Nhất Tâm Đảnh Lễ Vạn Phật Thánh Thành

Tuyển Tập Nhật Ký và Thư Từ

Hằng Thật và Hằng Triều

Quyển 5

 

Nguyên bàn Anh ngữ:

One Heart Bowing

A Collection of Journals and Letters

by Heng Sure Ph.D. and Heng Ch’au Ph.D.

Published by:

Buddhist Text Translation Society

1777 Murchison Drive, Burlingame, CA 94010-4504

© 2007 Buddhist Text Translation Society

Dharma Realm Buddhist University

Dharma Realm Buddhist Association

First edition 2007

 

Hình ảnh

Welcome Dharma Master Heng Sure and Dharma Master Heng Chau - 11/1979

Các bài nói chuyện trong buổi lễ chào đón Thầy Hằng Thật và Thầy Hằng Triều về đến VPTT (11/1979)

Trí Tuệ Đang Chờ Khám Phá

Mục lục

Lời nói đầu

 

Tháng Năm, 1978

 

Mất là được, được là mất

Bồ Tát Đạo

Nhưng sẽ không nhận ra điều này khi bái lạy

Lời trí tuệ siêu việt vượt thời gian

Một mảnh móng tay bị cắt di chuyển chầm chậm ngang qua bầu trời

Người Chạm Banh ngồi thiền 

Tôi sẽ bị giam trong chiếc nhà này mãi mãi!

King Kong hay chuột Mickey

Cậu Bé Bơ Đậu Phụng

Không còn chỗ để chạy

Làm thế nào ông có thể đi sai được ?

Tôi tự hỏi tại sao mọi người cứ nói chuyện

Tôi ngồi trên tấm thảm nhà như một miếng bọt biển

Vui lòng lau sạch cưa sau khi dùng

Mạnh hơn cả cơn bão lốc

Chúng ta trở thành những gì chúng ta thấy

Tôi đã từng nghĩ rằng tôi hiểu biết bản thân mình

Bị mê mờ vì tự do quá nhiều

Gió lạnh thấu xương

Chúng tôi không tìm cầu gì cho bản thân

Gần đèn thì sáng

Nó tạo ra sự hài hòa và những rung cảm tốt lành

Tôi chỉ muốn cho đi thứ gì đó

Không phải là tưởng tượng; là dữ kiện thật, không phải là hư cấu

Trẻ em luôn hỏi những câu hay nhất

Học và thường ôn tập

Chúng ta chưa bao giờ tách rời khỏi nó

Thông điệp về đức tin và sự khiêm nhường

Bền chấp chẳng bỏ

Cái tâm lượng thì thật là rộng lớn

Như là người bạn không cầu thỉnh của tất cả chúng sanh

Nới lỏng lời nguyện cứng nhắc, chỉ ăn một chén

Pháp vị nào hợp với quý vị thì đó là Pháp vị tốt nhất

Nhân vật Ratso Rizzo tại bữa tiệc đứng
 

Tôi làm việc trên đường sắt

 

 

 

Tháng Sáu, 1978

 

Lời mỹ miều thường ẩn dấu con dao găm

Hãy cẩn thận đừng tin vào tâm trí của quý vị

Họ đang đợi chúng ta ở thành phố San Luis Obispo

Hãy nhanh lên! Đã đến giờ công phu chiều!

Lành thay, lành thay!

Nó ở đó mà như không ở đó

Có da mặt dày như vỏ lốp xe hơi
Lần này mình chết chắc rồi!

Tất cả chúng ta sẽ đi được đến cùng

Nghĩ về việc suy nghĩ

Họ có thể làm cho địa ngục trông giống thiên đường

Vậy là các anh không uống bia hả?

Từ trăm ngàn ức

Họ muốn nói chuyện và cắm trại qua đêm

Những người thợ máy xe hơi thay những lốp xe xẹp của thế giới

Đây cũng chính là chấp trước

Hai kẻ lập dị nhất

Tinh tấn và nỗ lực dụng công đánh bại những con quỷ lười biếng
 

Một người bạn tin cậy và gần gũi

Nghèo hơn bên ngoài và giàu hơn bên trong

Họ là những Thiện Tri Thức tốt nhất của quý vị

Tôi ước tôi đã bỏ túi mánh lới ở cánh cổng

Phòng khách sạn phân hủy sinh học

Cô ấy không biết sự thực hành của chúng tôi

Chỉ còn cách cánh cửa vài bước

 

Tháng Bảy, 1978

 

Tất cả có thể biến mất trong giây phút kế tiếp

“Marty” nôn nóng muốn xuất hiện trở lại

Đưa tôi xem bàn tay đáng thương của bạn.

Đi thuyền sang bờ bên kia

Trắng tay gặp Diêm Vương

Trong mỗi hoàn cảnh đều có một phương pháp

Đôi khi tôi quên tâm niệm đó, nhưng tâm niệm đó không bao giờ quên tôi

Quý vị có dục vọng nhưng đừng dùng dục vọng

Không có công thức bí mật

Nảy bật như trái banh bóng bàn

Một “lão hành giả” chân chánh cắt đôi một trái đào

Không chấp nhận những hành vi sai trái

Như một trái bong bóng bay màu đỏ mỏng manh trong tay một đứa trẻ

 

Tìm kiếm một thân kiên cố

Rất nhiều việc đang dở dang và chưa hoàn tất

Bản ngã chịu thiệt thòi mỗi khi tôi trì giữ miệng lưỡi

Một xẻng cát đầy trên mặt băng

Kinh nghiệm mất đi khi động tâm

 

Sinh nhật của Bồ Tát vào cuối tuần tới

Thật tự nhiên

Làm một việc kiểu như không nghĩ gì

Nước có vị ngon nhất trên địa cầu

Nhưng không có gì để bám vào

Chúng tôi đã đi được một chặng đường dài!

Mã số 217, có vũ khí và nguy hiểm, 10-4

Áp lực làm cản trở dòng chảy tự nhiên

Đối xử với nó như một ngôi đền thiêng liêng

Không quá chậm, không quá nhanh

Hết sợ hãi và cảm thấy vui mừng khi nhìn thấy "người tốt"

 

 

 

Lời nói đầu

Ba bước, một lạy - ba bước dọc theo cạnh xa lộ, rồi lạy một lạy xuống đất; đầu gối, cùi chỏ, bàn tay, trán đều chạm đất, rồi đứng lên, chắp tay, bước thêm ba bước, rồi lại lạy thêm một lạy. Hết giờ này sang giờ khác, ngày này sang ngày khác, trong hai năm rưỡi, họ hành hương lễ lạy theo cách đó. Tại Trung Hoa, những Phật tử thành tâm có những lúc thực hành công việc khó khăn có tính cách cầu nguyện là ba bước một lạy trong vài trăm thước cuối cùng trước khi đến một nơi thánh địa. Nhưng đây là California, và hai tăng sĩ hành hương này là người Mỹ trẻ tuổi. Mặc áo tràng và giới y, không mang tiền bạc, không trang bị gì ngoài kỷ luật và lòng thành kính, họ đã đi bộ và lạy 800 dặm (1) dọc theo vệ đường nhỏ hẹp của Xa Lộ Ven Biển Thái Bình Dương. Mỗi ngày tiến triển một dặm, họ lạy từ trung tâm thành phố Los Angeles về phía bắc dọc theo bờ biển, xuyên qua Thành phố Santa Barbara và dọc theo vùng Big Sur, xuyên qua thành phố San Francisco và qua cầu Cựu Kim Sơn, rồi lạy xa thêm 100 dặm (2) về phía Bắc để đến Vạn Phật Thánh Thành, một trung tâm giáo dục và tôn giáo vừa được thành lập taị quận hạt Mendocino. Khi lễ lạy, họ cầu nguyện thế giới không còn thiên tai, tai họa và chiến tranh.

Vị tăng sĩ tịnh khẩu dẫn đầu là Thầy Hằng Thật. Thầy từ thành phố Toledo, tiểu bang Ohio, vào năm 1974 Thầy đã tự tìm đường đến Tu Viện Kim Sơn Thiền Tự tại San Francisco. Tại đó trên một đường phố cạnh khu Mission, có một cao tăng Trung hoa là Hòa Thượng Tuyên Hóa, đang sống thầm lặng trong khi thực hiện công việc tiên phong của ngài là gieo trồng lại truyền thống tăng đoàn Phật Giáo tại phương Tây. Nhờ đức hạnh và trí tuệ của Hòa Thượng làm cảm động, Thầy Hằng Thật đã gia nhập với những người trẻ tuổi Hoa Kỳ khác thọ nhận pháp danh và toàn giới của một tăng sĩ Phật Giáo.

Trong thời gian học hỏi tiếp theo, Thầy Hằng Thật được đọc về cuộc hành hương lễ lạy do Hòa Thượng Hư Vân thực hiện vào thập niên 1880, ngài là một tăng sĩ Trung hoa đặc biệt nhất trong thế hệ của ngài. Hòa Thượng Hư Vân đã lạy mỗi ba bước qua suốt bề rộng của nước Trung Hoa; và mất đến năm năm. Thầy Hằng Thật biết rằng Hòa Thượng Hư Vân là Tổ Sư của dòng thiền Quy Ngưỡng của Thiền tông, và Thầy biết Hòa Thượng trụ trì và cũng là Thầy của Thầy, tức là Hòa Thượng Tuyên Hóa, là vị tổ sư hiện tại, đã nhận được sự truyền pháp từ Hòa Thượng Hư Vân vào năm 1949. Do sự liên hệ gần gũi này gây hứng khởi, Thầy Hằng Thật đã xin Hòa Thượng Tuyên Hóa để được thực hiện chuyến đi hành hương ba bước một lạy. Hòa Thượng chấp thuận nhưng lại nói "Hãy chờ đợi!". Thầy Hằng Thật phải chờ đợi một năm. Hòa Thượng Tuyên Hóa cho biết điều mà Thầy Hằng Thật cần là một người đồng hành và là người hộ pháp thích hợp. Đó là Thầy Hằng Triều. Vốn quê quán từ thành phố Appleton, tiểu bang Wisconsin, Thầy Hằng Triều đã đến thành phố Berkeley để học võ thuật, và đã trở nên một người tài giỏi về nhiều môn phái võ thuật. Khi người thầy dạy Thái Cực Quyền cuối cùng có nói với Thầy là "Thiền định cao hơn bất cứ võ thuật nào.", Thầy Hằng Triều đã qua bên kia Vịnh để theo học tại Tu Viện Kim Sơn Thánh Tự. Khi vừa nghe lời nguyện của Thầy Hằng Thật, Thầy liền hỏi là Thầy có thể đi theo để cùng lễ lạy được chăng. Và chỉ trong vòng một tuần, Thầy Hằng Triều thọ giới Sa Di và phát nguyện chính thức cùng đi lễ lạy bên cạnh Thầy Hằng Thật, đồng thời phụ trách các công việc như nấu nướng, dọn dẹp, dựng lều, và tiếp chuyện với những người xa lạ.

Như vậy cuộc đi hành hương bắt đầu. Hòa Thượng Tuyên Hóa tiễn đưa họ khi họ rời Tu Viện Kim Luân ở Thành Phố Los Angeles vào ngày 7 Tháng 5, năm 1977. Đối với Thầy Hằng Triều, là một nhà võ thuật, Hòa Thượng nói: "Con không được dùng võ thuật trong chuyến hành hương. Lời nguyện của Thầy Hằng Thật là mong muốn chấm dứt những thiên tai, tai họa và chiến tranh; như thế làm sao con có thể tự mình dùng bạo lực đuợc? Nếu một trong hai con đấu tranh, hay thậm chí đắm chìm trong cơn giận, các con sẽ không còn là những môn đệ của ta." Về việc bảo vệ tránh những nguy hiểm trên đường hành hương, Hòa Thượng Tuyên Hóa chỉ dẫn họ hãy thực hành bốn vô lượng tâm của Bồ Tát là Từ, Bi, Hỷ và Xả. Đó hẳn nhiên không phải là lần cuối cùng mà hai vị tăng sĩ lễ lạy cần đến lời khuyên của Thầy của họ.

Trên đường, hai người hành hương nghiêm ngặt tuân theo kỷ luật tu viện của họ - mỗi ngày chỉ ăn một bữa chay; không vào trong nhà, ngủ ngồi trong chiếc xe băng rộng Plymouth đời 1956 cũ kỹ được dùng làm nơi trú ngụ của họ. Vào những buổi tối sau một ngày lễ lạy, họ học Kinh Hoa Nghiêm qua ánh sáng của ngọn đèn dầu. Họ dịch những đoạn kinh sang tiếng Anh và cố gắng áp dụng đạo lý trong Kinh với những kinh nghiệm ngoài đường hằng ngày của họ, như thầy của họ đã khuyến khích họ làm. Những tăng sĩ này bảo vệ sự tập trung tâm trí của họ bằng cách tránh đọc báo, bằng cách tắt máy radio, và bằng cách giữ thời biểu thiền tập nghiêm ngặt. Thầy Hằng Thật giữ nguyện tịnh khẩu trong suốt chuyến hành trình, vì vậy trả lời những câu hỏi của nhiều người gặp trên đường trở thành công việc của Thầy Hằng Triều. Thỉnh thoảng có những người đến thăm với thái độ thù nghịch, một số người đe dọa dùng bạo lực, nhưng đa số thì hiếu kỳ, và thường những kẻ hiếu kỳ lại trở thành những người hộ pháp cho các tăng sĩ này, mang đến thức ăn và những đồ dùng cho đến khi những tăng sĩ này lễ lạy ra khỏi khu vực.

Tất cả những điều quan trọng xảy ra trên xa lộ - những lỗi lầm và trưởng thành, những thử thách và những cuộc gặp gỡ đáng chú ý, những nguy hiểm và những thâm giải, việc nỗ lực dụng công bằng thân thể và tâm trí - những người hành hương đều báo cáo lại trong những bức thư gởi đến Hòa Thượng Tuyên Hóa. Ngài đích thân trả lời bằng cách thỉnh thoảng đến thăm viếng họ, cho họ những hướng dẫn tâm linh vô giá, những khiển trách, những câu chuyện vui, và những khai thị vừa cao siêu vừa bình phàm vào đúng lúc. Những bức thư đó là nội dung của quyển sách này.

Những bức thư này viết ra không có ý niệm là để xuất bản, mà chỉ là phương tiện hai vị tăng dùng để cố gắng chân thành cởi mở nói ra những kinh nghiệm trên đường của họ. Như vậy, những bức thư này lưu giữ lại một ký sự không tô vẽ về một cuộc hành trình tâm linh xác thực

_____________

Ghi chú:

(1) khoảng 1300 Km

(2) khoảng 160km

 

 

Trí Tuệ Đang Chờ Khám Phá

 

 

Tháng Năm, 1978

 

Hằng Triều - Ngày 13 tháng 5 năm 1978

Mất là được, được là mất
 


“Vì làm cho chúng sanh trừ diệt tất cả pháp chướng đạo mà hồi hướng.”

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Thập Hồi Hướng thứ 25.


Trên đường tu, dường như luôn có một cái gì đó hoặc ai đó luôn cố phá sự tu tập của hành giả. Quyết tâm mạnh mẽ hướng về thiện lành đều gặp thử nghiệm. Mọi quyết tâm để sửa chữa những lỗi lầm của mình thì đều gặp phải một sự kháng cự kỳ lạ. Mọi chuyện cứ xen vào cản trở, nhưng cản trở này là điều bình thường. Có câu rằng:

Ma mài sáng Chân Đạo.
Đạo thật ma mới đến.
Càng mài dũa càng sáng. (1)

Khi Đạo nghiệp tăng trưởng thì thử nghiệm càng nhiều hơn. Tránh chướng ngại và ma quỷ cũng giống như tránh không bị ướt khi bơi qua sông vậy.

Sức mạnh của niềm tin (tín lực) sẽ vượt qua tất cả chướng ngại. Quý vị đã sử dụng tất cả sức mình rồi mà vẫn còn thiếu. Quý vị vươn lên một tấc thì ma lên cao ba tấc, quý vị vươn lên ba tấc thì ma lên cao một thước. Nhưng sức mạnh của niềm tin thì vô tận – luôn luôn mạnh hơn một chút. Khó khăn càng lớn, niềm tin lại tăng trưởng mạnh mẽ hơn, đến lúc cuối, niềm tin sẽ vượt qua tất cả các ma đạo.

Tin sức kiên cố không bị hư
Tin hay dứt hẳn cội phiền não
Tin hay chuyển hướng Phật công đức.
Tin nơi cảnh giới không chấp trước
Xa lìa các nạn, được vô nạn
Tin hay vượt khỏi các đường ma.
Thị hiện đạo giải thoát vô thượng.

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Hiền Thủ thứ 12.


Tôi nhìn thấy một con rắn chuông to khoẻ, dài bốn feet (khoảng 1 thước 2) đang cuộn tròn bên cạnh đường khi tôi từ chỗ để xe quay trở lại để lạy cùng thầy Hằng Thật. “Liệu con rắn có nằm yên đó khi chúng tôi lạy tới điểm ấy không? Và nếu nó không ở đó, thì nó ở đâu? Có thể nó ở trong đám cỏ cao ngang đầu gối khi chúng tôi lạy ngang qua đó chăng?” Tôi băn khoăn tự hỏi. Rồi một tiếng nói từ bên trong vang lên, “Nếu phải gặp rắn, thì rắn sẽ đến. Còn nếu không phả gặp thì sẽ không gặp nó. Đấy là chuyện của nghiệp”.

Bồ Tát sợ nhân, không sợ quả.
Chúng sanh sợ quả, không sợ nhân.

Tôi biết điều này là sự thật. Khi còn nhỏ, tôi đã nghe những người lớn nói rằng nếu người nào có thể thoát được tiếng gọi của tử thần hay một tai nạn nghiêm trọng thì “người ấy hẳn đã sống đúng đắn”. Dù không biết, nhưng họ diễn tả đạo lý nghiệp quả trong Đạo Phật: gieo nhân nào gặt quả đó. Việc an toàn khỏi những sự tổn hại và điều không may không phải là vấn đề may rủi hay may mắn, mà đó là món quà của phúc lành nhờ sống có đức hạnh. Vì thế mà Lão Tử nói rằng:

Ai biết cái đạo nhiếp sinh,
Đi đường không gặp cọp, trâu dữ.
Vào trận không bị đao thương. (2)

Có “nhiếp sanh" có nghĩa là không giết hại, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không dùng chất gây say. Điều đó có nghĩa là tâm trí không chất chứa đầy tham lam, giận dữ và hỗn loạn.

Trồng hoa hay cỏ dại,

Người trồng cần nên biết,
Đều từ hạt giống gieo,
Có nhân nên có quả,

Nào do may hay rủi;
Tất cả do tâm tạo.



***

Chiều thứ Bảy.

“Biết cảnh giới tưởng hiểm và sâu”

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Sơ Phát Tâm Công Đức thứ 17


Tôi phân tâm đi tới những con lạch và thác nước mát mẻ do sự kích động của lòng tham và thiếu kiên nhẫn. Chúng bộc lộ sự ham muốn đắm mình trong tiện nghi và làm dịu áp lực của việc xoay ánh sáng trở vào trong và làm điều đó thường hay có cái nhìn nghiêm khắc, kỹ càng, đau đớn đối với bản thân. Áp lực là nguyên liệu cần thiết cho sự nung chảy của tâm thanh tịnh. Vì thế có câu rằng, “ hành khổ, tâm lạc”. Cũng như Hoà Thượng nói với chúng tôi tuần trước rằng, “ Nếu các con không làm việc khó làm, vậy thì các con tu-tập đạo gì đây. Nếu các con không chịu sự khó chịu không thoải mái, thì con sẽ không bao giờ vượt qua được cánh cửa.”

Khi tôi chạy đến những hố nước, tôi gặp ma quỷ hoặc ở dạng “người”, hoặc trong những giấc mơ làm phân tán Đạo nghiệp của tôi. Cho đến lúc này, tôi đã mắc lỗi này ít nhất năm lần ở vùng Big Sur.

Hôm nay, tôi nóng bỏng da, người toát mồ hôi và dính nhớp; tiếng vo ve ruồi bay qua, người phủ đầy bụi và cảm giác như bị áp suất ở bên trong chiếc nồi mà tôi chưa từng thấy bao giờ. Rồi tôi nghe thấy tiếng róc rách khe khẽ của con suối vang lên từ khu rừng, “Nghe này! Có một con lạch nước mát đang gọi anh đó. Đi đến đó, hãy nghỉ giải lao. Anh đáng được như vậy. Hãy đi lấy nước đầy bình luôn…”, tiếng nói bên trong tôi vang lên.

“Đưa cho tôi cái khăn tắm”. Tôi nói với thầy Hằng Thật. “Có một cái khe nước ở gần đây. Tôi sẽ đi tắm”.

Thầy ấy nhìn cứ như thể tôi là kẻ mất trí, rồi gượng đưa chiếc khăn tắm cho tôi. Tôi nổi giận vì ham muốn bị làm bực bội, tôi chộp lấy cái khăn tắm. Tức giận chuyển thành ngu ngốc, quá bực bội, tôi lao đi tới chỗ khe nước mà không màng tới lời nhắc nhở về thận trọng và suy nghĩ.

Nhưng tới chừng nửa đường, tôi dừng lại và nhớ ra, “Mỗi lần ‘chơi đùa’ trong nước chỉ mang lại rất nhiều rắc rối cho chính mình”. Vì thế tôi quay lại và từ từ bước về.

Khi tôi tắm gội từ nước ấm trong bình nước nhựa ấm nhờ ánh nắng mặt trời, từng mảnh rời rạc ghép lại với nhau. Tôi không nhận ra cảnh giới của mình. Tin vào những suy nghĩ và cảm xúc ban đầu, tôi đã sẵn sàng chạy theo tiếng gọi của tham muốn ích kỷ cá nhân đang nói với tôi khi tai tôi nghe thấy tiếng nước chảy róc rách. Đây chính là chạy theo các cảnh giới của thức trần chứ không phải trí tuệ. Kinh Hoa Nghiêm nói rằng “Đại chúng Bồ Tát đây đối với chỗ thậm thâm như vậy đều có thể chứng biết”.

“Tâm họ bất động như Sơn Vương
Chẳng thể úy nghiên, dường đại hải.
Có hạng mới tu hiểu chưa tới
Theo thức phân biệt chẳng theo trí”.

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Thập Địa thứ 26.


Là người chưa tu tập lâu dài, tôi chạy theo những ý thích bất chợt nảy ra và những ham muốn nhất thời do cái tâm phân biệt của tôi mà không dùng trí tuệ để nhận biết các cảnh giới. Vì thế, tôi đã bị cảnh chuyển khi tin vào các ý niệm của bản thân. Chỉ tới khi đạt được cảnh giới của La Hán Tứ Quả thì người tu mới có được con mắt chọn Pháp (trạch Pháp nhãn). Lúc đó họ mới phân biệt được rõ ràng đúng hay sai, chánh hay tà đối với tư tưởng hay cảnh giới của chính họ. Chưa đến đó thì điều khôn ngoan và an toàn nhất là theo các quy củ và sự hướng dẫn của vị Thiện Tri Thức mắt sáng.



Đi xa cần nhờ bạn tốt. Người xưa tâm địa chưa thông suốt thì không ngại đi xa ngàn dặm mà cầu thầy. (3)

Sa Di Luật Nghi


***


Có nhiều tên trộm hơn! Chúng phá cửa vào xe trong khi chúng tôi đang lạy ở khu định cư nhỏ của vùng Lucina.

Đồ bị mất: các tô để ăn, đồng hồ, thực phẩm và một số quần áo “đẹp hơn” như áo khoác giữ nhiệt, áo ấm không tay áo, áo gió có mũ. Bây giờ thì chúng tôi nhẹ đi một chút, cởi bỏ những thứ mà chúng tôi đã không thể xa rời được.

Chúng tôi đã cẩu thả trong việc giữ đúng giờ, và ngồi thiền cũng vậy, theo giờ đồng hồ thay vì tâm ý. Bây giờ thì đồng hồ cũng mất rồi. Hai chúng tôi nguyện giảm lượng đồ ăn và tôi quyết tâm ngừng quan sát những gì vào trong tô để ăn tựa như con ma đói. Bây giờ chúng tôi chẳng còn tô để rửa nữa và lượng thức ăn bị giảm xuống.

Thầy Hằng Thật và tôi hiểu rằng, không phải là lượng thực phẩm ăn vào hay quần áo đang mặc hay ngồi thiền trong bao lâu tạo nên sự tu tập chân thật. Tất cả ở trong tâm khi làm những việc đó. Nếu ăn bằng tâm ý suốt ngày, cả trước và sau bữa ăn, thì đang “ăn phi thời” và phá vỡ tinh thần của giới luật. Nếu ngồi thiền trong hai giờ, nhưng liên tục nhìn đồng hồ, ngóng tiếng chuông reo, như vậy sao gọi là “điều phục tâm ý” và “tịnh quán” được? Nếu chỉ ngồi dù chỉ một phút mà không sinh một niệm tưởng về quá khứ, hiện tại hay vị lai, thì hơn hẳn cả ngàn năm trong tam muội – xem giờ. Công đức của việc không sinh vọng tưởng là vô lượng. Vì thế có câu rằng,

Nếu ai tĩnh tọa chỉ một sát-na,
Còn hơn xây hằng sa tháp bảy báu. (4)

Còn quần áo thì sao? Thầy Hằng Thật thừa nhận áo quần là bám chấp vật chất lớn nhất của thầy ấy; sự níu giữ danh tính của những ngày còn là cư sĩ.

Mất là được, được lại là mất. Chúng tôi mất đi một số đồ vật nhưng lại có được chút tự do. Chúng tôi khôn ngoan hơn một chút đối với nhân quả của vọng tưởng. Chúng tôi đã sợ không thể vượt qua được nếu thiếu những đồ vật chúng tôi bám chấp, nhưng khi chúng đi rồi thì chúng tôi lại vẫn vượt qua, cũng như nhau. Nuối tiếc duy nhất của chúng tôi là đối với mấy tên trộm. Kinh Hoa Nghiêm dạy rằng, trộm cướp có thể khiến người ta tái sinh trong địa ngục, như là súc sinh hoặc quỷ đói. Còn,


“Nếu sanh trong loài người thời mắc hai quả báo: Nghèo cùng và tài sản bị giữ chung không được tự do dùng."

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Thập Địa thứ 26.


Tình trạng sau mất trộm: Sau những mất mát, phải xem chừng những hậu chấn tâm lý. Cái tôi trở nên sợ hãi và tham muốn sự quay trở lại của những truy cầu cho bản thân và ích kỷ. Năng lượng giận dữ bị kéo căng ra tựa như cây cung. Cái tôi phụ thuộc vào những “thứ” để nuôi dưỡng cho sự tồn tại hư huyễn của nó. Nhưng khi từ bỏ tất cả những “thứ” đó đi, thì ở đâu có cái “tôi” đây? Bạn bè, gia đình, xe hơi, nhà cửa, quần áo, tiền bạc – chẳng gì là của mình, chẳng có gì theo ta sau khi chết. Khi những tên trộm vô thường lấy cắp đi đôi mắt, hàm răng, bộ râu, tóc và tuỷ sống, rồi thì sao? Hãy tỉnh lại đi. Cuộc đời mà chúng ta đang xem là quá quan trọng và là thật này chỉ là một giấc mơ ngắn ngủi mà thôi.

 

Ghi chú:

(1) Nguyên văn từ bài thơ Hoa ngữ http://www.drbachinese.org/online_reading/dharma_talks/kaishrlu-4/volume4-ce-03.htm

魔是磨真道,
真道才有魔;
越磨越光亮,
光亮更要磨。
磨如空中月,
空中照群魔;
群魔照化了,
現出本來佛。

Ma thị ma Chân Đạo,
Chân đạo tài hữu ma;
Việt ma việt quang lượng,
Quang lượng canh yếu ma。
Ma như không trung nguyệt,
Không trung chiếu quần ma;
Quần ma chiếu hóa liễu,
Hiện xuất bổn lai Phật。

Ma mài sáng Chân Đạo.
Đạo thật ma mới đến.
Càng mài dũa càng sáng.

Sáng rỡ cần có ma

Mài sáng như trăng thu

Giữa trời chiếu quần ma

Quần ma chiếu biến mất

Hiển lộ Phật xưa nay.

 

 

(2) Nguyên văn Hoa ngữ từ Đạo Đức Kinh của Lão Tử (Chương 50):

 蓋聞善攝生者, 陸行不遇兕虎, 入軍不被兵甲.

Cái văn thiện nhiếp sanh giả, lục hành bất ngộ hủy hổ, nhập quân bất bị binh giáp.

(3) Nguyên văn Hoa ngữ 沙彌律儀 (Sa Di Luật Nghi) https://baike.baidu.hk/item/%E6%B2%99%E5%BD%8C%E5%BE%8B%E5%84%80/3938186

參方 第二十三 遠行要假良朋。古人心地未通,不遠千里求師。

Tham phương Đệ nhị thập tam - Viễn hành yếu giả lương bằng。 Cổ nhân tâm địa vị thông, bất viễn thiên lí cầu sư。

(4) Nguyên văn Hoa ngữ:

若人靜坐一須臾,
勝造恆沙七寶塔。

Nhược nhân tĩnh tọa nhất tu du,
Thắng tạo hằng sa thất bảo tháp。

 

 

Hằng Thật - Ngày 14 tháng 5 năm 1978

Bồ Tát Đạo

 

“Mười vị mục sư từ các trường thần học viếng thăm chùa Kim Sơn Thánh Tự tuần vừa qua,” một thầy ở chùa Kim Luân nói. “Một người trong số họ đã hỏi với sự thích thú thực sự, “Các thầy đã cống hiến gì về phục vụ xã hội?” Thầy ấy nói tiếp, “Tôi chưa bao giờ để ý đến câu hỏi này trước đây. Đạo Phật ở Mỹ khác với những ngôi chùa theo truyền thống Châu Á với sự ẩn dật trên mây, cách xa cuộc sống thông thường. Ngày nay, Đạo Phật đang mở ra những chương trình rất đa dạng cho cộng đồng: Trường Đại học, trường trung học, trường tiểu học – tất cả miễn phí; trung tâm chăm sóc y tế, và trung tâm tị nạn. Chúng tôi phiên dịch những cuốn sách trí tuệ của Phật, Kinh điển, vì lợi ích của tất cả mọi người. Chúng tôi gìn giữ Đạo tràng thanh tịnh cho các hành giả cùng tụ họp để nghiên cứu những giáo lý chân thật và thực hành Đạo đức. Chúng tôi lạy những bậc Thánh Hiền, tán thán những vị hiền đức, hướng dẫn thiền định và nghi lễ; nói chung là mở ra 84,000 cách thực hành để chấm dứt sanh tử. Đó là điều hiếm có và là sự cống hiến thực sự cho xã hội.” thầy ấy nói.

 “Chúng tôi không ủng hộ cách của những vị La Hán tự giác ngộ, họ không quan tâm tới thế giới hỗn trược này. Sự tu tập của Bồ tát nhấn mạnh ‘lợi mình lợi người (tự lợi, lợi tha), giác ngộ cho mình bằng cách giúp giác ngộ người khác (tự giác giác tha), cứu chính mình trong khi cứu người khác (tự độ, độ tha)’. Trên thực tế, cống hiến phục vụ xã hội là một cái tên hay cho điểm chủ yếu của Bồ Tát Đạo”

“Vì muốn giáo hóa hết thảy chúng sanh mà Bồ tát sơ phát tâm.”

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Nhập Pháp Giới thứ 39. P2

 

 

 

Hằng Triều - Ngày 14 tháng 5 năm 1978

Nhưng sẽ không nhận ra điều này khi bái lạy


Kinh Hoa Nghiêm nói rằng:

“Tam thế tất cả những Phật pháp,
Bồ Tát thảy đều tư duy kỹ
Dùng tâm nhiếp lấy không để thừa.
Như vậy trang nghiêm các Phật độ”

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Thập Hồi Hướng thứ 25.


Trang nghiêm một vùng đất bắt đầu bằng việc trang nghiêm chính bản thân mình, tịnh hóa tam nghiệp của thân, khẩu và ý. Thu nhiếp theo nghĩa “Xoay ánh sáng để soi chiếu bên trong” (hồi quang phản chiếu) và “Chân thật nhẫn lỗi mình”. Canh chừng cánh cửa của sáu căn – đừng để cho những thứ không đúng đắn vào, cũng không để phiền não thoát ra ngoài.

Một ngày lạy tĩnh lặng và bình an. Gia đình Chen Lee từ thành phố Los Angeles đi tới để cùng lạy và cúng dường thực phẩm, nước uống và dầu hỏa. Chúng tôi cùng chia sẻ bữa ăn cúng dường trên những tấm chiếu bên lề đường – căng tấm bạt che mưa giữa hai xe để tạo bóng mát. Trời rất nóng, đặc biệt khi lặng gió, nhưng sẽ không nhận ra điều này khi bái lạy.

 

 

Hằng Thật - Ngày 15 tháng 5 năm 1978.

Lời trí tuệ siêu việt vượt thời gian


“Kinh điển của nhân loại”

Ngồi kiết già, hai chân quấn trong chiếc túi ngủ. Lúc này là chín giờ tối, chúng tôi vừa hoàn thành công phu chiều trong chiếc xe Plymouth. Đậu xe trên một bờ đất hẹp giữa những ngọn núi và biển. Trăng sáng vằng vặc phản chiếu qua những đám mây và những đỉnh núi trên dãy núi Santa Lucia.

Nhàn du tham phỏng bậc cao tăng,
Sương mờ giăng đỉnh trùng sơn ngút ngàn.
Cao tăng chỉ nẻo đường về,
Trăng treo một ngọn đèn soi giữa trời. (1)

Hàn Sơn

Tối nay, tôi tìm được một đoạn thơ thật hay trên trang kế trang đầu của quyển Kinh Hoa Nghiêm:

Cơ đồ Hoàng đế vững
Đạo Vua thêm hưng thịnh
Mặt trời Phật thêm sáng
Bánh xe Pháp thường chuyển. (2)

Chữ đồ (圖) tiếng Trung Hoa cũng có nghĩa là biểu đồ, tài liệu, hình ảnh, hoặc bản đồ.

Đối với tôi, Đạo có nghĩa là nguồn cung cấp sự sống cơ bản được chia sẻ bởi tất cả mọi người của một vùng đất, trước cả mọi ngôn từ, trước tôi và của tôi, trước cả mọi sự đúng và sai. Kinh Phật vẽ lên bản đồ con đường dẫn tới cội nguồn của Đạo, và gìn giữ bản đồ con đường này cho tất cả chúng sanh.

Kinh Điển là những lời trí tuệ siêu việt vượt thời gian, những hướng dẫn không sai lầm tới kho tàng của sự chân thật và thiện lành, vượt qua mọi yếu tố về tuổi tác, chủng tộc, ngôn ngữ; vượt xuất thế gian, thời gian và không gian.

