Chinese | Vietnamese

Thủy Kính Hồi Thiên Lục

Hòa Thượng Tuyên Hóa 

Mục Lục

Thiên Đế Vương


bookGiới thiệu:


Tai ương ách nạn là do sát nghiệp sanh ra, sát nghiệp là do tâm sanh ra; nếu tâm không sanh lòng giết hại, lòng trộm cướp, lòng tà dâm, lòng nói dối, lòng uống rượu mà lại nghiêm trì năm giới, siêng tu tam vô lậu học (giới, định, huệ), thì tất cả ác nghiệp liền được tiêu trừ. Khi đó thì “bổn lai diện mục” không khó nhận thức, “bổn hữu trí huệ” tất tự nhiên hiện tiền. Cảnh vật ở nơi này kỳ diệu biết bao không nơi nào có được. “Bổn địa phong quang” có lý thú kỳ diệu riêng mà ý vị thật vô cùng tận! Chúng ta nếu muốn được thưởng thức cái ý vị đó thì phải phát khởi lòng hướng thiện, gạn lọc tâm tính, phát tâm đại tinh tấn dõng mãnh, lập chí tiến tu nguyện thành đạo quả, để cứu độ nhân sinh cùng tới được bờ bên kia, cùng các bậc thiện nhân cao thượng vui vầy một chỗ, mãi mãi được bầu bạn cùng các bậc Bồ Tát bất thối. Cho nên, tôi viết quyển “Thủy Kính Hồi Thiên Lục” là vì mục đích này! 

Hòa Thượng Tuyên Hóa

TẦN THUỶ HOÀNG 

HOÀNG ĐẾ TÀN BẠO ĐỘC TÀI CHUYÊN CHẾ

 

 

Tần Thủy Hoàng họ Doanh tên Chính, là một ông vua độc tài bạo ác, đã thôn tính sáu nước và thống nhất Hoa Hạ, phong Lý Tư làm thừa tướng, thực thi chế độ tập trung quyền lực ở cấp trung ương, phế bỏ phong kiến, lập ra các quận huyện để cai trị. Tần hoàng tự cho mình là người có công hơn cả Tam hoàng, có đức hơn cả Ngũ đế, rồi tự xưng mình là hoàng đế đầu tiên của Trung Hoa. Ông đã ra lệnh đốt sách và chôn học trò, thực hiện chính sách ngu dân nô dịch; cho xây Vạn lý trường thành để ngăn chặn giặc Hồ; dựng cung A Phòng dài hơn ba trăm dặm, làm khổ nhân dân, tổn hao tiền của, nỗi cùng cực không thể nói thành lời. Tần Thủy Hoàng còn cho chế tạo vũ khí bằng sắt, đúc tượng người bằng đồng; bắt sửa chữ viết, thay đổi y phục, xe cộ và các chỉ số cân đo đong đếm v.v.. toàn quốc đều phải nhất trí thực hiện theo. Tần Thủy Hoàng đã lập nên một đại đế quốc đầu tiên của Trung Hoa, áp đặt thuế má nặng nề, làm cho nhân dân phải sống trong cảnh khốn khổ lầm than.    

Lúc bấy giờ vua A-dục bên nước Thiên Trúc phái đoàn sa-môn, có ngài Thất-lị-phòng cùng các nhà sư khác tổng cộng gồm mười tám vị đến nước Chấn Đán (tên người Ấn Độ dùng để gọi nước Trung Hoa ngày xưa) để truyền bá Phật Giáo. Tần Thủy Hoàng nhìn thấy sắc phục của các sa-môn khác lạ nên đã bắt giam họ, đêm đến có một vị thần thân sắc vàng cao một trượng sáu đến phá ngục cứu các vị sa-môn. Tần đế biết được việc này sanh lòng sợ hãi, bèn đãnh lễ tạ lỗi rồi dùng nhiều lễ vật trọng hậu ban ban tặng các vị sa-môn.

            

Lời bình:

Hiếu đại hỷ công

Chiến tranh lữ hưng

Chuyên chế độc tài

Thôn lục quốc binh

Tung hoành cuồng vọng

Tự khoa sính năng

Ngũ đế Tam hoàng

Bất nguyện tịnh hành

 

Diễn thơ:

   Thủy Hoàng tham lợi chuộng danh

Khởi binh tác chiến máu thành biển sông

   Chuyên quyền độc đoán cướp công

Gồm thâu sáu nước về vòng tay ta

   Hung hăng cuồng bạo vọng tà

Tự cao ngã mạn ngợi ca mình tài

   Tam Hoàng Ngũ Đế quốc khai

Chẳng noi gương đức lại hoài miệt khinh.

