Chinese | Vietnamese

Phật Tổ Đạo Ảnh

Hư Vân Lão Hòa Thượng kết tập

Hòa Thượng Tuyên Hóa giảng thuật 

Mục Lục


bookGiới thiệu:


Chư Tổ, tuy Ấn, Hoa có khác, nhưng cùng vẻ thiên dung đạo mạo, rờ rỡ sáng ngời, khiến người chiêm ngưỡng, vơi sạch lòng trần, thấy tướng liền ngộ tâm. Chỉ trong sớm tối, ngàn năm cùng quay về với chư Tổ trong đại quang minh tạng. Chẳng có đạo ảnh thì lấy gì làm nên chuyện đó? Khoảng đời Hồng-Vũ, một số ham thích đạo, cả tăng và tục, cùng nhau miêu họa đạo ảnh Phật và Tổ, từ tôn giả Đại Ca Diếp đến các vị tôn túc cổ sơ trong nước, tính ra là 120 vị, rồi tàng trữ tại núi Ngưu-Thủ phía nam kinh đô. Nét bút tinh thần, phong độ cao khiết, nếu chẳng do sự kỳ diệu của tâm tư, cảm ứng đến chỗ u linh thì dễ gì có được bút pháp như vậy !  

Thích-ca Mâu-ni Văn Phật

 

 

Phiên âm :

Phật thị sanh ư trung Thiên Trúc quốc, vi Tịnh Phạn vương chi tử. Tầm xả Chuyển Luân Thánh Vương vị xuất gia, thành vô thượng đạo, chuyển đại pháp luân. Kỳ hậu thất thập cửu tuế, thùy bát-niết-bàn. Nãi dĩ chánh pháp nhãn tạng, phó kỳ cao đệ đệ tử Ma-ha Ca-Diếp, tịnh sắc A-Nan, phó nhị truyền hoá. Phục dĩ kim lũ tăng-già-lê y, lịnh đại Ca-Diếp chuyển phó đương lai bổ xứ Di-Lặc Phật. Kỳ thuyết kệ viết : Pháp bổn vô pháp, vô pháp pháp diệc pháp ; kim phó vô pháp thời, pháp pháp hà tằng pháp ?

Dịch :

Phật thị sanh tại miền trung nước Thiên Trúc, làm con đức vua Tịnh Phạn. Ngài sớm từ bỏ ngôi vị Chuyển luân Thánh vương để xuất gia, rồi thành tựu đạo vô thượng và chuyển bánh xe pháp lớn. Về sau, năm bẩy mươi chín tuổi, khi sắp sửa vào niết-bàn, Phật giao chánh pháp nhãn tạng cho cao đệ Ma-ha Ca Diếp, đồng thời bảo A-Nan phải phụ giúp để truyền bá chánh pháp. Phật còn đem áo tăng-già-lê vàng đưa cho Ma-ha Ca Diếp giữ để ngày sau giao lại cho đức Di-Lặc tức vị Phật tương lai. Phật nói bài kệ như sau : Pháp bổn lai chẳng pháp, cái pháp chẳng pháp đó cũng là pháp, nay giao cái pháp chẳng pháp, pháp đó chẳng pháp gì ?

 

Tán

Vạn đức trang nghiêm             

Nhất trần bất lập

Tứ thập cửu niên

Thái sát lang tạ

Mạt hậu niêm hoa                    

Tiếu đảo Ca-Diếp

Chánh pháp nhãn tạng             

Thiên thánh bất thức

Dịch :

Vạn đức trang nghiêm

Chẳng bợn nhiễm ô

Bốn chín năm ròng

Công lao khó nhọc

Cầm hoa mỉm cười

Truyền thừa Ca-Diếp

Chánh pháp nhãn tạng

Ngàn Thánh chẳng hay

 

Kệ :

Đâu Suất giáng sanh đế vương gia

Tứ môn du tất khí phồn hoa

Thuyết pháp diễn giáo hóa quần phẩm

Từ bi hỷ xả độ chúng hiệp

Vạn đức trang nghiêm phước huệ tu

Nhất trần bất lập tịnh tự tha

Phật tăng truyền thừa mãn thiên hạ

Nhiếp thọ hữu tình sổ đạo ma

(Tuyên Công thượng nhân tác)

Dịch :

Đâu suất giáng trần chốn vương gia

Nhàn du bốn cửa chán phồn hoa

Một đời pháp bảo trao truyền lại

Hỷ xả từ bi hạnh chói lòa

Vạn đức trang nghiêm tròn phước huệ

Tự tâm thanh tịnh gạn tâm tha

Đời đời tiếp nối môn đồ Phật

Độ thoát chúng sanh tựa Hằng sa

(Thượng nhân Tuyên Hóa soạn) 

Giảng thoại

 

Phật thị sanh ư trung Thiên Trúc quốc, vi Tịnh Phạn vương chi tử : Phật thị sanh tại thành Xá-vệ, miền trung nước Thiên Trúc, tức Ấn-độ ngày nay, là thái tử, con vua Tịnh Phạn.