Thật là một niềm hoan hỷ biết bao trong chiếc xe Plymouth cũ này tối nay!
 

Ghi chú:

(1) Nguyên văn Hoa ngữ: Poetry of Hanshan

閑自訪高僧

煙山萬萬層

師親指歸路

月掛一輪燈

  寒山

Nhàn tự phỏng cao tăng
Yên sơn vạn vạn tằng
Sư thân chỉ quy lộ
Nguyệt quải nhất luân đăng.

Hàn Sơn

(2) Nguyên văn Hoa ngữ:

皇圖鞏固

帝道遐昌

佛日增輝

法輪常轉。

Hoàng đồ củng cố。
Đế đạo hà xương。
Phật nhật tăng huy。
Pháp luân thường chuyển。

Bài thơ này ở trang kế trang đầu của bộ Kinh Hoa Nghiêm chữ Hoa khổ lớn 10 quyển đựng trong hộp màu xanh, được quý Thầy mang theo trong xe Plymouth trong suốt hành trình Tam Bộ Nhất Bái.

Chữ "Hoàng" trong bài thơ trên chỉ Hoàng Đế, vua của các vị vua - Kinh Hoa Nghiêm được xem như là vua của các vị vua trong các Kinh Phật giáo vì độ dài (81 quyển với hơn 700.000 chữ Hán) và vô cùng thâm sâu, chứa đựng lời giải thích đầy đủ nhất về cảnh giới của Đức Phật và con đường tâm linh dẫn đến giác ngộ.

(THE FLOWER ADORNMENT SUTRA is known as the king of kings among Buddhist Sutras because of its great length (81 rolls of over 700,000 Chinese characters) and its extreme profundity, containing the most complete explanation of the Buddha's state and the spiritual path to enlightenment. http://www.drbachinese.org/vbs/101_132/vbs121/121_13.htm )

 

 

Hằng Triều. Ngày 15 tháng 5 năm 1978

Một mảnh móng tay bị cắt di chuyển chầm chậm ngang qua bầu trời

 

“Giấc mơ”

Một vùng đất với những cư dân đi qua lại, cằm của họ ép chặt xuống ngực còn đôi mắt thì híp lại gần như nhắm. Họ chỉ có thể nhìn không xa quá phạm vi khoảnh đất ngay phía dưới chân họ. Đây là thế giới của họ.

Họ biết có những người khác nữa vì họ đi va vào nhau, nhưng lại không thể nhìn thấy nhau, nên dù ở giữa đám đông mà họ vẫn như chỉ có một mình. Cho dù họ cảm nhận được sự ấm áp của mặt trời và bóng của ánh trăng, thì họ cũng không bao giờ thực sự nhìn thấy mặt trời và mặt trăng, huống gì là thấy những ngôi sao.

Va đầu vào nhau, sẽ chẳng ai nói, “ Xin lỗi”, hoặc “Tôi xin lỗi, anh có sao không?”

Đây thực sự là một vùng đất lạ, nhưng đối với những cư dân ở đây thì đó lại việc rất bình thường. Họ lớn lên, già đi, bị bệnh rồi chết và không bao giờ biết được gì hơn ngoài phạm vi giới hạn của cái mũi và ngực của chính họ.

Cho đến một ngày mùa xuân, một bé gái đang chơi đùa trên đồng cỏ thì bị rơi vào một cái hố rồi bị kẹt trong tư thế lộn ngược. Suốt gần một tuần, không ai tìm thấy đứa bé tội nghiệp này. Cuối cùng cũng có một ai đó bị vấp chân té vào bé gái đó, thế là có một sự náo nhiệt lớn. Đứa trẻ kể lại rất hào hứng về việc thấy những ánh sáng lấp lánh vào ban đêm và một trái banh màu vàng toả sáng chói loà đến nỗi không thể nhìn trực tiếp vào trái banh đó, và một vật thể màu xanh xám, phát quang có hình dạng tựa như một mảnh móng tay bị cắt di chuyển chầm chậm ngang qua bầu trời.

Họ nghĩ đứa bé bị va đập vào đầu hoặc bị loạn trí do chấn thương tâm lý của một tuần bị lộn ngược. Nhưng đứa bé chẳng quan tâm đến điều ấy. Nó khăng khăng nói rằng có những con vật có lông biết bay, ánh sáng chiếu xuống để lại cái đuôi đằng sau, và một cụm bông khổng lồ (mây) và rất nhiều thứ khác mà em chưa từng nghe đến bao giờ trôi qua chân mình khi em đứng ngược bằng đầu trong cái hố đó.

“Có cõi ngửa, hoặc nghiêng, hoặc úp

Thô diệu rộng lớn vô lượng thứ

Bồ Tát một khi phát đại tâm

Đều qua đến được không chướng ngại”

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Sơ Phát Tâm Công Đức thứ 17.

Quả vô cùng khó khăn để những người này nhấc cái đầu họ lên và mở rộng tầm mắt – giống như việc yêu cầu con cá trèo lên núi vậy. Quan điểm của họ cứng ngắc và thiếu uyển chuyển như gân cổ của họ vậy. Thay đổi có nghĩa là phải chịu rất nhiều đau đớn và cô độc. Đứa bé gái biết điều này nên em chẳng bao giờ tức giận hay bực bội cho dù mọi người cư xử tồi tệ với em thế nào. Em biết rằng chẳng có gì phải đấu tranh cả - hoặc là thấy hoặc là không nhìn thấy. Vì vậy mà em luôn luôn vui vẻ và rồi, trải qua một thời gian, rất nhiều người đã cử động để nhấc cái đầu của họ lên và nhìn ra khắp thế giới.

“…kẻ phàm phu ngu si, không biết không thấy, không tin hiểu, không thật hành sáng suốt, ngoan cố tham trước, lưu chuyển sanh tử, chẳng cầu thấy Phật …

tham luyến trụ xứ, nghe pháp không thời quá sợ, xa chánh pháp gần tà pháp, …. Nơi các cõi hữu lậu bền chấp chẳng bỏ.

Bồ Tát này quán sát chúng sanh như vậy, thêm lớn tâm đại bình đẳng, sanh các căn lành mà không chấp trước”.

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Thập Hạnh thứ 21.

 

***

Có người cúng dường tiền mua xăng. Chúng tôi đồ đầy bình xăng ở Lucia – vùng xa xôi hẻo lánh, giá dành cho khách du lịch là 5 đô la 76 xu cho một gallon.

Cười là một liều thuốc quý. Cười chính bản thân mình, không quá nghiêm trọng hay bực bội, thì rất lành mạnh và là cách rèn luyện sự kiên nhẫn.

Chúng tôi không đùa cợt, nhưng dùng tiếng cười để bộc lộ những sai lầm của chúng tôi và phơi bày mọi thứ.

Một chút hài ước đúng lúc có thể chuyển tình thế đối nghịch trở thành chuyện thoảng qua nhẹ nhàng. Cười vào những nhược điểm hoặc điều mình khó chịu thì cần có sức mạnh và việc ấy sẽ đem lại sức mạnh. Đó chính là tinh tấn và làm ma quỷ sợ hãi tránh xa. Vì thế có câu rằng,

Mỗi khi cười vui,

Già trở thành trẻ.

Mỗi lần khóc buồn

Ngục tối sẵn chờ,

Cứ luôn u buồn,

Nghỉ dài trong ngục,

Nếu thường an vui,

Rộng lối Thiên đường.

***

Wade Erlich (Quả Wei) và Dale Robinson (Quả Chen) cùng tham gia lạy trong sáng nay và cúng dường bữa trưa.

Hôm qua trời lặng gió đến nỗi chẳng có vật gì lay động. Trời quá nóng nên chúng tôi đổ mồ hôi cả đêm. Hôm nay trời lại quá gió khiến chúng tôi chẳng đứng được yên một chỗ, và cũng quá lạnh khiến chúng tôi run rẩy dù đã mặc quần áo mùa đông ấm nhất. Nhưng việc lạy thì không thay đổi và tâm điên cũng không dừng. Vậy thực sự điều khác biệt là gì?

***

Có một con nhện trong xe, nó bò ra ngoài để làm lễ công phu sáng và chiều, nó nhìn từ trên trần xe. Sau đó, nó khoanh mình lại thành trái banh để thiền. Nó sống sau bức tranh Bồ tát Quán Âm treo trên cửa sổ xe và tu tập trong tư thế lộn ngược. Đạo Phật chấp nhận và nhiếp thọ tất cả chúng sanh.

 

***

“Tôi cá là cho đến bây giờ các thầy đã có một số kinh nghiệm rất lạ và khác thường trên con đường này”, một người đàn ông hỏi.

Đúng vậy, nhưng kinh nghiệm lạ lùng nhất lại diễn ra trong tâm trí chúng tôi, thậm chí trước khi chúng tôi ra ngoài đường. Giờ thiền đầu tiên trước lúc mặt trời mọc là lúc điều kỳ lạ và khác thường nhất trong ngày diễn ra. Tại sao? Bởi hết thảy mọi thứ do tâm tạo ra và chúng tôi tiến gần hơn tới sự thật ấy trong những giờ tĩnh lặng trước lúc bình minh. Khi ngày sáng dần ra, suy nghĩ và năng lượng của chúng tôi bị phân tán, làm mờ nhạt đi sự tương dung trực tiếp giữa tâm và thế giới, giữa trong và ngoài. Mọi thứ mất đi sự rõ ràng và đơn giản của nó khi sáu căn của chúng tôi (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý) chuyển và chạy theo sáu bụi trần gồm sắc, thanh, hương, vị, xúc giác và pháp trần. Giữa lúc đó, sáu thức khởi lên thì tất cả chỉ là rất nhiều sự lẫn lộn, nhuốm bụi và rắc rối. Vì thế nên có câu rằng Bồ Tát, một khi đã phát tâm giác ngộ, thì sẽ nắm lấy thanh kiếm trí tuệ và,

Chém cuồng tặc của sáu căn, bắt giữ âm quỷ của sáu thức, trừ sạch ma nhiễm của sáu trần. Tinh tấn cày bừa ruộng Pháp của Sáu Ba La Mật (Lục độ). (1)

Phần “Tu Bồ Tát Đạo” - Thủy Kính hồi Thiên Lục của Hòa Thượng Tuyên Hóa

Ba la mật thứ năm trong sáu Ba la mật là Thiền định Ba la mật.

Buổi tối, chúng tôi ngồi thiền để thu thập lại ánh sáng. Chúng tôi để cho “bụi bẩn” lắng xuống và nhìn lại những lỗi lầm trong ngày của mình. Chúng tôi lại hoà quyện vào trong sự tĩnh lặng vô tận (thường tịch). Khi thật định Tam muội đạt tới sự hoàn hảo thì sẽ không bao giờ rời khỏi sự tĩnh lặng rỗng rang ấy nữa. Ngay cả ở giữa bụi trần thì cũng vẫn “ như như bất động, liễu liễu tường minh”.

Việc lạy trở thành chiếc cầu nối, nối giữa sự chuyển động và tĩnh lặng, giữa ngày và đêm, giữa trong và ngoài. Càng làm việc chăm chỉ hơn trong việc nối liền các khoảng cách ấy thì càng có nhiều hơn để hồi hướng cho việc chấm dứt thảm họa và đau thương trên thế gian. Khi chúng tôi phân tán và trôi theo bụi trần thì ngày hôm đó chẳng có gì để hồi hướng cho ai cả.

 

 

Ghi chú:

(1) Nguyên văn Hoa ngữ từ http://www.drbachinese.org/vbs/publish/343/vbs343p016.htm

斬殺六根之狂賊,捉拿六識之陰鬼,掃除六塵之染魔,勤耕六度之法田

Trảm sát lục căn chi cuồng tặc, tróc nã lục thức chi âm quỷ, tảo trừ lục trần chi nhiễm ma, cần canh lục độ chi pháp điền.

 

 

 

Hằng Thật. Ngày 16 tháng 5 năm 1978

Người Chạm Banh ngồi thiền 

 

“Loạn tâm phải tu định”

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Bồ Tát Vấn Minh thứ 10

 

Ở trường đại học, tôi thường ép mình ngồi thiền để cạnh tranh với các bạn cùng phòng, mong đợi một cảnh giới hào nhoáng nào đó, một cảnh giới thiền hùng dũng nổi bật, giống như việc bắt được con cá ngừ lớn nhất đại dương vậy. Sau này, khi sống một mình, tôi chấm dứt ngồi thiền hoàn toàn – bởi vì chẳng có ai để tôi cạnh tranh. Người Chạm Banh, Hoa Kỳ (Mr. Touchdown, U.S.A.) (1), một thiền giả xông xáo, nóng lòng hướng vào mục tiêu, đã bỏ lỡ mục tiêu hoàn toàn.

 

Ngồi thiền bây giờ chỉ đơn giản là ngồi xuống, quay trở về, để đi vào tĩnh lặng, sau bao năm (bao kiếp sống?) của những chuyển động không mục đích. Tỉnh thức và biết rõ, sử dụng tâm trí để xoay ánh sáng trở lại, thanh lọc tâm niệm khi niệm khởi sinh; đều đặn chuyển bánh xe Pháp. Không còn vấp vào những cảnh giới thần bí hay tìm kiếm những phần thưởng xuất thần nữa. Thiền là tự nhiên và tự thân nó vốn tốt đẹp. Một phần đơn giản của công việc tu tập; ngồi yên tập trung giữa vạn thứ biến động.

 

“Nhất thiết trí đạo thường hiện tiền chưa từng tán loạn, đây gọi là Thiền na ba na mật”.

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Thập Địa thứ 26

 

Ghi chú:

(1) Mr. Touchdown, U.S.A. Một bản nhạc thể thao thịnh hành đề cao sự tranh đua https://en.wikipedia.org/wiki/Mr._Touchdown%2C_U.S.A.

 

 

Hằng Triều - Ngày 16 tháng 5 năm 1978

Tôi sẽ bị giam trong chiếc nhà này mãi mãi!

 

“Ma quỷ không nhất thiết là xấu. Họ là những bậc Thiện Tri Thức tốt nhất của các con. Tại sao? Chư Phật có thể thị hiện thành ma quỷ… cố gắng giúp đỡ chúng ta theo cách đối nghịch”.

Hòa Thượng Tuyên Hóa khai thị trên đường

 

Giấc mơ đêm qua: Tôi được mời dự một buổi tiệc lớn trong một ngôi nhà sang trọng và tiện nghi. Có rượu, thịt, tình dục, và đủ tất cả các thứ vi phạm giới luật. Nhưng khi tôi vừa đi ra tới cửa trước của ngôi nhà, thì một con ma vô hình rất có uy lực chặn ngang lối đi. Con quỷ liền đóng và khoá cửa lại. Tôi sợ hãi nghĩ, “mình sẽ bị giam trong ngôi nhà này mãi mãi, bị khoá lại và không thể thoát ra ngoài!”

Tôi mở khoá cửa và bắt đầu đi ra nhưng con quỷ ngay lập tức liền đóng sập và khoá cửa lại. Cuối cùng tôi vật lộn với nó và bị tống ra khỏi ngôi nhà. Thầy Hằng Thật đánh thức tôi dậy khi tôi đang hét lớn tiếng.

Quán âm thị hiện quỷ thần vương
Hàng phục các ma vào quy củ
Tất cả chúng sanh theo lời dạy
Ương ngạnh nhu hiền, yếu mạnh lên. (1)

Kệ về Chú Đại Bi - câu 41: Hô lô hô lô ma la - Tam Tạng Pháp Sư Tuyên Hóa

 

“Chư Phật tử, Đại Bồ Tát này lại nghĩ rằng: hàng phàm phu này vô trí thật là đáng thương. Có vô số thân đã mất, nay mất, sẽ mất. Diệt mất như vậy mà chẳng thể đối với thân có quan niệm nhàm lìa, lại thêm lớn cơ quan khổ sở, theo dòng sanh tử chẳng trở lại được”

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Thập Địa thứ 26.

 

Từ ý niệm tới hành vi rồi thành nghiệp, chúng ta thay đổi và luân chuyển không ngừng. Sinh ra không là sự khởi đầu; chết đi cũng không là kết thúc. Chúng chỉ là một quãng ngừng tạm thời để thay đổi hình dạng trong quá trình chúng ta quay cuồng trên chiếc bánh xe đang lưu chuyển. Khi thân thể chúng ta già đi và hư hoại, cộng với nghiệp tội và phúc lành, dổi thân để nhận lấy một duyên phận mới rồi quay trở lại và luân chuyển tiếp. Gia đình, bạn bè và kẻ thù, tất cả lại quay vòng lần nữa; và lại chẳng nhận ra những gì đang diễn ra trước mắt, chúng ta cứ thế trôi theo, quay vòng, quay vòng mãi.

“…theo dòng sanh tử chẳng trở lại được. (Nơi những nhà ngũ uẩn chẳng cầu thoát khỏi, chẳng biết lo sợ bốn rắn độc lớn, không nhổ được những mũi tên kiêu mạn, kiến chấp), không dập tắt được ngọn lửa tham, sân, si, không phá tan được màn vô minh, không làm khô cạn được biển lớn ái dục. Họ chẳng biết cầu đấng Đạo thánh Đại Sư đủ mười trí lực, (mà vào trong rừng rậm ma ý)”

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Thập Địa thứ 26.

 

“Nhất thiết duy tâm tạo”. Tất cả ma quỷ, Chư Phật, thảm hoạ hay sự hoà hợp đều từ ý niệm của chúng ta mà sinh ra. Quý vị có thể ngồi trong thế liên hoa cho tới khi tất cả mọi ngôi sao tắt hết, nhưng nếu tâm ý không thanh tịnh thì cũng vẫn như ngồi trong bùn lầy. Khi từng niệm nối nhau không chút tham lam, sân hận hờn hay si mê, khi mà từng ý niệm đều không vướng bận chút gì ham muốn hay truy cầu tư lợi, thì khi ấy mới đúng là thực hành đúng đắn và ngay thẳng. Thanh tịnh tâm ý trong từng khi đi, đứng, nằm ngồi là tu tập. Đây là “nỗ lực dụng công hết sức mình”. Tất cả các Pháp chỉ như là thuốc để chăm sóc và chữa lành tâm ý.

Thuốc cũng vô dụng trừ khi người ta chịu uống thuốc; Phật Pháp cũng như vậy.

“Như người giỏi dược phương,

Chẳng cứu được bệnh mình,

Nơi Pháp chẳng tu hành,

Đa văn cũng như vậy”

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Bồ Tát Vấn Minh thứ 10.

***

Hai quân nhân Hoa kỳ, Norman và Frank đang trên đường tới căn cứ Ford Ord thì dừng lại. Norman đang học y khoa trong quân đội, anh phát hiện ra rằng “tự cơ thể làm tốt nhất việc chăm sóc chính nó”. Anh đang tìm hiểu về y học toàn diện (Holistic medicine) và đã xúc động bởi ý tưởng “hồi hướng công đức để chấm dứt khổ đau”. “điều đó thực sự có giá trị – thật đáng giá cho hai năm cuộc đời! Thật không may là tôi còn phải ở trong quân đội ba năm nữa, nhưng tôi sẽ cố gắng làm tốt nhất cho dù đang ở đâu. Một ngày nào đó, tôi mong sẽ tìm hiểu sâu xa hơn về điều này” (Đạo Phật). “Có quá nhiều đau khổ và phải có cách để chấm dứt đau khổ. Tôi vẫn chưa tìm ra câu trả lời, nhưng mỗi khi gần tới câu trả lời thì dường như rất khó diễn tả thành lời, thầy biết không?” Norman đọc được về chúng tôi lần đầu tiên tại căn cứ Leonard Wood ở tiểu bang, Missouri hồi năm ngoái.

***

Ba người đàn ông trong chiếc xe vụt qua, thắng phanh kêu ‘rét...’ rồi quay đầu xe trở lại, họ dừng lại khi cách thầy Hằng Thật chỉ chừng 10 cm tại một chỗ hoang vắng dành cho xe tấp vào. Họ say rượu, thô lỗ và tìm chuyện gây rắc rối. Chúng tôi tiếp tục lạy; họ bỏ đi. Không có chuyện gì xảy ra.

 

Ghi chú:

(1) Nguyên văn Hoa ngữ: 大悲咒句偈 - Đại Bi Chú Cú Kệ http://www.drbachinese.org/online_reading/sf_others/DaBeiJou/contents.htm

41. 呼盧呼盧摩囉

觀音示現鬼神王
降伏諸魔守規章
一切眾生依教誨
強者調柔弱者昌

 

Câu 41: Hô lô hô lô ma la

 

Quan Âm thị hiện quỷ thần vương
Hàng phục chư ma thủ quy chương
Nhất thiết chúng sanh y giáo hối
Cường giả điều nhu nhược giả xương.

 

 

Hằng Thật - Ngày 17 tháng 5 năm 1978

King Kong hay chuột Mickey

 

“Những nơi vắng vẻ”

Tôi giữ nguyện tịnh khẩu đến bây giờ đã được một năm, nhưng khi mọi người tới, tôi vẫn mỉm cười và “nói chuyện” bằng mặt. Đôi mắt tôi nói chuyện, đôi tai tôi lắng nghe. Lời nguyện là những hướng dẫn hỗ trợ cho sự tu tập. Lời nguyện đưa chúng ta vượt qua những thói quen xấu và trở về ngôi nhà nguyên thủy của chúng ta trong “sự viên mãn của chính mình”. Tôi đã từng là một con người xã hội hết mình, nhưng những lời nói không ngừng của tôi chẳng mang lại lợi ích cho ai cả. Ở giữa đám đông, tôi cảm thấy côp đơn và không thoải mái. Lúc này, tôi cũng đơn độc trên xa lộ vằng vẻ này, nhưng lại cảm thấy gần gũi hơn với con người thật của mình hơn bao giờ hết.

Giữ lời nguyện của mình, bỏ lại sau lưng tất cả lời nói, làm thay đổi tất cả. Nhưng tôi cần phải kiên định. Cho dù ai xuất hiện đi nữa – King Kong (Khỉ Khổng Lồ) hay chuột Mickey, chú hề diễn xiếc hay yêu quái vằn vện, ca nhạc sĩ Bob Dylan hay thống đốc tiểu bang California – tôi cũng sẽ yên lặng. Mục tiêu của tôi là: đạt tới điểm mà ở đó “"Dứt đường ngôn ngữ, Diệt chốn tâm hành" (1) . Nếu tôi chân thật với lời nguyện của mình, thì có thể chuyển tâm trí thành góc tĩnh lặng nhất của vùng Big Sur này.

“Nguyện tất cả chúng sanh rời bỏ lời nói vô ích, thích ở một mình, tâm không hai niệm”

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Thập Hồi Hướng thứ 25.

Thời tiết đột nhiên thay đổi, lạy qua một quãng rộng đầy nắng, mồ hôi đầm đìa. Vòng qua vách đá, bên cạnh bóng râm, một làn gió ma quái và cảm giác ớn lạnh. Đậu xe lại tại chỗ cách chừng 10 cm là bờ vực sâu khoảng 30 mét. Một mình trên vùng duyên hải Coast Range.

Đi nhón chân ra chỗ bằng phẳng phía sau cây thông cao sau buổi lễ. Thực hành thiền đứng dưới ánh trăng màu bạc, phía trên mặt biển phẳng lặng và yên tĩnh. Cảm giác sự chữa lành tinh thần thâm sâu từ bên trong. Sự vắng vẻ, sự tịnh khẩu cùng với những buổi thiền đều đặn mỗi ngày đã điều chỉnh cuộc sống của chúng tôi đúng đắn; xóa bỏ mọi góc cạnh dao động, đóng lại mọi khoảng cách giữa bản thân mình và mọi người, giữa bên trong và bên ngoài.

 

Ghi chú:

(1) Nguyên văn Hoa ngữ:

「言語道斷,心行處 滅」

“Ngôn ngữ đạo đoạn. Tâm hành xứ diệt”

 

Hằng Triều - 17 tháng 5 năm 1978

Cậu Bé Bơ Đậu Phụng

 

Bắt đầu quan sát xem mình bám chấp vào thực phẩm như thế nào. Rất nhiều những gì tôi ăn đều do động cơ của sự tham lam, chứ không phải do cần thiết. Đặc biệt tôi thèm hương vị, đồ ngọt, và những thực phẩm giàu dinh dưỡng. Tăng đoàn tuân theo năm điều quán niệm trong lúc ăn, tôi thì bữa nào cũng phạm ba trong số đó.

3) Thứ ba, đề phòng tâm lầm lỗi, lớn nhất là lòng tham
4) Thứ tư, thức ăn này như vị thuốc lành, để điều trị thân héo gầy.
5) Thứ năm, chỉ vì để thành tựu đạo nghiệp mà thọ nhận thức ăn này. (1)

Tỳ Ny Nhật Dụng

Người ta ăn thịt chủ yếu là vì hương vị. Thói quen ăn uống của chúng ta được lập trình rất sâu để tạo ra những bữa ăn thú vị, thư giãn, sự tưởng thưởng và là thời gian để thưởng thức và nắm bắt sự vui thích. Thâm chí là người ăn chay, lòng tham cho cái vui thích của miệng đã đơn giản được thay thế bằng những thực phẩm thay thế thịt và hương vị thay thế như: thịt giả, đậu nành, các sản phẩm có chứa gluten, phô mai, bánh, bánh quy, bánh chiên, thạch, trứng, đường, sữa, kem … Chuyến hành hương này đã loại bỏ hầu hết những thứ này, nhưng tâm tham trong tôi dường như không dễ chuyển đổi. Đậu phụng rang muối, bơ đậu phụng, mật ong, nho khô trong bánh granola, bơ thực vật, và muối rắc trên cơm nóng hoặc mì sợi, mù tạt, xì dầu, các thanh dinh dưỡng (chứa nhiều protein), nước trái cây, dầu mè, tất cả trở nên “đặc biệt” và bắt mắt trong bữa ăn trưa.

Mặc dù thực phẩm (chúng tôi ăn) thì không pha trộn và đơn giản, nhưng tâm trí khi ăn những thực phẩm này thì vẫn là tâm tham lam như trước đây.

Giảm những ham muốn tham lam là trọng tâm của việc tu tập. Nhưng chỉ với vấn đề nhỏ về thực phẩm này, dường như tôi không thể tiến bộ. Sẽ không phải là Trung Đạo nếu bỏ đói cơ thể (với tất cả những chúng sanh nhỏ bé của cơ thể). Nhưng làm thế nào để có thể chấm dứt việc ăn uống bắt nguồn từ sự tham lam và thực sự chiêm nghiệm thực phẩm như là thuốc để hoàn thành việc tu Đạo?

Đêm qua, tôi có giấc mơ đã truyền cảm hứng cho câu trả lời. Trong giấc mơ, một người hùng, một người cao bồi “tốt bụng” bị “những kẻ xấu” truy đuổi. “Những kẻ xấu” là tất cả những thực phẩm ưa thích mà tôi không thể từ bỏ. Có “Peanut Butter Kid” (cậu bé bơ đậu phụng)” và “Raisin Gang” (một toán nho) cùng một số các thực phẩm ưa thích khác, chúng cưỡi ngựa, truy đuổi anh hùng cỡi ngựa trắng. Chỉ một lúc sau, người hùng đó đã hạ đám người đang truy đuổi kia từng kẻ một – từ trên cây nhảy xuống hoặc thả những tảng đá nhô ra ở những khúc quanh trên đường tựa như trong phim cổ xưa vậy. Rồi lần lượt, anh ta tóm bắt và trói chặt toán người nọ khiến chúng bất ngờ, khi nhận ra thì đã muộn.

Câu trả lời là giữ Trung Đạo và tránh sự thái quá. Từng chút từng chút ăn ít thực phẩm ưa thích cho tới khi không còn là nô lệ của những bám chấp tham muốn và hương vị đối với cơ thể nữa. Bồ đề tăng trưởng; phiền não tan đi. Kiên nhẫn và tử tế khi độ những chúng sanh của chính mình – dùng đức hạnh và lòng từ bi, chứ không dùng sức mạnh và nóng giận.

Trong Kinh Hoa Nghiêm nói rằng, Bồ tát bố thí cho những người khác bằng cách giảm bớt đi phần của mình. Khi ăn, Bồ Tát nghĩ đến tất cả những sinh vật rất nhỏ (những con trùng) đang sống dựa trên cơ thể mình và lấy đó làm nhà. Bồ Tát nghĩ rằng,

“… thân tôi sung túc, chúng cũng được sung túc, thân tôi đói khổ, chúng nó cũng đói khổ. Nay tôi ăn uống những thức này, nguyện khắp chúng sanh đều được no đủ. Vì chúng trùng mà ăn uống, chẳng ham mùi vị.

Bồ Tát này lại nghĩ rằng: vì từ lâu tôi mến chấp thân này muốn cho nó được no đủ nên ăn uống. Nay tôi ban thức ăn này cho chúng sanh. Nguyện tôi đối với thân thể dứt hẳn sự tham chấp. Đây là phân giảm thí”.

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Vô Tận Tạng thứ 22

* * *

Nếu ai thực sự tập trung, yên lặng và tỉnh táo, họ có thể nắm bắt được ý niệm đầu tiên và chuyển nó… hầu như làm được. Mọi ý niệm của chính mình đều không đáng tin cậy.

Có một vị Thiện Tri Thức mới bên trong dường như là người đảm nhiệm. Người ấy không có cảm xúc ham muốn, không có tuổi hay cá tính. Người ấy cũng không thể bị mua chuộc hay bị tác động, hối lộ hay ép buộc.

Sức mạnh của người ấy, cũng giống như ánh sáng trí tuệ, luôn bất biến. Người ấy có thể dễ bị bỏ qua và do đó dường như yếu thế hoặc không có mặt. Sự thật thì người ấy chẳng đến cũng chẳng đi. Với lòng kiên nhẫn, mạnh mẽ, bao dung, người đó luôn sẵn sàng trở lại để độ cho tôi tới bờ giác.

Không thể tìm kiếm người ấy bằng suy nghĩ và lại càng không thể dựa vào ngôn từ. Không một chút che đậy hay giả mạo, những lời dạy của người ấy trực tiếp; vượt qua cả ý niệm đầu tiên của tôi. Người ấy không chơi đùa, không thuộc về ai và cũng không thuộc về nơi nào.

Rắn chắc như kim cương, nhưng lại như mộng ảo; vô hình nhưng lại hiện hữu hơn cả xương thịt của tôi. Người ấy chế phục mà không cần đến sức mạnh, chinh phục nhưng không chiến thắng, và không bao giờ giận dữ hay lãng phí một giây phút cho việc lịch sự.

Người ấy không chấp trước ngay cả với sự không chấp trước. Không diện mạo, hình dáng, cũng chẳng mang một hiện thân cố định nào của bản tính chân thật “vốn thực sự như vậy”. Tôi không thể đánh bại người ấy vì người ấy chẳng màng tranh đấu. Đẩy vào thì người đó đi rồi; túm bắt thì chẳng có gì. Thế nhưng sự trợ giúp và hữu dụng của người đó lại là vô tận. Người ấy miễn nhiễm với mọi đe dọa và mưu mô toan tính, giống như mặt trời và mặt trăng không bị xoay chuyển bởi gió mưa thế gian.

“Bồ Tát như mặt trời, vì trí huệ quang minh chiếu khắp nơi.

(Bồ Tát như núi Tu Di, vì thiện căn cao xuất.)

Bồ Tát như minh nguyệt, vì trí quang xuất hiện.

…

Bồ Tát như mưa phải thời, vì làm thêm lớn tất cả mầm tín căn.

Bồ Tát như thuyền sư, vì chỉ dẫn bờ mé pháp hải.

Bồ Tát như cầu đò, vì làm cho chúng sanh qua khỏi biển sanh tử”.

Kinh Hoa Nghiêm. Phẩm Nhập Pháp Giới thứ 39 – Phần 1.

 

Ghi chú:

(1) Nguyên văn Hoa ngữ:

一.記功 多 少 , 量 彼 來 處。

二. 忖己 德 行 , 全 缺 應 供。

三. 防 心 離 過 , 貪 等 為 宗。

四. 正 事 良 藥 , 為 療 形 枯。

五. 為 成 道 業 , 應 受 此 食。

 

1. Kế công đa thiểu, lượng bỉ lai xứ 

2. Thổn kỷ đức hạnh, toàn khuyết ứng cúng

3. Phòng tâm ly quá, tham đẳng vi tông

4. Chánh sự lương dược, vi liệu hình khô

5. Vi thành đạo nghiệp, ưng thọ thử thực.

 

1. Xem công nhiều ít, xem thức ăn từ đâu đến

2. Xem đức hạnh mình, đủ hay thiếu để thọ dụng thức ăn

3. Đề phòng tâm lầm lỗi, lớn nhất là lòng tham
4. Thức ăn này như vị thuốc lành, để điều trị thân héo gầy
5. Chỉ vì để thành tựu đạo nghiệp mà thọ nhận thức ăn này.

 

Hằng Thật - 18 tháng 5 năm 1978

Không còn chỗ để chạy

 

Lạy giữa một bên là hàng thanh sắt bảo vệ màu trắng đã bị bạc màu, móp méo và một bên là khoảng không sâu 70 thước bên dưới là đại dương màu xanh ngọc. Chúng tôi đang tu tập đến ngằn mé của tâm trí trên bờ rìa lục địa., trên bờ rìa đá sạn giữa chốn hư không. Không còn chỗ nào để chạy, cũng chẳng có gì để bám víu lấy. Tại sao tôi vẫn còn bám vào cái tôi?

Bồ Tát quán tâm chẳng ở ngoài

Cũng lại chẳng được thấy ở trong

Biết tâm tánh kia vốn không có

Ngã pháp đều lìa trọn tịch diệt

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Thập Hồi Hướng thứ 25.

Khi các cảnh giới phát sinh, thú vị hay gai góc, thì cũng vẫn tu tập như vị Bồ tát anh hùng: bình tĩnh nhận diện cảnh giới. Phiền não? Giận dữ hoặc sợ hãi? Quá vui thích? Bám lấy sự hân hoan? Kiêu mạn? Ghen tị? Lười biếng? Mơ mộng giữa ban ngày? Ma quỷ? Tham muốn?

Hãy chọn lấy một Pháp cụ trong Kinh, rồi chuẩn bị và điều chỉnh lại huyễn cảnh ấy. Quán chiếu những điều đúng đắn đủ lâu để trở lại Trung Đạo. Hãy để Pháp cụ đó trở lại chiếc hộp nhỏ xíu; hồi hướng công đức, rồi tiếp tục xuống dưới con đường xa lộ.

 

 

 

Ngày 18 tháng 5 năm 1978.

Làm thế nào ông có thể đi sai được?