 

Lại có kệ rằng:

Bạo ngược vô đạo nhất kiêu hùng

Hổ đầu nhân thân quái yêu tinh

Thực tận thế nhân lưu bạch cốt

Trảm tuyệt thương sanh nhiễm huyết tinh

Vạn lý trường thành điếu cổ tích

Thiên kiếp cự khanh hận nan bình

Doanh Tần thế lực kim hà vãng

Thả khứ nhật bổn vấn ngư ông.

Diễn thơ

Thủy Hoàng hung bạo lại kiêu căng

Thân người đầu hổ tợ yêu tinh

Ăn thịt thế nhân chừa xương trắng

Giết người máu nhuộm chẳng thương tình

Vạn Lý Trường Thành ghi dấu hận

Ngàn sau tiếng oán khó san bằng

Doanh Tần thế lực nay đâu nhỉ!

Ngư ông xứ Nhật rõ tường tình.

Nói đến Tần Thủy Hoàng, thì trong số các vị hoàng đế Trung Hoa từ xưa đến nay không ai tàn bạo bằng ông. Ông họ Doanh, tên Chính, từ nhỏ đã có nhiều điều đặc biệt khác thường, ông vô cùng thông minh nhưng cũng rất ngang ngược, nên có thể nói, Tần Thủy Hoàng là một bậc anh hùng đầy mưu lược cũng là một ông vua độc đoán bạo ngược. Vua Tần lấy sự anh hùng của mình để tạo thời thế và cũng biết chọn thời thế để tạo anh hùng cho chính mình. Lúc bấy giờ Trung Hoa gồm có các nước nhỏ như: Tề, Sở, Yến, Hàn, Triệu, Ngụy, Tần, gọi là “Thất hùng”. Thế lực của các nước Thất hùng đều ngang nhau, nhưng Doanh Chính đã có thể trong tình hình thế lực cân bằng ấy mà mang quân đánh chiếm và chinh phục luôn cả sáu nước kia, gọi là “Thôn tính sáu nước” chính là để chỉ còn lại một nước Tần của Doanh Chính mà thôi. Nhưng sáu nước kia có phải là do Tần Thủy Hoàng thôn tính không? Không phải thế đâu. Người xưa nói: “Diệt lục quốc giả, lục quốc dã, phi Tần dã; vong Tần giả, Tần dã, phi lục quốc dã” (Người tiêu diệt sáu nước, chính là tự thân sáu nước, chứ không phải nước Tần tiêu diệt; người làm mất nước Tần, chính là tự thân nước Tần, chứ không phải do sáu nước). Nhìn vào thì thấy là Tần đã tiêu diệt sáu nước, thực ra chính do sáu nước ấy tự tiêu diệt mình, không phải do nước Tần tiêu diệt họ. Bởi vì, nếu sáu nước kia biết tự đứng lên, biết làm mạnh nước mình, khéo cai trị đất nước thì nước Tần cũng không có cách để tiêu diệt. Cũng chính vì sáu nước kia hoang dâm vô đạo không lo việc quốc gia, thiết lập quốc phòng, thế nên đã bị Tần nhân cơ hội đó mang quân đánh chiếm. Do vậy mới nói nói: “Người tiêu diệt sáu nước, chính là tự thân sáu nước, chứ không phải nước Tần”  

Tần Thủy Hoàng tuy là tự là xưng hoàng đế, và còn cho rằng có thể truyền ngôi đế vương lại cho đời con, đời cháu, đời chắt, đời chít, đời đời truyền nhau…cho đến vạn đời, vạn vạn đời đều là hoàng đế (1), nhưng có ai ngờ rằng đến đời con của Tần Thủy Hoàng thì thiên hạ đã rơi vào tay người khác. Bởi vua Tần làm khổ muôn dân phá hoại tài sản, làm cho người dân chịu cảnh khốn cùng, nên phần đông đã sanh lòng bất mãn, thế nhưng vua Tần đã dùng những thủ đoạn rất độc ác, thời ấy không ai có thể ngăn cản được. Đợi đến đời con của Tần Thủy Hoàng là Hồ Hợi lên ngôi thì sự đối kháng phản loạn bắt đầu nổi lên. Hai nước Hán, Sở tranh đấu nhau để giành quyền đế vương, và như thế đã làm cho đất nước từng được thống nhất rơi lại vào cảnh loạn lạc, triều đại nhà Tần bị diệt vong. Đây cũng chính là “Kẻ làm mất nước Tần, chính là nhà Tần, chứ không phải là sáu nước”. Thế nên mọi việc giữa cuộc đời này không có gì là bền chắc cả, ngay cả giang san của hoàng đế cũng không giữ được, huống chi chút ít tài sản của chúng ta, có đáng là gì đâu chứ? 

