Nhớ
Lại Nhân Duyên "Như Thị" Với Hòa
Thượng Hư Vân
Hoà Thượng Tuyên Hoá
Trích dịch
từ tuyển tập 宣化老和尚追思紀念專集
(In Memory of the Venerable Master Hsuan Hua) Quyển 2
https://www.drbachinese.org/online_reading/drba_others/memory2/history_01.htm


Tôi (Hòa Thượng Tuyên
Hóa) là một sơn tăng ở vùng núi Trường Bạch,
thuộc một Thiền đường ở Hắc Thủy. Từ nhỏ, tôi
đã có lòng thiết tha tu đạo giải thoát. Khi
được nghe về đức hiếu nghĩa của Ðại Sư
Thường Nhân (người đời tôn xưng là Vương
Hiếu Tử) ở Song Thành, tôi hằng ước nguyện sẽ
có ngày được theo Ngài học tập giáo pháp. Cứ
mỗi sáng, mỗi chiều, sau khi lạy Phật xong, tôi
đều lạy hướng về Cha Mẹ. Thoạt đầu, Cha Mẹ tôi rất lấy
làm lạ, nhưng sau một thời gian thì ông bà hiểu
ra, thấy tự nhiên. Ít lâu sau tôi quy y Tam Bảo và tin sâu vào
Phật Pháp. Ðược một thời gian, tôi đến Song
Thành thọ học với Ðại Sư Thường Nhân.
Mỗi lần được Ngài
chỉ dạy, tôi luôn cảm thấy rất đúng phù hợp với mình. Sau khi Mẹ tôi qua đời, tôi
lạy Hòa Thượng Thường Trí xin xuất gia, rồi
dựng một cái chòi nhỏ thủ hiếu bên mộ Mẹ.
Từ lâu, được nghe tiếng
Lão Hòa Thượng Hư Vân là bậc Thiện Tri Thức
trong Thiền Tông, đang độ chúng ở chùa Nam Hoa,
vùng Tào Khê. Tôi có ý nguyện được đến đó tu
tập. Tuy nhiên, đường đi khó khăn, phải vượt
qua một vùng núi non hiểm trở, nên chưa thể đạt
được sở nguyện. Sau khi Nhật đầu hàng
năm 1945 (Dân quốc năm 34), đường đi có
phần dễ dàng hơn. Mùa thu năm 1946, vào giữa
tháng 8, tôi lên đường cùng với hai môn đệ
là Quả Năng và Quả Thuấn. (Về sau Quả Năng tham
phương hành cước không biết tin tức; còn Quả
Thuấn tự thiêu thân cúng dường Chư Phật).
Chúng tôi hướng về Tào
Khê, ước nguyện được thân cận Hòa Thượng Hư
Vân. Cuộc hành trình quá gian khổ, ngày đi đêm
nghỉ; có khi lại đi suốt cả đêm, cho đến khi
đến được chùa Bát Nhã ở Trường Xuân
(thời Mãn Châu quốc gọi là Tân Kinh). Hai vị
đệ tử lưu lại chùa nầy, đợi xin thọ giới Cụ
túc vào Giới đàn năm sau sẽ mở ở đây. Tôi
tiếp tục đi một mình vào nội địa, chẳng cần mang thêm áo
quần, hành lý gì nhiều, nặng chưa tới năm cân.
Khi đến Thiên tân, tôi
lưu trú ở Ðại Bi Viện, nghe Lão Pháp Sư Thái
Hư giảng kinh Lăng Nghiêm. Tôi gặp pháp Sư Thể
Kính và cùng đi thuyền với Ngài đến chùa Chánh
Giác ở Hồ Bắc. Cùng đi với chúng tôi có các
Pháp Sư Thánh Chiếu, Thánh Diệu, Chiếu Ðịnh,
Nguyên Tường, Nhuận Tuệ, Bổn Tri, Giác
Tri, Dung
Linh, Linh Quán, Tinh Giới ... tổng cọng mười bốn vị. Nhân đó,
tôi có làm
bài kệ rằng :
Ðồng chu cọng độ
thập tứ tăng,
Chúng giai tôn quý ngã độc bần.
Nạp y nhất thực vô tha vật,
Phàm nhân hủy báng dữ ha sân.
Tạm dịch :
Đồng thuyền vượt sóng mười bốn
tăng,
Thảy đều tôn quý, riêng tôi
nghèo.
Y rách, ăn một bữa, chẳng có
gì,
Người người tùy ý mắng, khinh chê.
Tại chùa Chánh Giác, tôi
theo chúng chấp lao phục dịch, như chùi rửa phòng
tăng, rửa chén bát, nấu nước, dọn vườn, quét
dọn chánh điện ... Chỉ riêng thấy trong công phu
hành trì thiền quán có nhiều tiến bộ.
