Chinese and English | Vietnamese

Những Thách Thức Và Cơ Hội Của Phật Giáo Tại Hoa Kỳ


 Bài nói chuyện của cư sĩ John V. Vu tại Phật điện Vạn Phật Thánh Thành, ngày 13 tháng 1 năm 2025

Báo Vajra Bodhi Sea, số tháng 6, 2025. Trang 38 -42. https://www.drbachinese.org/vbs/publish/661/vbs661p038.pdf

 

 

Hôm nay, tôi xin trình bày về những thách thức và cơ hội trong việc hoằng dương Phật pháp tại Hoa Kỳ và các quốc gia phương Tây.

Sau khi Đức Phật nhập Niết-bàn, nhiều đệ tử của Ngài liền bắt đầu truyền bá lời dạy của Ngài đến các vùng khác của Ấn Độ và các quốc gia lân cận. Khi đến những xứ sở khác, nhiều đệ tử của Ngài gặp những trở ngại như ngôn ngữ, văn hóa và phong tục tập quán, nên họ phải làm cho giáo pháp được phù hợp theo nguyên tắc “tùy duyên nhưng không biến đổi “ (tùy duyên bất biến). Khi truyền bá khằp bốn phương Nam, Bắc, Đông, Tây, mỗi nơi đều có sự thích ứng riêng, hình thành nên những truyền thống Phật giáo khác biệt tại các quốc gia.

 

 

Khi Phật pháp truyền về phương Bắc (Tây Tạng, rồi đến Mông Cổ và Nga), gặp phải tôn giáo bản địa là Bổn giáo, vốn thiên về các hiện tượng thần bí, quỷ thần. Ban đầu, chư Tăng Ấn Độ không thành công do chướng ngại của các tu sĩ đạo Bổn. Về sau, các bậc đại đức như Đại sĩ Liên Hoa Sinh, Tôn giả A Đề Sa, Tôn giả Na Lạc Ba … đến từ đại học Vikramashila (Tỳ Ca Ma Thi La), môt trung tâm Kim Cang Thừa và Mật Tông Tây Tạng, đã thành công trong việc thích ứng giáo pháp Phật Giáo vào văn hóa Tây Tạng, và chuyển các quỷ thần này thành các vị hộ pháp, dần hình thành nên truyền thống Phật giáo Tây Tạng.

 

 

Khi Phật pháp truyền về phương Nam (Tích Lan, rồi đến Thái Lan, Miến Điện, Lào, Campuchia), được các quốc vương ủng hộ nên hưng thịnh. Qua nỗ lực của Tăng chúng bản địa, kinh điển được phiên dịch sang ngôn ngữ địa phương từ Kinh điển Pāli. Phật giáo trong những khu vực này được gọi là Phật giáo Nguyên thủy (hoặc Phật giáo Nam tông).

 

 

Khi Phật pháp truyền về phương Tây (Đại Hạ, Ba Tư, Hy Lạp), gặp gỡ nền triết học và nghệ thuật Hy Lạp. Tăng chúng bản địa dung hội giáo pháp với tư tưởng bản xứ, hình thành nên một dạng thức Phật giáo mang sắc thái Hy Lạp, chú trọng lý luận và biện chứng, như được ghi lại trong Kinh Milinda vấn đạo—cuộc đối thoại giữa vua Mi Lan Đà và Tỳ-kheo Na Tiên. Dưới ảnh hưởng của nghệ thuật Hy Lạp, nhiều tượng Phật được tạo tác, một số vẫn còn lưu truyền đến nay. (Đáng chú ý, Đại Hạ từng là trung tâm Phật giáo hưng thịnh hơn mười thế kỷ trước khi chuyển sang Hồi giáo.)

Khi Phật pháp truyền về phương Đông (Trung Hoa, rồi đến Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam), gặp nền văn hóa thâm sâu của Đạo giáo và Khổng giáo, đã trở thành đất lành cho Phật giáo bén rễ. Các vị cao tăng Ấn Độ được các Hoàng đế Trung Hoa chào đón, giúp xây dựng tự viện và ủng hộ họ để họ có thể truyền bá và phiên dịch kinh điển. Điều quan trọng cần lưu ý là mặc dầu chư tăng Ấn Độ có thể phiên dịch và giáo hóa tại các quốc gia này, nỗ lực của họ chỉ như là gieo trồng hạt giống. Chính chư Tăng bản địa, thông đạt ngôn ngữ và văn hóa, tiếp tục chăm bón, khiến hạt giống ấy sinh trưởng, lớn mạnh thành cây, kết thành quả Phật pháp. Có những vị thân hành đi sang Ấn Độ học hỏi Phật Pháp và mang kinh về như ngài Huyền Trang, ngài Pháp Hiển; tại Tây Tạng có ngài Nhân Khâm Tán Ba khiến cho Phật pháp hưng thịnh tại đây.