Tần Thủy Hoàng sau khi đã tóm thâu được sáu nước, thống nhất Hoa Hạ và từ đó nước Trung Hoa có chung một bản đồ, không còn phân chia nhiều nước nữa. Thủy Hoàng phong cho Lý Tư (2) làm thừa tướng, rồi nghe theo lời đề nghị của Lý Tư, tập trung hết quyền lực vào cấp trung ương, thực thi chính sách tập quyền trung ương đao to búa lớn ngang nhiên sát phạt, phế bỏ chế độ phong kiến, lập ra quận huyện, toàn bộ quyền lực đều do trung ương nắm giữ và không còn tồn tại các nước chư hầu nữa. Do dưới triều đại nhà Chu chư hầu được triều đình phong đất và có thể tự quản lý từng lãnh địa của mình, triều đình tự kiến lập một vương quốc riêng, nhưng rốt cuộc thì các nước chư hầu lại không nghe theo những hiệu lệnh của nhà vua, ai cũng mang tâm muốn giành quyền làm chủ thiên hạ. Tần Thủy Hoàng đã dẹp bỏ chế độ chư hầu này, chia cả nước ra làm 36 quận, mỗi quận có người đứng đầu do trung ương phái đến, mọi việc đều nghe theo sắc lịnh của trung ương. Thường thì người làm quan, quyền lực rất hạn chế, ít quyền lực thì không có cơ hội tạo phản triều đình. Làm được những điều này, Tần Thủy Hoàng đã tự nhận công lao của mình vượt qua cả “Tam Hoàng” (Thiên Hoàng, Địa Hoàng, Nhân Hoàng), còn đức hạnh thì cao hơn “Ngũ Đế” (Hiên Viên Hoàng Đế, Chuyên Húc Huyền Đế, Tuấn Đế Cốc, Phóng Quân Đế Nghiêu và Trọng Hoa Đế Vũ), cho nên tự xưng mình là vị hoàng đế đầu tiên - “Thủy Hoàng Đế”.

Vua Tần lại thực hiện theo chính sách hết sức kỳ quái do thừa tướng Lý Tư đưa ra đốt sách chôn học trò, đem toàn bộ các loại thư tịch, bao gồm các loại kinh điển cho đến những tác phẩm của bách gia chư tử (chư Tử là chỉ cho Khổng Tử, Lão Tử, Trang Tử, Mặc Tử, Mạnh Tử và Tuân Tử; bách Gia là chỉ cho các trường phái học thuật cổ điển của Trung Hoa như Nho gia, Đạo gia, Mặc gia, Danh gia, Pháp gia…) đều đem ra thiêu hủy sạch, chỉ để lại một số sách có thể cần dùng đến như sách y dược, bói toán, trồng trọt …; rồi cho đào hầm lớn đem chôn sống tất cả những người có học. Quý vị xem, đến người có học thức cũng đều trở thành kẻ phạm tội! Bởi Thủy Hoàng lo sợ nhân dân chê trách mình, bất mãn với mình rồi đứng lên tạo phản, nên đã thực thi chính sách làm ngu dân, biến họ thành những kẻ tôi tớ (3).

Lo sợ các nước lân bang xâm lược,Tần Thủy Hoàng đã cho xây dựng Vạn Lý Trường Thành để đối phó với giặc Hồ ở phương Bắc; người Hồ, thời ấy bao gồm những dân tộc của các nước ở phía đông và phía Tây giáp với biên giới Trung Hoa như: Mông Cổ, Liên Xô, Cao ly và Nhật Bản v.v…Để xây dựng công trình Vạn Lý Trường Thành này, phải cần đến công sức và tài sản của nhân dân, thế là người dân phải hứng chịu bao khổ sở! Chỉ mỗi việc xây Vạn Lý Trường Thành thôi mà đã có biết bao nhiêu sinh linh đã ngã xuống; thế nhưng vua Tần cũng không màng đến, cứ thản nhiên xây dựng Vạn Lý Trường Thành cho đến khi hoàn tất.