Năm 1947, tôi đến núi
Phổ Ðà xin thọ giới Tỳ Kheo, vào mùa thu tôi
đến chùa Linh Nham Sơn ở Tô Châu xin vào Phật
Học Viện. Cũng trong mùa thu ấy, tôi lại đến
núi Không Thanh tham dự thiền thất suốt qua mùa
đông. Tại đây tôi có duyên được tham lễ Hòa
Thượng Minh Quán và Hòa thượng Liễu Thừa.
Tháng giêng năm 1948, tôi
rời Thượng Hải đáp thuyền đến chùa Báo Thông
ở Hồ Bắc. Khi ở trên thuyền, trong người chẳng
có lấy một đồng bạc, lại gặp một người bị
bại liệt. Suốt thời gian ấy, tôi trì Chú Ðại
Bi, hướng sự chú nguyện gia trì cho người bệnh.
Bệnh anh ta giảm thấy rõ và có thể đi lại
được. Sự việc này đã đánh thức lòng tôn
kính và niềm tin vào Ðạo Phật cho số hành khách
ở trên thuyền. Trước khi rời thuyền, họ đã
quyên góp tặng tôi hơn 700.000 fabi (pháp tệ) (1). Nhờ số tiền này,
tôi có thể mua vé xe lửa đi Khúc Giang. Lúc
xuống ga, tôi tình cờ gặp Ðại Sư Châu Dịch, người Hồ
Bắc. Cùng trò chuyện với nhau mới biết ông ta
cũng đang trên đường đến chùa Nam Hoa ở Quảng
Ðông để theo học với Hòa Thượng Hư Vân. Tôi
hỏi : "Thầy có tiền để mua vé xe lửa không
?" Thầy trả lời "Không". Tôi mua vé
cho thầy. Hai chúng tôi cùng đi xe lửa đến Mã
Bá. Khi xuống ga, thầy nói : "Tôi đói bụng
quá !". Sau khi mua vé xe, tôi còn lại
hơn 100.000 fabi, liền biếu hết cho ông ăn sáng, chẳng giữ lại đồng
nào.
Ðến chùa Nam Hoa, đảnh
lễ Hòa Thượng Hư Vân, tôi cảm thấy mình như
đứa trẻ con gặp lại Mẹ hiền ; như
kẻ lữ hành nay tở lại quê nhà. Sau bao nhiêu năm
lòng cảm phục, ngưỡng mộ, ao ước được gặp,
đến lúc này mới được toại nguyện. Ban đầu,
tôi được phân công làm hương đăng ở Tổ
đường. Khi Pháp Sư Trí Tham đến thăm, tôi cùng
Ngài bàn bạc, tâm đắc nhiều quan điểm về tinh
thần tu tập. Pháp Sư lại giới thiệu với Hòa
Thượng Hư Vân rằng tôi là người có năng lực,
là bậc pháp khí.
Lão Hòa Thượng
Hư Vân gọi tôi lên phòng phương trượng, khuyến khích tôi đảm nhiệm vai
trò Giám học của Học Viện Giới Luật. Tôi không
dám nhận. Ngài khuyến khích tôi đến ba lần. Tôi
thưa: "Con đi tham phương ngàn dặm đến đây để gặp
Hòa Thượng là vị Thiện Tri Thức, chỉ cầu liễu
thoát sanh tử. Nếu Hòa Thượng có thể đoan chắc
cho con liễu sanh tử thì dẫu Ngài bảo con phải nhảy vào
dầu sôi lửa bỏng, tan xương nát thịt, con quyết cũng không từ
chối." Lão Hòa Thượng đáp: "Sanh
tử của ai, người ấy tự liễu thoát sanh tử của
mình, như cơm của ai, người ấy tự ăn no. Nếu nói rằng
tôi có thể bảo đảm cho ông thoát được sanh
tử, đó là đánh lừa ông. Tôi không bao giờ làm
điều đó. Tuy vậy, đối với việc tu tập,
nên coi trọng nội công ngoại quả, trong
thì nên tập trung vào công phu quán chiếu ; ngoài
thì nên làm công quả. Phúc huệ song tu, tu cả
Phước và Huệ, thì sẽ
được thành tựu. Không nên tu tập để mong thành
một vị A-la-hán, chỉ lợi lạc cho riêng mình ; mà
nên thực hành hạnh Bồ tát, tu tập vì lợi ích
cho muôn loài. Hãy siêng năng làm việc phục vụ
cho tăng chúng, cho Thường Trụ, và phát nguyện
phụng sự cho lợi ích chúng sanh. Bằng cách đó
mới có thể thánh tựu Phước Huệ ; việc sanh tử
cũng nhân đó mà tự liễu thoát". Tôi lại
khước từ. Lão Hòa Thượng liền bảo : " Ông
từ Ðông Bắc Trung Hoa, lặn lội đến tìm tôi.
Nếu không muốn nghe lời chỉ dạy thì bận tâm
đến đây làm gì?" Nghe vậy, tôi bèn
đảm nhận
chức sự.