Tầm xả Chuyển Luân Thánh Vương vị xuất gia, thành vô thượng đạo: Chữ 'tầm' ở đây bao hàm ý nghĩa là chẳng bao lâu. Phật sanh ra từ chốn cung vàng, nhưng đối với 5 món ham thích của thế gian như tiền tài, sắc dục, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ, Phật không màng tới, cho nên, chẳng bao lâu, Phật từ bỏ luôn địa vị của Chuyển Luân Thánh Vương, bởi nếu không xuất gia thì vương vị đó là của Phật trong tương lai. Ngài bỏ lại hết, ra đi tu hành, đạt đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác, theo tiếng Phạn gọi là a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề.

Chuyển đại pháp luân : Sau khi thành đạo, Phật giảng kinh thuyết pháp, chuyển bánh xe pháp lớn để giáo hóa chúng sanh.

 Kỳ hậu thất thập cửu tuế, thùy bát-niết-bàn : Về sau, tới bảy mươi chín tuổi, Phật nhập diệt, hay gọi là viên tịch.

 Nãi dĩ chánh pháp nhãn tạng, phó kỳ cao đệ đệ tử Ma-ha Ca Diếp : Cao đệ nghĩa là đệ tử nhiều tuổi. Phật giao chánh pháp nhãn tạng cho vị đệ tử nhiều tuổi nhất là Ma-ha Ca-Diếp, tuy tôn giả chưa hẳn là đại đệ tử của Phật. Vậy người được truyền pháp chính là Đại Ca Diếp, vị tôn giả tu hạnh đầu đà.

 Tịnh sắc A-Nan phó nhị truyền hóa.  Chữ 'sắc' nghĩa là dặn bảo; 'phó' là phụ vào; 'nhị' là hai. Phật đồng thời bảo tôn giả A-Nan phụ giúp tôn giả Ca-Diếp trong việc hoằng dương Phật pháp.

Phục dĩ kim lũ tăng-già-lê y, lịnh đại Ca-Diếp chuyển phó đương lai bổ xứ Di-Lặc Phật. Tăng-già-lê là áo của Tổ, là y bát của Phật. Phật dặn dò tôn giả Ca-Diếp vào núi Kê Túc ở Vân Nam nhập định cho đến khi đức Phật Di Lặc ra đời để giao lại y bát cho đức Di Lặc.

Kỳ thuyết kệ viết : Kế đó, Phật đọc cho tôn giả Ca-Diếp nghe một bài kệ truyền pháp.

 Pháp bổn pháp vô pháp : Thế nào gọi là pháp ? Pháp bổn lai là không có pháp nào để nói.

Vô pháp pháp diệc pháp : Tuy nhiên, trong cái không pháp, chúng ta nói tới cái pháp đó.

Kim phó vô pháp thời : Nay, truyền lại y bát này là truyền pháp tâm ấn, tức là pháp chẳng có hình tướng.

Pháp pháp hà tằng pháp ?: Cái pháp ở trong pháp, là cái pháp gì ? Chẳng có gì hết ! 'Bổn lai chẳng có vật gì, còn chỗ nào là bám bụi ?'

 

Tán

 

Vạn đức trang nghiêm, nhất trần bất lập : Có câu nói : 'tam kỳ tu phước huệ, bách kiếp chủng tướng hảo', Phật tu phước, tu huệ, tu đến hàng vạn đức hạnh, mt chút bụi nhơ cũng không bợn.

Tứ thập cửu niên, thái sát lang tạ : Trong thời gian bốn mươi chín năm, công lao khó nhọc không sao kể siết, bởi cứu độ chúng sanh chẳng phải là điều dễ dàng.

