Chinese | Vietnamese

Thủy Kính Hồi Thiên Lục

Hòa Thượng Tuyên Hóa 

 

Mục Lục

Thiên Đế Vương


bookGiới thiệu:


Tai ương ách nạn là do sát nghiệp sanh ra, sát nghiệp là do tâm sanh ra; nếu tâm không sanh lòng giết hại, lòng trộm cướp, lòng tà dâm, lòng nói dối, lòng uống rượu mà lại nghiêm trì năm giới, siêng tu tam vô lậu học (giới, định, huệ), thì tất cả ác nghiệp liền được tiêu trừ. Khi đó thì “bổn lai diện mục” không khó nhận thức, “bổn hữu trí huệ” tất tự nhiên hiện tiền. Cảnh vật ở nơi này kỳ diệu biết bao không nơi nào có được. “Bổn địa phong quang” có lý thú kỳ diệu riêng mà ý vị thật vô cùng tận! Chúng ta nếu muốn được thưởng thức cái ý vị đó thì phải phát khởi lòng hướng thiện, gạn lọc tâm tính, phát tâm đại tinh tấn dõng mãnh, lập chí tiến tu nguyện thành đạo quả, để cứu độ nhân sinh cùng tới được bờ bên kia, cùng các bậc thiện nhân cao thượng vui vầy một chỗ, mãi mãi được bầu bạn cùng các bậc Bồ Tát bất thối. Cho nên, tôi viết quyển “Thủy Kính Hồi Thiên Lục” là vì mục đích này! 

Hòa Thượng Tuyên Hóa

 

HÁN MINH ĐẾ

PHẬT PHÁP TRUYỀN VÀO PHƯƠNG ĐÔNG

 

 Hán Minh Đế họ Lưu, tên Trang, Thái Tử nhà Đông Hán Quang Võ Đế, sau khi lên ngôi xem trọng nho học, tôn kính người già. Vào năm Vĩnh Bình thứ 7 (năm 60 sau công nguyên), nhà Vua mộng thấy một nguời thân vàng, cao một trượng sáu, cổ đeo vòng nhựt luân, hào quang phát ra sáng chói khắp bốn bề, thuần một màu vàng, bay đến cung điện. Nhà vua thấy lạ, sáng sớm hôm sau truyền quan thái sử Phó Nghị vào cung hỏi về điềm mộng ấy kiết hung thế nào. Thái sử Phó Nghị tâu với nhà vua: “thần nghe nói bên phương Tây (Thiên Trúc) có vị thần, gọi là Phật, theo như lời của Bệ Hạ vừa kể, thì người trong giấc mộng đêm qua chính là Phật vậy.” Nhà Vua bèn phái đại quan Thái Âm, cùng đoàn tùy tùng tổng cộng gồm 18 vị đi Tây Trúc thỉnh Kinh Giáo. Phái đoàn đi đến nước Đại Nguyệt Thị thì gặp hai vị Thánh Tăng là Ma Đằng và Trúc Pháp Lan, chở tượng Phật, xá-lợi và kinh (kinh chép trên lá bối) cũng đang trên đường sang phương Đông truyền bá Phật Giáo. Nhân đó, họ bèn thỉnh hai vị cao tăng, về đến thành Lạc Dương. Hán Minh Đế hay tin lòng vui vô hạn, Ông đích thân đón tiếp hai vị cao tăng, sau đó cho xây dựng Chùa Bạch Mã, làm nơi để họ dịch kinh.  

Bộ Kinh Tứ Thập Nhị Chương do hai vị Thánh Tăng Ma Đằng và Trúc Pháp Lan dịch là bộ kinh bằng tiếng Trung Hoa đầu tiên và được mọi người vô cùng tôn kính trì tụng xem là Pháp Bảo. Tám mươi năm sau, lại có Thánh Tăng An Thế Cao đến thành Lạc Dương tiếp tục phiên dịch kinh điển và hoằng truyền Phật pháp khiến cho Phật Giáo ngày càng hưng thịnh, sự tín nguỡng và mến mộ Phật Giáo của người dân ngày càng rộng lớn. Lại nữa, hai triều đại Tùy Đường, số lượng quần chúng theo Phật Giáo rất đông, do đó mà tám tông phái lớn của Phật Giáo Trung Hoa cũng ra đời trong thời kỳ này.   