Hàng ngày tôi thầm quan
sát từng lời nói, việc làm ; từng oai nghi tế
hạnh của Lão Hòa Thượng để học hỏi. Nhận thấy
Ngài hoàn toàn không khác người thường. Ðiều làm cho
Ngài khác với mọi người là Ngài
tự mình làm gương, tự mình khắc khổ, nghiêm trì mẫu mực tu
hành, điều mà người thường khó có thể đạt tới.
Một hôm, trong kỳ truyền
giới vào mùa xuân, khi tiếng bảng báo thức vừa
vang lên, bỗng nghe có tiếng cọp gầm ; ban đầu
rất gần, sau rồi xa dần, đây là điều
chính
tai tôi nghe thấy. Một người bạn đồng tu
bảo tôi "Ðó là tiếng gầm của con cọp đã
quy y với Lão Hòa Thượng, làm đệ tử hộ pháp. Hiện nay nó sống trong
một cái hang phía sau núi. Mỗi khi có giới đàn,
nó luôn luôn đến để bảo vệ đạo tràng."
Sau kỳ truyền giới, Lão
Hòa Thượng lặng lẽ một mình đến chùa Vân Môn,
nơi Ngài đang coi sóc việc kiến thiết trùng tu.
Mùa hạ năm đó, tôi đến
quận Nam Thành ở Giang Tây để giảng kinh A
Di Đà
theo lời mời của Lão Cư Sĩ Hoàng Chú Tai. Tôi
trở lại chùa Nam Hoa vào giữa tháng 8. Ðến giữa
tháng 9, có một nhóm thổ phỉ vào cướp phá
chùa Nam Hoa. Họ phá cổng chùa, xông vào Học Viện Giới
Luật. Tôi ra gặp họ. Họ chỉa súng vào ngực tôi
muốn bắn. Tôi hỏi : "Sao các ông muốn bắn
tôi?" Họ đáp : "Vì ông không chịu mở
cổng chùa" Tôi đáp : " Tôi không mở
cổng chùa vì các ông vào đây để cướp bóc,
không phải vào cho tôi quà. Nếu ông ở vào vị
thế của tôi, ông cũng chẳng dám mở. " Tên
cướp bảo: " Ðưa tiền bạc ra đây " .
Tôi chỉ vào nạp y, đáp: "Nhìn đây, người
mặc những chiếc áo may bằng từng mảnh vải như
thế này,thì lấy tiền ở đâu ra mà đưa cho bọn
các ông?" . Tên thổ phỉ hỏi: "Thế thì
ai có?" Tôi đáp : " Tôi là Pháp Sư ở
đây, còn lại đều là học tăng. Tôi đã không
có tiền thì các học tăng chắc còn nghèo hơn.
Các ông có quyền lục soát phòng này và lấy bất
cứ gì tùy ý."
Nghe tôi đối đáp với
bọn cướp như chẳng có việc gì nghiêm trọng,
Pháp Sư Hoài Nhất ở phòng bên cạnh bước ra xem
tôi nói chuyện với ai. Bọn cướp liền nắm ngay
lấy thầy, vặn hỏi thầy những điều như chúng
đã hỏi tôi. Thầy Hoài Nhất chợt rơi nước mắt,
cúi đầu xuống không dám nhìn chúng. Bọn cướp
bảo: "Ðưa tiền ra đây" . Thầy Hoài
Nhất nói: "Hãy đến phòng tôi mà lấy".
Bọn chúng liền đến phòng thầy lấy sạch mọi
thứ, để lại căn phòng trống không.
Sáng hôm sau khi vào lớp
học, thấy Hoài Nhất nói với mọi người : "
Trong hơn một trăm tăng sinh ở Thiền Viện Nam Hoa
này, chỉ có một người thể hiện được tinh thần
Vô-úy. Ðó là Pháp Sư Ðộ Luân."
Ðến giờ tôi lên lớp
giảng, tôi nói: "Thầy Hoài Nhất nói chỉ có
tôi là người có tinh thần Vô-úy trong chùa
Nam Hoa, tôi nghĩ là chưa chính xác lắm. Theo tôi
biết thì ít nhất cũng có đến bốn người có
tinh thần Vô-úy. Trước hết là Lục Tổ Huệ Năng.
Ngài ngồi bất động trong Chánh định, chẳng bận
tâm để ý điều gì, như chẳng thấy có việc gì
xảy ra trong chùa cả. Người thứ hai là Tổ Sư
Hám Sơn, ngồi đoan nhiên trong Thiền định với
đôi mắt khép kín, hàm dưỡng nội tâm, trong
ngoài đều như không lặng, nhân ngã đều như
tiêu trầm. Người thứ ba là Ðan Ðiền Tổ Sư,
như đang nhìn quanh dò xét mọi việc mà không
nói một lời. Người thứ tư mới đến tôi, sơn
tăng Ðộ Luân này, chẳng những nhìn thấy mà còn
nói nữa. Tôi nói chuyện với bọn cướp làm chúng
sửng sốt, nhưng tôi chẳng thấy sợ hãi chút
nào." Tôi nói xong cả lớp đều bật cười.