 

Kính thưa Sư Phụ,

Sư Phụ thường dạy chúng con: "Mọi thứ đều thuyết pháp." Trong trường hợp này, ngay cả những kẻ trộm cũng trở thành những thiện tri thức giúp phá tan chấp trước của chúng con. Lời khai thị của Sư Phụ tại Chùa Kim Luân rất rõ ràng: "Nếu quý vị không làm tốt việc buông bỏ vọng tưởng những pháp thế gian hằng ngày như thức ăn, áo quần, ngủ nghỉ, thì sự dụng công của quý vị sẽ không giúp ích gì trên đường Ðạo. Hãy tu hành từ những gì gần gũi, hãy tu hành những điều căn bản. Hãy nhẫn chịu những gì không nhẫn chịu nổi."

Thực tế, con chưa dụng công đúng mức để buông xả những vọng tưởng căn bản của con. Con thường dán mắt vào những pháp cao thâm xa vời, và trượt té về những việc hằng ngày mà con luôn cho là điều đương nhiên. Như vậy trong xe bị lấy cắp những gì? Một phần ba thức ăn của chúng con, mấy bình bát, một đồng hồ báo thức, và quần áo. Vi diệu thay nếu không làm tốt việc niệm kinh của chính mình thì thiện tri thức sẽ xuất hiện để chỉ rõ những khuyết điểm và chấp trước của mình. Hiển nhiên, việc dụng công trước hết phải áp dụng vào những sinh hoạt bình thường hằng ngày: "Tâm bình thường là Ðạo. Trực tâm là đạo tràng." Như lời của Quốc Sư Thanh Lương:

"Chân, vọng kết hợp lẫn nhau. Chính tâm phàm thấy tâm Phật. Tu cả lý và sự, dựa trên trí huệ căn bản để cầu trí huệ Phật."

Kinh Hoa Nghiêm - Phần Tựa

Con nhớ lúc nhỏ thường thích gần gũi những người đàm luận chân lý. Họ là những người thực sự là "người lớn" trưởng thành hiểu luật lệ, và họ xây dựng hành vi hằng ngày trên nền tảng chân lý kiên cố. Ðiều con thích nhất trong Phật Pháp là mọi người đều đáp ứng với sự thật của Phật Pháp. Mọi người thuộc mọi tầng lớp trong xã hội đều nghe Phật Pháp trong tận cùng đáy tim của họ. Và Phật pháp không bao giờ không làm hiển lộ phần tốt đẹp nhất trong chúng ta.

Cư sĩ Quả Trần xuống đây hôm qua, thuật ngắn gọn việc khám phá Phật Pháp của ông và Phật Pháp có ý nghiã gì đối với ông ta. Quả Trần quy y Tam Bảo trong ngày sinh nhật của Sư Phụ tại Vạn Phật Thành, thọ giới cư sĩ vào dịp Phật đản tuần trước. Ông nói: "Cuối cùng, tôi cảm giác rằng mình đang ở tại nhà. Trên nền trời xanh, tôi thấy vầng cầu vồng ngũ sắc đẹp chưa từng thấy. Và ông biết còn gì nữa không? Tôi thấy một hũ vàng ngay phía cuối của cầu vồng, ngay chỗ chúng tôi đứng tại Vạn Phật Thành." Quả Trần giải thích: "Trước khi gặp Sư Phụ và đạo Phật, mọi việc đều làm tôi chán nản. Cuộc đời là một chuỗi dài thất vọng. Tôi thực hiện một dự án nào đó thành công đến cuối nhưng rồi lại thấy mình không đi đến đâu cả. Sau này, sau khi nghe Sư Phụ thuyết pháp rồi tôi nhìn lại chính mình, đột nhiên nhận thức rằng cuộc đời mình không phải là cuối cùng chẳng có giá trị gì cả. Tôi có một vai trò phải làm - chỉ có việc giữ giới là đại sự. Thêm nữa, nhìn lại tất cả vấn đề, tôi thấy rằng mọi vấn đề việc tôi phải đối diện đều phát sinh từ tâm tôi. Các câu trả lời cho những vấn đề đó cũng phát sinh từ cùng chỗ đó!"

Quả Trần lo lắng là cha mẹ ông ta sẽ khó mà chấp nhận con là một thành phần của một tôn giáo xa lạ. Thầy Hằng Triều nói: "Hãy rất kiên nhẫn đối với cha mẹ của ông. Ðừng tìm cách thuyết phục họ. Ðừng nói ngay cả việc thay đổi của ông. Chỉ giữ giới thật cẩn mật. Ông sẽ được cảm ứng tùy theo sự thành tâm của ông. Giới luật quét dọn tâm một cách tự nhiên và giúp chúng ta hướng thiện. Cha mẹ ông muốn ông được hạnh phúc an lạc, khi họ thấy ông mỗi ngày càng thanh tịnh và sáng hơn, thì tự nhiên họ sẽ tự nhận ra chân lý Phật Pháp. Trên hết là đừng có sự ép buộc nào cả và đừng nóng giận! Ðiều này rất quan trọng. Sau đó, ông đừng giết hại, không dùng ma túy hay rượu, thì ông sẽ rất hạnh phúc. Làm thế nào ông có thể đi sai được?"

Mỗi lần nhìn một bạn đạo đệ tử của Sư Phụ, con đều nhận thấy đặc điểm ánh sáng và sự thiện lành chiếu phát từ đôi mắt cùng trái tim của họ. Điều này khiến chúng con thật vui mừng được làm việc trong Đạo pháp và cố gắng hết sức mình để "từng bước, từng bước, đi lần đến điều thiện."

Ðệ tử Quả Chân đảnh lễ.

 

 

Hằng Triều - 18 tháng 5 năm 1978

Tôi tự hỏi tại sao mọi người cứ nói chuyện

 

Dale (Quả Chen), một đệ tử trẻ tuổi, lái xe tới và cùng lạy với chúng tôi rồi cúng dường bữa trưa. Sau giờ thọ trai, anh ấy kể chuyện về những nỗ lực thất bại của mình khi thuyết phục cha mẹ trở thành Phật tử, chuyển đổi họ theo quan điểm của anh ta.

“Họ không muốn nghe con nói. Vậy con phải làm gì?” anh ấy hỏi. Chúng tôi nói lại một số đề nghị mà chúng tôi từng nghe Hòa Thượng đưa ra về vấn đề này: Hãy độ bản thân mình trước. Hãy giữ giới luật thanh tịnh. Đừng tranh luận hay biện giải. Nếu quý vị tranh luận và đấu tranh thì quý vị vẫn chưa thực sự hiểu Đạo Phật. Người Phật tử không đấu tranh với ai hết. Chúng tôi nói với anh ấy rằng Hòa Thượng luôn luôn nhấn mạnh lòng nhân từ và Đạo đức để làm lợi ích và ảnh hưởng tới mọi người. Không bao giờ sử dụng vũ lực hay cố áp bức người khác. Hãy luôn nhận thiệt thòi và đừng nói quá nhiều. Chỉ kiên quyết hướng về phía thiện lành và tạo lập công đức. Sự tu hành sẽ tự nói lên.

Sau đó chúng tôi đọc cho anh ấy nghe một đoạn về Tam Tổ Tăng Xán,

Nói nhiều nghĩ nhiều
Càng chẳng tương ưng
Bặt nói bặt nghĩ
Chỗ nào chẳng thông. (1)

Tín Tâm Minh – Tam Tổ Tăng Xán

 

“Ồ!” Dale thốt lên, “Con thực sự thích điều đó. Thầy có thể đọc lại cho con chép đoạn đó được không? Dường như mỗi lần con mở miệng, mọi thứ trở nên xấu đi. Con không hiểu tại sao mọi người cứ nói chuyện”.

* * *

Ăn no chừng 80% thì dễ dàng trong một hoặc hai ngày, nhưng tới ngày thứ ba thì khó hơn, sau chừng bốn hay năm ngày thì gần như không chịu được. Cần phải có công phu thực sự để chế ngự bản thân. Ham muốn là cội rễ của sinh tử; giảm ham muốn là con đường giải thoát.

* * *

Hai tu sĩ Công giáo đến để mời chúng tôi đến thăm tu viện của họ nằm sâu trong những ngọn đồi.

“Chúng tôi đến từ tu viện St… Các vị có muốn đến không?” Chúng tôi từ chối và giải thích lời nguyện ở ngoài đường cao tốc và không viếng thăm.

“Đúng vậy! Các thầy sẽ không bao giờ đến đó nếu các các thầy dừng lại và bắt đầu giao du thế tục”, vị tu sĩ trưởng tu viện có râu cười lớn. “Chúc các thầy may mắn”.

Họ là các tu sĩ Công giáo, chúng tôi, những Phật tử, nhưng có một cảm giác không lời về sự đoàn kết và những mục tiêu chung. Tất cả chúng tôi đều biết rằng chỉ có tu viện thực sự là cái tâm. Đúng hay sai, thế tục và xuất thế đều là không, không có thể tánh. Cũng giống như mọi vật, chúng chỉ tồn tại do sự phân biệt của vọng tâm. Nó đến từ tất cả những nơi mà tâm tưởng nghĩ đến. Bởi vậy, trong kinh Hoa Nghiêm nói rằng nếu hành giả quán sát và thực hành the đạo lý chân thật, thì thấy vạn vật không tự tánh và trở về cội nguồn nguyên thủy vô sanh, như thế:

 

“Hoặc vọng hoặc chẳng vọng,

Hoặc thật hoặc chẳng thật,

Thế gian cùng xuất thế

Chỉ là ngôn giả thuyết.”

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Bồ Tát Vấn Minh thứ 10.

 

Nếu tâm thanh tịnh, thì dù ở ngay trong bụi trần thế gian vẫn luôn như ở trong tu viện (Đạo tràng); nếu tâm ô trược và mê mờ thì dù có ở nơi tĩnh lặng nhất thì cũng vẫn như đang ở trong “thế gian”.

* * *

Giữ giới luật thanh tịnh thậm chí ngay cả trong ý nghĩ, lạy trong sự ăn năn và sám hối để tẩy trừ vô lượng nghiệp chướng, trong mọi thời khắc luôn chế ngự bản thân và quay về đạo lý chân thật. Những những giờ đầu buổi sáng tập thái cực quyền để củng cố sức lực. Giữa ngày thọ bữa chay duy nhất để tránh bệnh đói gầy. Không quá nhiều, cũng không quá ít; trong tất cả mọi việc, luôn tôn kính tìm Trung Đạo.

* * *

“Kết nối”

“Đừng hiểu lầm tôi, tôi thực sự tôn trọng và ngưỡng mộ những gì các anh làm. Nhưng làm thế nào mà việc đó lại làm giảm việc giết hại và trộm cắp được, và tất cả mọi đấu tranh, hận thù và thảm họa trên thế giới này?” một người đàn ông đi đường hỏi. “Ý tôi là, sự kết nối ở đây là gì?”

Câu hỏi của anh ta rất điển hình. Câu trả lời là điều cơ bản đối với cách nhìn của Phật giáo. Có thể đơn giản trả lời như: tất cả đều kết nối với nhau. Hay như Kinh Hoa Nghiêm mô tả, toàn thể vũ trụ là không hai (bất nhị), là dung thông lẫn nhau, là sự hòa nhập viên mãn không hề có chướng ngại. Bởi vậy trong Kinh có câu rằng,

“Tất cả pháp giới rất vi tế như vậy, Bồ Tát dùng trí rộng lớn đều biết như thật,...

và

Bồ Tát thấy rõ pháp giới an lập rộng lớn, hiểu các thế gian và tất cả các pháp đều bình đẳng không hai, lìa tất cả chấp”

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Thập Hồi Hướng thứ 25.

 

Kết nối:

Sát sanh là lấy đi mạng sống bằng tay hoặc bằng vũ khí. Đoạt lấy mạng sống bằng ý nghĩ hay lời nói là sự giận dữ. Lấy đi những gì không phải của bạn là trộm cắp. Tham lam là trộm cắp bằng ý nghĩ. Nói lời thị phi và phỉ báng, nói dối và nói lời tầm phào vô ích là khẩu nghiệp. Nghĩ rằng bản thân mình là số một rồi xem nhẹ người khác trong ý nghĩ của mình chính là vọng ngữ của tâm.

Nghiệp tội, cho dù phạm công khai bằng thân và miệng hoặc ngấm ngầm bằng ý nghĩ và thái độ bất thiện thì đều tạo nghiệp xấu. Chúng phát ra năng lượng tiêu cực, tỏa ra những khí màu đen (hắc khí) lan rộng khắp thế giới, vô hình chung đã khiến cho vô lượng chúng sanh buồn khổ. Tại sao? Bởi vì vạn vật đều kết nối với nhau và có mối liên kết không thể tách rời với nhau – bản thân mình và những người khác, quốc gia của tôi, của bạn, bên trong và ngoài, tất cả chỉ là nhựng phân chia giả tạm. Vì thế Kinh Hoa Nghiêm dạy rằng,

“…Pháp tánh ở khắp tất cả chỗ

Khắp cả chúng sanh và quốc độ

(Ba đời đều khắp không sót thừa

Cũng không hình tướng có thể được

Tất cả Chư Phật chỗ giác ngộ)

Thảy đều nhiếp lấy không còn thừa…”

Và,

“…Biết các thế gian đều bình đẳng

Đều là nghiệp của, ngữ, ý, thân…”

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Thập Hồi Hướng thứ 25.

 

Kết nối:

Nghiệp xấu lại sinh thêm nhiều ác nghiệp hơn. Nó phát tán giống như bệnh ung thư đã đạt tới mức độ truyền nhiễm. Thảm họa quy mô lớn, thiên tai và chiến tranh nổ ra ở khắp nơi. Các sự kiện diễn ra trên thế giới không phải là bất công hay tình cờ ngẫu nhiên. Không có gì ngẫu nhiên. Chỉ có nghiệp chướng – luật bất biến của nhân quả. Vì có gieo nhân nên có quả. Người tốt đôi khi phải chịu đựng quả báo xấu của việc xấu; người xấu lại đôi khi được thọ hưởng quả báo tốt đẹp của việc tốt. Nhưng tốt hay xấu, chúng ta tất cả đều kết nối sâu xa với nhau. Như thi sĩ John Dunne đã viết, “Không người nào là ốc đảo, không ai đứng đơn độc”

Hôm qua, lòng tôi đầy ngạo mạn và giận dữ. Khi đi để ra chỗ lạy ngang qua cửa kính của xe, tôi thấy hình mình phản chiếu trong kiếng cửa sổ xe. Thật sự xấu xí! Tôi nhận ra ngay đó trên khuôn mặt của chính mình về sai lầm của thế giới hiện nay.

Kết nối:

Chân thật nhận lỗi mình,

Không bàn luận lỗi người,

Lỗi người là lỗi mình,

Đồng thể là Đại Bi. (2)

Hòa Thượng Tuyên Hóa

Điều đó thật đúng. “Lỗi người là lỗi mình”. Tất cả sự cô đơn và bất hòa trên thế gian này đều được bắt nguồn từ những suy nghĩ ích kỷ của lòng tham lam, giận dữ và thiếu trí tuệ; những tư tưởng tự hào và ghen tị. Những điều xấu ác của tôi đã góp phần nhỏ vào trong cái ác lớn. Ở ngay trong tâm trí hàng ngày, trong từng ý niệm, mầm giống được gieo trồng cho hòa bình hoặc chiến tranh thế giới; mọi nhân duyên được thiết lập cho sự hòa hợp hoặc bất hòa giữa các dân tộc và các quốc gia.

Có câu rằng, “Hiện thân thuyết pháp”. Bằng cách nào? Không nhất thiết phải bằng nói nhiều lời mà bằng hành động và suy nghĩ. Chỉ cần giữ giới luật và thanh tịnh tâm ý về tất cả mọi tham lam, thù hận, si mê, thì chính là đang xóa sạch mọi thảm họa và khổ đau; làm việc vì nền hòa bình và tinh thần hợp tác đoàn kết. Đạo đức, chú tâm và trí tuệ phát ra năng lượng thực sự tốt đẹp. Năng lượng tốt đẹp này sẽ lan tỏa tới hết thảy chúng sanh và vạn vật một cách tự nhiên và dễ dàng. Tại sao? Bởi tất cả đều có sự kết nối; là một, không hai.

Hồi hướng như vậy khắp quần sanh

Chưa hề tạm sanh lòng phân biệt.

… Vào nơi chánh vị hết phân biệt.

… Tự tánh và Pháp giới không hai”

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Thập Hồi Hướng thứ 25.

* * *

Kết nối:

Eric Andersen, một thanh niên trẻ đang trên đường đến một hội nghị cuối tuần, dừng lại. Anh ta là người thẳng thắn, vui vẻ và tò mò.

“Xin hỏi lại, các anh đang làm điều này vì cái gì vậy? Tôi có đọc qua nhưng quên rồi”.

“Đẩy lùi mọi thảm họa và đau khổ trên thế giới – cho tất cả chúng sanh”.

“Cho tất cả chúng sanh sao? Làm thế nào?” anh ta hỏi.

“Thảm họa và đau khổ đến từ lời nói, ý nghĩ và những hành động của thân, khẩu, ý của chúng ta. Chúng tôi cố gắng làm sạch mọi hành động của mình, thanh tịnh tâm, rồi sẽ không còn nhiều khổ đau và tai họa nữa”.

“Có phải bằng cách làm gương mà các anh thay đổi mọi người không?” Eric hỏi.

“Một số người nhìn theo cách đó, thì đó là cách đối với họ như vậy. Một số nhận thấy những rung động tốt, hoặc sức mạnh của cầu nguyện, hoặc sự trợ giúp của thần linh, hoặc là chúng tôi tự thay đổi bản thân, Mọi người nhìn thấy điều gì đó khác nhau và một số người thì lại chẳng nhìn thấy điều gì cả”

“Các anh đã làm như này được một năm và còn một năm nữa. Tôi rất có ấn tượng với điều này. Hầu hết chúng ta đều để mặc cho cuộc sống trôi qua, không bao giờ nghĩ đến nó là gì – giống như một giấc mơ. Phật tử không tin vào Đức Chúa Trời có phải không?”

“Có thể nói rằng Phật tử tin vào tất cả bởi vì tất cả đều do tâm trí tạo ra. Nhưng điều bạn làm mới có giá trị nhất”.

“Giờ đây điều này đang bắt đầu quay trở lại với tôi … Phật tử… có phải anh tin rằng cuộc sống là đau khổ và cố gắng để đạt tới Niết Bàn?” Eric hỏi.

“Giống như anh nói vậy, Eric, cuộc sống là sự khổ đau khi chúng ta chỉ biết ‘quăng’ cuộc đời trôi đi mà không hiểu mọi chuyện; khi tỉnh thức rồi thì sẽ không còn đau khổ nữa”.

“Các anh cảm thấy thế nào về Đạo Thiên Chúa?” anh ta hỏi.

“Chẳng cảm thấy gì cả. Tất cả tôn giáo, cũng như hết thảy chúng sanh, đều xuất phát và trở lại về cùng một cội nguồn – Đạo Phật bao gồm tất cả tôn giáo và quay trở về trực tiếp”.

“Cội nguồn là gì, nó ở đâu?” Eric hỏi.

“Nó chính là trái tim, là tâm trí của chính bạn. Khi nào tìm thấy điều đó, bạn sẽ thấy cội nguồn”.

“Tôi ước là mình có cái máy ghi âm ở đây, điều này thật đúng. À!, Các anh còn con đường dài đẹp phía trước.”, anh ta nói, mắt nhìn xuống cuối đường. “Chúng tôi không quá chú trọng vào cảnh bên ngoài – chỉ cố gắng cẩn thận và làm việc ở nội tâm”.

“Đúng rồi!. Các anh có lẽ là những người duy nhất quanh đây không có máy chụp hình”, anh ta cười nói, “mọi người đều chụp hình.”

“Này, chúc may mắn. Tôi thực sự vui mừng vì đã dừng lại”. Eric mang đến một số dâu tây tươi, xem chúng tôi lạy một lúc rồi chậm rãi bước đi.

 

Ghi chú:

(1) Nguyên văn Hoa ngữ: https://ngulucthien.com/3-tam-to-tin-tam-minh/

多言多慮
轉不相應
絕言絕慮
無處不通

Đa ngôn đa lự
Chuyển bất tương ưng
Tuyệt ngôn tuyệt lự
Vô xứ bất thông.

(2) Nguyên văn Hoa ngữ:

真認自己錯,
莫論他人非;
他非即我非,
同體名大悲。

Chân nhận tự kỷ thác,
Mạc luận tha nhân phi;
Tha phi tức ngã phi,
Đồng thể danh đại bi。

 

 

Hằng Thật - Ngày 19 tháng 5 năm 1978

Tôi ngồi trên tấm thảm nhà như một miếng bọt biển

 

Tôi đã từ bỏ việc kiểm soát tâm trí và nhiều năm tháng cuộc đời mình để xem truyền hình. Truyền hình trở nên phổ biến vào đầu những năm 50, ngay khi tôi đang lớn lên. Từ khi bảy tuổi cho đến khi vào đại học, tôi đã dành hàng giờ mỗi đêm chìm đám trong cơn mê như thuốc gây nghiện của máy truyền hình nhấp nháy. Tại sao không? Có vị vua nào trong các thời đại quá khứ lại có sự lựa chọn giải trí đa dạng hơn trong chính cung điện của mình?

Hãy suy ngẫm về những sự lựa chọn xuất hiện trên màn hình mỗi ngày: những thể loại vô tận, với những lựa chọn mới hàng năm cho mỗi thể loại: phim cao bồi miền Tây, phim hoạt họa, phim truyện, tin tức, chương trình trò chuyện, hài kịch, phim tài liệu, phim trinh thám, kịch vui gia đình, chương trình văn nghệ đa dạng, hòa nhạc, sự kiện văn hóa, kịch, thể thao đủ loại, phim truyền hình nhiều tập, hài kịch, phim kịch nhiều tập, và trò xiếc vô tận của quảng cáo.

Thay vì sống cuộc đời của mình, hay sử dụng trí não để tìm tòi những điều thú vị và ý nghĩa trong môi trường xung quanh, tôi ngồi trên tấm thảm nhà như một miếng bọt biển, hấp thu những thông điệp thương mại tầm phào và những giá trị nhân tạo từ màn hình T.V. Chẳng trách tôi thấy khó khăn trong việc tập trung tâm trí. Tôi đã bị nghiện với hấp thu những kích thích mạnh. Tâm trí tôi trở nên tê liệt và không phản ứng với thiên nhiên và với con người – tôi đã bị thôi miên bên trong bởi chiếc “tivi ngu ngốc”, – cả hình màu và đen trắng.

Sẽ mất nhiều năm để đưa tâm trí tôi ra khỏi cơn mê sảng truyền hình.

Tâm chuyên nhất thì linh ứng,
Tâm phân tán thì bế tắc. (1)


Hòa Thượng Tuyên Hóa

 

 

Ghi chú:

(1) Nguyên văn Hoa ngữ:

專一則靈,分歧則弊

Chuyên nhất tắc linh, phân kì tắc tệ.

 

 

Hằng Triều - Ngày 19 tháng 5 năm 1978

Vui lòng lau sạch cưa sau khi dùng

 

“Tàn tiệc”

Ba đêm trước, tôi mơ thấy thân xác mình chết đi và biến thành đống côn trùng.

Đêm nay, chúng tôi đọc được một đoạn trong phẩm Phạm Hạnh của Kinh Hoa Nghiêm,

“Nếu thân là phạm hạnh, phải biết phạm hạnh thời là chẳng phải thiện, là phi pháp, là lộn đục, là hôi xấu, là bất tịnh, là đáng nhàm, là trái nghịch, là tạp nhiễm, là tử thi, là nhóm trùng”

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Phạm Hạnh thứ 16.

Lời nói thẳng thắn. Khi ngồi thiền trước khi ngủ, tôi nhớ lại thời thơ ấu ở Wisconsin. Các gia đình nhiều thế hệ ở vùng quê Trung Tây nước Mỹ thường đông người và sống gần nhau. Dường như chúng tôi luôn đi dự đám tang của cô dì, chú bác, anh em họ hàng và họ hàng xa.

Xác chết được ướp hóa chất có mùi hương và được đặt vào chiếc quan tài lót nhung hoặc lụa. Họ được làm cho trông như mới ngủ thiếp đi trong bộ quần áo ngày Chủ nhật đẹp nhất của họ – được bôi phấn, nước hoa, các ngón tay có móng cắt tỉa gọn gàng được khép lại nắm vào chuỗi tràng hạt; một bông hoa tươi được ghim lên ve áo. Nếu họ chết vì những nguyên nhân phi tự nhiên hoặc thời tiết quá nóng, họ sẽ không được “trưng bày”.

Quỳ trước chiếc quan tài mở, tôi thường tự hỏi liệu họ có thực sự chết không. Họ đã đi đâu rồi? Tôi nhìn vào chính cơ thể mình và tưởng tượng bạn bè, gia đình mình chết đi và kết thúc giống như thế này. Ai có thể thoát khỏi? Thân thể chỉ là cái vỏ vay mượn, nó phải được trả lại. Thật kỳ lạ.

Sau khi chôn cất, một bữa tiệc lớn kiểu nông thôn được tổ chức ở tầng hầm của nhà thờ. Những người nông dân có khuôn mặt hồng hào, giản dị và tốt bụng. Có tiếng cười nói và cơ hội làm nồng ấm lại những tình bạn cũ; “người thân yêu” nhanh chóng bị quên lãng. Cuộc sống vẫn cứ tiếp diễn.

Chúng ta thật ra không quan trọng với bất cứ ai ngoại trừ chính mình và không ai có thể mua chuộc được con quỷ vô thường. Tất cả chúng ta đều chắc chắn sẽ trở thành “cái xác chết và đống côn trùng”. Cát bụi về với cát bụi. Đoạn kinh văn tiếp theo như sau,

“Quán sát như vậy, nơi thân không sở thủ, nơi tu không sở trước, nơi pháp không sở trụ…”

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Phạm Hạnh thứ 16.

 

Hồi tưởng:

Làm phụ tá điều dưỡng trong bệnh viện, làm ca đêm tại một bệnh viện đa khoa lớn. Tôi có nhiệm vụ “canh nhà xác” và “trông coi người chết”. Trông coi người chết có nghĩa là ngồi với bệnh nhântrong giai đoạn lâm chung. Họ không còn chút hy vọng gì nữa; chỉ chờ đợi “các dấu hiệu sự sống kết thúc”. Thỉnh thoảng tôi phải ngồi suốt đêm, một mình trong phòng, uống trà đặc để giữ tỉnh táo, trong khi người bệnh thở hổn hển, gặp ảo giác, hoảng loạn, quằn quại và chuyển sang màu xanh xám.

Dặc biệt có một đêm nọ, tôi trực ca ngay sau khi dời buổi tiệc khiêu vũ, vẫn còn cao hứng với tiếng nhạc và tiếng cười. Những gương mặt trẻ trung xinh xắn vẫn còn sống động trong tâm trí tôi. Nhận được cuộc gọi đến “canh nhà xác”. Đêm hè oi bức, quay về bệnh viện. Một bà cụ, da bọc xương, dịch lỏng chảy ra từ các lỗ cơ thể - hôi thối với màu xanh đen, vàng và nâu. Bộ răng giả và nhẫn cưới được buộc vào một sợi dây quanh ngón chân của bà. Miệng thở hổn hển, nghẹt thở, da thịt vẫn ấm, nhưng chân tay thì bị cứng một phần trong quá trình toàn thân cứng đờ. Chúng tôi bọc bà ấy trong tấm vải bóng kính rồi cuộn vào một cái túi đựng xác bằng vải kaki (hàng thặng dư của cuộc chiến Việt nam, túi đựng xác bằng nhựa vinyl có khóa kéo toàn thân). Đẩy bà ấy đi dọc hành lang dài trống trải, vào thang máy đi xuống nhà xác dưới tầng hầm. Chiếc ròng rọc điện trên cao nhấc bà ấy vào chiếc khay trượt ngang, đẩy vào chiếc tủ lạnh lớn dài dọc tường, bên trong đầy xác chết được ướp lạnh. Cái khay phía dưới bà ấy có ba cái bọc nhỏ cỡ trái dưa hấu – những trẻ sơ sinh.

Cái chết là có thật, mạng sống thật ngắn ngủi. Tôi chợt thức giấc một chút đêm đó, cái biển báo dưới ánh đèn điện trần ghi rằng:

“Vui lòng lau sạch cưa sau khi dùng”. Tàn tiệc.

* * *

John - tài xế xe buýt của trường Pacific Valley, dừng lại cúng dường. Anh ta nghe kể về chúng tôi từ một người bạn và nghĩ rằng, “Các thầy có vẻ đói rồi”. Vọng tưởng biểu lộ ra ngoài. Có thể thấy điều đó ngay cả khi xe đi qua với tốc độ 50 dặm/giờ, trong xe đầy trẻ em đang la hét. 

* * *

Hai người đàn ông dừng lại. Họ tỏ ra cợt nhả, thô lỗ và mỉa mai. Những lời nói bông đùa.

“Các thầy đi về đâu đây?” một người hỏi.

“Giáo phái nào đây?” một người khác nói.

“Phật giáo”, tôi trả lời.

“Bè lớn hay bè nhỏ?” anh ta hỏi lại, giọng lên xuống cường điệu uốn éo, ngón tay búng kêu tanh tách, người lắc lư như thể vẫn đang nghe nhạc radio.

“Một”, tôi nói.

“Hả?”

“Một phái. Đại thừa”.

Tôi nghĩ anh ta ngạc nhiên lắm khi chúng tôi đáp lại anh ta. Cuộc nói chuyện kiểu hip hop là một khảo nghiệm, một cảm giác thận trọng.

“Các thầy có mang theo bình bát khất thực không?” anh ta hỏi, có chút gì đó dịu lại, “ý tôi là, các thầy có nhận cúng dường không? Các thầy có nhận cái này không?”

Họ đột nhiên khá chân thành và thẳng thắn.

“Tôi thấy các thầy hồi sáng khi lái xe đi trong sương mù, việc đó khiến tôi bất ngờ lắm. Tôi phải quay lại. Có thể sự cúng dường này sẽ giúp tôi tăng phước. Tôi rất cần điều đó”. Anh ta nói.

Lúc này họ thật ôn hòa và cởi mở; lớp vỏ thô lỗ, lạnh lùng đã được gỡ bỏ. Chúng tôi nói chuyện ngắn gọn. Họ không có ý thô lỗ, chỉ là lo sợ nên thế.

Tất cả chúng ta đều có chút sợ hãi khi chân thật với chính mình. Nhưng cuộc sống quá ngắn ngủi để mà lẩn trốn, còn cái chết thì đến quá nhanh để mà giả dối.

 

 

 

 

Hằng Triều - Ngày 20 tháng 5 năm 1978

Mạnh hơn cả cơn bão lốc

 

 

Một số cư sĩ đến thăm chúng tôi, họ mang theo xăng, thực phẩm, nhang và một bộ màn vàng che cửa may tại chỗ cho chiếc Plymouth. Tinh thần của họ thật lớn lao. Một người trong số họ nói ngắn gọn, “Chúng con mong muốn mọi người luôn vui vẻ và thành tựu Đạo quả”.

 

* * *

 

Thầy Hằng Thật và tôi không thể không nhận thấy mọi người đến cùng tham gia lạy đều cảm thấy tốt đẹp hơn khi họ rời đi. Vẻ u ám, vẩn đục biến mất khỏi đôi mắt họ. Họ rời đi với vẻ ngoài trẻ trung hơn, khuôn mặt tươi sáng. Có thể đó là sự vi diệu của việc bái lạy, pháp sám hối cổ xưa bất diệt. Đổi mới là điều phổ quát toàn vũ trụ; bái lạy chính là sự đổi mới phổ quát toàn vũ trụ.

 

Lạy trong sự ăn năn và hổ thẹn; sửa chữa lỗi lầm, làm việc khó nhọc vì hết thảy chúng sanh – tất cả những điều này làm trẻ hóa tinh thần, giảm tải gánh nặng. Trên đường xa lộ, trong căn nhà chung cư, ở một mình hay ở cùng một nhóm, cũng không thành vấn đề. Sự vi diệu nằm ở ngay cái tâm này. Vì thế có câu rằng,

Cảm ứng đạo giao khó nghĩ bàn.

 

Đạo có trong trong mỗi chúng ta, nhưng mấy ai biết được điều đó.

 

Phật Pháp không thuộc về riêng bất cứ quốc gia hay chủng tộc nào; không thuộc về một nơi chốn hay thời gian nào. Thanh tịnh một ý niệm nhỏ cũng sinh ra một sức mạnh có thể gột rửa sạch toàn Pháp Giới. Tột cùng thì không lớn không nhỏ; không trong không ngoài; không có sự khác biệt gì cả. Phật Pháp giống như cơn mưa này.

Cũng như mây sấm lớn,

Mưa khắp cả mọi nơi

Nước mưa vẫn không khác,

Pháp Chư Phật như vậy.

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Bồ Tát Vấn Minh thứ 10.

 

Thầy Hằng Thật viết, “Mỗi một lạy là cái lạy duy nhất”. Lạy khắp mọi nơi, bất cứ lúc nào, bất cứ nơi nào chính là lạy mà không ở nơi chốn hay thời gian nào. Với sự nhất tâm, mọi sự phân biệt đều mờ nhạt; mọi phiền toái và bụi bặm tự nhẹ nhàng trôi đi. Khi tâm được giữ chuyên nhất, thì toàn thế giới mở ra. Công đức cùng nhau lan tỏa và lặng lẽ, giản dị trưởng dưỡng hết thảy sự sống. Hành giả tu Đạo cũng giống như đám mây Pháp lớn.

“Nguyện cho tất cả chúng sanh làm mây đại pháp khắp tất cả Pháp giới, rưới Pháp vũ giáo hóa điều phục tất cả chúng sanh”

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Thập Hồi Hướng thứ 25.

 

* * *

 

“Tôi ngưỡng mộ ý chí của các thầy. Tôi đã cố gắng ăn kiêng và không kiểm soát nổi bản thân sau ngày thứ ba. Thói quen thật khó thay đổi”, một người qua đường nói.