Nên có thơ khen rằng:

   Phật Pháp đến phương Đông

   Hán Minh Đế nằm mộng, 

   Thấy người sắc vàng ròng

   Quan Thái Sử giải rằng:

   Phương Tây có vị Thần

   Tế độ khắp nhân dân

   Liền phái người nghinh tiếp

   Truyền ánh đạo chánh chân.

 

Lại nói kệ rằng:

Hán Triều đã hội đủ cơ duyên

Phương Đông Phật Pháp ánh sáng truyền

 Cam lộ nhuần đượm khắp dân chúng,

 Đề hồ Phật tử thấm vô biên

 Thiện nam tín nữ tu Bách Pháp

 Tăng lữ tinh cần khử não phiền

 Công lao thỉnh Phật vô cùng tận

 Ngàn đời muôn kiếp vẫn lưu truyền.  

 

GIẢNG:  

Xưa kia, khi Phật Giáo chưa truyền sang, Trung Hoa Đại Lục lúc bấy giờ chỉ có đạo Nho và đạo Lão.

Nho Giáo đã khai thông con đuờng để sau này khi Phật Giáo truyền sang, nhân dân tiếp cận dễ dàng hơn. Khi tâm tính chúng sinh còn sơ cơ, còn hoang sơ như một đám rừng hoang chưa từng có lối đi, đạo Nho xuất hiện, như một công cụ dùng để khai hoang mở đường, một khi đã có lối mòn, giao thông lúc bấy giờ bắt đầu thuận tiện. Cho nên nói, chính đạo Nho đã khai đường mở lối cho người dân sau này tiếp cận giáo lý đạo Phật một cách dễ dàng, gần gủi hơn. Do vậy, đức Khổng Tử chính là Thủy Nguyệt Đồng Tử trong Phật Giáo. Bởi vì đức Phật biết rằng trong tương lai Phật Pháp sẽ hưng thạnh tại Trung Hoa, cho nên mới phái Thủy Nguyệt Đồng Tử đến chu du các nuớc, đề xuớng các quy phạm đạo đức, dạy nhân dân những đạo lý, những nhân cách cơ bản làm người như hiếu đễ, trung tín, lễ nghĩa, liêm sỉ…  

Đạo Lão lại tiến thêm một bước so với Đạo Nho về mặt tinh thần, cho nên nói Nho Giáo được so sánh như cấp tiểu học, Lão Giáo và các trường phái đồng quan điểm với Lão Giáo cũng như bậc Trung Học và Phật Giáo là chương trình Đại Học. Bởi vì Phật Giáo bao hàm vạn hữu thế giới, bất luận khoa mục nào trong Phật Giáo cũng có đề cập và phân tích.  

Tuy nhiên, Phật Giáo muốn truyền sang Trung Hoa cũng cần phải hội đủ nhân duyên và thời cơ thích hợp, thời cơ ấy chính là lúc Hán Minh Đế lên ngôi. Hán Minh Đế là một vị Hoàng Đế thời Đông Hán, họ Lưu tên Trang, là thái tử của Hán Quang Vũ Đế. Vốn tôn sùng học thuật của Nho giáo nên sau khi lên ngôi, nhà vua thực hành chính sách dưỡng lão tôn hiền, trong đó đương nhiên bao hàm cả Đạo Giáo.  

Một đêm nọ, nhà Vua mộng thấy có người cao một truợng sáu, cổ đeo vòng nhật luân, phía sau từ cổ trở lên sáng rực như vầng ánh sáng mặt trời. Thật ra, nhật luân này chính là ánh hào quang của Đức Phật. Hào quang chiếu sáng bốn phía, mầu vàng ròng chói lọi, còn người vàng thì bay khắp nơi trong điện Kim Loan.

Sáng sớm hôm sau, nhà Vua bèn triệu quan thái sử chuyên coi về thiên văn  hỏi xem giấc mộng đó báo với nhà vua điềm gì? Quan thái sử Phó Nghị đáp: “Theo hạ thần đựơc biết là bên Tây Phương có một vị thần tên gọi là Phật và như lời của Bệ Hạ kể thì người trong giấc mộng đêm qua chính là Đức Phật”. Thời đó, nguời Trung Hoa gọi xứ Ấn Độ là Tây phương, cho nên Hán Minh Đế liền phái các vị đại quan Thái Âm, Tần Cảnh, Vương Tuân… tổng cộng gồm 16 vị đến Ấn Độ thỉnh Phật sang Trung Hoa. 

