnh, kết thành quả Bồ-đề. Cho nên, một khi đã trồng cái nhân rồi, thì sớm muộn gì nó cũng đâm chồi nẩy lộc, đơm hoa kết trái.

  1 2 3 4 5