 

Tập khí còn mạnh hơn cả cơn bão lốc. Những ham muốn và thói quen quật chúng ta xoay tít như lá trong cơn lốc. Đời này qua đời khác cũng cùng một câu chuyện: chúng ta tu tập một thời gian, rồi không chịu nổi. Chúng ta mất kiểm soát “sau ngày thứ ba”. Chúng ta rong ruổi bên ngoài tìm bạn đời, hoặc truy cầu tiền tài, danh vọng. Có thể chúng ta bị lay chuyển bởi lòng tham chạy theo mùi vị ngon rồi bắt đầu ăn thịt và uống rượu. Luôn có điều gì đó khiến chúng ta thích thú. Chỉ một chút đó thôi mà chúng ta không thể buông bỏ và nhìn thấu suốt, nó không ngừng kéo chúng ta trở lại dưới bánh xe luân hồi. Vì thế Khổng Tử có câu rằng,

Còn có yêu thích, thì lòng không ngay thẳng được . (1)

Chúng ta cảm thấy rồi mình sẽ luôn có thời gian để nhìn vào mọi thứ và khiến cuộc sống của mình tốt đẹp hơn. Nhưng ngày hôm qua đã trôi đi, ngày mai có thể sẽ không đến với chúng ta. Chỉ có ngay lúc này và thể tánh của hiện tại thì trống rỗng và không thể nắm bắt. Kinh Hoa Nghiêm có câu rằng,

“Quá khứ đã qua. Vị lai chưa tới. Hiện tại thì rỗng lặng”.

 

Có pháp gì cho ta nương tựa? Chẳng có pháp nào cả. Hãy nhìn kỹ cuộc đời mình đang sống trong giây phút hiện tại. Ngay lúc này, tâm thức mỗi ngày là quá khứ, hiện tại và vị lai. Chúng ta trong hiện tại là những gì chúng ta đã làm trong quá khứ, và sẽ chẳng có tương lai nào khác ngoài tương lai mà chúng ta đang tạo ra trong hiện tại.

 

* * *

“Xoay ánh sáng trở lại”: Một lưu ý cho bản thân tôi.

 

Trước khi có ánh sáng, thường hay có lửa. Lửa là trí tuệ nửa vời. Nó biểu hiện dưới dạng phiền não – tức giận, bồn chồn, ghanh tị, dồn nén, uể oải, kiêu ngạo – có tổng cộng hai mươi sáu món phiền não (6 phiền não căn bản và 20 phiền não phụ). Chúng được gọi là “tùy phiền não” bởi vì chúng đi theo chúng ta tựa như cái bóng. Hãy dừng lại khi phiền não làm đầu óc chúng ta đầy ắp lên. Giữ lấy ngọn lửa, xoay ánh sáng trở lại. Lần dò tìm lại gốc phiền não kiêu ngạo sẽ tìm thấy tà kiến hoặc bám chấp trong tâm trí của chính mình. Phiền não tấn công ta từ bên trong. Chúng là những tên trộm mà chúng ta lầm tưởng là con cái mình. Đừng nhìn ra bên ngoài để đổ lỗi cho người khác bởi vì “ta” và “người” chỉ là ảo giác của vọng tâm.

 

Hãy bắt lấy kẻ trộm ngay tại cửa nhà mình và đóng đinh đôi giày của hắn xuống sàn. Chế ngự bản thân; đừng áp bức người khác. Có thể không ai biết quý vị đã làm thế, nhưng nếu quý vị có thể sử dụng kỹ năng (công phu) này để thanh lọc và điều chỉnh “từng tấc vuông”, thì vô hình chung vô lượng chúng sanh sẽ được hưởng phước.

Việc lành không ra khỏi cửa,

Việc xấu truyền xa ngàn dặm. (2)

Không có cách nào khác để được tự do và hạnh phúc ngoài cách hồi quang phản chiếu. Tất cả những gì vi diệu không nằm ngoài một niệm duy nhất. Nếu nhìn xa hơn đỉnh mũi của mình thì quý vị đã đi quá xa rồi đó.

 

* * *

Bốn người lướt sóng trẻ tuổi vào cuối ngày,

“Các thầy có nhiều những kinh nghiệm và mọi thứ trong đầu để kể ra không?” họ háo hức hỏi.

 

“Cũng như lướt sóng thôi. Các bạn có thể nói về nó cả ngày, nhưng chỉ khi thực sự ra biển, đứng trên chiếc ván lướt sóng, thì các bạn mới biết nó là thế nào. Việc bái lạy cũng như vậy”.

Những cái gật đầu tán thành và nụ cười.

 

“Tôi đồng ý! Nó là như thế!” một người trong số họ nói.

 

“Như lời Phật dạy tu hành mới chứng được Phật Pháp, chẳng phải vì miệng nói mà thanh tịnh được”

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Thập Địa thứ 26 – Địa thứ ba Phát Quang Địa.

 

 

Ghi chú:

(1) Nguyên văn Hoa ngữ: 《大學》第七章 釋正心修身. Sách Đại Học - Chương 7 - Giảng về Chánh Tâm Tu Thân

有所好樂,則不得其正

Hữu sở hiếu lạc, tắc bất đắc kỳ chánh

(2) Nguyên văn Hoa ngữ:

好事不出門,壞事傳千里。

Hảo sự bất xuất môn, hoại sự truyền thiên lý.

 

Hằng Thật - Ngày 21 tháng 5 năm 1978

Chúng ta trở thành những gì chúng ta thấy

 

“Lau sạch bụi bẩn tích tụ”

Bao nhiêu năm tôi bắt chước phong cách nam tính kiểu phim “kiss kiss, bang bang”.

Những anh hùng của tôi là những người khắc nghiệt, bạo lực, không thực tế, ích kỷ, cứng rắn như như dao bén. Tôi đã tận tâm nỗ lực nghiên cứu và thực hành những giá trị nhiễm ô này của họ. Sau sáu năm là đệ tử Phật giáo, tôi đang bắt đầu nhận ra những nguy hại mà tôi đã gây ra đối với tâm trí dễ bị ảnh hưởng lâu dài trong thời niên thiếu của mình. Những suy nghĩ và hành vi của chúng ta tạo ra thế giới mà chúng ta đang sống. Những kẻ giết mướn, những kẻ tham dục và dối trá, những kẻ coi trọng lạc thú và sách báo đồi trụy, sẽ phải gánh chịu hậu quả của những việc làm của họ trong những kiếp tương lai.

Trước khi rời khỏi thế gian này, tôi ước mong chống lại giáo dục xấu ác của mình bằng cách thực hiện bằng văn chương về những người anh hùng giác ngộ. Tôi mong sẽ để lại những câu chuyện với những tấm gương tuyệt vời về Người Thiện; những người mạnh mẽ và không sợ hãi (vô úy) để cho thế hệ trẻ ngưỡng mộ và học theo. Nếu tôi đọc được những câu chuyện về những người đức hạnh có sức mạnh từ lòng nhân từ, thanh tịnh và bằng việc thực hành những đạo lý chân thật, thì tôi sẽ thanh tịnh hơn, bình an hơn và hạnh phúc hơn nữa.

Có câu rằng, “Chúng ta trở thành những gì ta nhìn thấy”. Nhìn thấy bạo lực và truy cầu cho bản thân mình thì quý vị cũng sẽ trở thành như vậy; nhìn thấy lòng nhân từ và sự thiện lương thì quý vị cũng sẽ trở thành như vậy. Chúng ta học qua sự bắt chước và theo gương. Có được điều tốt đẹp gì khi xem (phim) và tôn thờ những kẻ điệp viên, thám tử và những kẻ ăn chơi, những tay súng bắn thuê và những kẻ rối loạn nhân cách?

“Tại sao chúng ta không nghĩ đến việc gột rửa thân tâm, lau sạch bụi bẩn tích tụ, ăn năn những lỗi lầm trong quá khứ, cảm thấy hổ thẹn, kiến tạo một cuộc sống mới, trở thành một vĩ nhân mới tràn đầy sức sống? ... Vì quốc gia dạy dân trung hiếu." (1)

Thủy Kính Hồi Thiên Lục. Hòa Thượng Tuyên Hóa.

 

Ghi chú:

(1) Nguyên văn Hoa ngữ: Thủy Kính Hồi Thiên Lục http://www.drbachinese.org/online_reading/sf_others/Water_Mirror/001_003.htm#3

何不思洗滌身心,刷新積垢,痛改前非,生大慚愧,創造新生命,做一充滿活力之新偉人?為法界眾生而立功,為萬國同胞而立德,為天下蒼生而立箴規。所謂慈祥代天宣化,忠孝為國教民。

Hà bất tư tẩy địch thân tâm, xoát tân tích cấu, thống cải tiền phi, sanh đại tàm quý, sáng tạo tân sanh mệnh, tố nhất sung mãn hoạt lực chi tân vĩ nhân?vi pháp giới chúng sanh nhi lập công, vi vạn quốc đồng bào nhi lập đức, vi thiên hạ thương sanh nhi lập châm quy。 sở vị từ tường đại thiên tuyên hóa, trung hiếu vi quốc giáo dân。

“Tại sao chúng ta không nghĩ đến việc gột rửa thân tâm, lau sạch bụi bẩn tích tụ, ăn năn những lỗi lầm trong quá khứ, cảm thấy hổ thẹn, kiến tạo một cuộc sống mới, trở thành một vĩ nhân mới tràn đầy sức sống? Vì chúng sanh trong Pháp giới mà lập công, vì đồng bào thế giới mà lập đức, vì chúng sanh trên thế giới mà lập nền giáo huấn. Thay trời tuyên dương nhân nghĩa lương thiện để giáo hóa, vì quốc gia dạy dân trung hiếu."

 

 

Hằng Triều - Ngày 21 tháng 5 năm 1978

Tôi đã từng nghĩ rằng tôi hiểu biết bản thân mình

 

“Các con nên viết mỗi ngày trong chuyến hành trình”, Hòa Thượng khuyên chúng tôi lúc khởi đầu. “Việc viết này sẽ giúp các con không vọng tưởng quá nhiều”.

Nghe theo những chỉ dẫn của Sư Phụ luôn là điều tốt nhất thay vì chỉ làm theo những cảm hứng ngẫu hứng Cả hai việc viết và lạy đều xoay chuyển ánh sáng vào bên trong. Tôi đã từng nghĩ rất hiểu biết bản thân mình, nhưng một năm lạy đã đào xới lên sự tự khám phá bản thân mà tôi không bao giờ có thể tưởng tượng nổi. Càng lạy, chúng tôi càng biết ít đi; càng biết ít đi thì chúng tôi sẽ càng phát triển hơn. Có một sự xấu hổ, sự nhận thức được rằng gần như hầu hết những việc tôi làm bằng thân, khẩu, ý đều tạo nghiệp tội.

“Bạch Đức Thế Tôn, tất cả mọi cử chỉ động niệm của chúng sanh trong cõi Nam Diêm Phù Đề không có điều gì chẳng phải là tội lỗi…”

Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện.

 

Nhưng chỉ khi lạy hoặc ngồi thiền, thì tôi mới có thể nhận ra điều này. Ngay khi tôi ngừng lạy, tôi nhập ngay vào thế giới mơ tưởng về sự tự thỏa mãn và lãng quên. Ăn, ngủ, thay quần áo, nói chuyện với mọi người, thậm chí ngay cả lúc đi vệ sinh, tôi tách biệt ra khỏi “điều này” – tôi rời bỏ sự thật về cái không quan trọng và những khuyết điểm của mình rời bỏ như ngôi nhà đang cháy. Những điều thử qua và sai lầm trên các xa lộ đã dạy rằng:

Muốn thoát khỏi lồng,

Hai chân duỗi thẳng,

Đôi mắt nhắm nghiền,

Đây là Diệu kế,

Giúp con thoát lồng.

Kinh Lục Tổ Pháp Bảo Đàn.

 

“Các anh là ai?”, một người địa phương hỏi.

“Là tu sĩ Phật giáo”. Tôi trả lời.

“Các ông sống ở đâu? Bất cứ chỗ nào và ở khắp mọi nơi hả? À! Thật là rất vui khi được gặp các anh. Xin chào mừng!”

* * *

Trong lúc thiền định, chúng tôi đậu xe trên một bãi nghỉ xe ngay phía trên nhìn xuống đại dương, buổi tối lạnh giá, đầy sương mù, một người phụ nữ cao ráo, ăn mặc đẹp với khuôn mặt đặc biệt thanh tú, cô ấy lặng lẽ nhón chân lên chỗ chiếc xe để đặt đồ cúng dường lên mui xe. Rồi sau đó cô ấy nhón chân dời đi.

 

 

 

Hằng Thật - Ngày 22 tháng 5 năm 1978

Bị mê mờ vì tự do quá nhiều

 

Hương vị đầu tiên của tôi về “tự do”: khóa học tiếng Trung Hoa mùa hè ở trường đại học Middlebury ở Vermont; vừa mới học xong trung học, hăm hở dang rộng đôi cánh và tìm hiểu về cuộc sống. Cạnh ký túc xá của trường là một khu nhà bằng gỗ ván trắng là nơi trú ngụ của một cộng đồng sinh viên đại học đang trong kỳ nghỉ.

Cộng đồng đó thu hút tôi giống như cục nam châm đen. Trong những lúc nghỉ học, tôi cùng với Dora và Dan, hai người bạn học ở lớp ngôn ngữ, ghé thăm viếng các nơi. Ba người chúng tôi trước đây chưa bao giờ ở một khu vực sinh sống mà không có sự giám sát. Chúng tôi cuộn mình ngồi trên mặt sàn bằng gỗ thông bóng loáng nghe Bob Dylan hát qua một máy nhạc âm thanh trung thực (hi-fi) có những nhiễu âm.

Chúng tôi đều bị mê mờ vì tự do quá nhiều. Phải hành xử như thế nào đây? Các nội quy là gì? Một số người trong cộng đồng ở đây hút thuốc, toán khác đi ngang qua với chai rượu. Một số thì đào vườn, nướng bánh mì hoặc sửa chiếc máy kéo gỉ sét dưới bóng mát của hiên nhà. Không ai áp dụng luật lệ gì cả. Tiếng hát phát ra từ chiếc máy phát rè rè, “Con chẳng có gì, Mẹ ơi, để sống với mong đợi cao”.(1)

Sự tự do ngày càng gây độc hơn. Tôi lui tới căn nhà đó thường xuyên và xem những sinh viên khóa trên chỉ dẫn, học các tín hiệu và các kiểu cách. Tôi hấp thụ quá nhiều thói quen xấu, giống như đứa trẻ học theo cha mẹ nó trong từng cử động vậy. Chỉ sau này khi gặp được những Nguyên Tắc Chánh Đáng để làm người, những giới luật thanh tịnh của Phật thì tôi mới nhận ra những ngã rẽ sai lầm mà tôi đã làm hè năm đó, và chúng tôi có thể dễ dàng lạc lối thế nào khi lầm lẫn cho rằng chẳng có nguyên tắc gì cho sự tự do chân thật.

“Phàm phu thì chạy theo tâm ý mình, nhưng họ không biết đến chân tâm. Kết quả là họ bị luân chuyển trong vòng sinh tử. Đối với Sa di mới xuất gia tu Đạo vô thượng, thì điều quan trọng nhất là hiểu và sống theo những nguyên tắc này, bởi vì đó là nền tảng cho sự khai ngộ, là thể tánh của trí tuệ vô lậu, và là nền tảng để vượt qua tất cả mọi khổ đau. Dường như khó khăn khi ‘không làm việc này và không làm cái kia’, nhưng từ sự kỷ luật mà sẽ thành tự chủ, sức mạnh của định lực tam muội, nhân cách và trí tuệ. Những lợi ích đích thực thật không thể nghĩ bàn và không diễn tả hết được”.

Luật Sa Di, Hòa Thượng Tuyên Hóa

 

Ghi chú:

(1) Nguyên văn Anh ngữ: Câu trong bản nhạc "It's Alright, Ma ..." của Bob Dylon : “I got nothing, Ma, to live up to.”

 

 

Hằng Triêu - Ngày 22 tháng 5 năm 1978

Gió lạnh thấu xương

 

Lạy trong gió lạnh thấu xương; những cơn gió giật với tốc độ lên đến 50-60 dăm/giờ hoặc hơn. Gió rung lắc chiếc xe và gió cắt xuyên qua quần áo chúng tôi giống như quần áo được may bằng lưới đánh cá vậy.

 

 

Hằng Thật - Ngày 23 tháng 5 năm 1978

Chúng tôi không tìm cầu gì cho bản thân

 

Đây là lời cầu nguyện mỗi ngày của tôi trước khi lạy:

“Phật tử chúng con là Quả Chân và Quả Đình đang lạy về Vạn Phật Thánh Thành. Mục đích của chúng con là chấm dứt đau khổ và mọi thảm họa khắp Pháp giới. Chúng con làm việc vì những điều tốt lành; hướng tới những gì chân thật. Chúng con muốn chấm dứt nghiệp xấu đến từ tham, sân, si của chúng con và chúng đã tạo ra mọi thảm họa và đủ loại đau khổ – đặc biệt là các cuộc chiến tranh và những vũ khí hủy hoại.

“Chúng con mong rằng Vạn Phật Thánh Thành sẽ nhanh chóng và dễ dàng thành tựu như là một nơi tốt đẹp trên thế giới, là nơi để tu tập Chánh Pháp.

“Chúng con mong được báo đáp lòng nhân từ của Sư Phụ đã mang Chánh Pháp tới phương Tây này, để giáo hóa chúng con.

“Chúng con không tìm cầu gì cho bản thân mình. Chúng con có niềm tin rằng khi công việc này là chân thật, đúng theo Pháp, chúng con sẽ tự nhiên tăng trưởng theo cách tốt nhất để phụng sự Tam Bảo. Và đó chính là mục tiêu của chúng con.

“Chúng con thay mặt chúng sanh muôn nơi, xin cúng dường công việc này tới Chư Phật, Bồ Tát .

Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát.

Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát.

Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát.

Chú Đại Bi (1 biến)

Chú Tiêu Tai Cát Tường (7 biến)

Nhất tâm đảnh lễ Vạn Phật Thánh Thành.

 

 

 

 

Hằng Triều - Ngày 23 tháng 5 năm 1978

Gần đèn thì sáng

 

Bão gió liên tiếp vần vũ ngày đêm không ngừng. Gió liên tục rít hú rồi đập mạnh làm bầm tím cơ thể, tê liệt các giác quan. Nó giống như một trận bão mà không có tuyết – chỉ có những luồng bụi bẩn và cát thổi vào không gian, phủ kín mọi lỗ chân lông. Ngọn đèn dầu nhấp nháy ban đêm, dù tất cả cửa xe và cửa sổ xe đều đóng chặt. Chúng tôi thức dậy vì bụi và cát mịn phủ đầy vạt áo vùng bụng và những tách trà bằng thiếc. Tuy nhiên trong khi “bạn” đang vật lộn với những đau khổ và than phiền để sinh tồn; thì bên trong bạn có một “kẻ cũng là chính bạn” đang bình tĩnh, an vui và bất động. Không có thời gian và không gian, không có cái tôi nào tách rời khỏi tất cả những điều đó. Thân thể của nó chính là Pháp Giới; tâm của nó là hết thảy chúng sanh và bản tánh của nó là hư không. Cái túi da hôi thối này đang bao bọc bên ngoài tôi đây không phải là tôi. Nó là vọng tưởng, là cái tâm trí ồn ào và lảm nhảm như mây che phủ khắp trong tôi, nó cũng chẳng phải là tôi. Nhìn thấu suốt thân thể, lắng tâm xuống – hẳn là thực sự tự tại!

“Tâm chẳng trụ nơi thân

Thân chẳng trụ nơi tâm,

Mà làm được Phật sự,

Tự tại chưa từng có”

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Dạ Ma Cung Kệ Tán Thán thứ 20.

Sau khi ăn trưa dọn sạch xe, lái xe trở lại một vài dặm để bỏ rác vào trong thùng rác màu xanh lá cây của công viên thuộc tiểu bang. Tôi tìm thấy một giếng nước tràn cũ, lấy đầy mấy bình nước, tắm gội.

* * *

Bấy giờ Thiện Tài đồng tử nhờ thiện tri thức nên đối với pháp nhứt thiết trí rất tôn trọng.

Phẩm Nhập Pháp Giới

Từ ngữ Thiện Tri Thức được dịch từ tiếng Sanskrit, và có nghĩa đen là “người bạn tốt”. Bạn bè là những người cho ý kiến. Chúng ta lắng nghe và bắt chước họ, cả điều tốt lẫn xấu, và rất nhiều nghiệp tạo ra từ mối quan hệ của những tình bạn này. Thiện Tri Thức có thể là con đường giải thoát, là căn nguyên để phát tâm cầu Nhất thiết trí. Bạn xấu có thể khiến chúng ta đi xuống con đường dài u tối. Ngạn ngữ cổ Trung Hoa có câu rằng,

“Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”.

Khi tôi lễ lạy, bản tính của những mối quan hệ bạn bè xưa trở nên trong sáng. Những người bạn tốt tiếp tục trở thành nguồn sức mạnh và truyền cảm hứng, đặc biệt khi đối mặt với những thách thức và khó khăn. Những người bạn xấu là nguồn gốc của những yếu đuối và chán nản. Những điều này trở lại như những trở ngại về tinh thần và những nợ nghiệp chưa trả hết. Trước đây, tôi đã vừa may mắn vừa rất cẩu thả khi chọn bạn. Nhưng nghiệp thì không cẩu thả chút nào cả, và tất cả trở lại chính xác đúng những gì mà tôi đã tạo ra. Những may mắn và rắc rối giờ đây đeo bám theo tôi vì tôi đã từng theo chúng.

 

 

 

 

Hằng Thật - Ngày 24 tháng 5 năm 1978

Nó tạo ra sự hài hòa và những rung cảm tốt lành

 

"Lễ lạy"


Để lạy Phật, đầu tiên đứng thẳng, hai tay chắp lại, rồi quỳ xuống đất, phủ phục đầu và tứ chi trong sự tôn kính. Việc lạy biểu thị sự tôn kính; hai tay chắp lại thể hiện sự nhất tâm và lòng chân thành. Hai tay chắp lại trong sự cầu nguyện thì không thể cầm vũ khí. Cử chỉ này thể hiện thái độ ôn hòa, không hung hăng cũng không phòng ngự. Mọi người nơi nơi đều tôn trọng thái độ cầu nguyện này. Nó âm thầm tạo ra sự hài hòa và những rung cảm tốt lành.

Những khuôn mặt thù địch và lo lắng tan biến và sự bình lặng tăng trưởng khi họ quan sát việc lễ lạy. Sự tôn kính theo cách này là vô tận siêu vượt thời gian và phổ quát khắp vũ trụ. Chúng ta cảm nhận điều đó sâu thẳm nơi tâm khảm như một điều chân thiện.

“Đại Bồ Tát này đem thiện căn do lễ kính tam thế Chư Phật mà phát sanh, … tất cả thiện căn đều đem hồi hướng trang nghiêm tất cả Phật độ”.
Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Thập Hồi Hướng thứ 25.

 

 

Hằng Triều - Ngày 24 tháng 5 năm 1978

Tôi chỉ muốn cho đi thứ gì đó

 

Cơn bão gió rít gào đã bước sang ngày thứ tư. Gió rít gào liên tục, đẩy nhận thức vào bên trong. Mọi giác quan thu lại như con rùa rụt đầu vào trong mai rùa. Tôi bỗng nhớ về một kinh nghiệm đã bị lãng quên và bắt đầu xem xét, củng cố lại lời nguyện của mình.

Ký ức đã qua: Vào cuối một khóa tu tôn giáo ở trường trung học, tôi đã có chút hiểu biết và tự hứa sẽ không bao giờ ô uế nữa. Lời nguyện ấy đến một cách tự nhiên, đột ngột, sau một tuần im lặng. Các hoạt động khác trong tuần đó khá vô nghĩa. Nhưng tôi đã không giữ được lời hứa và chẳng bao lâu đánh mất trọng tâm của cái thấy chân thật đằng sau lời nguyện đó. Lới hứa đó rất đúng đắn và tôi vẫn đang cố gắng quay trở lại chỗ sáng suốt và tự do mà mình đã nếm trải được ngày hôm đó. Khi ấy tôi mới mười lăm tuổi.

Xem lại lời nguyện và việc hành trì:

1. Tặng hết số quần áo còn lại ở nhà được cất trong một chiếc vali ở Chùa Kim Sơn Thánh Tự. Chúng tạo ra một thứ vọng kiến về "tôi và của tôi", một thứ để bám víu và nói rằng, "Thấy không, tôi có thật. Tất cả những thứ này là của tôi, duy nhất là tôi.” Ngoài ra, quần áo tô điểm cho cơ thể khiến tâm mọi người rời xa Bồ Đề.

2. Bớt ngủ, không ngủ trưa. Lần này, khi Phật Pháp đã gần ngay trước mắt và tôi gặp được một vị Thiện Tri Thức là một điều thật quý giá, vô giá. Đừng để việc ngủ làm lãng phí kho báu này. 

3. Không ăn no bụng, và chỉ ăn một bữa vào buổi trưa, như Đức Phật đã khuyến nghị. Càng tu hành, tôi càng trân trọng trí tuệ và lợi ích của mười hai hạnh đầu đà. Chúng không hề là pháp tu “khổ hạnh” chút nào; mà thật ngọt ngào.

4. Tu tập Bốn Mươi Hai Thủ Nhãn để giáo hóa, cứu độ và đưa tất cả chúng sanh qua bờ bên kia. Hành trì đầy đủ hai lần mỗi ngày.

5. Cùng với tất cả những lời nguyện khác mà tôi đã lập, hãy viết ra đầy đủ, giữ chúng bên mình và tụng đọc mỗi ngày. Thẩm thấu, bão hòa, gieo chúng sâu vào thức thứ tám. Chúng là chiếc thuyền của bạn để vượt qua biển khổ.

Sự đổi mới này xuất phát từ tầm nhìn về “bình đẳng”, thấy được sự kết nối sâu xa giữa bản thân và vạn vật. Kinh Hoa Nghiêm có dạy,

“Ngài hiểu các thế gian và tất cả pháp đều bình đẳng không hai, lìa tất cả chấp."

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Hồi Hướng Thứ 25

Cái tham chấp của tôi vào thức ăn, quần áo và giấc ngủ làm gián đoạn dòng năng lượng hài hòa trên thế gian. Chẳng có gì huyền bí ở đây cả. Nó dường như vô hình vì tôi quá vô cảm. Tôi ăn no, người khác đói. Tôi mặc quần áo đẹp, người khác có ít hơn; những người nhìn thấy chúng có thể nảy sinh lòng tham và thèm muốn. Tôi ngủ và lãng phí thân tâm của mình. Thật ra, thân tâm “của tôi” đâu phải là của tôi để mà lãng phí. Nó thuộc về mọi người và mọi thứ. Nó đến từ vũ trụ, sống nhờ vũ trụ và trở về với vũ trụ. Tất cả là một, không có cái tôi.

Chư Bồ Tát đối với thân mình và các thế giới không có tưởng nghĩ là hai.

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Nhập Pháp Giới Thứ 39

Đằng sau tất cả những chấp trước nhỏ mọn là một cái thấy to lớn về bản ngã. Những vọng tưởng về sự vượt trội, tranh giành lợi ích cá nhân, tìm lỗi (người khác), hoành hành khắp tâm tôi. Tôi hiếm khi nhìn sâu. Nhưng nếu tôi có thể giáo huấn và chuyển hóa bản thân mà không có lòng ghét bỏ hay sân hận, thì tôi sẽ không bao giờ có thể ghét bỏ hay sân hận với bất kỳ chúng sanh nào nữa. Không có gì tồi tệ hơn lòng ích kỷ. Đó là thảm họa kinh hoàng nhất trên thế gian.

Một chiếc xe bán tải cắm trại dừng lại. Một người đàn ông xuống xe và đặt một dĩa thức ăn lên mui xe, cung kính cúi chào rồi rời đi. Anh ta có cùng năng lượng chân thành, trong sạch như rất nhiều người cúng dường. Trong mọi trường hợp, chúng tôi không bao giờ cảm thấy vật cúng dường được dâng cho chúng tôi, mà là thông qua chúng tôi. Tăng đoàn là một phước điền, một cơ hội để dâng tặng món quà cho Tam Bảo.

Tối nay chúng tôi đọc phẩm Thập Hồi Hướng trong Kinh Hoa Nghiêm, lý do tại sao mọi người cho đi "bình báu" và quà tặng. Có vẻ nó phản ánh nét mặt của người đàn ông này, và có lẽ thể hiện ý định sâu xa hơn của anh ta, một ý định mà nhiều người cảm nhận được nhưng như họ nói, "Tôi không biết. Tôi không tìm được lời nào để diễn tả. Tôi chỉ cảm thấy muốn cho đi thứ gì đó."

"Họ có thể cúng dường Phật vì niềm tin của họ vào phước điền của Phật là không thể nghĩ bàn."

Hầu hết mọi người không biết chúng tôi là ai; họ tin rằng chúng tôi đại diện cho một điều gì đó lớn lao hơn, thanh tịnh và thánh thiện.

"Hoặc họ có thể cúng dường Bồ tát vì họ biết rằng thiện tri thức thật khó tìm."

Thiện tri thức nhắc nhở bạn về bản tánh chân thật, sáng suốt của mình và chỉ ra con đường về nhà, trở về nguồn.

"Hoặc họ có thể cúng dường thánh Tăng để hộ trì Phật pháp trên thế gian."

Các thành viên Tăng đoàn rời bỏ đời sống thế tục để làm Phật sự. Họ tu Đạo xuất thế trong khi vẫn ở lại thế gian và không bỏ rơi chúng sanh. Đức Phật đã giao phó Phật Pháp cho Tăng đoàn. Nếu không có Tăng đoàn, ai sẽ giữ cho giáo pháp thanh tịnh này được trường tồn? Ai sẽ truyền thừa chúng? Nếu không có Pháp và Tăng, sẽ gần như không thể phát khởi dũng khí và tìm được sự chỉ dẫn để buông bỏ tất cả và thành Đạo. Chỉ cần biết rằng có những người đang sống với giấc mơ cao cả nhất và tu Đạo vô thượng, điều đó cho chúng ta niềm tin và dũng khí để dấn thân và lên thuyền bát nhã.

Phật tánh của bậc Thánh thì không lớn hơn, và của phàm phu cũng không nhỏ hơn. Nó không tăng cũng không giảm, không đến cũng chẳng đi. Tất cả chúng sanh đều chung Phật tánh và đều có thể thành Phật. Có câu kệ rằng,

Một niệm mê, niệm đó là chúng sanh,

Niệm niệm đều mê, những niệm đó là chúng sanh.

Một niệm giác, niệm đó là Phật,

Niệm niệm đều giác, những niệm đó là Phật. (1)

Về cơ bản, người trí và kẻ ngu không khác nhau. Cái tánh là giống nhau. Cho nên Lục Tổ Đại Sư đã nói rằng khi mê thì Phật là chúng sanh, nhưng khi người mê đột nghiên giác ngộ thấy tánh, thì chúng sanh là Phật.

Có phải có người thì tham hơn, sân hơn, si hơn người khác? Không, không hề như vậy. Người mê chỉ có nhiều “một niệm” hơn người trí. Niệm niệm chồng chất, nhưng thực chất, đó chỉ là một niệm – một niệm mê mờ nhân lên vô số lần. Một niệm tham, một niệm cầu tìm bên ngoài, chính là khởi đầu của tất cả. Chúng ta quay lưng với giác ngộ trôi theo bụi trần (bội giác hiệp trần). Một niệm mê lầm không sanh thì tất cả đều ngừng bặt. “Một niệm không sanh, toàn thể hiện.”

Có một thời gian, chúng tôi treo một tấm biển trên trần xe để sách tấn chúng tôi ngừng suy nghĩ và tỉnh thức ngay lập tức. Tấm biển đề rằng:

“Sao chẳng từ trong tự tâm liền thấy được chân như bản tánh?”

Pháp Bảo Đàn Kinh

 

Ghi chú:

(1) Nguyên văn Hoa ngữ: Lục Tổ Pháp Bảo Đàn Kinh Thiển Thích - Hòa Thượng Tuyên Hóa lược giảng. Phẩm Bát Nhã đệ nhị. http://www.drbachinese.org/online_reading/sutra_explanation/SixthPat/sixthpat_02.htm

一念覺,一念佛,念念覺,念念佛;你一念迷,一念是眾生,念念迷,念念是眾生

Nhất niệm giác,nhất niệm phật,niệm niệm giác,niệm niệm phật; nhĩ nhất niệm mê,nhất niệm thị chúng sanh,niệm niệm mê,niệm niệm thị chúng sanh.

 

 

 

Hằng Thật - Ngày 25 tháng 5 năm 1978

Không phải là tưởng tượng; là dữ kiện thật, không phải là hư cấu



“Khoa học viễn tưởng”

Khoa học viễn tưởng. Thể loại bao quát cho những bộ óc sáng tạo nhất trong văn chương. Đầy đủ và đa sắc như cầu vồng, khoa học viễn tưởng trải dài từ các tác phẩm nghiêm túc về tầm nhìn tiên tri, kinh dị, tưởng tượng, những cuộc phiêu lưu về tương lai, hư cấu nghiêm túc, những dự đoán khoa học nghiêm túc và rất nhiều câu chuyện hoang đường tầm thường. Khoa học viễn tưởng tạo ra những thực tại đáng tin cậy mà chúng ta chưa bao giờ thấy, mở ra cánh cửa trong tâm trí đến những nơi chúng ta không biết rằng có tồn tại. Kinh Phật cũng như vậy, chỉ có điều cõi giới ở Kinh Phật là thật, không phải là tưởng tượng, là dữ kiện thật, không phải là hư cấu.

Kinh Hoa Nghiêm mô tả những trạng thái chân thực về nhận thức của con người, được mở rộng, thanh tịnh và cao thượng. Kinh điển không phải là hư cấu, không phải là sự sáng tạo của một tác giả cá nhân. Kinh Hoa Nghiêm là một cẩm nang hướng dẫn kỹ thuật, là cuốn sách hướng dẫn về thức tỉnh tâm linh, vĩnh cửu và chân thực. Kinh điển là nguồn tài nguyên thiên nhiên, là bản đồ tìm kho báu của tâm trí, được chia sẻ rộng rãi cho tất cả mọi người. Không phải là trò tiêu khiển qua loa, toàn bộ trí tuệ của Kinh là để tu tập, để nghiền ngẫm. Điều ấy có nghĩa là Kinh điển cần được nghiên cứu, nhiếp thu, thâm nhập, và thân chứng bằng thực hành.

“Nếu chúng ta có thể cung kính thực hành thật sự làm theo, y chiếu nghĩa lý Kinh văn tu hành, thì nhất định sẽ thành Phật”. (1)
Lời tựa Kinh Hoa Nghiêm, Hòa Thượng Tuyên Hóa.

 

 

Ghi chú:

(1) Nguyên văn Hoa ngữ: Lời tựa Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh Sớ Tự Thiển Thích - Hòa Thượng Tuyên Hóa http://www.drbachinese.org/online_reading/sutra_explanation/Ava_preface/foreward.htm

Ngã môn nhược năng cung hành thật tiễn,y chiếu kinh đích nghĩa lý khứ tu hành, nhất định hội thành Phật đích.