Nhục thân Tổ Sư Đan Điền, Lục Tổ Huệ
Năng và Tổ Sư Hám Sơn
Chẳng bao lâu, tin chùa bị
cướp đến chỗ Lão Hòa Thượng Hư Vân. Ngài vội
vã từ Vân Môn về ngay Nam Hoa. Ngài cho triệu tập
toàn thể học tăng lại. Lão Hòa Thượng, Pháp Sư
Hoài Nhất và tôi làm chủ tọa buổi họp. Có hơn
30 học tăng, như : Tổ Ấn, Vân Diệu, Ngộ Vân,
Tuyên Dương, Hằng Ðịnh, Ðề Huy, Ðề Quảng,
Pháp Lượng, Hải Long, Pháp Huệ, Vạn Tâm, Chỉ
Không, Pháp Minh, Pháp Khai ... Sau sự kiện tu
viện bị cướp, học tăng ai cũng bối rối bất an,
muốn ra đi. Lão Hòa Thượng khuyến khích Pháp Sư
Hoài Nhất ở lại nhưng ông cũng từ chối. Lão
Hòa Thượng muốn thuyết phục học tăng ở lại,
nhưng họ không nghe. Ngài thất vọng, lòng buồn
bã nói rằng: "Từ nay về sau tôi chẳng bao
giờ điều hành một Phật Học Viện nào nữa
cả" . Nói xong Ngài phất tay áo, đứng dậy
trở về phương trượng.
Tôi rất xúc động và
nguyện sẽ nhận nhiệm vụ điều hành Phật Học
Viện. Sau khi thầy Hoài Nhất đi Quảng Tây, tôi
trở thành người độc nhất chịu trách nhiệm về
mọi khóa học ở Học Viện Giới Luật chùa Nam Hoa.
Tết
Nguyên đán năm sau (1949), tôi viết một bức thư cho
Lão Hòa Thượng, xin thôi nhiệm vụ Chánh
sự
Giáo vụ của Phật Học Viện, rồi sang ở tại Tàng
Kinh Các để nghiên cứu các tạng kinh. Giới đàn
năm đó tôi được thỉnh làm A-xà-lê trong hàng
Tam sư. Giới đàn xong, tôi cùng Lão Hòa Thượng
đến chùa Ðại Giám ở Thiều Quan. Rồi Hòa
Thượng đề nghị tôi cùng đi với Ngài về
Vân Môn. Tôi thuận theo Ngài, chỉ xin được trở về
Nam Hoa trước, rồi sẽ đến Vân Môn sau.
Vào thượng tuần tháng 5,
tôi khởi hành đi đến chùa Ðại Giám. Ðường
vùng núi quanh co, khúc khuỷu và chật hẹp
như đường ở đất Thục (Tứ Xuyên), chỉ
có một đường. Ðêm xuống, tôi còn cách Vân
Môn khoảng 20 dặm. Vì tôi đi một mình nên khó
mà đi nhanh được trên đoạn đường xa lạ đầy
chướng ngại này. Bỗng dưng có ánh lửa lập lòe
phía trước, tôi liền đi theo. Ðốm sáng ấy cứ
giữ một khoảng cách với tôi chừng trăm bước
chân. Cuối cùng khi tôi đến được chùa
Vân Môn
thì đốm sáng tự biến mất. Nhìn quanh, tôi biết
mình đã đến cổng tam quan Thiền Viện Ðại Giác.
Tăng chúng đang lúc chỉ tịnh. Tôi gõ cửa bước
vào, gặp ngay Hòa Thượng Hư Vân. Ngài hỏi:
"Sao thầy đến trễ vậy?" . Tôi kể cho
Ngài chuyện đóm lửa dẫn đường. Hòa Thượng
nói: "Thật lạ kỳ! Ði qua đoạn đường núi
đầy gian nan hiểm trở mà không người dẫn
đường. Thật khó tưởng tượng nổi khi thầy đã
tìm được lối đi trong màn đêm dày đặc. Thật
là lạ!"
Sau khi xếp phòng cho tôi
nghỉ xong, Lão Hòa Thượng nói: "Thầy đã là
Ban Thủ (quản chúng) tại chùa Nam Hoa, nay thầy
hãy nhận làm Ban Thủ ở chùa Vân Môn này luôn.
Thầy hãy hướng dẫn tăng chúng công phu, tụng
niệm, quá đường và tọa thiền."
Nhưng tôi không trụ ở
Vân Môn được lâu. Tôi bị bệnh do thời khí ẩm
thấp, khiến trong người rất khó chịu, tôi liền
thỉnh ý Lão Hòa Thượng xin được về Quảng
Châu
trị liệu. Ngài từ chối, bảo tôi: "Thầy
chẳng nên đi. Nếu thầy đi chắc là khó trở
về" .
Tôi thưa: " Ðệ tử
của Lão Hòa Thượng đã quyết chí. Con nhất
định xin đi chữa bệnh".
