Chinese | Vietnamese

Thủy Kính Hồi Thiên Lục

Hòa Thượng Tuyên Hóa 

 

Mục Lục

Thiên Đế Vương


bookGiới thiệu:


Tai ương ách nạn là do sát nghiệp sanh ra, sát nghiệp là do tâm sanh ra; nếu tâm không sanh lòng giết hại, lòng trộm cướp, lòng tà dâm, lòng nói dối, lòng uống rượu mà lại nghiêm trì năm giới, siêng tu tam vô lậu học (giới, định, huệ), thì tất cả ác nghiệp liền được tiêu trừ. Khi đó thì “bổn lai diện mục” không khó nhận thức, “bổn hữu trí huệ” tất tự nhiên hiện tiền. Cảnh vật ở nơi này kỳ diệu biết bao không nơi nào có được. “Bổn địa phong quang” có lý thú kỳ diệu riêng mà ý vị thật vô cùng tận! Chúng ta nếu muốn được thưởng thức cái ý vị đó thì phải phát khởi lòng hướng thiện, gạn lọc tâm tính, phát tâm đại tinh tấn dõng mãnh, lập chí tiến tu nguyện thành đạo quả, để cứu độ nhân sinh cùng tới được bờ bên kia, cùng các bậc thiện nhân cao thượng vui vầy một chỗ, mãi mãi được bầu bạn cùng các bậc Bồ Tát bất thối. Cho nên, tôi viết quyển “Thủy Kính Hồi Thiên Lục” là vì mục đích này! 

Hòa Thượng Tuyên Hóa

 

A DỤC VƯƠNG

VỊ ĐẠI HỘ PHÁP CỦA PHẬT GIÁO

(268-226 trước CN)  

A Dục, dịch là “Vô Ưu”, người nước Đông Thiên Trúc, sinh vào khoảng hơn hai trăm năm sau khi Đức Phật nhập diệt, là vua đời thứ ba của vương triều Khổng Tước (năm 268 trước Công Nguyên). Dung mạo xấu xí, tánh tình cang cường, ông không được vua cha tín nhiệm tuy rất có tài thao lược, có công dẹp loạn. Sau khi vua cha băng hà, quần thần suy tôn ông lên làm vua. Vua A Dục tạo địa ngục ở nhân gian, khống chế nhân dân. Về sau, được Hải Tỳ kheo cảm hóa, vua hết lòng kính tin Phật giáo, cấm sát sanh, thực hành hạnh bố thí, xây tám vạn bốn ngàn ngôi tháp ở khắp thế giới để cúng dường xá lợi Phật. Lại lập trụ đá khắc bia ở các nơi, khuyến cáo dân chúng “không được can thiệp tín ngưỡng của kẻ khác.” Vua còn phái cao tăng đến các nước lân bang hoằng pháp, xây chùa, cúng tăng. Lúc đó ngoại đạo trà trộn, làm tặc trú Tỳ kheo, sửa đổi Tam Tạng, không trọng giới luật, cho nên vua cử hành cuộc kết tập lần thứ ba, viết bằng văn tự Pali trên lá bối, làm kinh tạng của Nam Truyền Tiểu Thừa.

Người em là Tỳ Kheo Đế Tu cũng đến nước Sư Tử để hoằng dương Chánh Pháp.

Vua A Dục có xu hướng thiên về Đại chúng Bộ, bài xích Thượng Tọa Bộ, do đó, Phật Giáo nguyên thủy bị phân chia thành các tông phái.

 

Khen rằng:  

Phật dạy người ác, 

Ăn năn sửa đổi ,

Vua tên A Dục, 

Giết hết lục thân.

Gặp Tỳ kheo Hải, 

Hiểu thấu nhân quả , 

Sám hối tội xưa,

Cúng dường Từ Tôn.

 

Lại nói kệ rằng:

Ác vương hối lỗi, giúp thánh tăng,

Cung kính Tam Bảo, dứt tham tranh ,

Khắp cõi Diêm Phù xây tháp báu ,

Thành Hoa Tử kết tập kinh tạng .

Xiển dương Chánh Pháp, độ lân bang,

Dựng đại bảo tràng độ oán thân,

Xá-lợi Như Lai truyền hậu thế,

Tăng phước bồi huệ --lên bờ giác.  