 

 

 

Hằng Triều - Ngày 25 tháng 5 năm 1978

Trẻ em luôn hỏi những câu hay nhất



“Những suy tư lúc lạy”

Việc tu Đạo, đặc biệt là lễ lạy, cắt đứt sự giả tạo và đưa chúng ta đến gần hơn với tự tánh. Chúng ta có thể nhìn thấy nhân quả trong cuộc đời mình rõ ràng hơn, giống như trogg một cảnh quay phim dừng hình. Những gì chúng ta từng cho là ngẫu nhiên hoặc trùng hợp nay bỗng kết nối thành một vòng tròn hoàn chỉnh của hành động và phản ứng. Một sự kiện đơn lẻ có thể mở ra trước con mắt tâm trí giống như một bông hoa nở được ghi lại bằng ghi hình cho chạy nhanh.

Và như chưa bao giờ biết đến điều gì quan trọng; quý vị sẽ nhìn thấy cái gì là bề mặt trên, cái gì là cốt tủy; điều gì là tốt và điều gì gây hại. Hổ thẹn và hối hận dâng trào vì tất cả nghiệp xấu trong quá khứ mà mình đã gây tạo, nhưng đồng thời có một sự gột rửa tâm hồn, một niềm hân hoan và sự kỳ diệu như trẻ thơ, ngạc nhiên khi có được một cơ hội khác để trở thành một con người.

May nghe lời dạy Như Lai, trưởng lão
Nay muốn ngược dòng bỏ chốn bần hèn
Chánh tin nhân quả bỏ tâm bất tín
Hổ thẹn trước trời người bỏ vô liêm. (1)

Hoa Nghiêm Phổ Hiền Hạnh Nguyện Sám Nghi

* * *


Hãy giữ thức ăn, áo mặc và nơi ở thật đơn giản. Tốt nhất là không có “cái tốt nhất”.

Áo cốt che thân, ăn khi đói.
Tạm nương nhờ, gìn giữ sắc thân,
Bỏ tài sản, khinh thân mạng,
Như đàm dãi, nhổ không do dự. (2)

Bài ca túi da của Hòa Thượng Hư Vân.
 

Chúng tôi tập Thái Cực Quyền để giữ gìn thân thể, bái lạy để thanh lọc tâm hồn, ngồi thiền để tìm kiếm sự thanh tịnh và tâm linh. Nào ai có thể ước một cuộc sống tốt đẹp hơn thế. Ngay khi chúng tôi rời xa những điều này, tìm kiếm đường tắt và sự thay thế, thì liền lạc lối.

“Không hôn trầm, không tán loạn
Xanh như tùng bá giữa trời đông. ..
Trà thanh, cơm đạm, tâm an tịnh,
Một niềm vui Pháp trọn đêm ngày”. (3)

Bài ca túi da của Hòa Thượng Hư Vân.

Những thực phẩm giàu dinh dưỡng, thực phẩm bổ sung, , năng lượng “nhanh” giàuprotein từ nhân sâm và cafein sẽ khiến chúng ta trống rỗng và thất vọng. Chúng chẳng có năng lượng, không có sức bền.. Thêm cái này thì thiếu cái kia. Hãy giữ Trung Đạo, nơi mọi thứ đã vốn đầy đủ và viên mãn tự nhiên, rồi quý vị sẽ nhanh chóng cảm thấy khinh an, “Pháp hỉ đêm ngày”. Mọi thứ do tâm tạo: ở trung đạo thì quý vị chuyển pháp, nhưng rời khỏi trung đạo thì pháp sẽ chuyển quý vị.

* * *

Nhẫn chịu điều không thể nhẫn là con đường đi của các bậc thánh hiền. Cái giá lạnh và cô đơn của việc thức dậy trước lúc bình minh để ngồi thiền và bái lạy, tập thể dục và tụng kinh, ban đầu rất khó khăn. Sự thôi thúc chạy theo tập khí lười biếng thật mạnh mẽ, đặc biệt là lúc 3:30 sáng trong một ngày lạnh giá và có mưa, khi chiếc chuông báo thức nhỏ xíu vang lên trong xe. Nhưng những tháng ngày cay đắng sẽ trở nên ngọt ngào và hương vị này thật khó quên; không thể diễn tả, chỉ có thể tự kinh nghiệm.

“Bổn địa phong quang” có lý thú kỳ diệu riêng mà ý vị thật vô cùng tận! Chúng ta nếu muốn được thưởng thức cái ý vị đó thì phải gạn lọc tâm tính.” (4)

Thủy Kính Hồi Thiên Lục - Hòa Thượng Tuyên Hóa

* * *
 

Buổi sáng…

Lúc sáng sớm, có một vài khoảnh khắc khi cả thế gian tĩnh lặng. Ngay giữa trạng thái nửa tỉnh nửa mê, mọi thứ trông thật khác biệt. Có thể chúng ta nhìn thấy cái trống rỗng căn bản của vạn vật, hay sự vô thường đó đang ngự trị không thể chối cãi và vạn pháp vô ngã. Một sự đồng nhất căn bản trùm khắp thiên hạ, và thể tánh căn bản của mỗi chúng sanh đang dung nhập lẫn nhau và hòa quyện đến tận cùng hư không. Không cótrên hay dưới, không có trong hay ngoài, tất cả sẽ dẫn ta đi đâu nếu chúng ta chạy theo nó?

Nhưng khi tỉnh dậy, ảo ảnh qua đi, hoặc có thể chúng ta lướt qua nó giữa những hối hả điên cuồng của cuộc sống. Sống để kiếm ăn, những lo toan thường nhật cuốn chúng ta trôi theo dòng sông chảy xiết về vô định. Chúng ta bắt đầu với hai bàn tay trắng, chẳng nắm giữ được gì, kết thúc cũng không có gì, như trong giấc mơ hay như nhìn những hạt bụi xoay tít rồi rơi xuống hoặc lộn lên trong ánh nắng. Trong một ngày 24 giờ, 8 giờ dành cho việc ngủ, 8 giờ cho công việc, và 8 giờ còn lại bị nuốt chửng bởi nhà bếp, nhà tắm, quần áo và hàng trăm thứ nhỏ nhặt khác. Chưa đến 20% cuộc đời là của chúng ta. Phần còn lại thuộc về chiếc đồng hồ. Đọc báo, xem truyền hình, mua thực phẩm và ngủ thiếp trên ghế trong khi đọc cuốn sách bán chạy hồi năm ngoái.

Hầu hết mọi người trên thế giới này đơn giản là làm việc, ăn, ngủ và làm việc, chỉ dừng lại khi tim ngừng đập và trút hơi thở cuối cùng .

Một số thì sống nhàn nhã, số khác thì lao động để sống. Nhưng trong con mắt vô tình của thần chết, chúng ta đều như nhau và chẳng ai có một danh xưng. Trong khoảng thời gian của một cái ngáp, có vô lượng chúng sanh sanh ra và chết đi. Trái đất là khách sạn cho hơn vạn loài. Liên tục nhận phòng và trả phòng, chẳng có vị khách nào ở mãi mãi.

Có vài khoảnh khắc lúc sáng sớm, chúng ta có thể nhận ra nó một cách thật rõ ràng và tự hỏi, “Điều này thật sự là gì?” Nhưng chẳng có lời giải thích nào, chỉ có sự nhìn thấy trong yên lặng. Đây là khởi đầu của việc phát tâm giác ngộ. Chính bản tánh của chúng ta muốn thâm nhập vào bản tâm của vạn vật.

Tất cả các pháp lìa ngôn thuyết,
Tánh không tịch diệt, vốn vô tác,
Muốn đều rõ thấu chân nghĩa này,
Bồ Tát đều do đây sơ phát tâm.

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Thập Trụ thứ mười lăm.

***


Cả thân lẫn tâm tôi đều đang kêu gào đòi tiệc tùng. Tôi bị căng vài bắp thịt.

Thời tiết thật nóng nực và bụi bẩn, hàng tháng trời trên đường xa lộ, bụi và nhựa đường chít đầy lỗ chân lông của chúng tôi. Từng thớ cơ thịt muốn bung ra và xả hơi, giải tỏa sức nóng và áp lực bên trong để làm dịu con tim. “Hãy hết sức thận trọng ở giai đoạn này”, Hòa Thượng Trụ Trì khuyên chúng tôi trong buổi gặp lần trước.

Ngay khi chúng tôi hoàn thành cái lạy cuối của buổi sáng, một phụ nữ trẻ đẹp cưỡi con ngựa không yên đi tới và có lời mời đặc biệt chúng tôi đến tắm suối nước khoáng nóng gần đấy.

Giống như câu nói rằng,

“Hết thảy là khảo nghiệm, coi thử mình ra sao…”

Chúng tôi từ chối và tắm bằng nước lạnh trong chiếc bình nhựa, rồi thay vào đó là tắm trong thiền.

Cả buổi sáng, tôi cảm nhận được một năng lượng áp chế mạnh mẽ đè lên mình trong lúc lạy. Đau đầu dữ dỗi, khó thở, các cơ co thắt đau nhức nhối. Cuối cùng nó cũng tan vỡ ra trong khi ngồi thiền. Tôi thấy hàng ngànbàn tay và cánh tay đang bao bọc và bảo vệ tôi, đồng thời gột rửa và chữa lành. Sau đó, tôi cảm thấy khinh an, hoan hỉ và được giải thoát khỏi sức nặng, một phân tử của dục vọng đã trào lên lúc bái lạy. Rồi người phụ nữ cưỡi ngựa xuất hiện và tôi lập tức cảm thấy một khối cầu năng lượng, một sự hiện diện bao quanh mình. Ngay khi cô ta tến đến gần, tôi cảm nhận ra là một khảo nghiệm và đã thực hiện vài thủ nhãn trong 42 Thủ Nhãn của Bồ Tát Quán Âm. Sau đó chúng tôi ngồi xuống, tôi thấy mình được bao bọc bởi rất nhiều những bàn tay và cánh tay màu ánh vàng ròng. Cảm giác tốt đẹp hơn bất kỳ lần tắm nào mà tôi đã từng có. Tất cả các cơn đau nhức và co thắt bắp thịt đều biến mất,

Ngàn tay che khắp thân,
Vi diệu không thể sánh,
Hàng phục các chúng ma,
Bảo vệ cõi Tam thiên.
Khiến kẻ tà quy chánh,
Tu tập các thiện Pháp,
Tuyên thuyết Đại Bát Nhã,
Siêu việt mọi ngôn thuyết,

Bài kệ của Hòa Thượng Tuyên Hóa về “Tổng Nhiếp Thiên Tý Thủ Nhãn”


* * *


Gia đình họ Lee từ thành phố Pacifica lái xe tới cúng dường bữa trưa và các vật dụng. Trong bữa trưa, một toán học sinh “Children’s Action- News Team” (học sinh học làm tin tức) của trường Pacific Valley túa ra từ chiếc xe buýt của trường học để phỏng vấn thâu hình. Các em quan sát gia đình họ Lee thực hiện nghi thức cúng dường theo truyền thống và liên tục hỏi chúng tôi về Đức Phật, về nỗi sợ hãi vào ban đêm và “cách bái lạy đúng đắn”.

Một bé gái lặng lẽ quan sát và lắng nghe, cuối cùng em lên tiếng hỏi câu hỏi của em, câu hỏi mà em hẳn nhiên đã nghiền ngẫm một lúc lâu.
“Các thầy có tham dục gì không?”
“Chắc chắn có rồi”, tôi trả lời, “Nhưng chúng tôi cố gắng xoay chuyển tham dục và truy đuổi chúng thay vì bị chúng truy đuổi”
“Chẳng hạn như thế nào?” cô bé hỏi.
“Chẳng hạn như luôn muốn có thứ gì đó tốt hơn chính là đang bị tham dục truy đuổi. Cho dù có được gì thì ngay khi có được, cháu vẫn không thỏa mãn. Cháu sẽ luôn muốn có thứ tốt hơn hoặc có cái gì đó bắt mắt cháu. Khi chưa có được thì không vui, đến khi có rồi thì lại cũng không vui. Vì thế tham dục là khổ đau”. Tôi kể câu chuyện về Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, người lớn lên là một Hoàng tử, có đủ mọi thứ mà Ngài mong muốn. Rồi một ngày, Ngài nhận ra rằng cuộc đời là khổ, từ khi sinh ra, qua tuổi già, bệnh tật, cho đến khi chết. Vì vậy Ngài nói rằng, “Không thể như vậy!”, Ngài cạo tóc rồi xuất gia tu Đạo.

Trẻ em luôn hỏi những câu hay nhất.

 

 

Ghi chú:

(1) Nguyên văn Hoa ngữ: Hoa Nghiêm Phổ Hiền Hạnh Nguyện Sám Nghi - http://www.drbachinese.org/online_reading/repentance/hua_yan_chan.pdf

幸 聞 如 來 長 子 教 。

今 欲 逆 流 捨 貧 里 。

正 信 因 果 破 闡 提 。

慚 愧 人 天 破 無 恥 。

 

Hạnh văn Như Lai trưởng tử giáo

Kim dục nghịch lưu xả bần lý

Chánh tín nhân quả phá xiển đề

Tàm quý nhân thiên phá vô sỉ.

(2) và (3): Bài ca túi da của Hòa Thượng Hư Vân - http://www.dharmasite.net/BaiCaTuiDa.htm

(4) Thủy Kính Hồi Thiên Lục - Hòa Thượng Tuyên Hóa - https://www.dharmasite.net/ThuyKinhHoiThienLuc.htm
 

 

 

Hằng Thật. Ngày 26 tháng 5 năm 1978

Học và thường ôn tập


“Hạnh phúc là gì?”

Hạnh phúc là gì? Là học Phật Pháp. Là giữ giới thanh tịnh. Là bố thí, giữ vững niềm tin vào những chỉ dạy, đi theo như theo ngọn hải đăng dẫn đường trong cơn bão. Là nỗ lực cần mẫn. Là tu hành theo Kinh, Pháp, cảm nhận Kinh mở ra trong tâm và bén rễ giống như những ống nước, như cây đòn dông, vững chắc, chân thực và vĩnh viễn chân thật.

Học mà thường ôn tập, cũng chẳng thích ư? (1)

Luận Ngữ - Khổng Tử.

 

Ghi chú:

(1) Nguyên văn Hoa ngữ: Luận Ngữ http://www.drbachinese.org/online_reading/sf_others/confucius_analects/confucius_analects_01.htm

學而時習之, 不亦說乎

Học nhi thời tập chi, bất diệc duyệt hồ?

 

 

Hằng Triều - Ng 26 tháng 5 năm 1978

Chúng ta chưa bao giờ tách rời khỏi nó



Tội lỗi có thể giảm nhẹ, nhưng nghiệp thì không thể tránh khỏi. Một luật sư giỏi có thể cãi thắng cho chúng ta được trắng án, một nhà trị liệu đắt tiền có thể làm dịu thần kinh của chúng ta, một chai rượu rẻ tiền có thể xua tan nỗi đau, nhưng khi đến lúc, chúng ta vẫn sẽ phải gánh chịu những gì sẽ đến với mình.

Công bằng và không khách sáo, luật nhân quả gắn chặt chúng ta vào mọi tội lỗi và sai phạm do thân, khẩu, ý gây ra. Tội nghiệp là vô hình, nó không có hình dáng hay hình thức nào, nhưng khi chúng ta từ giã cõi đời và mọi thứ đều bị bỏ lại phía sau , chỉ có nghiệp theo sát chúng ta vượt qua nấm mồ.

“Tại sao cuộc đời tôi lại như một mớ hỗn độn vậy?” ngày hôm qua có người hỏi chúng tôi. Nghiệp. Cuộc đời chúng ta là kết quả của những gì chúng ta tạo ra. Vi phạm quy củ, chạy theo dục vọng, bám vào tà kiến, chúng ta tạo nhân lộn xộn và gặt quả lộn xộn Tại sao Chư Phật xuất hiện ở thế gian? Để giúp chúng ta dọn dẹp mớ hỗn độn của mình và phá vỡ xiềng xích của nghiệp.

“Chư Phật Thế Tôn vì các chúng sanh vô trí làm ác, chấp ngã và chấp sở, chấp trước lấy thân, điên đảo nghi lầm, tà kiến phân biệt, hằng tương ưng với những kiết phược, theo dòng sanh tử, xa đạo Như Lai nên mới xuất thế”.

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện thứ 36.

 

“Quý vị định chạy đi đâu?”

Tiếng rít của bánh xe, tiếng gầm của động cơ tốc độ cao. Một chiếc xe thể thao nhỏ chạy nhanh, thắng xiết bánh dừng lại. Người lái xe là một thanh niên trẻ tuổi đeo kính mát nở nụ cười mở rạng rỡ. Một tay anh ta đặt lên chiếc cần số sàn 4 tốc độ, tay kia vươn ra để bắt tay, anh ta nói,

“Trời, hôm qua tôi thấy các thầy làm thế này. Chà! Đây có phải là một kiểu hành hương không?” Tôi bèn giải thích ngắn gọn.

“Á! Điều đó thật đẹp. Thực sự rất đẹp. Các thầy hãy giữ vững niềm tin, và bây giờ thì tôi sẽ vội vã theo cách Mỹ của mình”, anh ta nói gần như xin lỗi, dường như anh muốn chậm lại nhưng lại không thể tìm thấy bộ điều khiển vận tốc trong tâm trí mình.

Tiếng động cơ gầm rú, tiếng bánh xe rít lên và một đám bụi mùi, một cái giơ tay chào chúc may mắn và anh ta biến mất tựa như cơn gió. Khi anh ta phóng vụt đi, tôi nghĩ, “Nhanh hay chậm, kiểu Mỹ hay kiểu cổ xưa cũng chẳng quan trọng. Không ai trong chúng ta từng ở bên ngoài Đạo cả.”

Con người chúng ta giống như lá và hoa; dù có phát triển lớn mạnh thế nào thì chúng ta cũng đều trở về cội rễ, nơi mà chúng ta lớn lên. Phật Pháp bao gồm Đạo (Tao), và Đạo thì bao trùm hết thảy vạn vật giữa trời và trái đất. Phật Pháp là giáo lý của toàn Pháp giới. Phật Pháp là “bao la, rộng lớn và hoàn toàn viên mãn”. Mặc dù bao la vô tận như vậy, nó cũng không hai, và cũng như vậy, Chân tâm của mỗi chúng sanh cũng dung thông hoàn hảo với toàn Pháp Giới và Pháp Giới không tách rời khỏi Chân tâm. Vì thế có câu rằng,

Không có gì không lưu xuất từ Pháp giới , không có gì không trở về Pháp giới . (1)

Đại Thừa Tập Luận


Cho dù chúng ta có hợp nhất với chân nguyên bản tánh của mình hay chống lại nó, thì dù thế nào, chúng ta cũng chưa bao giờ tách rời khỏi nó. Một người dù có thể chạy tới tận cùng hư không, thì người ấy vẫn ở trong tâm trí của chính mình và ở trong Pháp Giới. Nhanh hay chậm, gần hay xa, đốn ngộ hay tiệm ngộ thì cuối cùng mỗi chúng ta rồi cũng sẽ quay trở về với cái mà chúng ta chưa bao giờ rời bỏ.

Thiên hạ quay về Đạo giống như suối khe chảy về sông biển. (2)

Đạo Đức Kinh

 

Ghi chú:

(1) Nguyên văn Hoa ngữ: Đại Thừ Tập Luận - 大乘集論

無不從此法界流 無不還歸此法界.
Vô bất tòng thử pháp giới lưu, vô bất hoàn quy thử pháp giới.

(2) Nguyên văn Hoa ngữ: Đạo Đức Kinh - Chương 32 - Thánh Đức:

譬道之在天下;猶川谷之於江海.

Thí Đạo chi tại thiên hạ; do xuyên cốc chi ư giang hải.

 

 

Hằng Thật - Ngày 27 tháng 5 năm 1978

Thông điệp về đức tin và sự khiêm nhường



Bồ tát “tùy theo căn cơ mà ban bố pháp giáo”, để giáo hóa chúng sanh khi thời điểm thích hợp.

Đôi khi, việc bái lạy trong yên lặng lại nói Pháp cho những người mà lời nói thường không thể chạm tới. Mọi người dường như nhận được thông điệp về niềm tin và sự khiêm nhường khi họ quan sát nghi thức khấu đầu chư Phật và Bồ Tát. Nếu chúng tôi cố giải thích lòng thành kính của mình bằng ngôn từ thì ít ai trong số những chủ trang trại và những người hái rau quả nói tiếng Tây Ban Nha hiểu được. Nếu chúng tôi dùng ngôn từ phù hợp với trẻ nhỏ, thì người lớn lại cảm thấy nhàm chán. Còn nếu chúng tôi để tự việc bái lạy nói lên tất cả, thì người phẫn nộ sẽ dịu lại; người nhút nhát sẽ thấy được khích lệ.

Những người Ki tô giáo bất mãn “đến từ bụi rậm” như Connie ở Cambria đã nói, và chúng tôi đều nhận được một lời nhắc nhở nhẹ nhàng để chậm lại và nhìn vào bên trong.

 

 

Hằng Triều. Ngày 27 tháng 5 năm 1978

Bền chấp chẳng bỏ



Quy tắc trên đường: Kiên nhẫn, kiên nhẫn rồi lại kiên nhẫn hơn nữa! Cách duy nhất để giải quyết mọi việc ở ngoài này là thực sự chậm rãi và nhẹ nhàng. Giữ cho cuộc sống đều đều và đơn giản, và kiên nhẫn như hư không, khoan dung như biển cả.

Tâm điên đảo muốn chộp lấy và phan duyên, nhưng có gì ở đó mà nắm giữ? Những con trùng thông minh bên trong thì muốn biểu đạt thành lời và phát triển thành lý thuyết, thế nhưng “phàm những gì có ngôn từ đều là giả”. Chẳng có gì để nắm giữ, chẳng có chỗ nào để đứng, đôi khi khiến tôi hoang mang. Tại sao?

Bởi vì tôi ngu si. Một vị Bồ tát, sau khi nghe rằng vạn pháp đều rỗng không thì liền vui sướng hoan hỷ, tâm Ngài biết an vui. Nhưng,

“…kẻ phàm phu ngu si không biết, không thấy… tham luyến trụ xứ, nghe pháp là không thời quá sợ, … Nơi các cõi hữu lậu bền chấp chẳng bỏ”.

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Thập Hạnh thứ 21.
 

Khi Bồ Tát thấy chúng ta đáng thương thế nào, các Ngài chỉ muốn tăng trưởng lòng từ bi đối với chúng ta.

“Tôi sẽ vì một chúng sanh nơi mỗi quốc độ trong thập phương thế giới, trải qua bất khả thuyết, bất khả thuyết kiếp giáo hóa thành thục”.

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Thập Hạnh thứ 21.

Thật vậy, lòng từ bi có thể nhổ bật cội khổ.

***


Ngồi thiền trong một gò cỏ trên vách đá cao nhìn ra biển. Hoàng hôn xuống, khoảng thời gian vắng lặng. Đôi khi, một thông điệp đến thẳng từ tâm theo lối thật đơn giản, gần như chân thật như trẻ thơ, khi các mảnh ghép của một ngày đã lắng xuống và sự cảnh giác của tâm hạ xuống.

“Dừng tìm kiếm lỗi người. Hãy tốt với người khác; đối đái với họ bằng lòng nhân từ. Nếu không dừng lòng quá nhỏ nhen và tự mãn, anh sẽ lãng phí cuộc đời mình. Với cái tâm luôn xem thường người khác thì sẽ không bao giờ chấm dứt được đau khổ hoặc chẳng biết đến bình an”, người bạn bên trong nói.

***

Một thanh niên trẻ cắm trại ở chỗ mấy bụi cây cạnh chúng tôi. Anh ta chơi đàn ghi-ta trong chiếc túi ngủ cho đến khi ngủ thiếp đi dưới ánh trăng lưỡi liềm.


 

 

Hằng Thật - Ngày 28 tháng 5 năm 1978

Cái tâm lượng thì thật là rộng lớn


“Trí tuệ”

Trí tuệ không phải là một đống tri thức tĩnh tại, hay một kệ đầy ắp những ý tưởng sáo rỗng bị ràng buộc bởi ngôn ngữ, cố định trong thời gian và không gian. Trí tuệ bát nhã rất linh hoạt, sống động, không trống rỗng cũng không thể xác định. Trí tuệ là phải được thực hành, chứ không phải đem ra bàn luận. Đó là phần chia sẻ căn bản của Phật tánh có trong tôi và quý vị. Hãy nghe Lục Tổ dạy:

“Chư Thiện tri thức! Cái tâm lượng thì thật là rộng lớn, châu biến cả thảy Pháp giới, dùng nó liền hiểu rõ ràng. Cái tâm lượng khi ứng dụng ra, thì biết hết thảy tất cả sự vật. Cả thảy tức quy về một, một tức gồm hết cả thảy, tới lui tự do, tâm thể suốt thông, không ngưng trệ, tức là Bát nhã vậy” (1)

Kinh Lục Tổ, Phẩm Bát Nhã Đệ Nhị.

Trí tuệ đang chờ đợi để được khám phá trong bản tánh của chúng ta, nhưng chúng ta phải tu tập, khai mở nó và vận hành nó. Bước đầu tiên của tôi trong việc tu tập là theo quyết định làm trống cái bụng khỏi ham muốn đồ ăn ngon và làm rỗng cái tâm hám danh của mình.

 

Ghi chú:

(1) Nguyên văn Hoa ngữ: Kinh Lục Tổ Pháp Bảo Đàn, Phẩm Bát Nhã Đệ Nhị. http://www.drbachinese.org/online_reading/sutra_explanation/SixthPat/sixthpat_02.htm  

善知識。心量廣大。遍周法界。用即了了分明。應用便知一切。一切即一。一即一切。去來自由。心體無滯。即是般若。

Thiện tri thức。 Tâm lượng quảng đại。 Biến chu pháp giới。Dụng tức liễu liễu phân minh。Ứng dụng tiện tri nhất thiết。 Nhất thiết tức nhất。 Nhất tức nhất thiết。 Khứ lai tự do。 Tâm thể vô trệ。 Tức thị Bát Nhã.

 

 

Hằng Triều - Ngày 28 tháng 5 năm 1978

Như là người bạn không cầu thỉnh của tất cả chúng sanh



“Thành phố ma”

Bảng chỉ đường ghi “Lucia, 8 dặm”. Chúng tôi vừa lạy qua thành phố Lucia nhưng tôi chẳng nhớ gì về nơi đó. Thật là vô thường!

Di chuyển thật chậm rãi trong khi “hồi quang phản chiếu” có một hiệu ứng tổng hợp là khiến cho thế giới trông giống như một thành phố ma rộng lớn. Các thị trấn xuất hiện như các trung tâm thương mại lấp lánh ánh đèn nê-ông trang trí Giáng sinh và ảo ảnh sa mạc trôi nổi trong lớp không khí mỏng manh. Ngày đến rồi đi giống như râu ria trên mặt; các thị trấn dần phai nhòa trong ký ức với mỗi bước chân ra khỏi ranh giới của thành phố. Cái gì khuất mắt thì sẽ bị lãng quên; những gì chúng ta có thể thấy thì lại không thật. Lái xe trở lại để lấy nước, vùng đất mà chúng tôi vừa mới đi qua trông như nước ngoại quốc gặp lần đầu tiên. Chúng tôi có thể đã từng ở đây ngày hôm qua, nhiều năm trước hoặc chưa bao giờ. Tất cả chúng ta đều là những người xa lạ trong một vùng đất lạ. Thế giới này không phải là ngôi nhà thực sự của chúng ta và thời gian chỉ là một từ ngữ với 4 chữ cái (time). Quá khứ đã chết, tương lai thì mù mờ, vậy hiện tại ở đâu? Ngay khi quý vị nói, “hiện tại là lúc này”, thì nó đã qua đi rồi.

Mọi thị trấn đều là thị trấn ma. Có con quỷ vô thường ẩn núp đằng sau tất cả mọi thứ trông có vẻ thật và chắc chắn, thậm chí cả thân thể của chúng ta nữa. Trong ba cõi dục, sắc giới và vô sắc giới, chẳng có nơi nào để trụ lại và chẳng có gì để nương tựa vào.


“(Lúc bố thí, Bồ Tát gần gũi người xin, chuyên tâm tu tập các hạnh Bồ Tát, đủ chủng tánh Phật, sanh nhà Như Lai, nhớ hạnh bố thí của Bồ Tát tu, luôn siêng phát khởi Phật Bồ đề, làm cho các căn công đức trí huệ đều thanh tịnh), quan sát ba cõi không một mảy kiên cố. Nguyện luôn được thấy Chư Phật và Bồ Tát, tùy thuận ghi nhớ tất cả Phật Pháp, rõ biết thân thể là hư giả rỗng không, không một mảy tham tiếc.”

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Thập Hồi Hướng thứ 25.


Một vị lão tăng từng nói, “Tốt nhất là nguyện vãng sanh nơi Tây Phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà. Bởi vì khi hỏa kiếp thiêu đốt khắp thế gian, thì ngay cả các cõi trời vô sắc giới cũng không thoát khỏi tai kiếp này. Nhưng ở Tây Phương Cực Lạc thì không có tai họa nào và quý vị có thể trở lại cứu độ vô lượng chúng sanh trong cõi Ta Bà”.

Thế giới này và vô lượng thế giới khác đều giống như lá cây trong rừng: một số thì đang treo trên cành, số khác thì rơi xuống, một số thì mới nảy chồi, số khác thì đang thối rữa và biến mất. Cái thân của chúng ta cũng vậy.

Ngay khi tôi đứng trên cầu, tôi thấy một người đang ngồi thế liên hoa trong một hẻm rừng núi sâu. Hàng giờ sau, người ấy vẫn ngồi đó. Hai ngày sau người ấy cũng không cử động. Hóa ra đó là một bức tượng nghệ thuật tân thời bằng nhựa polyurethane (PU) sống động hơn thật và chắc chắn sẽ bền hơn rất nhiều và tồn tại lâu hơn bất cứ ai trong số chúng ta. Ngay cả nhựa cũng tồn tại lâu hơn con người. Vì vậy Kinh dạy rằng, “Cái thân này không một mảy tham tiếc”. Tôi nguyện gia nhập pháp hội của chư Phật và chư Bồ Tát để “tùy thuận ghi nhớ tất cả Phật pháp”. Tất cả đều bị phân hủy sinh học, ngoại trừ Đức Phật.


* * *


“Tại sao lại bận tâm chuyện đó?” một kẻ hoài nghi hỏi.

Bởi vì cuộc đời là khổ, và cuộc đời không tu hành thì thật vô nghĩa. Bởi không tu Đạo thì đâu có khác gì chết.

Cho dù quý vị ăn, ngủ, hít thở, mặc áo quần, thì bên trong chỉ là mảnh đất hoang, là cái vỏ rỗng. Một người chết ở tuổi 20, nhưng lại được chôn cất ở tuổi 60.

Sự đau khổ của mỗi người chỉ là vấn đề nhỏ. Nỗi đau đớn và thống khổ của toàn nhân loại mới là điều không thể chịu nổi. Đức Phật dạy rằng vì có vô minh nên mới đau khổ. Chừng nào chưa chấm dứt khổ đau của chính mình, làm sao tôi có thể mong chấm dứt khổ đau của người khác đây? Tu tập là việc đem sự vô minh tăm tối chuyển thành trí huệ sáng suốt. Vì vậy, Kinh Hoa Nghiêm dạy rằng,

 “Khi vô minh diệt hết thì khổ không còn nữa.”

Nhưng khi vô minh còn đang hiển hiện thì khổ không thể dứt. Vì thế chúng ta cần tu tập.

“Ai bảo ông phải diệt trừ mọi vô minh và tập khí bất thiện? Ai bảo ông hãy nỗ lực khiến cho thế giới hòa bình? Thật vô vọng; điều đó là không thể làm được. Ai bảo ông phải cực nhọc vất vả để giúp mọi người thoát khỏi tất cả khổ đau của họ!?” kẻ hoài nghi lớn tiếng.

Chẳng ai bảo cả.

Trong phẩm “Thập Hạnh” của Kinh Hoa Nghiêm, Bồ tát trả lời câu hỏi nghi vấn như thế này,


“Bồ tát này lại sanh tâm tăng thượng như vậy: nếu tôi chẳng làm cho tất cả chúng sanh trụ nơi đạo vô thượng giải thoát, mà tôi trước thành Vô thượng Bồ Đề thời trái bổn nguyện của tôi, không nên như vậy. Vì thế nên tôi phải làm cho tất cả chúng sanh trước được Vô thượng Bồ Đề vào Vô dư Niết Bàn rồi sau tôi sẽ thành Phật. Vì chẳng phải chúng sanh thỉnh tôi phát tâm, tôi tự vì chúng sanh mà làm bạn chẳng chờ thỉnh…”

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Thập Hạnh thứ 21. (Bồ Tát Chân Thật Hạnh)


Cũng giống như một vị lão tăng rất từ bi có lần nói rằng, “Nếu tôi phải chờ mọi người đến cầu giúp đỡ thì e rằng đã quá muộn rồi”.

 

* * *
 

Vào những dịp giảng Pháp hàng tháng của Hòa Thượng trụ trì ở thành phố Los Angeles, chúng tôi lạy trên lề đường trước chùa Kim Luân. Một chiều thứ Bảy nọ, hai gã giang hồ vạm vỡ dừng lại khảo nghiệm chúng tôi. táo bạo ngả người qua lan can hiên trước để nhìn chúng tôi với ánh mắt khinh bỉ. Cảm giác rõ ràng như thể sắp có chuyện rắc rối xảy ra. Rồi họ ngứa ngáy và chuẩn bị tiến tới chỗ chúng tôi.

Ngay lúc đó, Hòa Thượng trụ trì bước ra từ cửa trước và đi tới chỗ hiên nhà. Hai người đó quay đầu lại, nhìn Ngài và phòng ngự. Nhưng Hòa Thượng cười tươi, nhẹ nhàng lướt tới đứng cùng hai người đàn ông đang ở chỗ lan can như thể họ là những người bạn cũ.

“Xin chào. Các anh tới nghe giảng hả? Các anh có thể vào trong nếu muốn”, Hòa Thượng chào đón họ.

Căng thẳng tan biến. Hai người đàn ông thả lỏng, mỉm cười như những cậu bé trong dáng vẻ dễ thương nhất và do dự không biết có phải là việc đúng đắn nên làm hay không, họ đưa tay ra để bắt tay Ngài. Hòa Thượng bắt tay họ, họ như thể muốn nói, “Chắc chắn rồi, tôi rất sẵn lòng, nhưng Ngài phải cho chúng tôi xem thế nào, vì phong tục này khá mới mẻ với chúng tôi”. Áo khoác da, bàn tay xăm hình, đưa tay mạnh mẽ lắc cánh tay dài y áo màu vàng và những nụ cười rạng rỡ rộn rã lan tỏa xung quanh.