Nghe tôi thưa, Lão Hòa
Thượng không ngăn được dòng nước mắt. Ngài
nắm tay tôi, nói: "Nếu ông đi, chúng ta khó
lòng gặp lại". Tôi nói: " Con sẽ trở về
ngay khi khỏi bệnh. Xin Hòa Thượng đừng bận tâm
về con."
Lão Hòa Thượng nói:
"Thầy đi lần này, hãy phát tâm thừa sự
Ðức Phật và Chư Lịch Ðại tổ Sư mà kiến lập
Ðạo Tràng. Cơ duyên trước mắt rất xán lạn.
Hãy cố gắng nỗ lực tinh thần. Tự bảo nhậm lấy
mình, đừng phụ lòng mong mỏi của tôi. Xin bái
biệt!"
Tôi đến Quảng Châu, rồi
qua Hương Cảng, trú tại chùa Ðông Phổ Ðà. Vào
tháng 7, tôi về lại Quảng Châu, ở chùa Lục Dong,
Hòa Thượng Minh Quán trụ trì yêu cầu tôi làm
Ðường Chủ kiêm Phó Trụ trì. Vì đã có dự
tính trở về Vân Môn sau tiết Trung thu, nên tôi
chỉ thuận tạm nhận việc đến rằm tháng 8 mà thôi.
Nhưng nào ngờ đầu tháng 8, Thiều Quan lại bị chiếm
đóng, nên đường giao thông bị gián đoạn, tôi
không trở về được như dự tính. Vào đêm 18
tháng 8, nhân có hai vị cư sĩ là Tạ Khoan Huy và
Trần Khoan Mãn, giúp cho tôi chút tiền đi thuyền,
tôi liền trở về Hồng Kông. Sau đó, tôi sang
Thái Lan để nghiên cứu Phật Giáo Nam Truyền. Năm
1950, tôi trở lại Hồng Kông, ẩn cư tại Ðộng
Quan Âm, sống như người câm điếc. Mỗi khi nhớ
đến lời ân cần của Hòa Thương Hư Vân lúc chia tay,
tôi lại hối hận. Tôi muốn quay trở về để gặp
Lão Hòa Thượng, nhưng không thể nào được nữa.
Thật đau lòng! Than ôi, làm sao có thể nói
được?
Mùa đông năm 1951, trùng
tu chùa Tây Lạc Viên. Theo lời thỉnh cầu của các
vị cư sĩ La Quả Minh, Trần Quả Phát,
Đường Quả
Thiện, Mạch Quả Liên, Viên Quả Lâm ... tôi giảng kinh Ðịa Tạng
ở chùa Thông Thiện Đàn. Vào mùa thu năm sau, tôi lại
giảng kinh Kim Cang cũng tại chùa này. Rồi lại
giảng kinh A Di Ðà tại chùa Bảo Giác. Sau đó,
tôi giảng kinh Thủ Lăng Nghiêm ở chùa Tây Lạc
Viên suốt 14 tháng. Rồi lại giảng kinh Ðịa Tạng
tại một ngôi chùa khác.
Khi tôi kiến thiết trùng
tu Từ Hưng Thiền Tự, đắp một bức tượng Lão
Hòa Thượng Hư Vân để biểu hiện sự kính ngưỡng cao
tột nhất đối với Ngài. Tôi nhận được từ Ngài
bản chứng minh truyền thừa - "Chánh Pháp Nhãn
Tạng - Nguồn gốc truyền thừa của Chư Phật Tổ,
là pháp từ tâm ấn tâm, truyền riêng ngoài giáo
điển; là Niết bàn Diệu tâm, thật tướng vô
tướng, là pháp Chân không mà chẳng không, trên
thì kế thừa ý Chư Tổ, dưới hóa độ quần sanh".
Tôi được tiếp nhận ân huệ sâu thẳm ngọt ngào
của Pháp nhũ, lòng càng cảm động,
luôn ghi nhớ.
Lão Hòa Thượng
Hư Vân viết thư
khuyến khích tôi siêng năng tu tạo phước đức.
Tôi phát nguyện quyên góp vài vạn nguyên để
đúc tượng Phật cho Ðại Hùng Bửu Ðiện ở Chân
Như Thiền Tự, núi Vân Cư. Tôi sang tận Miến
Ðiện để mua vàng lá về thếp vào tượng Phật,
tổng cộng
hơn
ba trăm hộp lớn.
Lão Hòa Thượng rất hoan hỷ, viết thư tán thán.
Ðiều này biểu hiện sự quan tâm sâu sắc của
Ngài đối với thế hệ tương lai.
Ngài rất khiêm tốn và
không hề làm phiền lòng ai. Ngài sống khắc kỷ
với bản thân, tỏa lòng khoan dung độ lượng với
mọi người. Ðạo hạnh tinh nghiêm cao vời và lòng
từ bi, bình đẳng vô lượng của Ngài đã tác
động đến khắp mọi người. Ai ai cũng
hoan hỷ và
kính phục Ngài.