Mạt hậu niêm hoa, tiếu đảo Ca-Diếp : Về sau, một hôm Phật cầm bông sen vàng giơ lên, đối trước đại chúng mỉm cười. Hết thảy đệ tử không một ai nói lên điều gì, chỉ riêng có tôn giả Ca-Diếp nở mặt, rạng rỡ mỉm cười. Thấy vậy Phật biết tôn giả Ca Diếp đã hiểu ý Phật. Ngài bèn bảo đại chúng : 'Ta có chánh pháp nhãn tạng, niết bàn diệu tâm, ta đã giao cho Ma-ha Ca Diếp !', ý nói pháp mầu đó đã được Phật truyền lại cho tôn giả.

Chánh pháp nhãn tạng, thiên thánh bất thức : Chánh pháp nhãn tạng là loại pháp quý báu vô cùng cho đến các thánh hiền cũng không nhận ra được.

 

Kệ

Đâu Suất giáng sanh đế vương gia : Đức Phật Thích-ca giáng trần từ nội viện của cung trời Đâu Suất. Đây là bổ xứ của Phật. Bất cứ ai, muốn thành Phật cũng phải trú ở ở đây một thời gian trước khi xuống thế. Vậy, từ nội viện cung trời Đâu Suất, Phật đã giáng sanh trong một gia đình đế vương, đó là gia đình vua Tịnh Phạn nước Xá-vệ.

Tứ môn du tất khí phồn hoa : Một hôm Ngài dạo chơi ngoài bốn cổng thành, mắt chứng kiến các  cảnh khổ của sanh, già, bệnh, chết, nhận ra rằng cuộc sống thế gian chẳng có gì là hay ho. Do sẵn túc căn, Phật quyết ý xuất gia, bỏ lại hết các thứ vinh hoa phú quý của người đời.

Thuyết pháp diễn giáo hóa quần phẩm : Để giáo hóa hết thảy chúng sanh Phật thuyết pháp trong bốn mươi chín năm, giảng kinh trong ba trăm pháp hội 

Từ bi hỷ xả độ chúng hiệp : Phật dùng 'tứ vô lượng tâm', tức là bốn loại tâm lượng rộng lớn để giáo hóa hết thảy các chúng sanh có duyên với pháp. Tứ vô lượng tâm là từ vô lượng tâm, bi vô lượng tâm, hỷ vô lượng tâm và xả vô lượng tâm.

Vạn đức trang nghiêm phước huệ tu : Phật có vạn đức trang nghiêm, trải qua 'tam kỳ tu phước huệ'. Ngài tu trong ba đại a-tăng-kỳ kiếp, tu phước và tu huệ. A-tăng-kỳ kiếp nghĩa là vô lượng số kiếp, tức là bao nhiêu kiếp không thể kể hết số lượng. Đại a-tăng-kỳ kiếp là vô số lượng kiếp trong cái vô số lượng. Trong suốt thời gian đó, Phật đã tu phước, tu huệ, ý nói không có phước nhỏ nào mà Ngài không tu, không  có loại trí huệ nhỏ nào mà không tập. Phật lại có 'bách kiếp chủng tướng hảo', bởi trong thời gian cả trăm đại kiếp Ngài vun trồng tướng tốt sáng rực, trí huệ sáng rực, bởi vậy mới nói Phật có vạn đức trang nghiêm. Tóm lại, công đúc tu phước của Ngài đến chỗ viên mãn, huệ đến chỗ viên mãn, cả phước lẫn huệ đều đầy đủ.

Nhất trần bất lập tịnh tự tha : Ở nơi Phật, không những một chút ô nhiễm cũng không bợn, các dục niệm hoàn toàn thanh tịnh, mà Ngài còn giáo hóa mọi người đến chỗ được thanh tịnh.

 Phật tăng truyền thừa mãn thiên hạ : Phật truyền lại y bát cho tăng, tức là giữa hai bên đã có sự tiếp nối. Điều này nói lên ý nghĩa là sự truyền thừa giáo pháp là điều bắt buộc, chớ không phải ai muốn làm sao thì làm, mà còn phải truyền pháp lại cho đời sau. 'Mãn thiên hạ' nghĩa là đệ tử của Phật ở khắp các nơi trong thiên hạ, chỗ nào cũng có.

Nhiếp thọ hữu tình sổ đạo ma : 'Nhiếp thọ' là dạy bảo, ý nói  giáo hóa chúng sanh, cứu độ chúng sanh đến chỗ thoát cảnh sanh tử. Số lượng chúng sanh được cứu độ thì nhiều lắm, kể ra thì đông như hạt mè, hạt thóc vậy !

 

Bài giảng ngày mồng 2 tháng 3 năm 1984

Tuyên Công Thượng Nhân