 

            PHẦN GIẢI THÍCH

A Dục Vương dịch sang tiếng Trung Hoa là vua Vô Ưu, bởi vì ông ta không có tâm sợ hãi, cho nên lòng cũng không có ưu sầu phiền muộn. Ông sinh vào sau thời Đức Phật nhập diệt khoảng hơn 200 năm, là người miền Đông của Ấn Độ (đương thời, nước Ấn Độ được chia thành năm vùng  - Đông Thiên Trúc, Tây Thiên Trúc, Nam Thiên Trúc, Bắc Thiên Trúc, và Trung Thiên Trúc); và là vị vua đời thứ ba của vương triều Khổng Tước. Vua A Dục có tướng mạo rất kỳ dị, ví dụ như mũi thì ngửa lên trời, miệng lại chỉ xuống đất... cho nên ai nhìn thấy cũng không có cảm tình; đã vậy, tính tình lại ngang ngạnh và cố chấp, do đó không được vua cha tín nhiệm cho lắm.

Tuy nhiên, mặc dù tướng mạo xấu xí nhưng ông lại là một người đầy mưu sâu kế diệu, ý chí cao ngất trời xanh, muốn đem tài thao lược hùng binh của mình ra thống nhất nước Ấn Độ. Trong những trận chiến đương thời, ông đều tỏ ra vô địch, chưa bao giờ thất trận. Bởi thắng trận thì có công với quốc gia, ông trở nên có tiếng tăm và thế lực. Do đó, sau khi vua cha băng hà, bá quan văn võ đã ủng hộ và suy tôn ông lên kế thừa vương vị.

Thế nhưng, một khi đã lên làm vua, nắm được quyền lực trong tay rồi, thì ông lại thi hành một chính sách tàn nhẫn, hà khắc. Vua A Dục đã làm gì? Ông đã thực hiện chính sách cai trị vô cùng tàn bạo, biến cõi trần gian thành chốn địa ngục để khống chế người dân. Việc làm này cũng không khác gì cách thống trị tàn bạo, dã man của bạo chúa Tần Thủy Hoàng (của Trung Hoa)—kẻ nào chê bai thì bị xử tử, có người dám nói chuyện riêng, đàm luận về Kinh Thi, Kinh Thư với nhau thì cả hai đều bị đem giết giữa chợ để răn dân chúng. Bá tánh không thể phản kháng; nếu có người nào phản kháng thì chắc chắn sẽ bị giết ngay

Tuy vậy, sau khi gặp Tỳ Kheo Hải và được vị Tỳ Kheo này cảm hoá, (1) nhà vua đã hết lòng tin tưởng đạo Phật. Sau khi tin Phật, vua liền sửa đổi hành vi--trước kia đã từng tạo ra cảnh địa ngục ở chốn nhân gian, giết người vô số, thì nay vua lại bảo mọi người chớ nên sát hại sanh mạng; vì sao lại như vậy? Đó là vì vua đã hiểu được luật nhân quả! Vua lại thường làm bố thí, giúp đỡ tha nhân; và còn kiến tạo tám vạn bốn ngàn ngôi tháp thờ xá-lợi Phật ở khắp nơi trên thế giới để cúng dường xá lợi của Đức Phật. (Làm thế nào có được xá-lợi? Nếu một người trong tâm hoàn toàn không còn ý dâm dục, không có hành vi dâm dục, chân chính tu hành, thì sẽ có xá lợi.)

Vua A Dục lại cho dựng rất nhiều trụ đá ở khắp các nơi, trên mỗi trụ đá đều có khắc mệnh lệnh của hoàng đế, thông báo với toàn dân rằng ai nấy không được can thiệp vào tín ngưỡng của những người lân cận, mọi người đều có quyền tự do về tín ngưỡng tôn giáo, không ai được phép can thiệp hoặc phản đối về việc tin theo tôn giáo nào của kẻ khác.