Phật tử không có kẻ thù. Mọi người đến làm phiền chúng tôi chỉ là những người bạn cũ mà chúng tôi đã đối xử tệ trong quá khứ. Không tỏ ra nóng giận hay sợ hãi thì mối ác cảm sẽ có khả năng bị lãng quên; nghiệp xấu sẽ bị vô hiệu hóa bởi lòng từ bi. Kẻ thù từ đâu tới? Từ những ý nghĩ thù hận, giận dữ và gây hại. Khi những tư tưởng ác ý và thù địch này biến mất trong ta, thì kẻ thù sẽ không còn hiện hữu bên ngoài. Chư Bồ Tát vốn tánh không có lòng oán hận nên đi đến đâu cũng không có kẻ thù.



“Bồ Tát này đối với tất cả chúng sanh luôn khởi tâm từ mẫn, tâm lợi ích, tâm đau xót, tâm hoan hỷ, tâm hòa thuận, tâm nhiếp thọ, bỏ hẳn sân hận oán hại nhiệt não, thường nghĩ đến thật hành nhân từ lợi ích”.

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Thập Địa thứ 26.


* * *


Tôi đã từng nghĩ về hạnh phúc là có được thứ mình muốn; bây giờ tôi nhận ra rằng hạnh phúc không phải là mong muốn đạt được. Không ai từng thực sự có được thứ họ muốn và chỉ thỉnh thoảng có được những gì họ cần. Ngay tại nơi mà không tham muốn gì, quý vị sẽ có được cả hai.


“Họ biết ít tham muốn và biết đủ (thiểu dục tri túc”).

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Nhập Pháp Giới thứ 39


Tôi cứ lạc mãi trong bụi trần thế gian, quên mất việc cần giản dị và thuận theo bản tánh của mình. Cố gắng để được nổi tiếng, quyền lực, giỏi giang, bậc nhất, không phải là thuận tự nhiên. Nỗ lực phan duyên cướp đi sức khỏe và tuổi trẻ, đảo lộn tâm trí và lừa dối tâm hồn của chúng ta. Điều gì là thuận tự nhiên? Tự tánh của chúng ta chính là Phật trí, là Đạo.

“Tự tánh là căn bản của mỗi người. Nó không sanh cũng không diệt. Nó là viên mãn. Nó cũng được gọi là ‘Đại Viên Cảnh Trí’ và ‘Diệu Quán Sát Trí’ và ‘Thành Sở Tác Trí’. Tất cả đều là biểu hiện của tự tánh. Nhưng vì không nhận ra nên làm ô uế nó; quý vị quay lưng lại với giác ngộ và kết hơp với bụi trần”.

Hòa Thượng trụ trì nói những lời này ở thành phố Los Angeles với một phòng chật cứng các đệ tử đã mệt mỏi với thế gian và đang tìm cách quay trở về với tự tánh chân thật của chính mình.

“Bằng cách tu tập Pháp thanh tịnh, chúng ta vất bỏ uế trược. Bỏ ác và tu thiện. Điều này có nghĩa là đoạn dục. Khi tham dục đã đoạn, trí huệ mới phát sinh. Điều này chính là Đại đảo ngược (Đại nghịch chuyển). Hãy quay lại! Hãy quay lại. Đừng chạy theo mọi thứ”.


* * *


Con đường này đầy cám dỗ, có cái lôi cuốn, có cái xua đuổi. Sống sót phụ thuộc vào trí huệ và sự chín chắn để không quan tâm (tiếng Trung Hoa là 舍 ‘she’ (xả), nghĩa là “từ bỏ, cho đi”). Trong mọi cảnh giới, dễ chịu hay chán ghét, tốt hay xấu, tùy thuận hay đối nghịch về căn bản là chẳng có cảnh giới gì cả. Nhất tâm bất động là kiên trì và nhập chân Đạo. Bất cứ thứ gì quý vị có thể sở đắc được và bám chấp vào đều là hư giả, thế nên có câu rằng,


“Chưa từng có một pháp (để đắc),
Được vào nơi Pháp tánh”

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Bồ Tát Vấn Minh thứ 10.


Khảo nghiệm tuần này diễn ra dưới hình thức rất nhiều phụ nữ tới cúng dường thực phẩm, chỗ trú ngụ, tắm nước nóng, lái xe đưa đi, bữa ăn tối trong nhà hàng. Mấy người phụ nữ xuất hiện lúc sáng sớm, họ đi vòng quanh, nhìn chằm chằm khi chúng tôi tập Thái Cực quyền. Mấy người đàn ông “bám dính” đi tới, muốn “nói chuyện” và gây áp lực để chúng tôi phá lời nguyện tịnh khẩu – một số thậm chí còn đe dọa nếu chúng tôi không ngồi xuống và nói chuyện huyên thuyên với họ.

Khi Thiện Tài Đồng Tử tới thành Diệu Quang để tìm thầy học Đạo, Thiện Tài Đồng Tử đã gặp được những khung cảnh rất tráng lệ, lộng lẫy và âm thanh vi diệu. Thành này tràn ngập những thứ rất vui thích và lôi cuốn giác quan – bất cứ thứ gì và tất cả mọi thứ đều có thể làm khoái lạc thân và dao động tâm. Thế nhưng,
 

“Thiện Tài Đồng Tử đối với những vật trân bảo đẹp và các nam nữ đến lục trần cảnh giới này đều không mến luyến. Chỉ nhất tâm chánh niệm Pháp cứu cánh. Nhất tâm thích muốn thấy được Thiện Tri Thức.”

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Nhập Pháp Giới thứ 30, quyển 1.
 

Chúng tôi nhận được rất nhiều sức mạnh và hướng dẫn từ đoạn Kinh văn cổ xưa này. Cho dù chuyện gì diễn ra, Kinh luôn ở đó với một câu trả lời, là một chiếc chìa khóa để mở cánh cửa Trí huệ của tâm trí chúng ta. Có câu rằng, Đức Phật không bao giờ ngừng thuyết Kinh Hoa Nghiêm. Đức Phật giảng Kinh ở khắp mọi lúc, mọi nơi, hoàn toàn không bị ngăn trở bởi không gian và thời gian. Tôi có thể tin tưởng điều này. Chắc chắn là phải như vậy. Đó là điều quan trọng nhất, Kinh là thứ được sử dụng nhiều nhất trong số tài sản của chúng tôi. Chúng tôi lái xe về phía trước và để xe đậu ở phía trước đó cả ngày, nhưng chúng chúng tôi mang Kinh theo với chúng tôi trong ba lô đeo trên lưng.
 

 

 

Hằng Thật - Ngày 29 tháng 5 năm 1978

Nới lỏng lời nguyện cứng nhắc, chỉ ăn một chén



Quá nhiều cũng giống như là không đủ. Hãy giữ Trung Đạo trong mọi việc.

Hòa Thượng Tuyên Hóa
 

Đạo không tương ưng với sự ép buộc. Đạo thay đổi một cách dễ dàng, tự nhiên. Mỗi lần dồn ép mình quá mức, tôi đều chuốc lấy phiền não. Với quá nhiều kế hoạch, quá nhiều suy nghĩ, tôi lại tự đẩy mình vào chân tường.
Ví dụ, chúng tôi quan sát rằng thấy rằng ăn ít sẽ tạo được trạng thái thiền nhẹ nhàng, thâm sâu. Tham dục có vẻ thu nhỏ lại khi người ta ăn ít đi. Tôi nhanh chóng bám chấp vào cảnh giới và lập một lời nguyện. Tôi nguyện chỉ ăn một chén thức ăn mỗi ngày – cố định và cứng nhắc. Ăn một lượng thực phẩm cố định là pháp thực hành khổ hạnh có lợi ích đối với một số người. Tôi khám phá ra rằng việc đó không phù hợp với tôi trong chuyến hành hương lễ lạy này.

Đôi khi ăn một lượng cố định có tác dụng tốt đẹp. Nhưng thường thì dẫn đến chướng ngại và không an lạc. Tôi nhận ra mình có thể nhồi nhét một thùng thức ăn vào trong “cái chén co dãn" của tôi và cùng lúc ăn quá độ. Có những ngày, một chén không làm tôi đủ no, kết quả là: căng thẳng và vọng tưởng về thức ăn. Nếu ăn nhiều hơn nhu cầu của mình, thì tôi lại lo lắng. Nếu ăn ít hơn lượng tôi muốn, tôi lại không vui. 

Nhu cầu năng lượng cho mỗi ngày thì khác nhau. Tùy thuận nhân duyên là Đạo. Tôi sống sót được qua kinh nghiệm này và sau vài lời khiển trách rõ ràng của Hòa Thượng, tôi nới lỏng lời nguyện cứng nhắc chỉ ăn một chén trong một ngày của mình.

“Hãy nỗ lực chấm dứt tham muốn. Đừng bám chấp vào những thứ bên ngoài. Hãy nỗ lực dụng công từ trong tâm. Nếu việc tu tập của con lại tạo ra thêm nhiều phiền não, thì con đang tu tập sai đường rồi. Trung Đạo của Đức Phật là đạo không bám chấp. Đừng ép buộc, hãy để nó tự nhiên. Hãy hướng về điều thiện và đừng phiền não.”, Hòa Thượng khuyên nhắc.


 

 

Hằng Triều - Ngày 29 tháng 5 năm 1978

Pháp vị nào hợp với quý vị thì đó là Pháp vị tốt nhất



Xa lộ này là một trường học, nó dạy ta kiên nhẫn và từng bước tiến dần. Có câu rằng,


“Thiên lý chi hành thủy ư túc hạ”

Dịch nghĩa:

Hành trình vạn dặm khởi dưới chân”

Đạo đức Kinh, chương 64 – Thủ vi.


Sự tăng trưởng các bắp thịt trong quá trình bái lạy, các vết chai sạn trên đầu gối, cùi chỏ, bàn tay và trán cũng cần thời gian. Việc tiêu trừ nghiệp xấu và tăng trưởng trí tuệ cũng vậy. Bồ tát Văn Thù đã hỏi Bồ Tát Trí Thủ,

“Phật tử! Trong Phật Pháp, trí huệ là trên tất cả. Cớ sao với các chúng sanh, hoặc Đức Phật ca ngợi sự bố thí, sự trì giới, hoặc ca ngợi sự nhẫn nhục, sự tinh tấn, thiền định, trí huệ, từ bi, hỷ xả..., mà chẳng chỉ dùng một pháp để được giải thoát, thành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác?”

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Bồ Tát Vấn Minh thứ 10.
 

Bồ Tát Trí Thủ đáp rằng, tất cả các bậc Đạo Sư, chư Phật không chỉ nói một pháp để chứng Đạo quả. Tại sao?


“Phật biết tâm chúng sanh,
Tánh phận đều chẳng đồng.
Tùy chỗ họ đáng thọ,
Theo đó mà thuyết pháp”

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Bồ Tát Vấn Minh thứ 10.

Tất cả những người khi nhìn thấy chúng tôi bái lạy, không người nào thấy như nhau. Những câu hỏi, bình luận và phản ứng đều khác nhau như màu tóc hay dấu vân tay của mỗi người. Đó chính là vì Đạo Phật là giáo lý cho hết thảy chúng sanh nên Phật Pháp thì không cố định. Cái gì cố định thì chết; con người thì sống, Chư Phật cũng vậy,

“Vì kẻ tham, khuyên thí,
Vì người lỗi, khen giới
Nhiều sân, thời khuyên nhẫn,
Giải đãi, thời khuyên siêng”

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Bồ Tát Vấn Minh thứ 10.

Phật Pháp cũng giống như đồ ăn. Có người thì thích vị mặn, người khác lại thích chua. Có người thích ngọt, người khác lại thích đắng hoặc cay nóng. Có 84.000 Pháp vị khác nhau và Pháp vị nào phù hợp với quý vị thì đó là Pháp vị tốt nhất.

“Loạn tâm phải tu định,
Ngu si trau trí huệ
Bất nhân, phải từ mẫn
Giận hại, khuyên rèn bi”

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Bồ Tát Vấn Minh thứ 10.

Với những người hay u sầu, buồn phiền thì thọ nhận Pháp âm hỷ lạc; tâm trí cong vạy, rối bời thì nghe về pháp an định.

“Tuần tự tu như vậy,
Lần đủ các Phật Pháp”

Tất cả các Pháp của Phật được thiết lập là để chấm dứt dòng vọng tưởng và phá chấp trước. Tuy các Pháp môn không giống nhau, nhưng cuối cùng tất cả đều nhập vào cùng biển trí huệ, cũng giống như muôn sông đổ về biển và lá rụng về cội. Mỗi người chúng ta nghe một âm thanh của Phật Pháp theo 10.000 cách khác nhau, giống như những ánh trăng rằm phản chiếu vô tận rải rác trên 10.000 mặt nước. Thế nhưng, tất cả cũng đều ở trong một bản giao hưởng du dương hài hòa; không làm chướng ngại lẫn nhau. Đây là diệu nghĩa của:

Tu hành tuần tự không chướng ngại viên dung,

Viên dung không chướng ngại tu hành tuần tự. (1)

Trích Kinh Hoa Nghiêm Sớ Sao - Pháp sư Thanh Lương

Tốt nhất là thâm nhập vào một Pháp môn và không nhảy nhót lòng vòng từ phương pháp này tới phương pháp khác. Đây chẳng khác nào đứng núi này trông núi nọ mà nghĩ rằng cỏ bên đó xanh hơn cỏ bên này. Bí quyết thành tựu là tập trung. Vì thế có câu rằng,

Chuyên nhất thì linh ứng,
Phân chia thì bế tắc.

Nếu quý vị tham lam và cắn miếng to quá không thể nhai được, thì quý vị sẽ bị khó tiêu.

Một đệ tử trẻ, anh Quả Trai (Kuo Dzai), sau một vài tháng làm Phật tử, anh ấy muốn một Pháp môn đặc biệt nhưng lại e ngại không dám hỏi Hòa Thượng. Cuối cùng anh lấy hết can đảm hỏi và liền nhận được câu trả lời. “Con đã có Pháp danh của mình và không ai la mắng con. Đừng tham lam”. (Pháp danh của anh ấy có nghĩa là “Thành quả của việc ăn chay”)



* * *


Trước khi Đức Phật nhập Niết bàn, Ngài A Nan đã hỏi Phật bốn câu. Câu hỏi thứ ba là đệ tử Phật nên sống ở đâu sau khi Phật nhập Niết Bàn. Đức Phật trả lời,

“Khi ta nhập Niết Bàn, tất cả Tỳ kheo, Tỳ kheo Ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di nên trụ trong Tứ Niệm Xứ: đó là quán niệm về thân, thọ, tâm và pháp”. Cái thứ tư là quán pháp vô ngã. Đó là nhà của chúng ta.

Điều có có nghĩa rằng chúng ta không nằm ngoài tất cả những gì đang tồn tại. Sự an lạc trong Đạo của chúng ta là món quà đối với tất cả chúng sanh. Đau khổ và rắc rối đến từ cách chúng ta nuốt lấy và giữ cho riêng mình.

Thầy của chúng ta là Ba la đề mộc xoa, là giới luật. Đạo tràng của chúng ta chính là tâm ý thanh tịnh và ngay thẳng. Công việc của chúng ta là phổ độ hết thảy chúng sanh với lòng từ, bi, hỷ, xả. Chúng ta chẳng tranh đấu với ai cả; chúng ta chẳng truy cầu điều gì. Ít ham muốn (thiểu dục) để sống đơn giản, chúng ta giữ Trung Đạo và xoay ngược ánh sáng để rọi chiếu bên trong dù đang đi, đứng, nằm, hay ngồi.

Chúng ta nương tựa Phật Pháp, quy y Tam Bảo của tự tánh chúng ta: Phật, đó là sự tỉnh giác, Pháp là lẽ đúng và Tăng là thanh tịnh. Chúng ta cống hiến cuộc đời mình để làm Phật sự.

Gặp sự việc, hiểu đạo lý.
Hiểu đạo lý, áp dụng vào sự việc. (2)

Chúng ta là Tăng đoàn: hòa hợp, thường trụ.

 

Ghi chú:

(1) Nguyên văn Hoa ngữ:

行布不礙圓融,

圓融不礙行布

Hành bố bất ngại viên dung,

Viên dung bất ngại hành bố.

 

Tu hành tuần tự không ngại viên dung,

Viên dung không ngại tu hành tuần tự.

 

Trong Kinh Hoa Nghiêm Thiển Thích, Phẩm Thập Hồi Hướng phần thứ 7, http://www.drbachinese.org/online_reading/sutra_explanation/Ava/Ava_Vol25-7.htm , Hòa Thượng Tuyên Hóa giảng:

行布就是按次第來修行,也就是一步一步修到佛位。先從十信開始修行,經過十住、十行、十迴向、十地、等覺而到妙覺(佛位)。後三十八句,令成圓融,因圓果滿。圓融就是菩薩在初發心時,便成正覺。也就是在初信地位發菩提心,即到妙覺地位。為什麼會這樣?因為在因地的時候,已將十信等五十一個地位,修成圓滿,所以到果位時,一證便成佛。因此,行布不礙圓融,圓融不礙行布。此二無礙,為迴向意。

Hành bố tựu thị án thứ đệ lai tu hành,dã tựu thị nhất bộ nhất bộ tu đáo Phật vị。Tiên tòng thập tín khai thủy tu hành,kinh quá thập trụ, thập hạnh, thập hồi hướng, thập địa, đẳng giác nhi đáo diệu giác(phật vị)。 Hậu tam thập bát cú,lệnh thành viên dung,nhân viên quả mãn。Viên dung tựu thị Bồ tát tại sơ phát tâm thì,tiện thành chánh giác。Dã tựu thị tại sơ tín địa vị phát bồ đề tâm,tức đáo diệu giác địa vị。Vi thập ma hội giá dạng?Nhân vi tại nhân địa đích thì hậu,dĩ tương thập tín đẳng ngũ thập nhất cá địa vị,tu thành viên mãn,sở dĩ đáo quả vị thì,nhất chứng tiện thành Phật。Nhân thử,hành bố bất ngại viên dung,viên dung bất ngại hành bố。Thử nhị vô ngại vi hồi hướng ý。

Tu hành tuần tự tức là tu hành theo tuần tự thứ lớp, tức cũng là từng bước từng bước tu đến quả vị Phật. Trước hết bắt đầu tu Thập Tín, trải qua Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa, Đẳng Giác mà đến Diệu Giác (quả vị Phật). Ba mươi tám câu sau, khiến thành viên dung, nhân viên quả mãn. Viên dung tức là ngay lúc Bồ Tát mới phát tâm ban đầu, liền thành Chánh Giác. Tức cũng là lúc mới có lòng tin ban đầu phát tâm bồ đề, liền đến ngay quả vị Diệu Giác. Tại sao lại được như vậy ? Vì lúc tại nhân địa, đã tu thành viên mãn Thập Tín và năm mươi mốt quả vị, cho nên khi đến quả vị, thì liền chứng ngay thành Phật. Do đó, tu hành tuần tự không chướng ngại viên dung, viên dung không chướng ngại tu hành tuần tự. Hai vô chướng ngại nầy là ý nghĩa của hồi hướng.

(2) Xem thêm https://www.dharmasite.net/thiluan.htm

 

 


Hằng Thật - Ngày 30 tháng 5 năm 1978

Nhân vật Ratso Rizzo tại bữa tiệc buffet tự lấy thức ăn
 

Tôi nhớ lại một cảnh trong phim “Midnight Cowboy”, tạm dịch (Chàng cao bồi nửa đêm). Nhân vật Ratso Rizzo, vẻ hăm hở, chen lấn, anh ta tới một bữa buffet tự lấy thức ăn ở làng Greenwich. Anh nhét đầy miệng thức ăn. Anh ta không thể ăn đủ no. Anh ta vơ vét gà tây, phô mai và xúc xích salami đầy ắp hai tay. Anh ta nhìn quanh như tên trộm rồi nhét thức ăn vào túi áo khoác. Một người phụ nữ đã say kêu to, “Này anh, đồ miễn phí mà. Ăn hết nếu anh muốn. Anh không cần phải ăn trộm đâu”. (1)

Trong lúc ngồi thiền, tôi bắt gặp được tâm trí mình đang hành xử kiểu giống Ratso Rizzo, nhét đầy vọng tưởng vào túi áo của tâm.

“Tóm lại, phải nhất tâm. Đừng sanh niệm thứ hai”.
Hòa Thượng Tuyên Hóa.

Tâm trí vốn dĩ thanh tịnh, tĩnh lặng và có thể phản chiếu tất cả mọi thứ. Nhưng khi tham ái dấy khởi và “niệm thứ hai” sanh ra; vọng tưởng về bản ngã, về tôi và của tôi. Niệm thứ hai là những suy nghĩ bất an chúng làm xao động tâm định tĩnh. Trong giờ thiền đêm nay, mọi niệm khởi đều tạo ra tiếng vang.

Những ký ức, ước muốn, sự chối bỏ, các kế hoạch và cả hối tiếc đều trồi lên, sụt xuống không ngừng tựa như sóng biển. Lời thì thầm của vọng tâm lấy cắp năng lượng giống như cách mà Ratso lấy trộm xúc xích ysalami và phô mai. Tu tập là vì mục đích giữ tâm điều phục và tĩnh lặng.

“Nhiếp khắp pháp hữu vi, vô vi
Chẳng ở trong đó sanh vọng niệm”

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Thập Hồi Hướng thứ 25

 

 

Ghi chú:

(1) “Midnight Cowboy” https://www.youtube.com/watch?v=j0cw4wDk7B8 5:20

 

 

 

Hằng Thật • 31 tháng 5 năm 1978

Tôi làm việc trên đường sắt


“Bài Ca Thoại Đầu”

Tôi luôn dụng công tham Thoại Đầu,
Suốt cả ngày dài,
Tôi luôn dụng công tham Thoại Đầu,
Phiền não trôi đi,
Ai người niệm Phật?
Sắc tức là Không, Không tức là Sắc,
Dừng ngay niệm lại khi niệm vừa khởi,
Thì không còn tái sanh.

(Phổ theo giai điệu của bài hát “I’ve been Working on the Railroad - Tôi làm việc trên đường sắt)

 

Ghi chú:

(1) Bài hát: I’ve been Working on the Railroad - Dân ca Hoa Kỳ https://www.youtube.com/watch?v=4a6ECpqLGc8

 


 

Hằng Thật - Ngày 1 tháng 6 năm 1978

Lời mỹ miều thường ẩn dấu con dao găm

 

Phật đến không vui

Quỷ tới không giận

Hòa Thượng nói những lời này trong ngày đầu tiên của chuyến hành hương khi chúng tôi rời Kim Luân Tự. Những điều ấy chỉ có ý nghĩa khi chúng tôi tiến bộ đi vào tâm trí của mình. Lúc đầu, thỉnh thoảng những lời tán thán chúng tôi nghe có vị ngọt ngào còn những lời trách mắng thì có vị cay đắng. Nhưng bây giờ thì ngược lại. Sự chỉ trích quyết liệt thường chỉ ra những lỗi lầm tàng ẩn; đó là một món quà không mong đợi nếu như bản ngã nhu nhuyến có thể chịu đựng được. Những lời ngọt ngào và khen ngợi luôn thổi phồng bản thân. Quả báo cho sự tự hào và sự tự thỏa mãn bản thân thì khốc liệt và cay đắng.

Nghe lời tán dương là thuốc độc. Những lời mỹ miều thường ẩn dấu con dao găm. Kinh Bát Nhã cảnh báo các Bồ Tát phải phớt lờ những âm thanh từ hư không. Thấy chư Phật hiện ra trước mắt để ban cho những lời tiên đoán (thọ ký) hoặc là tán thán không ngớt thì thường là ma quỷ trá hình. Chúng cố gắng thổi phồng sự kiêu hãnh của hành giả rồi khiến họ thất bại. Hoặc những sự xuất hiện ấy có thể đúng là Bồ Tát hoặc chư Thiên tới để thử nghiệm định lực và sự chân thành của hành giả. Người ấy còn cái mặt để giữ thể diện không? Những lời phỉ báng có gây nhức nhối và những lời êm đẹp có làm hài lòng hành giả chăng? Nếu thế thì người ấy vẫn còn nhiều việc phải làm trước khi công phu của mình trưởng thành.

“Vì đối với chúng sanh, tôi trọn không mong, không cầu gì cả, … Tôi chỉ muốn độ thoát chúng sanh, khiến họ được thanh tịnh giải thoát vĩnh viễn…”

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Thập Hạnh thứ 21. Hạnh thứ tám – Nan Đắc Hạnh

 

 

Hằng Triều • Ngày 1 tháng 6 năm 1978

Hãy cẩn thận đừng tin vào tâm trí của quý vị

 

Đạo tăng một phân,

Ma tăng một trượng…

Nỗ lực tiết chế sự ích kỷ và sửa đổi những thói quen xấu thì gặp phải sự kháng cự cứng cỏi. Đêm qua, tôi có một giấc mơ thật nặng nề, rất nhiều những cám dỗ của đủ mọi loại ham muốn thế gian, vài giọng nói trong khi tôi đang lạy bảo tôi hãy từ bỏ, rằng tôi không có đủ những điều cần có để trở thành hành giả tu Đạo và thành một Tăng sĩ.

Tuy nhiên, trong giấc mơ, Hòa Thượng Trụ Trì và Đại Sư Huệ Năng đã xuất hiện để khuyến khích tôi cứ kiên trì tại đó. “Hãy giữ Bồ Đề tâm, tu hành sâu thẳm bên trong nơi chẳng có ngôn từ nào và không ai có thể nhìn thấy hay biết được. Đừng động tâm!”, họ nói như vậy, nghiêm khắc và rõ ràng.

Có một nơi ở bên trong không thể hủy hoại (bất hoại) và bất động. Không ma quỷ nào có thể chạm tới và chỉ có niềm tin mới vào được.

“Nếu thường tin phụng thanh tịnh Tăng

Thời được tín tâm bất thối chuyển

Nếu được tín tâm bất thối chuyển

Người này tín lực không dao động”

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Hiền Thủ thứ 12

 

Tĩnh mịch và yên lặng, sóng biển đang gầm rít ở hàng trăm bộ phía dưới; lạy và suy ngẫm xem mình đang không tồn tại như thế nào.

Một người cha trông có vẻ hoàn toàn Mỹ và con trai đi cắm trại, họ nhón chân đi tới để cúng dường. Những nụ cười thật sâu sắc, không có câu hỏi nào. Đơn giản là họ có một khoảng thời gian tốt đẹp với nhau và bằng cách nào đó, những gì họ thấy trong việc lễ lạy lại là một phần của điều tốt đẹp đó.

Vài phút sau, một chiếc xe lao tới với tốc độ nhanh, tiếng bánh xe trượt rít lên để thắng xe dừng lại ngay đằng sau chúng tôi. Một người đàn ông bấn loạn bước đến buông ra những tiếng gào thét điên loạn, ghê rợn và rú lên điên dại. Chúng tôi không quay lại đễ nhìn, và chẳng bao lâu sau ông ta bỏ đi.

“…Các Phật tử kia biết như vậy

Tất cả pháp tánh thường rỗng lặng

Không có một pháp hay tạo tác

Đồng với Chư Phật ngộ vô ngã…”

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Thập Hồi Hướng thứ 25.

* * *

"Vượt qua: Vòng thứ 3"

"Vị hoàng đế" lạy một mạch sáng nay và cố nhìn vào câu tham thoại đầu “ai”. Vị ấy không thể tìm được cái “ai” đó ở đâu cả, nó luân phiên đưa tới một sự bình an thâm sâu trong tâm trí và sự lo sợ hoang mang. Muốn vượt lên nhưng lại chẳng có gì để leo lên; muốn quay trở lại nhưng mọi cây cầu đều bị đốt cả rồi. “Thật chán quá!”, cuối cùng vị ấy nói với vẻ tức giận, nhưng dù tự nó lần lượt biểu hiện như thế nào đi nữa, thì tất cả đột nhiên dường như trở nên trống rỗng và vô nghĩa. Vì thế, vị ấy miễn cưỡng thúc tới trước, vượt qua. Thật không thể tin tưởng được một chút ý niệm nào.

“Đức Phật dạy: phải thận trọng, chớ tin ý ông, ý của ông không thể tin được, …Chứng được A La Hán rồi mới có thể tin được ý ông”

Kinh 42 Chương. Chương 28. Đừng Theo “Con Ngựa” Ý Niệm.

* * *

Tôi cúi xuống lạy quanh một khúc quẹo và gặp một con rắn lớn đang nằm ngay phía trước mặt mình. Nó không hề di chuyển hay có chút kinh ngạc nào, nó chỉ duỗi dài người và nhìn chằm chặp vào tôi. Có một sự hiện diện kỳ lạ và bất thường quanh con rắn. Tôi nhìn vào đôi mắt nó và đồng thời tôi có cảm giác khó chịu ngay khi tôi nhận ra rằng mình không nên nhìn như vậy. Quá trễ rồi.

 

 

 

Hằng Thật - Ngày 2 tháng 6 năm 1978

Họ đang đợi chúng ta ở thành phố San Luis Obispo

 

“… mỗi mười phương đều có vô số thế giới nhiều như bụi trần của vạn nước Phật …” (1)

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Thập Hạnh thứ 21

Bậc Thánh hiền có thể quán sát hàng triệu và hàng tỷ thế giới đang tồn tại đồng thời trong không gian.

Nhưng dù không có thần thông, thì chúng ta cũng có thể vào được vô số thế giới ở bên trong thế giới này. Vùng ven biển đầy sương mù sáng nay hoang vắng như nấm mồ. Dưới đầu gối của tôi, một mảnh đá phiến đất sét kêu lạch cạch trên mặt đường nhựa. Trên đầu, con chim ưng đói bụng kêu gào. Sương mù ngăn bặt âm thanh. Chúng tôi lạy đơn độc trong một thế giới rỗng lặng. Đột nhiên, một chiếc xe hơi màu xám lướt tới, dừng lại bên lề đường. Một Sa Di Ni trong chiếc áo giới màu nâu nhạt cùng với hai nữ cư sĩ trong chiếc áo tràng đen cất tiếng chào trước đôi mắt kinh ngạc của tôi khi tôi đứng dậy sau một cái lạy. Với vẻ mặt rạng ngời, họ nói.

“Sư Phụ mang đại chúng đi bằng xe buýt từ Vạn Phật Thành. Họ đang đợi chúng ta ở thành phố San Luis Obispo!”

Chúng tôi ngay lập tức được di chuyển tới một thế giới trên những bánh xe, chúng tôi lướt nhanh qua những cảnh vật đặc thù bên đường mà chúng tôi đã từng đi qua thật chậm với nỗ lực đều đặn mấy tuần trước.

Chúng tôi quay trở lại xuống dưới con đường hướng về phía nam rồi dừng lại ở trạm kiểm lâm Salmon Creek của khu vực Ranger Berry. Những căn nhà lều gỗ (cabins) ngăn nắp bạc màu với những bồn hoa cắt tỉa gọn gàng tạo một sự tương phản rõ ràng với thế giới hoang vu như mặt trăng của đá và thủy triều mà chúng tôi vừa rời đi. Những nụ cười thoải mái và trò chuyện vui vẻ của những người kiểm lâm và mấy cư sĩ vang lên trong đôi tai tôi đã quen thuộc với sóng biển và yên lặng. Các thế giới bên trong các thế giới.

“… có số Chư Phật nhiều như bụi trần của vạn nước Phật …" (2)

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Thập Hạnh thứ 21.

 

Ghi chú:

(1) và (2) Nguyên văn Hoa ngữ:

[0102b25] 十方各過萬佛剎微塵數世界外,有萬佛剎微塵數諸佛 http://tripitaka.cbeta.org/en/T10n0279_019

Thập phương các quá vạn phật sát vi trần số thế giới ngoại,hữu vạn phật sát vi trần số chư Phật.

 

 

Hằng Triều • Ngày 2 tháng 6 năm 1978

Hãy nhanh lên! Đã đến giờ công phu chiều!

 

"Những giấc mơ rắn"

Những cơn ác mộng kinh hoàng đêm qua. Ma và quỷ biến hình thành những con rắn có sức mạnh ghê gớm, chúng nhiễu loạn và rượt đuổi tôi. Con rắn có thể biến đổi kích cỡ từ lớn hơn ngôi nhà xuống nhỏ xíu vừa đủ lọt qua kẽ hở của một cửa sổ. Nó biến mất ở một nơi này và ngay lập tức xuất hiện ở một chỗ khác. Tôi không thể chế ngự và đánh bại nó. Con rắn quỷ quyệt ấy không thể bị tiêu diệt và miễn nhiễm thương tật. Nó nhấn chìm tôi, tạo ra một cảm giác nguy hiểm, mất kiểm soát và sợ hãi ở khắp mọi nơi.

Nó hiện ra sự chết chóc và gây hại tới gia đình và bạn bè tôi đồng thời nó cuộn tròn khóa mình quanh tôi khiến tôi không thể đi đến giúp họ. Cùng lúc đó, tiếng cười ma quái và tiếng thở nặng nề choán đầy không gian.

Ngay lúc tôi không thể chống cự được con rắn, Sư Phụ và đại chúng xuất hiện trong giấc mơ. Họ ngập tràn trong ánh sáng, nụ cười lành mạnh, năng lượng chánh thiện. Họ đi quanh tôi thành một vòng tròn cho tới khi tất cả sự u ám của con rắn biến mất. Tôi thức dậy cảm giác như vừa trải qua một cơn bệnh lâu ngày; bị chế phục, yếu đuối và im bặt.

Một câu trích dẫn trong Kinh Hoa Nghiêm mà chúng tôi đọc đêm qua còn rõ rang trong tâm trí tôi.

“Nguyện chúng sanh từ nơi trí cảnh Như Lai mà sanh, những người điều thuận đều theo chung quanh…” (1)

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Thập Hồi Hướng thứ 25.

 

Sáng nay thật bất ngờ, trong khi lạy, một chiếc xe dừng lại, có Sa di ni Quả Kính (2), bà Quả Ngộ (3) và Quả Vân. “Đi thôi. Sư Phụ và một số đông người đang tới đây trong chiếc xe buýt. Chúng tôi đến để đưa các thầy tới chỗ hẹn ở thành phố San Luis!”

Ở thành phố San Luis, trong một công viên nhỏ bên cạnh di tích trụ sở truyền giáo, Hòa Thượng và tất cả các bạn đạo của chúng tôi bước ra từ một chiếc xe buýt màu vàng. Họ sáng rỡ hơn cả chiếc xe buýt và đang hát bài hát mà Hòa Thượng viết cho chúng tôi bằng tiếng Anh trên đường đi xuống đây. Cả chúng hội cùng ngẫu hứng hòa nhịp đứng hát bài hát, tạo thành một buổi hòa nhạc ngoài trời bên cạnh chiếc xe buýt tại khu phố San Luis, nâng cao tinh thần của hai nhà sư mệt mỏi vì đường sá này và một số người dân địa phương đã vô tình chứng kiến được dịp vui vẻ này.