Bạo Chúa Tần Thủy Hoàng lại tiếp tục bắt nhân dân làm nô dịch, xây dựng cung A Phòng. Cung A Phòng được kiến trúc rất quy mô, phòng lầu san sát, tất cả đều được chạm trổ với những nét điêu khắc và hoa văn rất độc đáo với diện tích chiếm hơn ba trăm dặm tương đương một trăm năm mươi dặm Anh. Các công trình xây dựng hiện đại ngày nay, dù quy mô đến mấy cũng không sao sánh được với Cung A Phòng. Tuy Tần Thủy Hoàng đã kiến tạo nên công trình vĩ đại như thế, nhưng cũng không cách nào giữ mãi được, cung A Phòng sau đó cũng đã bị Sở Bá Vương thiêu rụi thành tro bụi. Cho nên, Đạo Phật đã dạy rằng, tất cả đều là vô thường, đây là một chân lý không sai chạy được.

Tần Thủy Hoàng chỉ lo làm theo những điều mình thích, rồi bày ra đủ loại thuế má để vơ vét tài sản nhân dân, khiến cho dân lành càng thêm đói khổ. Bao nhiêu sắt đồng đều gom về Hàm Dương cho nấu chảy ra và đúc thành rất nhiều quả chuông lớn và kim nhân (còn gọi là đồng nhân tức người đồng), mỗi kim nhân nặng đến một tấn (千石 ‘Thiên thạch’: hai mươi vạn cân Tàu tương đương một ngàn kilogram), đem đặt ở cửa cung. Vua Tần nghĩ, người dân không có binh khí thì không thể tạo phản được, cách làm này là một kế thật tuyệt, để giang sơn mãi vững chắc, để đời đời cháu con đều có thể làm hoàng đế! Thế nhưng ông vẫn chưa an tâm, Tần Thủy Hoàng còn cưỡng bức mười hai vạn gia đình phú hộ lắm tiền trên khắp cả nước chuyển đến kinh đô Hàm Dương để gần gũi tiện giám sát.

Tần Thủy Hoàng còn cho sửa đổi chữ viết, y phục, xe cộ, dụng cụ cân đo.v.v..thống nhất thành một thể. Riêng về phương diện thống nhất văn tự, Tần Thủy Hoàng được xem là người có một chút công lao. Đến như tiếng nói của Trung Hoa, hiện nay được xem như đã thống nhất, chứ thời xưa ngôn ngữ Trung Hoa có tiếng Quảng Đông, tiếng Phước Kiến, tiếng Ninh Ba, tiếng Hồ Nam, tiếng Hồ Bắc…mỗi xứ đều có tiếng nói riêng rất khó nghe hiểu, cũng không thể giao lưu với nhau, bây giờ có thể đã cải thiện rất nhiều.

Tần Thủy Hoàng hễ muốn gì là làm nấy, đặt ra đủ loại thuế má nặng nề, khiến cho dân lành vô cùng khốn khó, ông xây dựng một chế độ đại đế quốc quy mô từ xưa chưa hề có. Cũng trong khoảng thời gian đó, tương đương với thời vua A Dục bên Ấn Độ. Vua A Dục đã cho xây dựng rất nhiều tháp xá-lợi Phật, vua còn phái các vị Phạm tăng (Cách người Trung Hoa gọi các vị xuất gia Ấn Độ) như Thất-lị-phòng gồm mười tám vị đến Trung Hoa truyền bá Phật Pháp. Tần Thủy Hoàng truyền lệnh mời các vị tăng Ấn Độ vào cung, vừa trông thấy các sư ăn mặc khác lạ, tiếng nói lại khó hiểu, liền ra lệnh bắt nhốt tất cả các nhà sư Ấn Độ vào ngục. Nhưng đến lúc trời tối, có vị thần mình mặc giáp vàng cao một trượng sáu, đến mở cửa ngục cứu các vị sư ra. Tần Thủy Hoàng biết được việc này nên vô cùng kinh sợ, liền cúi đầu tạ tội, lại còn dâng tặng rất nhiều lễ vật, châu báu, sản vật quý hiếm của Trung Hoa, sau đó đưa họ đến biên giới trở về Ấn Độ. Đó là lần đầu tiên Phật giáo được truyền đến Trung Hoa, chỉ tiếc là lúc ấy Tần Thủy Hoàng đã không cho phép các vị Sa Môn lưu lại Trung Hoa để truyền bá Phật Giáo, mãi cho đến Triều Đại Nhà Hán (Hán Minh Đế) Phật Giáo mới chính thức được truyền bá vào Trung Hoa. Điều này cũng bởi vì thời cơ chưa đến, nên nhân duyên chưa chín mùi, thế nên trong thời Tần Thủy Hoàng, nhân dân Trung Hoa vẫn chưa thể đón nhận được ánh sáng Phật Pháp.