   Phái Đoàn của Thái âm vừa đi đến nuớc Đại Nguyệt Thị thì gặp Ngài Ca Diếp Ma Đằng và Tôn giả Trúc Pháp Lan đang ở nơi ấy hoằng truyền Phật Pháp. Phái đoàn bèn thỉnh hai vị cao tăng cùng với tượng Phật, xá-lợi của Ngài và luôn cả Kinh Phật viết trên lá bối về thành Lạc Dương Trung Hoa.

  Vua Hán Minh Đế vô cùng mừng rỡ khi thấy phái đoàn về đến Lạc Dương, Nhà Vua liền cho xây dựng ngay ngôi chùa Bạch Mã để các ngài Ma Đằng và Trúc Pháp Lan làm nơi phiên dịch. Bộ Kinh được dịch đầu tiên là Kinh Tứ Thập Nhị chương, và cũng là bộ kinh đầu tiên được phiên dịch từ tiêng Ấn Độ sang tiếng Trung Hoa.

   Sau khi Bộ kinh Tứ Thập Nhị chương được dịch xong, các vị đạo sĩ lúc bấy giờ bắt đầu hiềm khích và đố kỵ nên tâu với Vua Hán Minh Đế rằng kinh điển của Phật giáo là giả tạo, kinh điển của Lão giáo mới là kinh thật và đưa đề nghị rằng nếu vua không tin, hãy thử đem hai loại kinh nhập lại rồi dùng lửa thiêu, nếu loại kinh nào không cháy thì là kinh thật, nếu cháy, thì là kinh giả.Thế là lúc đó xây một cái đài thiêu kinh tại Lạc Dương, sau đó cho hai loại kinh vào lửa đốt. Kết quả, kinh Lão giáo đều cháy thành tro bụi, kinh Phật giáo thì còn nguyên vẹn. Ngay lúc đó, các đạo sĩ chứng kiến sự việc này, họ vô cùng kính phục, bèn tự nguyện cởi áo đạo gia, thế phát xuất gia làm tu sĩ Phật giáo.

Bước đầu truyền sang Trung Hoa, đạo Phật đã trãi qua sự gian nan thử thách như thế, do đó chúng ta, những người học Phật ngày nay cũng nên biết qua những điều này. Thời ấy, các ngài Ca Diếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan trụ tại chùa Bạch Mã làm công việc phiên dịch kinh điển, các thiện nam tín nữ kính Phật tin Pháp ngày càng đông đúc và đạo Phật cũng ngày càng hưng thịnh. 

Ca Diếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan là hai vị A La Hán thánh tăng, tháp của hai ngài hiện nay vẫn còn ở Lạc Dương. Hai vị thánh tăng ấy lại có thể, đi lại trên không, biến hóa vô cùng, các ngài có mười tám pháp thần thông biến hóa, có thể đi, đứng, ngồi và nằm lại trên không trung, trên thân ra lửa , dưới thân ra nước, hoặc trên thân ra nước, dưới thân ra lửa tùy ý biến hiện bay đi tự tại, biến hóa vô cùng.

Tám mươi năm sau, ngài An Thế Cao lại đến Lạc Dương phiên dịch kinh điển làm cho Phật giáo càng thêm hưng thịnh. Đến thời Tùy Đuờng, thì Phật giáo đã phát triển vô cùng rực rỡ. Cũng bởi đại nhân duyên này mà số người xuất gia và quy y Phật pháp ngày càng đông, nguồn tư tưởng cũng dồi dào, và chính trong thời điểm này đã phát sinh tám tông phái lớn như: Hoa Nghiêm tông, Thiền tông, Tịnh Độ tông, Luật tông, Thiên Thai tông, Pháp Hoa tông, Tam Luận tông, Chân Ngôn tông…

Phật Pháp đông lai thủy Hán Minh Đế: Phật Pháp tại triều đại Hán Minh Đế chính thức bắt đầu truyền sang Trung Quốc.