Vậy khi Phật pháp truyền đến Hoa Kỳ, hình thái Phât Giáo Hoa Kỳ sẽ như thế nào?

Phật giáo truyền vào Hoa Kỳ từ cuối thế kỷ 19. Năm 1893, tại Hội nghị Tôn giáo Thế giới, thiền sư Nhật Bản Shaku Sõen (Thích Tông Diễn) và cư sĩ Tích Lan Anagārika Dharmapāla (Pháp Hộ), cả hai vốn am hiểu khoa học và triết học phương Tây, đã giới thiệu Phật giáo như một “truyền thống tâm linh” hơn là tôn giáo. Thiền sư Tông Diễn sau đó cử đệ tử là Suzuki Đại Chuyết (Daisetz Suzuki) sang Mỹ hoằng pháp. Trước tác rộng lớn của ông Suzuki ảnh hưởng sâu rộng đến giới trí thức và sinh viên, nhưng cũng vô tình khiến nhiều người hiểu lầm rằng Phật giáo chủ yếu là tọa thiền. Nhửng tác phẩm của Suzuki không nói nhiều về giáo lý, nghi lễ, giới luật xuất gia và đạo đức. Quan niệm này cho đến nay vẫn còn tồn tại tại Hoa Kỳ.

 

Hòa Thượng Tuyên Hóa mang Phật Giáo đến Hoa Kỳ năm 1962.

 

Đến năm 1962, Hòa Thượng Tuyên Hóa mang Phật Giáo đến Hoa Kỳ. Đây là lần đầu tiên hạt giống Phật giáo chính thống được gieo trồng ở quốc gia này. Nay hàng đệ tử chúng ta cần kế tục chăm sóc những hạt giống mầm non này để chúng trưởng thành, kết thành quả Phật Pháp.

Khi một tôn giáo truyền vào vùng đất mới, tất phải đối diện với những trở ngại về ngôn ngữ, văn hóa và truyền thống. Hòa Thượng Tuyên Hóa đã chỉ dạy những phương pháp cụ thể để vượt qua những trở ngại này:

Trước hết là phiên dịch kinh điển sang Anh ngữ, rồi từ đó chuyển sang các ngôn ngữ khác. Chúng ta rất vui mừng thấy rằng trong hơn năm mươi năm qua, Hội Phiên Dịch Kinh Điển đã dịch nhiều bộ kinh quan trọng như Kinh Pháp Hoa, Kinh Lăng Nghiêm, Kinh Hoa Nghiêm và nhiều kinh sách khác sang tiếng Anh và các ngôn ngữ khác cùng với phần giảng giải của Hòa Thượng, khiến các bản dịch này có giá trị sâu sắc và đặc thù, vượt hơn các bản dịch học thuật thuần túy của các học giả với những giải thích còn giới hạn. Là đệ tử, chúng ta cần tiếp tục sự nghiệp phiên dịch những tác phẩm tuyệt vời này, để đem pháp bảo đến với quần chúng rộng rãi hơn và truyền bá Phât Pháp đến các quốc gia Tây phương..

Thứ hai là kiến lập Tăng Đoàn thanh tịnh gồm Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni, y theo giới luật của Phật. Đây là nhân tố trọng yếu để Phật pháp trường tồn và hưng thịnh tại Hoa Kỳ và các quốc gia phương Tây, vì hiện nay có rất nhiều kẻ tự xưng là đạo sư, cùng những người chưa thọ giới xuất gia mà tự nhận là tăng ni, đang mặc sức lập bè kết phái với các giáo phái riêng và tín đồ cuồng tín của họ. Vì vậy, là đệ tử, chúng ta cần hộ trì việc đào tạo Tăng tài, khuyến khích thêm người phương Tây xuất gia. Chúng ta cần có Tăng Đoàn vững mạnh để nuôi dưỡng những hạt giống mà Hòa Thượng Tuyên Hóa đã gieo trồng để một ngày nào đó, những hạt giống này sẽ phát triển thành cây lớn mang trái Phật pháp tại các quốc gia phương Tây.