Bây giờ chúng ta cùng bình luận một chút về Nhân vật Tần Thủy Hoàng:

Hiếu Đại Hỷ công, Chiến tranh lữ hưng: Tần Thủy Hoàng là người thích lớn ham công. “Hiếu đại” có nghĩa là làm gì cũng thích vĩ đại, cho nên quý vị hãy xem ông ta xây Vạn Lý Trường Thành dài và rộng như thế. Bên trên Vạn Lý Trường Thành có thể làm được ba dòng xe chạy. Ông còn xây dựng cung A Phòng rộng hơn ba trăm dặm, và không ngừng mang binh đánh nhau, chinh phạt đối phương, để chiếm lấy binh sĩ đất đai của kẻ khác đem về cho mình.

Chuyên chế độc tài, Thôn lục quốc binh: Tần Thủy Hoàng vừa chuyên chế, vừa độc tài, tiêu diệt sáu nước để tóm thâu quyền lực vào tay của mình.

Tung hoành cuồng vọng, Tự khoa sính năng: Tần Thủy Hoàng là không tuân thủ theo quy luật chung, cố tình thích làm theo ý nghĩ của riêng mình… tung hoành dọc ngang thiên hạ, chẳng kiêng nể một ai. Ông lại tự tôn vinh, ca ngợi và tán thán chính mình, tự nhận công lao của mình to lớn hơn cả “Tam Hoàng”, đức lớn hơn cả “Ngũ Đế”, xem ai cũng không bằng mình.

Ngũ Đế Tam Hoàng, Bất nguyện tịnh hành: Tần Thủy Hoàng không chịu cùng ngang hàng cùng Tam hoàng Ngũ đế, khinh mạn Tam hoàng Ngũ đế, cho mình cao hơn cả trời, hơn cả Thượng Đế.  

Lại có kệ rằng: 

Bạo ngược vô đạo nhất kiêu hùng: Tần Thủy Hoàng là một ông vua bạo ngược vô đạo, hết sức tàn nhẫn, nếu không thì làm gì có chuyện đốt sách chôn sống học trò chứ!

Hổ thủ nhân thân quái yêu tinh: Tần Thủy Hoàng chính là một yêu quái ăn thịt người, cũng giống như thân là người nhưng mang đầu hổ, thật là một quái tinh.

Thực tận thế nhân lưu bạch cốt: Loài quái tinh này đã bắt người trên khắp nhân gian ăn thịt chỉ còn chừa lại xương cốt.

Trảm tuyệt thương sinh, nhiễm huyết tinh: Tần Thủy Hoàng nhẫn tâm giết hết mọi người, toàn thân nhuộm đầy máu tanh hôi.

Vạn lý trường thành điếu cổ tích: Người đời sau đến viếng trường thành như là một chứng nhân để truy điếu những dấu tích oan nghiệt ngày xưa.

Thiên kiếp cự khanh hận nan bình: Mỗi khi nghĩ đến việc Tần Thủy Hoàng vì xây Trường Thành, đã đào hố chôn sống vạn vạn sinh mạng. Hố sâu oan nghiệt mà vua Tần đã đào, hố sâu oán hận này cho dù cả ngàn đại kiếp qua đi cũng không thể lấp được nỗi uất hận ấy!

Doanh Tần chính lực kim hà vãng: Họ Doanh là họ của nhà Tần, nên gọi là Doanh Tần, để phân biệt với nhà Phù Tần sau này, thế lực của Doanh Tần ngày nay đã đi đâu hết rồi? Chẳng còn ai biết được!