Chúng tôi leo lên chiếc xe buýt rồng màu vàng, hòa vào giữa những bài Pháp thoại sống động, những tiếng cười, bài hát, trách cứ nhẹ nhàng và sự thân thuộc sâu xa, rồi đi về hướng nam tới Chùa Kim Luân ở thành phố Los Angeles. Khi chúng tôi đi qua vùng Santa Barbara, Hòa Thượng nói to, “Đến giờ công phu chiều. Hãy nhanh lên! Dù có đi đâu thì chúng ta cũng tu tập”. Ai đó ở phía sau xe buýt gõ vào chiếc vỏ chai làm thành tiếng mõ, những âm thanh của bài Sám hối 88 vị Phật trôi qua những chiếc cửa sổ xe buýt trải dọc con đường chính của thành phố Santa Barbara trong giờ cao điểm.

Khi xe lăn bánh hướng về phía thành phố Los Angeles, trong một khoảng khắc yên lặng nhìn ra ngoài cửa, đoạn Kinh trích dẫn quay trở lại và tôi nhận ra, để có thể diễn tả bằng vài lời là giấc mơ đêm qua của tôi không hề là một giấc mơ chút nào cả.

“Nguyện chúng sanh từ nơi trí cảnh Như Lai mà sanh, những người điều thuận đều theo chung quanh…” (4)

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Thập Hồi Hướng thứ 25.

 

Ghi chú:

(1) và (4) Nguyên văn Hoa ngữ:

 [0139c29] ... 願一切眾生從於如來智境而生,諸調順人所共圍遶 http://tripitaka.cbeta.org/T10n0279_026

Nguyện nhất thiết chúng sanh tòng ư như lai trí cảnh nhi sanh, chư điều thuận nhân sở cộng vi nhiễu
 

(2) Sa di ni Quả Kính 果徑,

(3) Quả Ngộ là bà Phương Quả Ngộ 方果悟 http://www.dharmasite.net/HoangPhapTaiVietNam_1974.htm

 

 

Hằng Thật - Ngày 3 tháng 6 năm 1978

Lành thay, lành thay!



Trên đường xe buýt tới thành phố Los Angeles, Hòa Thượng đã viết một bài hát cho chúng tôi. Ngài sáng tác lời bài hát bằng tiếng Anh. Khi chiếc xe buýt của Vạn Phật Thánh Thành tới công viên Mission của thành phố San Luis Obispo, hai nhà sư trẻ đang lễ lạy đột nhiên được bao quanh bởi ánh sáng và âm nhạc khi đại chúng hát:


Lành thay, lành thay! Hai hành giả!
Vạn Phật Thánh Thành chào đón các thầy.
Hãy cẩn thận trong mọi việc làm,
Mỗi bước thầy đi, hãy chân thành.
Vạn Phật Thánh Thành ngay gần chúng ta.
Hãy tinh tấn! Tinh tấn nữa,
Bằng kiên nhẫn. Hãy kiên nhẫn! Đừng nghỉ ngơi.
Bước cuối cùng - là thành công đầu tiên.
Vạn Phật Thánh Thành chào đón các thầy.
Mười ngàn vị Phật cũng ở bên các thầy.

 

 

Hằng Châu - Ngày 3-4 tháng 6 năm 1978

Nó ở đó mà như không ở đó


Tham dự các buổi giảng của Hòa Thượng tại chùa Kim Luân. Lạy bên ngoài trời và ngủ trong nhà đậu xe sau chùa cùng với mấy con nhện góa phụ đen “ngoan ngoãn” và một bộ máy xe Chevy đã bị tháo rời.

Vài ghi chép. Không phỏng vấn hay chỉ dẫn đặc biệt. Nhìn bề ngoài thì cuộc viếng thăm dường như không có gì xảy ra, nhưng nó lại ẩn chứa những chuyển biến thầm lặng. Phật Pháp là như vậy. Những hạt giống giáo pháp thường được gieo mầm vào tâm địa một cách âm thầm và không cảm nhận được. Rồi giống như những vật bảo tồn qua thời gian dài, chúng đâm chồi và nở hoa trong tương lai.

Ví dụ, trước khi Hòa Thượng thuyết Pháp, một ánh sáng tinh khiết có màu trắng tím không thể nghĩ bàn rửa sạch căn phòng, tràn ngập không gian và gột rửa những người nghe. Một cảm giác về một điều gì đó sắp xảy ra giống như trước khi có cơn lốc xoáy, động đất hay trước khi sét đánh, chỉ khác là không có nguy hiểm xảy ra và người nghe tiếp cận với niềm hân hoan và sự mặc khải (1). Mọi người ngồi đến sát mép của chiếc ghế và tâm trí nôn nao, mong đợi về một vài sự trao đổi năng lượng nào đó. Trong suốt buổi giảng, người cứng cỏi hóa mềm mỏng, người già trẻ lại và mọi người bớt đi ưu phiền, nếp nhăn và bóng tối. Sau đó, mọi người như thể đang say sưa, hết sức phấn chấn với dòng điện thuần thiện làm họ sáng lên với ánh sáng của sự bình an và thiện lành.

“Như Lai đại trí quang
Thanh tịnh khắp thế gian
Thế gian đã thanh tịnh
Khai thị các Phật Pháp”

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Đâu Suất Kệ Tán Thán thứ 24.
 

Hoặc có thể việc ấy giống như khi Thiện Tài đồng tử thăm Ưu bà di tên là Bất Động ở Vương đô An Trụ.

“… Vào trong nhà thấy ánh sáng màu chân kim chiếu sáng khắp nơi, người gặp ánh sáng này thời thân tâm mát mẻ. Ánh sáng chiếu đến thân, Thiện Tài liền chứng được năm trăm môn tam muội….
Do được năm trăm tam muội nên thân tâm nhu nhuyến như thai bảy ngày”

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Nhập Pháp Giới thứ 39.
 

Tôi không biết chính xác điều ấy như thế nào. Tâm trí khoa học thiển cận của tôi không thể khởi lên để nắm bắt những điều thuộc về tâm linh. Ánh sáng ở ngay đó mà như không ở đó; nó không ở đó mà lại đang ở đó. Tôi đang hiểu ra được điều gì là chân thật thì vô hình còn những gì hữu hình thì lại không chân thật.

Kinh chỉ ra rõ ràng rằng không thể nhập vào các cảnh giới trí tuệ bằng cách nhìn vào các sắc tướng hay tìm kiếm trong âm thanh. Cũng không thể đạt được thông qua ý nghĩ.

“Đạo lớn của Như Lai
Vi diệu khó biết được
Lìa niệm chẳng phải niệm
Cầu thấy chẳng thể được”

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Thập Địa thứ 26.


Đó là một cuối tuần như thế: Chẳng có gì mà quý vị có thể chỉ ra hay chạm đến được, nhưng có lẽ quý vị sẽ như một khúc gỗ nếu nói rằng chẳng có gì đã xảy ra.


 

Ghi chú:

(1) Mặc khải: (chữ Hán: 默啟) có nghĩa là mở ra cho biết một điều thiêng liêng mầu nhiệm trong sự tĩnh lặng mà lý trí con người không thể giải thích được.
Nguồn: https://vi.wikipedia.org/wiki

 

 

Hằng Thật - Ngày 3-6 tháng 6 năm 1978

Có da mặt dày như vỏ lốp xe hơi

 

"Kim Luân Pháp Tạng"

1. Hòa Thượng cho chúng tôi một công thức để chuyển con người thành những hành giả:

a) Hãy có da mặt dày như vỏ lốp xe hơi. Da mặt dày đến nỗi không gì có thể chọc thủng hoặc làm mất không khí bên trong.

b) Hãy có thân hình của người ăn xin. Người này chẳng có gì khiến bất cứ ai có thể quan tâm hay quý mến được. Ăn để sống, đừng sống để ăn.

c) Hãy có cái bụng như của một người Tể tướng. Có thể nuốt chửng những tàu biển lớn hay cả đại đương. Cả những lời lăng mạ hay tán dương, vận may hay thảm họa đều tan biến trong đó, không bao giờ có một biểu hiện cảm xúc hay quan điểm nào.

d) Hãy có một trái tim giống như của một vị Phật. Trái tim không bao giờ giận dữ mà luôn biểu lộ từ bi, hoan hỉ và bố thí cho tất cả chúng sinh.

2. “Điều khó từ bỏ nhất là phiền não của chúng ta. Quý vị có thể cho ai sự đau khổ của mình? Hãy gởi chúng vào hư không. Bằng cách giữ chặt lấy những sợ hãi và nghi ngờ, quý vị cản trở chính mình và ngăn cản ánh sáng của người khác chiếu tới quý vị. Bồ tát bỏ đi mọi nghi ngờ, sợ hãi và phiền não. Rồi họ tiến tới mục tiêu mà họ tới đây”

3. "Hãy mời thần hạnh phúc ngụ trong trái tim quý vị. Khi quý vị đạt tới chỗ chẳng tìm cầu gì, thì sẽ không ưu phiền. Đừng tìm kiếm sự giác ngộ. Đừng tìm cầu an lạc. Hãy lạy trong hư không; ‘Cỡi mây và lướt sương’. Khi lạy, thì đừng có bản ngã. Không có bản ngã thì còn ai có thể khai ngộ được đây? Không có bản ngã, thì có ai không bình an? Quý vị có hiểu không?”

4. "Điều nói ra là Pháp; điều thực hành là Đạo. Nói cho hay, nói cho diệu, nhưng nếu không thật sự tu hành, thì vẫn chưa phải là Đạo.”

Tôi nghe Hòa thượng nói trực tiếp những điều đó trong cuối tuần này. Nếu quý vị muốn giả dối, thì hãy đeo chiếc mặt nạ giả dối vào, và che đậy bộ mặt chân thực của mình. Nhưng đệ tử Phật thì không được nói dối, không được đeo những chiếc mặt nạ giả dối. Những đệ tử chân chính là những hành giả, chứ không phải là những kẻ giả dối.

5. Bà Trần: "Sư phụ nói với con rằng Ngài luôn ở bên các thầy, không bao giờ rời các thầy. Con nói với Hòa Thượng rằng hai thầy tôn kính Ngài thâm sâu. Hòa Thượng cười và nói, ‘Ồ, ý con là họ không trách móc ta chứ gì?'"

6. Chó sói hú lên khắp ba phía quanh chỗ để xe của Đạo tràng nam Pasadena của chúng tôi. Những chú chó nhà ở lân cận kích động, điên cuồng sủa. Chó sói ở thành phố Los Angeles sao? Đúng vậy. Có một lằn ranh rất mong manh, thưa thớt, mỏng như tơ giữa văn minh và hoang dã, giữa sự sống và cái chết. Chúng ta đã quên mất. Những con chó sói nhắc nhở chúng ta.

7. Người cư sĩ nói với đại chúng tại Chùa Kim Luân:

“Chùa của chúng ta không phải nơi để ném tiền vào chư Phật, để đốt cả bó hương và bói toán. Sư Phụ dạy chúng ta làm thế nào để tu Đạo và chấm dứt sanh tử. Đây không chỉ là điều đặc biệt ở vùng Los Angeles này thôi mà còn rất hiếm hoi trên toàn thế giới này”.

Một bài giảng Pháp tại nam Pasadena, Califonia, USA. Không gian ngập tràn một sự hứng khởi khi chúng tôi lắng nghe những đạo lý sống động từ trí huệ cổ xưa đang hiện thực trong cuộc sống này, sống động và đầy ý nghĩa.

Quý vị có thể thấy những chiếc bánh răng cưa của guồng máy đang chuyển động khi những sự thật nửa quên lãng, nửa thấu hiểu của di sản văn hóa lâu đời nhất và tối cao nhất của hành tinh này, kết nối với tâm điểm của kinh nghiệm hàng ngày. Các đạo lý của lòng hiếu thảo, đạo đức khi tu Đạo, sự vô ngã và trí huệ, một lần nữa tươi mới và sống động, vượt lên Đông Tây, thông suốt cả cổ kim.

8. Một Pháp sư bạn đạo đã nói những lời từ tâm can:

"Mỗi lần buông bỏ ý muốn kiểm soát mọi việc và thuận theo ý nguyện của chư Phật, chư Bồ-tát, tôi lại không khỏi rơi vài giọt nước mắt. Nhưng nếu tôi chưa thể buông bỏ khát vọng đứng nhất, khát vọng làm người lãnh đạo, thì tôi vẫn chưa thực sự biết thế nào là sống.”

“Hết lòng phụng sự tất cả chúng sinh cũng chính là thuận theo tâm nguyện của chư Phật và chư Bồ-tát. Hai điều ấy vốn không hai.”

9. "Đi từng bước một theo con đường đúng đắn. Đừng mong cầu.

Đừng tìm kiếm sự tiến triển, không mong cầu sự giác ngộ, đừng tìm kiếm Phật quả, đừng mong cầu gì cả. Quý vị sẽ chắc chắn thành Phật”.

10. "Nếu tâm còn sôi sục thì sẽ không thành. Trong trạng thái thanh tịnh, tĩnh lặng tuyệt đối, cảnh giới lý tưởng sẽ tự nhiên hiển lộ, chẳng cần dụng công. Dẫu mong cầu một viên ngọc quý nhất, đó vẫn là tham. Quý vị hãy lắng tâm xuống, và đón nhận những gì đến với mình.”

11. "Làm thế nào để quý vị tu phước và trí tuệ? Đừng chạy theo lợi ích của riêng mình. Như thế phước sẽ đến với quý vị, hãy bố thí cho mọi người. Đó là cách mà quý vị sẽ không bao giờ vị vấp ngã hay thối chuyển. Nếu quý vị thực sự chân thành muốn mang lại lợi ích cho toàn thế giới, thì quý vị sẽ không bao giờ bị vấp ngã. Tinh tấn sẽ đưa quý vị khỏi sự lười biếng và giải đãi. Tinh tấn ở cả thân và tâm. Nếu thân của quý vị lạy Phật còn tâm thì không, điều này không phải là chân tinh tấn”.

12. "Giác ngộ là nhìn thấu một việc tới điểm tận cùng của nó.

Giác ngộ không phải là bực bội với trời hay cản trở người khác. Tự chịu trách nhiệm và đừng bao giờ đổ lỗi người khác cho dù có việc gì xảy ra đi nữa”.
 

 

Hằng Triều - Ngày 5 tháng 6 năm 1978

Lần này mình chết chắc rồi!


“Bao nhiêu số vi trần trong khắp cõi Phật cùng hư không Pháp giới mười phương ba đời, trong mỗi cực vi trần đều có chư Phật như số cực vi trong tất cả thế giới, nơi mỗi đức Phật có vô số Bồ tát vây quanh nhóm họp. Tôi dùng sức của hạnh nguyện của Ngài Phổ Hiền mà khởi lòng tín giải thâm sâu và hiện tiền tri kiến …”

Kinh Hoa Nghiêm. Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện thứ 40.
 

Trên đường lái xe từ chùa Kim Luân trở lại Big Sur, tôi trải nghiệm một cảnh giới tìm thấy "công tắc mở ánh sáng" vào mặt trời bao la ở bên trong. Ánh sáng mặt trời phả ra cuồn cuộn và lan tỏa, xua tan tất cả bóng tối trong tâm trí tôi và dường như bừng sáng bất tận, không ngừng.

Việc này diễn ra chín hay mười lần và liền sau mỗi lần ấy và một sự hiểu biết và cái thấy vượt mọi ngôn từ. Trọng tâm của điều ấy là: Khi hành giả thanh tịnh và nhất tâm tới cực điểm, thì cảm ứng đạo giao.

Hành giả sẽ trở thành một chiếc bè Pháp có thể dung nạp và đón nhận, hòa hợp và nhìn thấy tất cả chư Phật, Bồ tát, các bậc Thánh Hiền của tất cả thời gian và không gian. Không trong, không ngoài, không lớn không nhỏ, không ranh giới hay ngằn mé. Đúng như Kinh mô tả - Chư Phật và Bồ Tát số nhiều như vi trần trong mỗi hạt bụi tràn ngập khắp vũ trụ; thế giới nhiều như số vi trần nhập vào trong những lỗ chân lông. Hơn thế nữa, còn có sự hòa hợp của các tâm trí và tất cả các cảnh giới giác ngộ cùng thần lực của tất cả các Chư Phật và Bồ Tát này đồng thời hiển hiện; có thể thấy được trong tâm trí mình.

Sự thấu hiểu tiếp nối nhau từng lớp mở ra quá phong phú, quá sâu sắc và vi tế để ghi nhớ hay nắm bắt được. Có một thông điệp thế này:

“Tất cả những gì cần làm là thanh tịnh bản thân khỏi tham lam, giận dữ và ngu si; quét sạch tất cả các pháp, lìa mọi sắc tướng: hãy thực sự chân thành và ngay thẳng rồi tất cả những bậc đã giác ngộ này sẽ ngay lập tức hiển hiện trước quý vị. Các ngài luôn luôn ở đó chờ đợi quý vị buông bỏ mọi thứ và trong từng ý niệm phát Bồ Đề Tâm. Các ngài đang chờ đợi quý vị. Quý vị còn chờ gì nữa?"

Tôi cảm thấy sự hòa quyện của niềm hoan hỷ bất tận, không thể diễn tả nổi; sự phấn khích cùng với nỗi xấu hổ vô cùng và cảm giác không xứng đáng. Những sự chấp trước, sai trái và lỗi lầm nhỏ nhặt của tôi nổi bật lên như mực đen trên tấm vải lụa sa tanh trắng. Tôi đã sám hối đêm đó khi ngồi thiền ở bên ngoài. Tôi đang chờ đợi điều gì vậy?

“Bao nhiêu các đức Phật Thế Tôn nhiều như số cực vi trần trong cõi Phật khắp pháp giới mười phương ba đời, (tôi do nơi hạnh nguyện của Ngài Phổ Hiền thâm tâm tín giải như đối trước mắt), đều dùng thân, khẩu, ý ba nghiệp thanh tịnh thường tu hạnh lễ kính. Nơi mỗi đức Phật đều hóa hiện thân nhiều như số cực vi trần trong bất khả thuyết cõi Phật”.

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện thứ 40.


* * *


Sa di ni Quả Trinh, Quả Wu, và Quả Yun lái xe đưa chúng tôi trở lại chỗ lạy. Chúng tôi để chiếc xe wagon đậu phía sau căn nhà gỗ Kiểm lâm tại trạm Rừng Salmon Creek thuộc Lâm Viên Quốc Gia Los Padres.

Người kiểm lâm tên Howard đã rửa sạch chiếc xe Plymouth và bước tới đón chào chúng tôi với nụ cười lớn. “Tôi quan sát tiến trình của các thầy rất sát sao”, anh ấy nói to và rõ ràng.

Chúng tôi lái thêm 30 dặm nữa tới Landing Aderson, nơi chúng tôi đã đánh dấu chỗ lạy tại một mỏm đá. Sau khi Quả Trinh và các cư sĩ dời đi, một con cáo đến ngửi chúng tôi nhưng rồi quay mình và chạy thục mạng về phía đồi. Sau đó, khi tôi đang khóa cửa xe và đeo ba lô lên để đi lạy, thì một chiếc xe bán tải đi với tốc độ cao bên trái đường, bị mất kiểm soát đang lao thẳng về phía tôi. Không còn thời gian hay chỗ nào để chạy. “Lần này mình chết chắc rồi”, tôi nghĩ. Nhưng chỉ chừng vài feet nữa là xe đâm trúng tôi, đột nhiên nó bị chệch hướng ra khỏi đường chạy và đâm xuyên qua hàng rào rồi lao vào một cái cây. Chiếc xe vỡ tan từng mảnh nhưng không ai bị thương. Mấy người đàn ông vội vã bỏ đi. Cảm giác những thật kỳ lạ.

Ngay sau đó, một gia đình năm người với vẻ hạnh phúc, đôi mắt sáng lấp lánh đi tới cúng dường. Họ cùng nhau đứng, mỉm cười, cung kính, má ửng hồng, tay cầm tràng hạt trong khi em bé nhỏ nhất đặt thực phẩm sạch và hoa trước chúng tôi.

Vài phút sau, một chiếc xe lảo đảo lao nhanh về phía chúng tôi, suýt chút nữa thì mất thăng bằng lao đầu xe vào cạnh chúng tôi. Người lái xe thắng gấp ngừng lại rồi bước trở lại phía chúng tôi và nói, “A! Đúng rồi, được rồi! Có bia và thuốc lá trong xe, cứ tự nhiên dùng!”, anh ta lẩm bẩm một mình trong khi đi vào trong rừng.

“Tên tôi là Crazy Horse (con ngựa khùng) nhưng vài người chỉ gọi tôi là Khùng thôi (Crazy)”.

Chúng tôi hồi hướng công đức khi mặt trời lặn và cắm trại dưới gốc những cây linh sam cao trên một vách đá phía trên mặt biển. Một ngày thật khác thường.


 

Hằng Triều - ngày 6 tháng 6 năm 1978

Tất cả chúng ta sẽ đi được đến cùng


“Chỉ có thanh tịnh, an lạc thì Đạo mới không mất vậy”

Kinh 42 Chương.


Thanh tịnh là gì? Thanh tịnh là không có ham muốn tình dục. Thanh tịnh là biết đủ, không phải luôn liên tục khao khát được nhiều hơn nữa. Bình an có nghĩa là sự bình thản. Đơn giản là không giận dữ hay mất bình tĩnh. Nếu quý vị kiên nhẫn thì mọi thời khắc trong cuộc đời quý vị sẽ bình an. Nếu quý vị bằng lòng biết đủ với những gì mình đang có, thì mỗi ngày sẽ là một ngày vui. Hạnh phúc đạt được từ sự không mong cầu. Hạnh phúc chính là thanh tịnh.

* * *

Khi chúng tôi đọc thần chú Thủ Lăng Nghiêm trong xe trước khi đi ngủ, thì một tiếng thét to, nhức nhối từ bên ngoài phá vỡ sự tĩnh lặng của vùng núi non. Lúc này đã khuya, trời tối đen như mực, không nhà, không xe, không có thị trấn nào ở gần đây cả. Chúng tôi tiếp tục niệm chú, tự hỏi không biết đó là cái gì?

* * *

Ed và vợ, Cunion, dừng lại để cúng dường thực phẩm và mời chúng tôi ở tại nhà trọ của họ ở Big Sur. Chúng tôi giải thích về lời nguyện ở ngoài trời và lịch sự từ chối lời đề nghị của họ.

“Vạn Phật Thánh Thành à? Ồ, tôi chắc rằng hai Thầy sẽ đi được đến cùng,” Ed hào hứng nói.

“Tất cả chúng ta sẽ đi được đến cùng,” tôi nói.

“Đúng vậy, chúng ta sẽ đi được đến cùng,” Ed nói. Sau đó dường như ý nghĩ ấy vừa lắng sâu hơn vào trong tâm, anh chậm rãi nói tiếp: “…Ừm. Đúng vậy! Chúng ta sẽ đi được đến cùng, phải không?”

“Bồ Tát này lại sanh tâm tăng thượng như vầy: nếu tôi chẳng làm cho tất cả chúng sanh trụ nơi đạo vô thượng giải thoát, mà tôi trước thành vô thượng bồ đề thời trái bổn nguyện của tôi, không nên như vậy. vì thế nên tôi phải làm cho tất cả chúng sanh trước được vô thượng bồ đề vào Niết Bàn vô dư rồi sau tôi sẽ thành Phật”.

Kinh Hoa Nghiêm. Phẩm Thập Hạnh thứ 21.


"Chúng tôi mong được gặp các thầy", Cunio nói. "Chúng tôi có thể cúng dường ít thực phẩm nếu các thầy không nhận đề nghị ở trọ qua đêm được không?”

 

 

Hằng Thật. Ngày 7 tháng 6, 1978

Nghĩ về việc suy nghĩ



“Lìa niệm chẳng phải niệm”

Kinh Hoa Nghiêm. Phẩm Thập Địa thứ 26.


Thực tại quá phức tạp, quá nhiệm mầu, đến nỗi không thể dùng tâm suy nghĩ mà thấu hiểu. Điều duy nhất tôi có thể làm mà còn cảm thấy là chân thật, đó là lễ lạy, thiền định, hồi hướng công đức và làm cho những vọng tưởng trong tâm lắng xuống. Suy nghĩ về bất cứ điều gì cũng là sự tiêu hao năng lượng vô ích; bởi lần nào nó cũng biến thành suy nghĩ về chính việc suy nghĩ. Thực tại bị che lấp dưới những tiếng vang vọng phủ đầy bụi của tâm trí điên loạn của tôi. Sự nhiệm mầu của vũ trụ đang chờ đợi bên trong, chờ một tâm chuyên nhất quay từ hư vọng trở về với chân thật.


Nhất niệm bất sanh toàn thể hiện
Lục căn hốt động bị mây chevân giá.

(Một niệm không sanh: Phật tánh hiển hiện
Sáu căn vừa động: tâm bị che mờ)


* * *

"Mang lông, đội sừng"

"Hai con phải hết sức cẩn thận trên chặng hành trình này," Hòa Thượng cảnh báo. “Hai con có thấy thú hoang không? Chim chóc có bắt đầu nói chuyện với hai con không? Gần đó có nhiều cây cối không?” Ngài hỏi một cách đầy vẻ huyền bí.

Kinh Địa Tạng Bồ Tát mô tả những nguyên nhân khiến chúng sanh phải tái sinh vào các đường ác. Sau khi đọc về những quy luật về nghiệp báo, tôi cảm thấy thương xót và cảm thông đối với các loài động vật hơn bao giờ hết. Tôi nhận ra nguyên nhân khiến chúng phải chịu những kiếp sống buồn thảm và ngắn ngủi, “bị trói buộc trong thân mang lông thú, hoặc phủ lông vũ, hoặc vảy, hoặc đầu đội sừng.”

Một bậc Thánh nhân trí tuệ đã nói:

“Lòng tham dục khiến con người đọa vào thân loài vật.”

“Loài vật là những con người mà trong các đời trước đây đã không tin vào nhân quả nên nay phải trở thành loài vật”.

Tối nay, trong lúc thiền đứng, tôi bỗng cảm thấy ớn lạnh chạy dọc sống lưng. Tôi tụng xong câu thần chú cuối cùng rồi hạ hai tay xuống. Cách tôi khoảng hai mét, một bóng đen dài, mềm mại và uyển chuyển bất ngờ phóng lên rồi xoay mình, sau đó biến mất vào rừng thông. Nó lớn cỡ một con chó, im lặng và nhanh nhẹn.

Sau thời khóa, thầy Hằng Triều nói đã nhìn thấy một con cáo màu bạc lẩn đi rất nhanh khói bụi cây rồi biến mất trên vách đá thẳng đứng. Đêm đó, chúng tôi nghe thấy một cuộc quyết chiến sinh tử bên ngoài xe: một tiếng gầm gừ đanh thép, quyết liệt, một con chim ưng, có thể như vậy hoặc một con mèo săn mồi. Những tiếng đập nặng nề, tiếng chân tán loạn, và tiếng đá rơi, rồi im bặt.

Chúng tôi nhớ lại lời khuyên của Sư Phụ vào buổi sáng hôm sau khi chúng tôi lạy qua một con rắn dài chừng một thước vừa bị giết chết có những sọc trắng, đen, đỏ. Vừa nhìn thấy nó, cả hai chúng tôi theo bản năng đều cảm nhận được một thứ “khí độc.” Nam mô A Di Đà Phật. Tôi tin nhân quả.


 

Hằng Triều - Ngày 7 tháng 6 năm 1978

Họ có thể làm cho địa ngục trông giống thiên đường

 

"Các ghi chú về sự tôi luyện ..."

Đức Phật dạy, "Như người luyện sắt loại bỏ chất cặn rồi làm thành đồ dùng thì đồ dùng được tinh hảo; người học đạo từ bỏ cấu nhiễm thì hạnh liền thanh tịnh vậy”.

Kinh 42 Chương, Chương 35 – Cấu Tịnh Minh Tồn

 

Hẳn quý vị phải có “điện” trong bình ắc quy để chạy động cơ xe. Sự tôi luyện cũng tương tự: để trục xuất những thứ nhiễm ô và phiền não cần phải có nước trí huệ được tạo ra từ giới luật. Tôi luyện cần có lửa, ngọn lửa bên trong được nhóm lên và duy trì nhờ việc tu tập trí tuệ vô lậu.

Giới luật là nguyện liệu của trí huệ sáng chói. Đến một lúc nào đó việc thực hành giới luật chuyển hóa một số điều bên trong thành sức mạnh ánh sáng, và từ chính năng lực ánh sáng này sẽ hướng tâm tới Phật Pháp và tâm trí có thể phá tan mọi ma chướng trên đường tu Đạo.

Bồ tát khởi:

“… tâm giải thoát tất cả sự hệ phược của ma, tâm trừ diệt tất cả ma quân, tâm huệ quang chiếu rõ pháp vô thượng”.

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Thập Hồi Hướng thứ 25.

 

Nhiễm ô và phiền não chỉ là những niệm ham muốn và thói quen xấu dồn tích lại từ lòng tham lam về đồ ăn, danh vọng, sự giàu có, tình dục và ngủ nghỉ. Mỗi một bám chấp, thói quen xấu đều có một con ma cai trị và nếu quý vị quyết định đi về phía tốt, thanh lọc mọi tạp chất ra khỏi thân, tâm, thì sớm hay muộn, quý vị sẽ đối mặt với con ma đó. Những con ma ấy không muốn quý vị rời bỏ bụi bẩn và bóng tối. Chúng muốn kéo quý vị trở lại cái hầm ham muốn. Khi quý vị đối mặt với những con ma của quý vị, chúng nói, “Đừng tu hành làm gì. Điều ấy khó khăn lắm”.

Chúng giống như nhân viên bán hàng thủ đoạn, hay một luật sư bào chữa cáo già có thể làm cho địa ngục trông giống như thiên đường, khiến việc giết người trông giống như hành động tử tế. Nếu quý vị có ánh sáng trí huệ, quý vị sẽ bật công tắc lên và chiếu sáng, và chúng ma sẽ bị khuất phục ngay tại chỗ. Chúng không thể đối mặt với ánh sáng, và năng lượng thanh tịnh khiến chúng phải cuộn mình lại và run rẩy.

Việc tôi luyện không phải là một sự tưởng tượng viển vông hay phép ẩn dụ sáo rỗng – mà đó là sự chuyển hóa thân/tâm hoàn toàn từ tham lam, sân hận, ngu si, trở thành giới, định, tuệ. Việc này bắt đầu bằng niềm tin, được củng cố bằng sức mạnh ý chí kiên định cùng những lời nguyện và được củng cố thêm bởi một chút gì đó mà quý vị khám phá được khi vượt qua được điều mà trước đó quý vị cảm thấy rằng mình không thể vượt qua được.

* * *

Cắm trại gần Mũi Partington. Con đường tiếp tục chạy sát biển và đi qua vô số khe suối chảy xuống từ những dãy núi mọc lên sừng sững bên phải chúng tôi. Xe cộ thưa thớt, những đoạn đường dài yên tĩnh và có nhiều thời gian để nhìn sâu vào bên trong và quán chiếu tâm mình.

Kinh Hoa Nghiêm dạy rằng, bản chất của tâm trí là không tồn tại. Nó chẳng ở trong cũng không ở ngoài thân và hoàn toàn giống như ảo ảnh hay một sự hóa hiện . Đôi khi sau một ngày lạy bên cạnh biển và núi, ranh giới bình thường và nhỏ hẹp của cái thân tâm chúng ta tan vỡ ra và hòa nhập vào sự bao la, vô tận. Và ngay lúc ấy, trong đôi phút hiếm hoi khi tâm không còn phòng thủ và lắng dịu, ta có thể thấy được điều mà Kinh đã mô tả là hẳn phải là như vậy. Nó “giống như nhìn qua lỗ ổ khóa mà thấy cả toàn thể vũ trụ”. Vậy mà hầu như lúc nào cũng vậy, tôi lại chỉ có thể nhìn thấy mỗi bản thân mình.

 

 

Hằng Thật - Ngày 8 tháng 6 năm 1978

Vậy là các anh không uống bia hả?

 

Chàng trai có biệt danh Ngựa Điên (Crazy Horse - C.H).

Chiếc xe của anh ta thật khó mà quên được; suốt cả tuần, tôi nghe thấy tiếng gầm của ống bô xe ngay trước khi đá vụn bắn tung toé, quá gần để có thể cảm thấy thoải mái. Rồi tôi nghe thấy giọng chửi rủa trong nhịp điệu lời của một bài hát, nghe không rõ do âm thành động cơ gầm rú. Hằng ngày anh ta cứ rú xe lượn chung quanh chúng tôi, thử thách thần kinh và sự tập trung của chúng tôi.

Anh ta phóng quá nhanh đến nỗi tôi chưa hề nhìn rõ được anh ta, không thể nghe ra anh ta nói gì, nhưng nhìn chung là có vẻ thù địch. Chúng tôi đã được học rằng không đánh giá mọi người qua cái nhìn đầu tiên. Đôi khi, tiếng quát tháo càng lớn thì trái tim lại càng mềm mỏng. Hành động thô tháo thường che giấu tâm hồn mềm yếu. Thế nên, kẻ gây hấn chúng tôi cũng như vậy. Thậm chí ở lần nhìn thứ hai, con ngựa điên ấy là một nhân vật đặc biệt.

Vào một chiều, anh ta đột ngột chuyển từ lối tấn công kỵ binh sang bộ binh, vẫn là thử nghiệm chúng tôi. Tôi rẽ vòng theo một lề đường dốc đứng, ngoằn ngoèo trên con đường quanh co bên một khe vực sâu và bắt gặp xe của anh ta – mui xe đã hạ xuống, động cơ xe vẫn đang nổ dù đứng yên tại chỗ và nóng.

“Có bia ở ghế sau, hai gã hề các anh có thể lấy nhiều bao nhiêu tùy ý”, anh ta nói, rồi nhảy ra khỏi xe, biến mất vào trong đám cây, tay cầm theo một cái hộp nặng. Tôi nghe thấy anh ta nói to với nhóm nào đó không thấy rõ ở ngọn đồi phía bên trên, “Ray! Ray!, Tôi sẽ sửa chiếc máy bơm của ông trong tuần sau nhé. C.H đây nè Ray. Tôi sẽ lấy phụ tùng thay thế ở San Luis rồi lắp vào chiếc máy bơm trong tuần sau nhé. Ông sẽ có nước trong một tuần nữa. Được không Ray?”

Bước dài ra khỏi rừng cây trong điệu bộ diễu hành, anh ta nhảy qua cửa xe phía người lái và phóng vọt đi, vừa tự chửi rủa trong trạng thái bất thường.