Trong một lá thư sau nữa,
Ngài dạy tôi nên trở về núi Vân Cư. Trong lúc
thiền quán, biết được Ngài đang muốn giao trách
nhiệm điều hành Thiền Viện Chân Như cho tôi,
nhưng do nhiều nhân duyên , tôi không thể nào làm
theo lời dạy của Ngài được. Ðến bây giờ, sự
ân hận trong lòng tôi vẫn chưa dứt.
Giảng Ðường Phật Giáo
đươc thành lập, hàng ngày tôi bận rộn với
việc giảng dạy Phật Pháp. Do vậy, không thể phân
thân để làm việc ở cả hai nơi trong cùng một
lúc. Tôi dự tính sẽ trở về thân
cận với Lão Hòa Thượng
sau khi sắp xếp công việc thỏa đáng và tìm
được người giao phó công việc ở Hồng Kông.
Vào tháng 7 năm 1959, tôi
nghe tin Lão Hòa Thượng bệnh nặng, ngày đêm
lòng tôi vô cùng lo lắng. Tôi biết đó là điềm
chẳng lành. Tôi đã lưu ý đến bức ảnh chân
dung của Ngài chụp hồi năm 1958, với đôi mắt
bình thản như nhìn vào chân trời xa xăm ; lông
mày dài đến tai. Khi tôi thấy
bức chân dung này, tôi cảm động, đảnh lễ nói
rằng : " Mọi khi mắt Hòa Thượng đều nhắm
lúc chụp hình; nhưng lần này, đôi mắt từ ái
ấy lại mở rộng nhìn mọi loài hữu tình. Ðiều
này quá lạ lùng! Chắc chắn đây phải là biểu
hiện của một sự thay đổi lớn lao,
không quá một năm, hẳn sẽ rõ."
Nay thì mọi việc dường
như đã rõ ràng. Tôi liền thỉnh Chư Tôn Ðức
Tăng đồng khai lễ tụng Bảo Sám Dược Sư
Tiêu Tai Diên Thọ liên
tục trong mấy ngày. Tôi cũng nhắn tin trên báo
chí cho các môn đệ của Lão Hòa Thượng được
biết để cùng nhau chú nguyện, mong có được sự
cảm ứng nhiệm mầu.
Lúc ấy, tôi thưa trước
Ðại Chúng: "Tôi e rằng đây là dịp cuối
cùng chúng ta vì sức khỏe của Lão Hòa Thượng
mà đảnh lễ Chư Phật, đảnh lễ Ðức Dược Sư
Quang Nhu Lai." Giọng tôi trầm nặng vì quá
buồn, chư Tăng Ni đều khóc thầm khi nghe những
lời nói ấy.
Rồi có một bức thư từ
Vân Cư báo tin: "Bệnh của Lão Hòa Thượng
đã có phần thuyên giảm." Chúng tôi đều vui
mừng. Khi đó, tôi liền tìm một họa sĩ để vẽ
lại tiểu sử của Lão Hòa Thượng bằng tranh. Bộ
tiểu sử gồm hơn 200 bức tranh bằng mực tàu
vẽ tinh mỹ, kèm
theo đến vài vạn lời, trình bày đạo đức siêu
tuyệt của Ngài; những hạnh nguyện, những gian khổ
ngài đã trải qua, cùng năng lực ý chí tinh thần
của Ngài, cùng công hạnh của Lão Hòa Thượng là biểu
tượng mô phạm cho muôn đời; cho những
người sau phát
tâm tu hạnh Thánh Hiền noi theo. Suốt cả ngàn năm
mới có một mẫu mực sáng chói như Ngài.
Bất hạnh thay, vào ngày 16
tháng 10 (tức ngày rằm tháng chín âm lịch), tôi nhận được điện tín báo tin Ngài
đã an tường viên tịch vào lúc 1 giờ 45 phút
ngày 12 tháng 10 tại Chân Như Thiền Tự, núi Vân
Cư. Ngài dặn dò chúng đệ tử hãy siêng năng tu
tập Giới Ðịnh Tuệ, chuyển hóa sạch tham sân si ;
vì Pháp quên thân ; thương yêu, kính trọng nhau,
hỗ trợ nhau trong việc truyền bá Chánh Pháp...
Khi tôi nghe tin này, không
những thấy núi non sụp đổ, lòng đất chấn
động, mà còn thấy cả thế giới và mọi người
như biến mất; như kiếp hỏa thổi qua muôn vật.
Tôi chẳng thể nói được là mình đang mơ hay
tỉnh, vạn vật là ảo hay thật... Tôi thấy mình
như đứa trẻ ngây ngô, như tượng đá vô tri.
Sau một lúc, khi tôi hồi phục lại tri giác, mới
biết là mình vừa trải qua một cơn xúc động vì
đau buồn ngập tràn.
Hôm sau, 17 tháng 10, tôi
mời tất cả Phật Tử, thiện tín lại để tổ chức
nghi lễ truy niệm. Chúng tôi quyết định cử hành
khóa lễ 21 ngày chuyên tâm niệm Phật ; tiếp theo
là khóa lễ 120 ngày niệm Phật Ðại Bát Nhã.