Thả khứ Nhật bản vấn ngư ông: Nếu có thể, chúng ta nên đến Nhật Bản mà hỏi thăm, người Nhật có lẽ ít nhiều cũng cũng biết chuyện này. Lí do tại sao người nhật lại biết chuyện này? Nhân vì Tần Thủy Hoàng khi ấy muốn trường sinh bất lão, để vĩnh viễn muôn đời ngự trị ở ngôi Vua, khi nghe nói giữa đại dương mênh mông có hòn đảo tiên tên là Bồng Lai, liền bắt sống cả ngàn thanh thiếu niên nam, nữ tướng mạo đẹp đẽ, do Từ Phúc dẫn đầu, đưa các em đi đến đảo Bồng Lai để đổi lấy thuốc trường sinh bất lão mang về cho Tần Thủy Hoàng. Những thiếu niên ấy đã mang trong lòng một nỗi uất hận lìa xa quê hương để bôn ba nơi xứ lạ. Tuy rằng sau đó những thiếu niên ấy kết hôn với nhau, sinh con đẻ cái nối dõi và trở thành người Nhật Bản sau này; nhưng quý vị thử xem người Nhật lúc nào cũng hung hăng không chịu khuất phục. Dù đã qua bao nhiêu thời gian, lòng oán hận của họ vẫn ngùn ngụt. Có thể những đứa trẻ ấy khi bị Tần Thủy Hoàng bắt đem đến Nhật bản thì cha mẹ của chúng cũng mang một nỗi oán hận như thế. Cứ nhìn người Nhật thì biết, tính khí của họ hung hăng, nếu không sao lại mang quân sang xâm lược nước Trung Hoa kia chứ? Cho nên quý vị có thể xem tính dân tộc của mỗi quốc gia mà có thể biết họ từ đâu đến.  

Tuyên Hóa thượng nhân giảng vào ngày 04/09/1987

 

Chú thích (1): Tần Thuỷ Hoàng nhiều lần gặp tai nạn, nhiều lần bị ám sát, cả đời của ông ta gặp hiểm nguy không ít. Tuy luôn ôm mộng trường sanh bất tử, nhưng rồi lần thứ tư khi đi tuần du, vua Tần  đã lâm bệnh và qua đời tại Sa Khâu (nay là Hà Bắc huyện Bình Hương), năm ấy vua mới 50 tuổi, nguyên nhân mà nhà vua băng hà đến nay vẫn chưa được xác định rõ.

Chú thích (2): Lý Tư là học trò của Tuân Tử, ông ta học “thuyết tính ác”(con người sinh ra vốn đã có sẵn tính ác) của Tuân Tử, quan niệm cơ bản của thuyết này chính là dùng pháp luật nghiêm khắc để ngăn chặn bản tính làm ác của con người. Còn Mạnh Tử thì ngược lại, cho rằng con người sinh ra bản tánh vốn hiền lương, đề xướng “thuyết tánh thiện”. Lý Tư vốn chỉ là một khách quan của Tần Thủy Hoàng, về sau được Tần Thủy Hoàng tín nhiệm cho làm thừa tướng, có thể nói là chức vị quan cao nhất trong triều đình, nhưng ông ta tuy hiểu biết yếu chỉ của lục nghệ, nhưng lại không lấy chính nghĩa phục vụ cho triều đình để bù đắp những khuyết điểm của Tần Thủy Hoàng, trái lại vì quá xem nặng bổng lộc, nên chiều theo ý thi hành những hình phạt tàn khóc. Thậm chí khi Tần Thủy Hoàng băng hà, Lý Tư đã nghe theo âm mưu của quan thái giám Triệu Cao, lập chiếu chỉ giả, phế bỏ thái tử Phù Tô, lập Hồ Hợi - một kẻ ngu muội - lên kế vị Tần Thủy Hoàng tức là Tần Nhị Thế. Cuối cùng, Lý Tư cũng bị Triệu Cao lập kế mưu hại, không chỉ một mình Lý Tư bị chém đầu mà còn liên lụy đến cả dòng họ ba đời đều bị tru di.

Chú thích (3): Chính sách cai trị bạo tàn của Tần Thủy Hoàng, không những ức chế nhân dân, mà còn cho rằng quỷ thần cũng phải sợ mình nữa, những hình phạt lập ra cũng có thể dành cho những loài khác loài người. Ví dụ có một lần khi đi tuần về phía Nam phải qua sông Trường Giang để đến núi Tương thì gặp phải gió lớn, thuyền không cách nào lướt tới nổi, Tần Thủy Hoàng nổi giận lôi đình, lấy lý do là “thần núi Tương thổi gió lớn, làm trở ngại đường mình đi” rồi sai ba ngàn tù binh, chặt hết toàn bộ cây trong núi Tương.