English and Chinese | Vietnamese

 

Vị Thầy Luôn Đáp Ứng Lời Cầu Nguyện

Bài nói chuyện của Thầy Hằng Lai vào ngày 28 tháng 11 năm 2010, ngày cuối cùng của Lễ Lương Hoàng Sám tại chùa Kim Phong. 

 Trích dịch từ Nguyệt San Vajra Bodhi Sea số tháng 3, 2011, trang 28 -30

 

Tôi có một câu chuyện kể về Sư Phụ [Hòa Thượng Tuyên Hóa]. Trong thời gian còn ở chùa Vạn Phật, một hôm tôi nhận được một cú điện thoại. Ở đầu dây là Sư phụ và Ngài hỏi: “Con có rảnh không?”. “Dạ có”, tôi đáp. “Con cần phải đi Phoenix, Arizona. Có một người đệ tử bên đó muốn cúng dường cho chúng ta một chiếc xe buýt. Con nên gặp người này, ông ta hiện đang ở trong tù”. Tôi nhận công việc này và ngày hôm sau đáp xe đò Greyhound lên đường đi Phoenix, Arizona .

Đến Phoenix vào lúc đêm khuya, khỏi cần phải nói thành phố đã chìm ngâp trong bóng tối. Tôi băn khoăn không biết mình sẽ qua đêm ở đâu vì đã không đem đủ tiền để thuê khách sạn. Cuối cùng tôi tìm được một quán trọ đơn sơ, vốn dành cho những người nghèo đến tá túc qua đêm. Nó thật phù hợp với dự tính của mình và tôi đã trả cho chủ quán năm đô-la để thuê thêm cái mền. Bước vào bên trong, tôi bắt đầu cảm thấy lo ngại. Tôi khám phá ra rằng đây là một gian phòng rộng suốt, không có phòng ốc gì cả mà chỉ có những tấm ngăn để ngăn chia ra thành nhiều ô nhỏ. Tôi cảm thấy chung quanh không an toàn cho lắm và vì thế không thể nào chợp mắt được. Suốt đêm tôi ngồi niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, cầu mong Ngài gia bị nếu có điều không may xảy ra. May thay, không một ai nhắm về phía tôi hay gây ra rắc rối gì cả, và cuối cùng đêm cũng trôi qua.

Sáng hôm sau tôi đã tìm cách đến nhà giam, một nơi dơ bẩn và bao trùm hắc khí. Sau đó tôi được biết người đệ tử Trung-Hoa này bị kết án và giam cầm vì đã buôn bán bất hợp pháp các loại thuốc dược thảo Trung Hoa qua hệ thống bưu điện Hoa Kỳ bằng cách quảng cáo giả dối nói là thuốc sẽ giúp cho phụ nữ được thụ thai. Thế là ông ta bị tuyên án và bỏ tù trong một thời gian mà vẫn chưa được phán quyết là bao lâu.

Cuối cùng rồi tôi được phép vào gặp ông ta. Qua một lớp kiếng dày, tôi nhận thấy ông ấy rất bồn chồn và lo sợ. Ông lo cho tính mạng đang bị đe dọa cũng như sợ không thể sống sót trong tình cảnh như thế này. Chuyện đó cũng dể hiểu vì những nơi này thường đầy dẫy các linh hồn xấu, và môi trường thì đầy vẻ uy hiếp. Tôi cố an ủi ông ta và khuyên rằng nếu trì niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát thì ông sẽ được bình an. Tôi nhận lấy chìa khóa chiếc xe buýt từ nơi ông và rời khỏi nơi đó. Tôi gọi điện về cho Sư Phụ báo rằng ông ấy rất lo sợ cho tính mạng mình. Sư Phụ bảo đảm với tôi là Bồ Tát Quán Âm sẽ bảo vệ ông ta miễn là ông ta trì niệm danh hiệu của Ngài.