Chúng tôi hy vọng, bằng cách này, vừa truy niệm
công đức Ngài, vừa phần nào báo đáp được
Pháp nhũ từ bi mà Ngài đã ban cho chúng tôi.
Tôi cũng đánh điện tín
báo tin cho Pháp hữu trên khắp thế giới : Phật
Giáo Giảng Ðường ở San Francisco, Hội Phật Giáo
ở Honololu, Hội Phật Giáo Tân-Gia-Ba, các cư
sĩ Lý Tuấn Thừa, Tất Tuấn Huy, cư sĩ
Trần
Lệ Ngô ở Canada ; và các đệ tử ở
Nam Dương, Ðài Loan,
Miến Ðiện, Thái Lan, Ấn Ðộ, Tích Lan... và
nhiều quốc gia khác ; trong đó có cả cư sĩ Vu
Chấn Ðông, Chủ Tịch Hội Phật Giáo Hữu Nghị Thế
Giới. Hơn 100 bức điện tín được gửi đi. Ðệ
tử khắp nơi trên thế giới đều có điện phúc
đáp, tổ chức lễ Truy niệm Hòa Thượng. Phật
Giáo Hương Cảng cũng liên lạc phúc đáp bằng
điện thoại. Vào ngày 18 tháng 10, các nhật báo
Hương Cảng đều đưa tin rộng rãi.
Không ngờ việc ấy lại
chuốc
lấy đố kỵ, tiểu nhân phỉ báng, ma chướng hoành hành, làm nhiễu
loạn thị thính. Ngay cả một số kẻ tự xưng là thiện tri thức cũng cam tâm
a dua phụ họa, thật đáng than thở! Quả đúng là:
làm
việc thiện ắt nhiều ma chướng.
Tóm lại,
hiểu ta, há chẳng phải chỉ có Vân Công (Hòa Thượng Hư
Vân)? Mà
kết tội ta, cũng chỉ có Vân Công mà thôi! Khổng
Tử soạn Xuân Thu
khiến loạn thần tặc tử phải sợ; Tư Mã biên
Sử Ký khiến
kẻ gian tà tội phạm không thể ẩn thân. Tôi vì Vân Công mà
tận lực,
dẫu muôn giáo đâm thân, cũng chẳng có gì sợ hãi.
Xin cứ tận tình thi triển thủ đoạn của các ngươi, ta xin
hoan nghênh tiếp nhận.
Ngài Vĩnh Gia Đại Sư
từng dạy:
“Xét lời ác ấy công đức,
Ðó mới chính là thầy ta thực.
Chớ vì báng bổ khởi oán, thân,
Sao tỏ vô sanh, nêu nhẫn lực..”
Lại nói:
“Mặc
ai biếm, mặc ai dèm,
Châm lửa đốt trời nhọc xác
thêm.
Ta nghe như uống cam lồ vậy,
Tan hết vào trong chẳng nghĩ
bàn.”
Nhưng phải biết rằng
nhân quả bất khả tư nghì, báo ứng cũng bất khả tư nghì!
Hãy cẩn trọng! Nếu đọa vào
địa ngục nhổ lưỡi, thì hối hận đã muộn!
Vào ngày 4 tháng 10
âm lịch, tôi
phái hai cư sĩ
Tiết
Quả Phụng và
Mã
Quả Tiên đến Vân Cư để thỉnh xá lợi
và linh cốt của Lão Hòa Thượng. Ngày 7, hai vị cư sĩ đến
Chân Như Thiền Tự thỉnh được 10 viên xá lợi
sáng ngời, tỏa chiếu rực rỡ ánh sáng năm màu.
Ngày 16 rời chùa, chiều 18 về đến Giảng Ðường, tôi
hướng dẫn Ðại chúng cúng dường hương hoa,
đảnh lễ xá lợi. Ðại chúng thảy đều hoan hỷ.
Tôi có cảm giác như cả gánh nặng đã cất khỏi
vai mình.

Hòa Thượng Tuyên Hóa hướng dẫn Ðại
chúng cúng dường hương hoa, đảnh lễ xá lợi Đại Lão Hòa Thượng Hư Vân tại
Hương Cảng (Hong Kong) năm 1959, và bài kệ tán Xá Lợi Hòa Thượng Hư Vân của Hòa Thượng
Tuyên Hóa. (2)
Hôm sau cùng bốn cư
sĩ Mao Văn Đạt, Lý Trọng Du, Tiết, Mã, phụng xá-lợi đến
thăm cư sĩ Sầm lão, bàn việc xuất bản chuyên san. Ông
chủ trương nên xuất bản chậm để chờ tư liệu hải ngoại.
Vì vậy, chuyên san này đến nay mới được ấn hành. (Ghi
chú: «Chuyên san Hư Vân Lão Hòa Thượng Niết-bàn» do
Tuyên Công Thượng Nhân biên soạn trong thời kỳ ở Hồng
Kông).
Nguyện mong từ nay,
Phật tử khắp thế giới đoàn kết tinh thần, kính ái lẫn
nhau.