Từ lâu, người Mỹ rất quan tâm đến tọa thiền. Tuy nhiên, do thiếu minh sư chân chánh, nhiều người học theo các “đao sư” tự xưng hoặc các vị thầy phong trào Thiền Tân Thời Đại, dẫn đến hậu quả sai lạc. Thiền bị giản lược thành phương tiện giảm căng thẳng hoặc là phương tiện tìm cầu hạnh phúc cá nhân. Thiền bị thương mại hóa với hàng trăm trung tâm thiền khắp Hoa Kỳ có giá trị kinh tế nhiều tỷ đô la.

Để chuyển hóa nhận thức sai lầm này và hướng dẫn phương pháp tu thiền đúng đắn cho người Hoa Kỳ, Tổng Hội Phật Giáo Pháp Giới có thể mở rộng thêm các khóa thiền truyền thống, giảng giải đầy đủ về lịch sử chư Tổ, cũng như phương pháp chân chánh trong Kinh Pháp Bảo Đàn hoặc pháp của Bồ Tát Quán Thế Âm trong Kinh Lăng Nghiêm. Tổng Hội Phật Giáo Pháp Giới có thể cung cấp thêm các lớp thiền từ sơ cấp đến cao cấp, có hướng dẫn rõ ràng, không những chỉ tại Vạn Phật Thánh Thành mà còn tại các Đạo tràng chi nhánh của chúng ta để đại chúng tiếp cận thiền rộng rãi hơn.

Để truyền bá Phật giáo rộng rãi trong thế giới phương Tây, nơi khoa học, kỹ thuật và triết học là nhửng phần chính của nền văn hóa, Tổng Hội Phật Giáo Pháp Giới có nhiều cơ hội chú trọng áp dụng vào các lãnh vực như khoa học, kỹ thuật, y học, môi trường và đạo đức. Mỗi lãnh vực này có liên quan đến nhiều vấn đề mà Phật Giáo có thể cung cấp các cách giải quyết. Ví dụ, hiện nay ngày càng có nhiều nhà thần kinh học công nhận rằng chính tâm thức, chứ không phải bộ não, mới là yếu tố chịu trách nhiệm về ý thức và kinh nghiệm sống. Ngay cả cơ bắp và tế bào cũng được phát hiện là có ký ức. Khám phá này đã làm dấy lên nhiều cuộc tranh luận giữa các nhà khoa học về ý thức và về nơi tâm thức tồn tại. Tôi nghĩ Phật giáo có thể đưa ra một số giải thích.

Dựa trên những cơ hội này, tôi xin đề nghị thành lập một Viện Phật Giáo Ứng Dụng nhằm giải quyết các vấn đề nêu trên. Sứ mạng của viện sẽ là hoằng truyền Phật Giáo chân chánh đến thế giới phương Tây thông qua việc tổ chức các hội thảo, khóa học, hội nghị, xuất bản ấn phẩm, và tiến tới nghiên cứu về việc ứng dụng Phật pháp vào những lãnh vực có tiềm năng góp phần xây dựng một thế giới tốt đẹp và hài hòa hơn.

Viện này có thể tạo ra một diễn đàn để các vị Pháp sư và các nhà khoa học cùng gặp gỡ đối thoại về sự phát triển của khoa học kỹ thuật dựa trên nền tảng đạo đức Phật giáo, chẳng hạn như Trí tuệ Nhân tạo (AI), kỹ thuật Sinh học, Chỉnh sửa Gene, Biến đổi Khí hậu, Khoa học Thần kinh, Ý thức, Tâm lý trị liệu, Thiền định và Đông y. Những cuộc đối thoại này có thể dẫn đến sự hiểu biết sâu sắc hơn cũng như những bước tiến mới trong các lãnh vực này.

Nếu chúng ta có thể mở rộng giáo pháp của Hòa thượng Tuyên Hóa đến những lãnh vực đang rất cần những hướng dẫn và đạo đức nhằm loại trừ lòng tham lam, sân hận và tư lợi là những yếu tố có khả năng hủy hoại thế giới của chúng ta, thì Phật Giáo thật sự có thể cống hiến rất lớn cho nhân loại ở tầm mức toàn cầu.

A Di Đà Phật!”