Vua A Dục còn phái những bậc cao tăng đến các nước lân bang để hoằng dương Phật Pháp; lại cho xây cất rất nhiều tự viện để cúng dường chư tăng. Lúc này, lợi dụng việc vua A Dục xây chùa, cúng tăng, khuyến khích mọi người xuất gia tu hành, bọn ngoại đạo đã len lỏi vào trong Phật Giáo, làm “tặc trú Tỳ Kheo”--họ muốn vào trong Phật Giáo để huỷ báng Phật Giáo. Hiện nay có rất nhiều “tặc trú Tỳ Kheo”-- những kẻ mặc pháp phục của người xuất gia, giả làm Tỳ Kheo, ăn cơm của Phật Giáo, trà trộn vào trong Tăng Đoàn để làm bại hoại giới luật của Phật Giáo, đều gọi là “tặc trú Tỳ Kheo.” Họ sửa đổi kinh điển của Tam Tạng, cũng không tuân thủ giới luật, không vâng theo lời dạy của Đức Phật. Chính vì những hành động đó của bọn ngoại đạo nên mới dẫn đến việc vua A Dục đứng ra khởi xướng việc kết tập kinh tạng lần thứ ba—chép bằng văn tự Pali (Pali là tên một hòn đảo thuộc Ấn Độ) trên lá bối, và đây chính là kinh tạng của Phật Giáo Nam Truyền Tiểu Thừa.

Về sau, em trai của vua A Dục là Tỳ Kheo Đế Tu đến nước Sư Tử để hoằng dương Chánh Pháp. Bởi vua A Dục có khuynh hướng thiên về Đại Chúng Bộ, nên đã bài xích Thượng Tọa Bộ; và Phật Giáo nguyên thuỷ vì thế mà phân chia thành Đại Chúng Bộ và Thượng Tọa Bộ, mỗi bên đều lập môn phái riêng, đều cho rằng mình là đúng.  

 

Khen rằng:

Phật dạy người ác, 

Ăn năn sửa đổi

Vua tên A Dục, 

Giết hết lục thân

Gặp Tỳ kheo Hải, 

Hiểu thấu nhân quả  

Sám hối tội xưa,

Cúng dường Từ Tôn.

Phật dạy người ác, Ăn năn sửa đổi (Phật giáo ác nhân, cải quá tự tân): Đức Phật khi giáo hoá kẻ ác thì đều dạy họ tự sửa đổi những hành vi sai lầm của mình để thành con người mới lương thiện. “Ác nhân” ở đây không phải chỉ nói riêng một mình vua A Dục, mà là bao gồm toàn bộ những người độc ác--tất cả đều nên sửa đổi hành vi từ ác thành thiện.

Vua tên A Dục, giết hết lục thân (Danh A Dục Vương, sát tận lục thân): Trước đây, có một vị hoàng đế tên là A Dục; ông ta đã giết chết hết chín mươi chín (99) trong số một trăm người em của mình, chỉ còn sót lại một người duy nhất, và sau đó đã ép buộc người này xuất gia.  

Gặp Tỳ kheo Hải, hiểu thấu nhân quả (Ngộ Hải Tỳ kheo, thức quả đạt nhân): Về sau, ông ta gặp được Tỳ Kheo Hải, nên hiểu rõ luật nhân quả là giết người thì phải đền mạng, thiếu nợ thì phải hoàn trả--nhân quả rõ ràng, không hề sai lệch.

Sám hối tội xưa, cúng dường Từ Tôn (Sám hối tiền khiên, cúng dường Từ Tôn): Cho nên ông ta sám hối những lỗi lầm trót đã tạo từ trước, và luôn cúng dường Tam Bảo--Phật, Pháp, Tăng.

 

Lại nói kệ rằng:

 Ác vương hối lỗi, giúp thánh tăng,

 Cung kính Tam Bảo, dứt tham tranh ,

 Khắp cõi Diêm Phù xây tháp báu,

 Thành Hoa Tử kết tập kinh tạng.

 Xiển dương Chánh Pháp, độ lân bang,

 Dựng đại bảo tràng độ oán thân,

 Xá-lợi Như Lai lruyền hậu thế,

 Tăng phước bồi huệ --lên bờ giác.  

 Ác vương hối lỗi, giúp thánh tăng (Ác vương hối quá hộ thánh tăng): Vua A Dục ban đầu là một người rất hung ác, thậm chí còn tạo ra cảnh địa ngục ở trần gian; khiến mọi người cứ ngỡ ông ta là vua Diêm La chuyển kiếp. Thế nhưng về sau, ông ta đã ăn năn hối hận về những lỗi lầm mình đã lỡ phạm, và trở thành vị hộ pháp đắc lực trong Phật Giáo.