Lão Hòa Thượng Hư Vân từng để lại di kệ rằng:
Thương tôm xót
kiến không nhảy vào nước lại,
An ủi thủy tộc, thân này gieo xuống sông.
Các loài thọ nhận thân ta nguyện cúng dường,
Cùng chứng Bồ-đề, độ khắp các chúng sanh. (3)
Lại dạy:
Chư vị pháp
lữ
Chớ nên lo
sầu,
Sinh tử theo nghiệp,
Như tằm trói
kén.
Tham mê chẳng dứt,
Tù ngục vui
buồn,
Muốn trừ tai ấy,
Gắng sức tu
hành.
Khéo hiểu vô sinh,
Sáng tỏ tánh
địa.
Dứt ái ghét tình,
Thoát hiểm
luân hồi.
Tu đủ Tam học,
Giữ vững Tứ
niệm.
Thệ nguyện viên thành,
Thân huyễn
sương điện.
Chứng ngộ chân không,
Vạn pháp nhất
thể.
Ly hợp bi hoan,
Tùy duyên bọt
nước. (4)
Ngài lại căn dặn:
“Sau khi ta hóa
thân xong, xin các vị nghiền xương ta thành bột mịn,
hòa với dầu, đường, bột, nắn thành viên, thả xuống
sông cúng dường thủy tộc, để mãn nguyện của ta. Ân
tạ vô cùng!”
Người trả nợ – Hư Vân, đảnh lễ.
Xin nguyện cho những lời
này nêu lên được một chuẩn mực về đức hạnh,
để người người cùng noi theo mà tiến bước về
cõi Phật, nguyện không bao giờ thối chuyển trong
việc phát tâm cầu Vô thượng Bồ đề.

Ghi chú:
(1) Fabi - Pháp tệ, một loại tiền
Trung Hoa dùng vào thởi điểm này (1948), do chiến tranh lan rộng, nhiều
bất ổn, nên lạm phát rất lớn, tiền mất giá trị rất nhiều.
(2) Nguyên văn Hoa ngữ:
https://www.drbachinese.org/sf_calligraphy/others/pages/other_39.htm
讚舍利子偈
五色繽紛堅固子
萬德煅煉滿月圓
晶瑩戒珠光灼灼
硨磲定寶色鮮鮮
琉璃慧燈照法界
般若智果化三千
蓮子大小潔如玉
戒律功德眾莊嚴
嗣法門人
宣化拜題
Hán - Việt:
Tán Xá Lợi Tử Kệ
Ngũ sắc tân phân kiên cố tử
Vạn đức đoán luyện mãn nguyệt
viên
Tinh oánh giới châu quang chước
chước
Xa cừ định bảo sắc tiên tiên
Lưu ly tuệ đăng chiếu pháp giới
Bát Nhã trí quả hóa tam thiên
Liên tử đại tiểu khiết như ngọc
Giới luật công đức chúng trang
nghiêm.
Tự pháp môn nhân
Tuyên Hóa bái đề
Tạm dịch:
Kệ tán Xá Lợi
Xá lợi năm màu bền kiên cố,
Vạn đức rèn luyện trăng tròn đầy.
Ngọc giới tinh khiết sáng rực
rỡ,
Bảo định xa cừ sắc thắm tươi.
Đèn tuệ lưu ly soi pháp giới,
Quả trí Bát Nhã hóa tam thiên.
Xá lợi lớn nhỏ trong như ngọc,
Giới luật công đức chúng trang nghiêm.
Môn
nhân nối pháp
Tuyên Hóa kính đề
(3) Nguyên văn Hoa ngữ:
蝦恤蟻命不投水,
吾慰水族身擲江,
祈諸受我身願供,
同證菩提度眾生。
Hà tuất nghĩ
mệnh bất đầu thủy,
Ngô úy thủy tộc thân trịch giang,
Kỳ chư thụ ngã thân nguyện cung,
Đồng chứng bồ đề độ chúng sanh。
(4) Nguyên văn Hoa ngữ:
請各法侶,不必憂慮,
生死循業,如蠶縛繭,
貪迷不休,囚閒憂喜,
欲除此患,努力修煉,
妙契無生,明通性地。
斷愛憎情,脫輪迴險,
參淨三學,堅持四念,
誓願圓成,質幻露電,
證悟真空,萬法一體,
離合悲歡,隨緣泡水。
Thỉnh các
pháp lữ, Bất tất ưu lự,
Sanh tử tuần nghiệp, Như tàm phược kiển,
Tham mê bất hưu, Tù nhàn ưu hỉ,
Dục trừ thử hoạn, Nỗ lực tu luyện,
Diệu khế vô sanh, Minh thông tính địa。
Đoạn áI tăng tình, Thoát luân hồi hiểm,
Tham tịnh tam học, Kiên trì tứ niệm,
Thệ nguyện viên thành, Chất huyễn lộ đIện,
Chứng ngộ chân không, Vạn pháp nhất thể,
Ly hợp bi hoan, Tùy duyên phao thủy.