Tôi ra bãi đậu để kiểm tra chiếc xe. Tình trạng chiếc xe khiến tôi thật thất vọng. Nó thuộc loại “cà rịch cà tàng”, có nghĩa là tệ hại hơn trung bình nữa. Chiếc xe này được lắp ráp vào thời thế chiến thứ hai và đã được điểm phết sơ chung quanh bên ngoài bằng loại sơn nhà. Còn vỏ bánh xe đã quá mòn, hầu như không còn những rảnh để tạo nên độ ghì bám trên đường. Với tình trạng như thế, tôi thắc mắc không biết làm thế nào để lái được về Chùa Vạn Phật đây. A Di Đà Phật ! Tôi bước lên xe. Ở phía trong, nó đã được cải biến và nhìn giống như một căn nhà di động (mobile home), nhưng chỉ nhỏ hơn thôi. Trong đó có một bếp nhỏ, một cái bàn nhỏ xíu và một máy truyền hình trắng đen. Tôi nổ máy và bắt đầu lái xe về Chùa Vạn Phật. Lúc này thời tiết ở Arizona quá nóng bức. Nhiệt độ lên đến hơn 100 độ và tôi không thể nào chạy trên 35 dặm/ giờ vì khó mà điều khiển nổi bánh xe mòn lẳn đó. Tôi luôn có cảm giác ám ảnh là chiếc xe sẽ “đầu hàng” hay là lốp xe sẽ bị xẹp bất cứ lúc nào. Những gì tôi có thể nghĩ đến lúc này là cứ liên tục niêm“Quán Thế Âm Bồ Tát”, và thế là chuyến đi trở thành hành trình bốn ngày thật dài.

Tôi đến vùng núi Sierra và vất vả lắm chiếc xe mới lê qua được ngọn đèo Donner trên xa lộ I-80 với tốc độ dưới 15 dặm/giờ. Giờ tôi đang chuẩn bị xuống dốc và có thể thả xe lăn xuống đèo. Tôi vẫn cứ lái tiếp mãi cho đến chiều tối và rồi tạm nghỉ qua đêm. Hôm sau, tôi rồ máy nhưng xe không nổ. Chỗ này thật hoang vắng, không một bóng người hay nhà cửa gì cả. Không ai có thể đến cứu tôi được. Tôi thầm nghĩ có lẽ mình sẽ chết đói ở nơi hoang dã này mất thôi. Thế là tôi lại cứ niệm tiếp danh hiệu Đức Quán Thế Âm Bồ Tát, và bỗng nhiên một chiếc xe kéo đến và dừng lại giúp tôi.  Người tài xế tiến đến gần và xin được giúp đỡ. Ông nói là xe bị chết máy vì bộ phận điều hòa điện thế của xe bị hư. Ông ta không những là một thợ máy giỏi mà còn là người sưu tầm các đồ phụ tùng xe cũ và tình cờ lại có một bộ phận điều hòa điện thế cho loại xe buýt thời thế chiến thứ 2. Vì tôi không còn đủ tiền sau khi đổ đầy thùng xăng nên tôi không thể mua được phụ tùng đó, tôi đành phải điều đình giá cả. Chúng tôi đồng ý trao đổi đồ đạc. Tôi sẽ đưa ông ta cái tivi đen trắng và ông ấy sẽ cho tôi bộ phận điều hòa điện thế đó. Thế là ông ta gắn cái bộ phận điều hòa điện thế mới đó vào và tôi lại tiếp tục cuộc hành trình.

Cuối cùng tôi cũng đã đến chùa Vạn Phật an toàn. Tôi kể với Sư phụ về sự việc đó và thuật lại tất cả những gì xảy ra trên đường đi. Sư phụ nói rằng: “Người thợ máy mà con gặp là người bạn đặc biệt của chúng ta; ông ta thật ra là một vị hộ pháp. Ngày nay không còn ai giữ đồ phụ tùng của các loại xe thời trước thế chiến thứ 2 như thế. Mặc dầu ta bảo con đi lấy chiếc xe buýt đó về nhưng thật ra chúng ta không cần nó. Lý do thật đằng sau chuyến đi này là tạo cơ hội cho người đệ tử đang bị tù đó tạo chút công đức và giảm bớt đi nỗi đau khổ của ông ta bằng cách tiếp nhận việc cúng dường chiếc xe buýt đó.

Chẳng bao lâu sau, phạm nhân đó đã được phóng thích. Trong thời gian ở tù, ông ta may mắn không bị tên tội nhân nào hành hung hay đánh đập. Ông ta đã được trả tự do.

Về chiếc xe buýt, nó vẫn được cất giữ ở chùa Vạn Phật mãi cho đến một ngày kia có một cặp hippy đến đòi mua. Chúng tôi giải thích rõ với họ đó là chiếc xe buýt có giá trị và được xem như là xe cổ điển và là loại để sưu tầm. Chúng tôi đề nghị với giá 1,250 Mỹ kim và họ đã đồng ý nhưng chỉ đặt cọc trước 250 Mỹ kim. Họ hứa mỗi tuần sẽ đưa thêm 250 Mỹ kim nữa cho đến khi trả hết số tiền còn lại. Chúng tôi đáp: “Cũng được thôi. Mỗi tuần quý vị trả 250 Mỹ kim nhưng không được lái xe buýt này đi đâu cả cho đến lúc trả xong số tiền”. Đây là cách chúng tôi sa thải chiếc xe buýt và đó cũng là phần kết thúc câu chuyện của tôi.