Cung kính Tam Bảo, dứt tham tranh (Cung kính Tam Bảo, tức tham tranh): Ông ta không những đã hết lòng cung kính Tam Bảo mà còn diệt trừ được tâm tham lam, tranh đoạt của mình.

Khắp cõi Diêm Phù xây tháp báu (Hưng kiến bảo tháp Diêm Phù Đề): “Diêm Phù Đề” ngụ ý là “kham nhẫn,” tức là chỉ cho thế giới Ta Bà mà chúng ta đang sống vậy. Cõi Ta Bà được gọi là cõi “kham nhẫn”, là vì chúng sanh trong cõi này phải nhẫn chịu biết bao sự thống khổ của cảnh đời ngũ trược ác thế.

Thành Hoa Tử kết tập kinh tạng (Trùng kết kinh tạng Hoa Tử Thành): Tại thành Hoa Tử, vua A Dục tổ chức cuộc kết tập kinh điển lại lần nữa.

Xiển dương Chánh Pháp, độ lân bang (Xiển dương Chánh Pháp, hóa lân quốc): Nhà vua hoằng dương Chánh Pháp, giáo hoá dân chúng của các nước láng giềng

 Dựng đại bảo tràng độ oán thân (Thụ đại bảo tràng độ oán thân): Cho dù kẻ oán hận, kẻ thù nghịch hay người thân thích, ông ta đều hóa độ, cứu giúp như nhau, không hề phân biệt.

        Xá-lợi Như Lai truyền hậu thế (Như Lai xá lợi truyền hậu thế): Ông có công xây tháp để bảo tồn xá lợi của Đức Phật hầu lưu truyền lại cho đời sau, cho nên chúng ta hiện nay mới biết được là có xá lợi của Phật.

Tăng phước bồi huệ --lên bờ giác (Tăng phước bồi huệ bỉ ngạn đăng): Chúng ta nên lễ bái xá lợi của Đức Phật nhiều hơn để có thể tăng trưởng phước lành và vun bồi trí huệ; khi phước huệ viên mãn thì sẽ được “đáo bỉ ngạn”--qua khỏi bể khổ, lên bờ giải thoát.

Hòa Thượng Tuyên Hóa giảng vào ngày 16-01-1987

 


Chú thích (1): Ban đầu, vua A Dục cai trị nhân dân vô cùng tàn nhẫn, dù sống trên dương gian nhưng chẳng khác nào dưới địa ngục, cho nên nói rằng vua đã tạo ra “địa ngục trần gian” là vì vậy. Phàm đã vào địa ngục này rồi thì không một ai sống sót trở về, thậm chí người đi ngang qua địa ngục cũng bị lôi vào sát hại. Vào thời ấy, có vị Tỳ Kheo xuất gia tu hành chưa được bao lâu, một hôm mang bình bát đi khất thực lại đến nhầm trước cửa địa ngục, liền bị ngục tốt lôi vào hành hình. Vị Tỳ Kheo ấy vô cùng sợ hãi, xin ngục tốt cho mình trước khi chết được hành nghi thức lễ sám của chốn thiền môn. Tỳ kheo ấy vừa quay qua thì thấy có người bị trói đưa vào hành hình, trong phút chốc mà xương tan thịt nát. Vị Tỳ Kheo thấy thế thì trong lòng hết sức đau buồn, và nhân đây mà tỏ ngộ được lý vô thường, chứng đắc quả vị Vô Học (Tứ quả A La Hán). Bấy giờ ngục tốt nói với Tỳ Kheo: “Đến lượt ngươi phải chết rồi đấy!” Do vì Tỳ Kheo lúc này đã chứng thánh quả nên xem sanh tử như nhau, tâm rất bình thản, tuy bị ném vào chảo nước sôi sùng sục nhưng lại như đang ở trong hồ nước mát; trong nước lại hiện lên một đóa hoa sen lớn làm toà ngồi cho vị Tỳ Kheo. Chủ ngục thấy thế thì vô cùng kinh sợ, lập tức sai người đến tâu với vua A Dục. Vua A Dục vừa nhìn thấy việc thần kỳ này thì cảm thấy xúc động sâu xa, lòng từ khơi dậy, bèn quy y Tam Bảo, phụng trì chánh pháp. Vị Tỳ Kheo cảm hóa vua A Dục lúc ấy chính là Tỳ Kheo Hải vậy.