        Dạ mộng kim nhân, vấn thị hà ý: Nhân vì Vua Hán Minh Đế ban đêm mộng thấy kim thân của vị thần cao một trượng sáu nên mới hỏi quan thái sử về ý nghĩa của giấc mộng trên, nó báo trước điềm lành hay dữ, điềm họa hay phước?

Tây phương hửu thần, phổ độ đại địa: Quan thái sử đáp rằng: “Phương Tây có một vị thần tên gọi là Phật, Vị ấy có khả năng phổ độ toàn thể chúng sinh”.

Thỉnh tốc nghinh tiếp, đồng chu cộng tế: Chúng ta phải mau mau thỉnh cầu và nghinh tiếp ánh sáng Phật Pháp từ phương Tây đến Trung Hoa, để bá tánh sớm được giác ngộ, cùng nhau xuống thuyền giác ngộ, rời khỏi bến mê vượt qua biển khổ.

 

Lại có kệ rằng:  

Hán Triều cơ duyên đã thành thục: Đến Triều Hán Minh Đế, cơ duyên đã thành thục, Phật giáo đã đủ duyên truyền đến Trung Hoa.

 Đại Giáo Đông lai chỉ mê đồ: Phật Giáo là một tôn giáo lớn, từ Ấn Độ truyền sang Trung Hoa cho nên gọi là đến phương Đông. Phật giáo hướng dẫn chúng sinh thoát khỏi con đường mê trở về bến giác.

Vô lượng chúng sinh hoạch cam lồ: Phật Giáo với vô số phương tiện đã cứu giúp chúng sinh, mỗi mỗi đều thắm nhuần nước cam lồ giải thoát.

Vạn thiên thiện tín ẩm đề hồ: Tất cả chư thiện nam, tín nữ đều được chung hưởng pháp vị đề hồ, được an lạc vui tươi trong biển pháp từ bi giải thoát.

Nam nữ cần tu tập bách pháp: Lúc đó, nam nữ đều chuyên cần tu tập Phật Pháp, học tập “Bách Pháp Minh Môn Luận”. Bách Pháp gồm có: 11 sắc pháp, 8 món tâm vương, 51 tâm sở pháp, 24 tâm bất tương ưng và 6 món vô vi pháp, tổng cộng là 100 pháp. Đây là nói khái quát bao hàm hết thảy vạn vật, gom tất cả các pháp thế gian cũng như xuất thế gian, sắp xếp lại thành một trăm pháp. Nếu nói chi tiết thì có đến hơn tám vạn bốn ngàn pháp môn.

Sa Môn đẩu tẩu giải tam độc: Sa Môn là tiếng phạn, Trung Hoa dịch là cần tức, nói rõ hơn là cần tu giới định huệ, tức diệt tham sân si – siêng năng tu tập giới định huệ, diệt tắt tham sân si - cho nên nguời xuất gia thọ giới tỳ kheo gọi là Sa Môn. Tham sân si gọi là tam độc, tức diệt tham sân si nghĩa là giải trừ tam độc. Vậy chúng ta làm cách nào để hóa giải tam độc đây? Nếu như chúng ta y chiếu vào kinh Phật, tuân hành theo lời dậy trong kinh thì có thể hóa giải phiền não của tam độc vậy.

Thái âm công lao nan cùng tận: Muốn hóa giải phiền não của tam độc thì chúng ta cũng phải biết ơn và hồi báo ân đức, nghĩa là chúng ta phải tỏ lòng  cảm tạ đối với phái đoàn của ngài Thái Âm do Vua Hán Minh Đế phái đi nghinh tiếp Phật pháp và thỉnh được hai vị tôn giả Ma Đằng và Trúc Pháp Lan đến Trung Hoa. Muốn vậy, chúng ta phải truy niệm công ơn các vị này bởi công ơn của họ là vô cùng vô tận. Vô cùng tận như thế nào?   

Thiên trường địa cửu giai hoan hô: Thiên trường địa cửu có nghĩa là cho đến muôn vạn đời sau, nguời ta vẫn còn ghi nhớ công lao to lớn của sự kiện lịch sử này. (Sự kiện phái đoàn Ngài Thái Âm đi Tây Trúc thỉnh Kinh.)