“Vậy là các anh không uống bia hả? Mấy tên kỳ quặc.”

 

Hôm nay chúng tôi đã vượt qua khảo nghiệm. Sau bữa ăn trưa, C.H xuất hiện trong một đám mây bụi và tiếng bánh xe rít lên, tay cầm cái ly, cười lộ cả hàm răng vẻ như quá khích.

“Cái tên C.H, tức là ‘Không chịu nổi’ (Can’t Hack It) , người ta nói vậy, hoặc là ‘Ngựa Điên’ (Crazy Horse) nếu anh thích. Một số người gọi tôi là ‘Khùng Nhất Trần Đời’ (Crazy As Hell), nhưng gọi C.H. là được rồi. Hai anh trông khá khát nước, đây là một ít nước khoáng, ngon và tinh sạch. Nó sẽ giúp giải khát. Các anh sẽ mát mẻ ngay. Hy vọng là các anh thích nó”.

Dường như anh ta có chút hối lỗi, nói như thể là chúng tôi đã qua được khảo nghiệm của anh ta và giờ anh ta coi chúng tôi như là một phần của gia đình vùng Big Sur.

C.H không dừng việc đeo bám chúng tôi suốt mấy tuần liền. Những lời chửi bới chuyển thành những lời reo ca, và những tiếng động cơ gầm rú vụt qua và tiếng đá sỏi bắn lên đã mang một không khí thân thiện. Anh ta dừng lại hai lần nữa để cúng dường nước uống và chỉ những dòng suối có nước trong lành chảy xuống những vách đá dựng đứng dưới con đường rồi đổ như thác xuống biển ở phía xa bên dưới.

Sự kiên nhẫn và không tranh đã khuất phục bất cứ ai xuất hiện. Tâm bình an sẽ biến thù thành bạn. Đoạn này của con đường xa lộ rất ghồ ghề, uốn lượn và đột ngột thay đổi, và một số cư dân mà chúng tôi gặp gỡ cũng có tính cách giống như vậy.

“Vì đại Bồ Tát đã nhập tánh bình đẳng của tất cả các pháp, với các chúng sanh không có một niệm là chẳng phải thân hữu”

Kinh Hoa Nghiêm. Phẩm Thập Hồi Hướng thứ 25.

 

 

Hằng Triều - Ngày 8 tháng 6 năm 1978

Từ trăm ngàn ức

 

“Nguyện tất cả chúng sanh dùng thiện pháp để tự che trừ diệt trần cấu nhiệt não thế gian”

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Thập Hồi Hướng thứ 25.

Lái xe ra khỏi thành phố Los Angeles trong khói bụi, và tiếng ồn ào của đường xa lộ và nhịp sống hối hả của thành phố lớn, tôi có thể thấy thế giới con người, động vật và tất cả các loài chúng sanh hữu tình bị cuốn vào vòng xoáy điên cuồng của sanh tử; tất cả chúng ta “như cá trong nước đang cạn”. Sách tấn bản thân tinh tấn nỗ lực trên đường tu Đạo rồi trở lại cứu độ vô số chúng sanh .

Thế gian này vốn dĩ hư vọng, trống rỗng, vậy mà ở giữa thế gian, chúng ta lại mê muội đến mức không tìm được con đường giải thoát. 

“Tôi chỉ muốn độ thoát chúng sanh, khiến họ thanh tịnh và được giải thoát vĩnh viễn”

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Thập Hạnh thứ 21

Phàm phu và thánh nhân đều có trong mỗi chúng ta và cách nhau chỉ bởi một bức màn vô minh mỏng manh. Sự thanh tịnh và thánh thiện vẫn luôn nằm ngủ yên, như thể ngủ đông trong tảng băng của những bám chấp, nhiễm ô. Mắt của chúng ta bị phủ bởi một tấm màn như bệnh đục thủy tinh thể do nghiệp chướng, vì thế, đứng cạnh dòng sông mà chúng ta không thể nhìn thấy nước.

“Nguyện tất cả chúng sanh xa lìa tất cả sự tham dục của thế gian và không nhiễm trước trong ba cõi”.

Kinh Hoa Nghiêm. Phẩm Thập Hồi Hướng thứ 25.

Phật Pháp được nói ra là vì tất cả chúng sanh. Phật Pháp rung động và vang lên từ các siêu thị, trung tâm mua sắm, những đường hẻm trải nhựa, và ở khắp các vùng ngoại thành. Nó nói, “Thực chất thì ai đang ràng buộc quý vị vậy? Chẳng ai cả. Chính chúng ta tự tạo nên xích sắt và tự giam mình vào ngục thất do chính mình tạo ra. Khi cuồng tâm ngừng bặt thì quý vị mới được tự do; tự do hơn cả những gì quý vị từng mơ tưởng. Tất cả là do tâm tạo”.

* * *

Kiên nhẫn là:

“… tâm tu tập từ trăm ngàn ức na do tha kiếp…”

Kinh Hoa Nghiêm. Phẩm Thập Hồi Hướng thứ 25.

Kiến giải của Phật giáo về thời gian là không thể nghĩ bàn. Bản thân nó đã là một phép quán chiếu giúp xoa dịu thế giới cuồng quay chạy theo thời gian mà chúng ta đang sống.

Ví dụ, một kiếp ước chừng bằng 16.8 triệu năm. Một ngàn kiếp tạo thành một tiểu kiếp. Hai mươi tiểu kiếp làm thành một trung kiếp; bốn trung kiếp là một đại kiếp. Na do tha (Nayuta) là một số đếm tiếng Phạn, dịch nghĩa tương ứng là mười triệu hoặc trăm triệu. Cộng lại, Bồ tát đã phát tâm tu hành trong một thời gian lâu xa như vậy! Tới hàng trăm nghìn triệu của 16.8 triệu năm.

Có một pháp môn chuyên dùng cách tính đếm và suy lường này để nhập Định. Về căn bản, không cách nào có thể đếm hết được những con số Phạn ngữ khổng lồ ấy. Chúng thách thức tâm trí vượt quá chính nó để bước vào vùng đất vượt trên tư duy tri thức và nằm ngoài mọi sự tính toán.

Thiện Tài Đồng Tử học Pháp môn này từ vị thầy là Tự Tại Chủ Đồng Tử trong Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Nhập Pháp Giới thứ 39. Đôi khi trong lúc lạy, tôi thả tâm trí mình nhập vào phép quán cọng số này – mở rộng, mở rộng mãi, nới rộng phạm vi của những ý nghĩ nhỏ bé chật hẹp, cho đến khi mọi cảm giác về kích thước, thời gian và không gian đều biến mất. Điều này san bằng con đường xa lộ, và cả những lúc lên xuống vụn vặt của tôi.

 

Hằng Triều - Ngày 9 tháng 6 năm 1978

Họ muốn nói chuyện và cắm trại qua đêm

 

Đối mặt với chính tâm mình. Tâm phan duyên và suy nghĩ luẩn quẩn; cái tâm nói chuyện luyên thuyên , lảm nhảm không ngừng; cái tâm muốn tranh hơn thua và công kích; cái tâm từ chối nhận ra rằng hết thảy các pháp như mộng huyễn và rằng hết thảy mọi việc trên thế gian này đều là hư giả và không. Đối diện với chính tâm mình. Sự lễ lạy, tĩnh lặng và cô tịch mênh mông của con đường núi này, và “vùng đất hoang dã nhất, hiểm trở nhất ở California” đã khiến cho tâm điên đảo của tôi hiện lên ngay trước mắt, ở vị trí trung tâm.

 Kết thúc buổi lễ lạy, tôi muốn nắm vào cái gì đó rồi chạy đi, nhưng lại chẳng có nơi nào để đi, chẳng có gì để nắm giữ. Thay vì thế, tôi với tay lấy cuốn Kinh và đọc đoạn đầu tiên hiện ra trước mắt.

 

"Nguyện tất cả chúng sanh trụ pháp vô tránh, rõ tất cả pháp đều vô sở tác, đều lấy vô tánh làm tánh...

Nguyện tất cả chúng sanh rời bỏ lời nói vô ích, thích ở một mình, tâm không có hai niệm.

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Thập Hồi Hướng thứ 25.

 

Tôi ngồi thiền, ngồi và cứ ngồi cho đến khi bụi trần lắng xuống. " Chính là như vậy”, vị Thiện tri thức trong tôi nói. “Vô sở tác, vô tánh. Không có nơi nào để trụ, cũng chẳng có gì để nương tựa. ‘Nơi cô độc’ ấy chính là  chân lý: chân lý về vô ngã, về việc nhẫn những việc khó nhẫn. Đó là giới luật, không phóng dật chạy theo ngoại cảnh; đó là sự viên mãn của hạnh nhẫn nhục; là cái giá phải trả cho sự tự do tự tại. Trạng thái tuyệt vời (Diệu hữu) được sanh ra từ tánh không chân thật (chân không); những người giác ngộ đi qua được cánh cổng của sự đơn độc. Không khởi niệm thứ hai”.

Khảo nghiệm đến ngay lập tức. Quý vị có thực sự thấy vui thích khi ở tại một nơi hiu quạnh và từ bỏ mọi lời nói vô ích không? Ba người đàn ông bước tới, tươi cười. Họ muốn nói chuyện, viếng thăm, cắm trại qua đêm, muốn đốt lửa trại cho ấm cúng. Chúng tôi ra hiệu “không nói chuyện”. Họ liền bỏ đi.

* * *

Ken Wright, thuộc lực lượng Tuần Tra Xa Lộ của tiểu bang California (CHP), đã dừng lại vào lúc hoàng hôn để cùng tôi xem xét lộ trình và thảo luận về việc sắp xếp hành trình..

"Họ đã làm những con đường này trước khi có người đi xe đạp và những vị sư lễ lạy. Giờ thì có cả hai!” anh ta cười.

Anh cảnh sát Wright thực sự rất hữu ích và giúp đở chúng tôi. “Phía trước, tất cả đều trống trãi, hãy cẩn thận”.

* * *

Ba người nữa "muốn nói chuyện" dừng lại. Một lần nữa chúng tôi từ chối.

 

 

Hằng Thật - Ngày 10 tháng 6 năm 1978

Những người thợ máy xe hơi thay những lốp xe xẹp của thế giới


Ba ngàn năm trước ở Ấn Độ, Đức Phật lần đầu chuyển Pháp luân. Sáu thế kỷ sau, Thiện Pháp chảy sang phương Đông, đến Trung Hoa. Giờ đây là thế kỷ hai mươi, tiếng Sư Tử Hống lại vang lên ở trời Tây này.

“Đạo Phật là xăng dầu đem lại năng lượng cho sự thay đổi hướng thiện cho toàn vũ trụ. Đạo Phật là chánh khí cho thế giới. Những đệ tử Phật tu Đạo thay những lốp xe xẹp của thế giới. Chúng ta là những người thợ máy xe hơi phục vụ tất cả chúng sanh trong toàn Pháp Giới”.

Hòa Thượng Tuyên Hóa.

 

 

Hằng Triều - Ngày 10-11 tháng 6 năm 1978

Đây cũng chính là chấp trước


Big Sur.

Nhận được xăng trị giá 10 đô la. Lưu Quả Thức và mẹ cô ấy lái xe tới cúng dường bữa trưa. Quả Thức kể chúng tôi nghe về cậu con trai của cô ấy, Melvin, 15 tuổi, cậu ấy không thể tìm thấy câu trả lời về sự sinh tử trong Bộ Tự Điển Bách Khoa Toàn Thư hay ở trường học.

Cuồng tâmvẫn tiếp tục nhảy nhót điên khùng, làm những trò hề vô nghĩa trong khi lạy – tất cả các dạng của những trạng thái kỳ quặc, hình ảnh, ký ức, những bài thơ trào phúng, khôi hài, và những bộ phim – bất cứ trò gì để thực hiện chức năng chính của nó: là phân biệt và tạo ra muôn pháp. Cái tâm ý thức có“suy nghĩ” sẽ đặt một bộ lọc nhị nguyên phân biệt lên cái mênh mông, rộng lớn, bất nhị do đó mọi thứ đi qua nó liền trở thành nhị nguyên đối lập


“… thấy rõ Pháp giới an lập rộng lớn, hiểu các thế gian và tất cả các pháp đều bình đẳng không hai, lìa tất cả chấp”.

Kinh Hoa Nghiêm. Phẩm Thập Hồi Hướng thứ 25.

 

Chẳng có sản phẩm nào tạo ra trong quá trình tu hành cả, chỉ có tiến trình thôi. “Không đắc hay không có cái đắc”, không tìm kiếm gì cả, thậm chí không mong cầu để trở thành người không tìm cầu gì cả. Tìm cầu cũng chính là chấp trước. “Từng bước con đi cần phải chân thật”, lời bài hát Hòa Thượng sáng tác. Đó là tất cả: vô tâm, vô niệm, vô ngã, không thời gian, chỉ duy nhất một niệm mà đi sâu vào Đạo, tâm tự do tự tại.

 

 

Hằng Thật - Ngày 11 tháng 6 năm 1978

Hai kẻ lập dị nhất

 

Chúng tôi đang lễ lạy qua trạm xăng Chevron ở Nepenthe, một gã cao bồi râu ria xồm xoàm đang ngả lưng trên chiếc ghế nằm, nói vọng ra từ bên hiên trước nhà, “Tôi đã ở đây từ lâu rồi nhưng chưa bao giờ  thấy điều gì giống như hai người này. Này Bob! Có hai kẻ lập dị nhất mà chúng ta từng thấy ở vùng Big Sur này”.

Ngay cả theo những tiêu chuẩn phóng khoáng, có thể chấp nhận mọi thứ của vùng Berkeley, thì vùng Big Sur vẫn nổi tiếng là nơi quy tụ những kẻ lập dị nhất và những kẻ quái dị khác thường nhất ở California. Vậy làm sao hai nhà sư lễ lạy vô hại này lại có thể là những kẻ kỳ quặc số 1 của vùng Big Sur được?

“Vì Bồ Tát này không trông cầu người khác cúng dường mình, chỉ chuyên cấp thí tất cả chúng sanh nên không kinh sợ về sự tiếng xấu.”  (1)

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Thập Địa thứ 26.

 

Ghi chú:

(1) Nguyên văn Hoa ngữ: Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm, quyển 34, phẩm Thập Địa (十地品), phần Sơ Địa – Hoan Hỷ Địa (初地・歡喜地)

此菩薩離我想故,尚不愛自身,何況資財,是故無有不活畏;

不於他所希求供養,唯專給施一切眾生,是故無有惡名畏.

 

Thử Bồ-tát ly ngã tưởng cố, thượng bất ái tự thân, hà huống tư tài, thị cố vô hữu bất hoạt úy.

Bất ư tha sở hy cầu cúng dường, duy chuyên cấp thí nhất thiết chúng sanh, thị cố vô hữu ác danh úy.

 

Vì Bồ Tát này đã lìa ngã tưởng, thân mình còn không mến tiếc huống là của cải, vì thế nên không kinh sợ về sự không sống.

Vì Bồ Tát này không trông cầu người khác cúng dường mình, chỉ chuyên cấp thí tất cả chúng sanh nên không kinh sợ về sự tiếng xấu.

 

 

Hằng Thật • Ngày 12 tháng 6 năm 1978

Tinh tấn và nỗ lực dụng công đánh bại những con quỷ lười biếng

 

"Tinh tấn đập tan trì trệ "

"Đệ tử Gotama (tức Đức Phật)

phải luôn tự tỉnh giác,

vô luận ngày lẫn đêm,

thường niệm tưởng sắc thân.

 

Đệ tử Gotama,

phải luôn tự tỉnh giác,

vô luận ngày lẫn đêm,

thường ưa tu thiền quán”

Kinh Pháp Cú. (Kệ 299 và 301)

Sự tinh tấn của tôi sụt giảm vào chiều tối. Tôi vướng vào thói quen xấu là ngủ một giấc ngắn sau khi lạy. Chẳng có lý do gì để nuông chiều bản thân bằng giấc ngủ ngắn lúc hoàng hôn. Tinh tấn mang lại hạnh phúc; chạy theo ham muốn là đau khổ. Kinh dạy rằng, như bức tường thành kiên cố bảo vệ những người dân ở trong thành, cũng như vậy, sự kiên nhẫn và tinh tấn bảo vệ Bồ Tát. Tôi muốn tu hành tinh tấn như chư vị Bồ tát trong Kinh, vì thế, tôi tập luyện thêm võ thuật vào buổi tối. Tôi sẽ đá theo cách của tôi để tỉnh giác.

Muốn đánh đuổi cơn buồn ngủ đòi hỏi sự thuyết phục khéo léo. Để bứt ra khỏi cơn buồn ngủ lúc năm giờ chiều, tôi phải tự diễn một “màn kịch” trong tâm: Với lấy đôi giày tập Thái Cực Quyền, tự nhủ: “Chà, có lẽ mình sẽ làm vài động tác rồi đi ‘thiền’ (nghĩa là: đi ngủ).”

Sau chừng mười phút hít thở: “Này, cơ thể của mình đang căng như trống vậy. Có lẽ mình sẽ tập hết tất cả các bài và không bỏ qua những bài giúp căng gân cốt như ‘cằm tới ngón chân’. Hãy tập cho đúng”. Hòa thượng nói rằng, “Chính vì đó là pháp thực hành khó khăn, nên càng phải làm”.

Sau ba mươi phút, các động tác cơ bản đã hoàn thành, toàn cơ thể cảm giác như được làm tươi mới và hồi sinh. “Chẳng mất quá lâu. Tiếp đến là Thiếu Lâm quyền; động tác mới ấy kết thúc như thế nào ?”

Thư giãn và tỉnh giác, cơn buồn ngủ ban ngày bị quên đi. Tôi tập trung và sẵn sàng cho giờ hành thiền tinh tấn. Tinh tấn và nỗ lực dụng công luôn đánh bại được con quỷ lười biếng. Phải dùng chút mẹo nhỏ “chào hàng” mới khiến thân xác này hành động; cuộc sống là vận động, còn chết là bất động, sự hành Thiền rốt ráo là để hợp nhất động trong tĩnh và tĩnh trong động.

“Nhiều vui, nhiều ưa thích

Lại cũng nhiều tịnh tín

Tâm dũng mãnh rất lớn

Và cùng tâm mừng rỡ”

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Thập Địa thứ 26.

 

 

Hằng Triều - 26 tháng 6 năm 1978

Một người bạn tin cậy và gần gũi

Lễ lạy tại nơi nghỉ xe vào buổi sáng lạnh có gió và sương mù. Một chiếc xe hơi có phần sau rộng (station-wagon) đậu lại và một gánh xiếc tung hứng nhảy xuống, tất cả ăn mặc nổi bật với quần áo bó sát màu sáng, các đôi giày mềm óng ánh, áo choàng không tay, và đội những mũ mềm của những người hề. Họ cung kính cúng dường hoa tươi và sau đó người trưởng đoàn giởy mũ ra và đưa mũ ra phía trước quét ngang thành một vòng rộng, gập người cúi chào và nói: “Bây giờ” anh ta tuyên bố như người điều khiển biểu diễn xiếc, “Chúng tôi sẽ tung hứng cho các bạn xem, bởi đây là tiết mục chúng tôi làm giỏi nhất.”

Và họ tung hứng. Trong khi thầy Hằng Thật và tôi lạy, họ búng và ném những trái banh có sọc và những cây hình dáng như cái chai màu trắng lốm đốm hình sao lấp lánh qua đầu chúng tôi, qua tai chúng tôi và tất cả ném vòng quanh chúng tôi. “Hip…hup…hup” Họ hô to giữa những tiếng lộp cộp của những trái banh và cây hình chai, các dĩa và vòng đi từ tay này sang tay khác. Khi kết thúc, họ nhẹ nhàng khéo léo tập hợp trước chúng tôi, cúi chào và lại rời đi trong màn sương.


***


Gió thổi mạnh cả ngày giống như tâm trí không ngừng nghỉ của tôi. Cuối cùng, vào nửa giờ lễ lạy cuối, tôi tìm thấy một chút yên bình bên trong – một đồng cỏ tràn đầy ánh nắng, thoáng đãng trong một khu rừng rậm và tối. Rồi tôi nhận thấy gió cũng ngớt đi. Một sự nối kết hay chỉ là sự tình cờ? Hay có thể bởi tôi đang tập trung nên không nhận thấy gió đang làm gì. Một câu nói khiến tâm tôi dịu xuống

Khi đạt đến chỗ không mong cầu, thì không còn lo lắng. (1)

Chúng tôi hồi hướng công đức trong khi mặt trời trôi vào khe giữa mặt biển và bầu trời. Chúng tôi quán tưởng trong yên lặng “Để cho các thiên tai, tai họa và sự đau khổ được tiêu trừ khỏi Pháp giới”. Sau đó tôi thấy rằng việc dứt trừ sự tìm kiếm và lo lắng của chính mình cũng giống như việc dứt trừ các thảm họa và đau khổ của thế giới. Pháp giới là tất cả mọi thứ, mọi thời điểm, mọi nơi chốn. Pháp giới là một và tất cả chúng ta đều là Pháp giới. Không có cái gọi là tôi.

Và ngay lúc đó, một đoạn trong Kinh Hoa Nghiêm xuất hiện trong tâm trí tôi. Kể từ lần đầu tiên nghe kinh này, tôi không thể nào thâm nhập được ý nghĩa của nó. Trong nhiều tuần, tôi không thể đưa nó ra khỏi tâm trí hay hiểu được nó một cách thích hợp. Bây giờ, một thứ gì đó chợt nảy ra và nó trở nên phù hợp rõ ràng một cách dễ dàng như mặt trời lặn xuống đường chân trời. Đoạn kinh đó là:

“Nguyện tất cả chúng sanh khéo vào tất cả pháp bình đẳng rõ biết pháp giới tự tánh không hai”.

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Hồi Hướng
 

***


Khi không lễ lạy, chúng tôi luôn tụng Chú Đại Bi. Bài chú đã trở thành một người bạn gần gũi và tin cậy. Bất cứ nơi nào chúng tôi đi, bài chú cũng tới đó và chỉ dẫn chúng tôi vượt qua những nơi khó khăn, kỳ lạ và tối tăm nhất. Bài chú là con đường xuyên qua vùng hoang vu, là dây cứu đắm trên biển, là chiếc phà đưa đến bờ bên kia. Bất cứ khi nào chúng tôi bị lạc lối hay yếu ớt và mệt mỏi, Chú Đại Bi luôn đến như mặt trời mà không cơn bão nào có thể di chuyển hay thay đổi – mạnh mẽ, đều đặn và đáng tin cậy.


Bạch đức Thế Tôn, tôi có chú Đại Bi Tâm Đà Ra Ni, nay xin nói ra, vì muốn cho chúng sanh được an vui, được trừ tất cả bệnh, được sống lâu, được giàu có, được diệt tất cả nghiệp ác tội nặng, được xa lìa chướng nạn, được thành tựu tất cả thiện căn...

Kinh Đà La Ni (2)


Buổi sáng hôm nay, việc thiền của tôi đi vào giai đoạn hỗn loạn, một khu rừng quanh co, tối tăm không có lối ra. “Hãy gữi bình tĩnh và thư giãn” vị Thiện Thi Thức bên trong tôi nói “đừng tìm cầu thì bạn sẽ không bị lo lắng. Hãy tụng Chú Đại Bi”. Tôi đã làm thế. Tôi để mặc như một đứa trẻ nhỏ tin tưởng vào cánh tay của người mẹ hiền. Tôi để mình trở thành các âm thanh của bài chú. Bỗng nhiên, tôi bước đi nhẹ nhàng dọc theo một đường hầm chan hòa ánh nắng, thoát ra khỏi khu rừng quanh co, tối tăm, được kéo đi bởi sức mạnh của bài chú và một cơn gió mát lành. Càng tụng chính xác, con đường càng trở nên sáng sủa và dễ đi hơn. Những nỗi sợ của tôi tan biến và tôi cảm thấy như “cành khô được mùa Xuân chạm tới.”

“… để được thành tựu tất cả các thiện căn, được xa lìa tất cả sự sợ hãi, được mau có đủ tất cả những thứ mong cầu. Cúi xin Ðức Thế Tôn từ bi hứa khả cho."

Kinh Đà La Ni (2)

Tôi có suy nghĩ sẽ duy trì việc trì tụng bài chú ngay cả khi tôi đã được thoát ra an toàn, để những người khác có thể tìm thấy đường của họ. “... đối với chúng sanh khởi lòng bình đẳng, và thường nên trì tụng chớ cho gián đoạn."

Sự kỳ diệu và tốt lành của bài chú thực là bao la và vô tận. Lòng từ bi của bài chú đưa chúng sanh đến chỗ tự tại. Tôi kinh nghiệm qua và nhận thấy bài chú như một tập hợp vĩ đại của của các vị thánh nhân trí tuệ thâm sâu và từ bi, tụ hợp lại trong một dòng sông tâm linh rộng lớn. Dòng sông uốn quanh và chạy qua mười hướng, không bị chướng ngại bởi thời gian hay không gian, đón tiếp và độ vô số chúng sanh đến bờ an lạc. Tất cả những gì chúng ta phải làm là nhất tâm tụng chú và con sông kỳ diệu hiện ra đưa chúng ta đến miền đất của niềm vui và ánh sáng. “… Bạch Đức Thế Tôn, nếu loài người và trời trì tụng các đoạn chú của Chú Đại Bi, khi đến cuối đời, tất cả các Đức Phật ở khắp mười phương sẽ đến nắm tay và đưa họ đi tái sinh đến bất cứ cõi Phật nào mà họ muốn, theo điều nguyện của họ."

 

Tái bút. Sức mạnh của lời nguyện và tình thương của Quán Thế Âm Bồ Tát mọi lúc luôn phát ra để giúp đỡ chúng ta. Điều này gọi là “tha lực”. Trừ khi con người đáp lại và mở rộng hòa nhập bản thể của mình với Quan Thế Âm bằng “tự lực”, nếu không, không thể có cảm ứng đạo giao. Chìa khóa để đi vào chánh định và chánh thọ là tụng chú hoặc niệm tên Quan Thế Âm một cách nhất tâm và chân thành, không có ý niệm nào khác. Bởi vậy người ta nói rằng:

Chuyên nhất thì linh ứng, phân chia thì bế tắc (3). Tự lực thường không đủ để tạo cảm ứng.

Sức gia hộ tốt lành của Phật và Bồ Tát không thể đạt tới nếu chúng ta tán loạn hay không chân thành. Nhưng nếu khi hai sức mạnh này hợp lại, thì đúng là diệu không tả nổi và có thể nhập vào sự không thể nghĩ bàn. Vì vậy Kinh Đà La Ni nhấn mạnh “…chí tâm xưng danh hiệu của tôi, lại chuyên niệm danh hiệu bổn sư tôi là đức A Di Đà Như Lai..." và cũng, “...chớ nghĩ chi khác, y như pháp mà tụng trì. Lúc ấy, sẽ có Nhật Quang Bồ Tát, Nguyệt Quang Bồ Tát cùng vô lượng thần tiên đến chứng minh, giúp thêm sự hiệu nghiệm."

 

Ghi chú:

(1) Nguyên văn Hoa ngữ: 到無求處便無憂 - Đáo vô cầu xứ tiện vô ưu

(2) Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni http://www.dharmasite.net/KinhDaiBiDaLaNi.htm

(3) Nguyên văn Hoa ngữ: 專一則靈,分馳則蔽 - Chuyên nhất tắc linh, phân chi tắc tệ.

 

 

Hằng Triều - Ngày 27 tháng 6 năm 1978

Nghèo hơn bên ngoài và giàu hơn bên trong


Con đường núi hẹp cheo leo như một dải băng trang trí cây thông Giáng Sinh bên mặt của các vách đá thẳng đứng phóng thẳng xuống biển cách mấy trăm bộ Anh phía bên dưới. Con đường được xây dung cho loại xe Model T và thời đại chậm chạp. Thời gian đã thay đổi nhưng con đường vẫn như vậy. Hai xe cắm trại không thể tránh nhau trên mặt đường. Lề đường chỗ rộng nhất chỉ rộng bằng bề ngang hai bánh xe hơi và thường không có lề đường. Người ta, sợ ra khỏi xe để nhìn xuống, thận trọng liếc nhìn ra từ các cửa sổ xe đã quay kiếng xuống, trong khi nắm giữ chặt giây nịt an toàn. Thỉnh thoảng một người can đảm dừng lại để chụp hình với một chân vẫn giữ trong xe. Không ai đi bộ, Tuy nhiên có gì trong vũ trụ rộng lớn này là chắc chắn và bảo đảm? Đâu là trung tâm? Rào chắn thì gắn vào cái gì hay xa lộ thì nằm trên cái gì? Không gì cả ngoài không khí loãng và một biển bụi.

“Lúc đó tại rừng Thệ Ða, Bồ Tát đại chúng đều thấy tất cả cõi Phật khắp pháp giới hư không giới. Trong mỗi mỗi vi trần đều tất cả Phật sát vi trần số Phật độ.” (1)
Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Nhập Pháp Giới


Các quốc gia trong các hạt vi trần số lượng nhiều như các hạt vi trần. Mặt đất rắn chắc chúng ta đang đứng chỉ là một hạt vi trần đang lơ lững trong vũ trụ. Và trong hạt vi trần đó là vô lượng tỷ ức các thế giới của các hạt vi trần, gắn với nhau một cách lỏng lẻo và tạm thời bởi gió của trọng lực. Dưới chân chúng ta là một biển chất lỏng và khí tan chảy.

Trung tâm là không trung tâm. Chúng ta tìm thấy gốc rễ và nền tảng của chúng ta trong “tâm không chấp trước, không bị ràng buộc, tâm giải thoát” – ngôi nhà đích thực của tất cả các chúng sanh. Bên trong nhân của mỗi một tế bào trong cơ thể chúng ta là một hạt nhỏ xíu quá nhỏ để có thể nhìn bằng kính hiển vi. Các nhà khoa học gọi nó là gen. Trong lòng gen “bui vi trần” này là khả năng tái sinh toàn bộ chủng tộc người – số người nhiều như số các hạt bui vi trần trong tất cả thế giới. Chúng ta ngay hiện tại đang sống giữa sự phi thường và kỳ diệu và tất cả chung quanh chúng ta toàn bộ thế giới đang liên tục nói Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm. Và như thế:

Sự rộng lớn vĩ đại

Có thể vào không chốn

Vi trần lông trùm khắp

Không có gì ở ngoài.

Kinh Hoa Nghiêm


*** ***


Việc bái lạy làm tuôn tràn ra cả khối cặn bã tâm lý. Các ký ức và ấn tượng trỗi dậy từ đáy của tâm thức và lướt qua với các chi tiết phong phú, rất rõ ràng và sống động chúng khiến cho thực tại dường như giấc mơ trong quá khứ. Cả cuộc đời diễn hành ngang qua để kiểm tra- một sự liệt kê các thành công và thất bại, chiến thắng và thua cuộc. Được tổng kết lại và được đánh giá, cuộc đời không giống như đám hơi sương bốc lên bởi gió từ một cơn sóng đánh vào bờ. Không một vật nào trên thế gian mà tôi tìm kiếm hay đạt được mang đến cho tôi sự đầy đủ hay hạnh phúc thực sự. Hai câu từ kinh Hoa Nghiêm liên tục vang lên trong tâm trí tôi.

“Không có một pháp nào khi đắc được đem đến đường vào Pháp tánh."

Và

"Trong tất cả các hạnh phúc trên thế gian, không có hạnh phúc nào mà không có khổ đau”.

Ngược lại, trong tất cả các khổ đau trong sự tu tập, không có khổ đau nào là không hạnh phúc. Chúng ta chưa từng nghèo hơn bên ngoài và giàu hơn bên trong. Rất bất định nhưng cũng rất an ổn. Tại sao? Pháp chính là như vậy. Tu tập là thứ chân thật duy nhất trên thế gian. Tu tập cũng không thể nhìn thấy. Với con mắt nhìn thoáng qua thì dường như không có gì xảy ra; đôi tai thông thường không bắt được âm thanh nào cả. Đạo thì mong manh, mờ nhạt, ẩn dấu và tĩnh lặng, nhưng làm no đủ và nuôi dướng tất cả vạn vật.

Nhìn Đạo thì không thấy,
Lắng nghe cũng không thấy,
Nhưng dùng thì không hết. (2)

Đạo Đức Kinh

 

Ghi chú:

(1) Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Nhập Pháp Giới http://www.dharmasite.net/KinhHoaNghiem39PhamNhapPhapGioi1.htm

(2) Nguyên văn Hoa ngữ:

視之不足見,

聽之不足聞,

用之不足既.

 

Thị chi bất túc kiến,

Thính chi bất túc văn,

Dụng chi bất túc kí.
 

Đạo Đức Kinh - Chương 35.
 

 

Hằng Triều - Ngày 28 tháng 6 năm 1978

Họ là những Thiện Tri Thức tốt nhất của quý vị

 

Buổi sáng hôm nay tôi lại nhìn thấy vô minh trở thành trí tuệ một cách tự nhiên khi có đủ giới định. Điều này không xảy ra bằng cách suy nghĩ hay cố gắng [chuyển vô minh trở thành trí tuệ].

Ðạo lớn của Như Lai

Vi diệu khó biết được

Lìa niệm chẳng phải niệm

Cầu thấy chẳng thể được. (1)

Kinh Hoa nghiêm - Phẩm Thập Địa

 

Những phản ứng theo bản năng “niệm đầu tiên” (2) của chúng tôi đối với các nguy hiểm và khảo nghiệm chúng tôi gặp trên xa lộ chứng minh là có hiệu quả nhất và đúng cho tình trạng thực tế của chúng tôi. Trí tuệ và vô minh là những trạng thái của toàn bộ cơ thể và tâm trí, không phải là vấn đề của sự nhanh trí hay thiếu sót về chỉ số thông minh (IQ). Tuy nhiên, trạng thái của trí tuệ tự nhiên không thể được đạt đến qua sự áp đặt hay chỉ qua suy nghĩ bằng trí óc.

Vô niệm và rời con đường của tâm trí….

Kẻ trí biết rằng trí năng không với tới.

Chỉ do tu tập giới định lâu dài

Mới chuyển mê thành ngộ, phàm thành thánh.

Lâu dài, không phải ngay lập tức,

Khi làm đúng thì không biết ngay cả điều gì đang xảy ra.

Phương pháp cổ xưa này vô thức và chất phác như thế.

Để hiểu thấu vạn vật,

Cần khổ công nỗ lực.

Khi công phu đến chốn,

Tâm lặng lẽ thấu suốt.

Hòa Thượng Tuyên Hóa

***

“Năng lực để chế phục tất cả ma quỷ”

Kinh Hoa Nghiêm

“Ma quỷ thử thách quý vị để xem có phải là một mặt thì quý vị bái lạy, nhưng mặt khác lại đang khởi vọng tưởng hay không. Nếu quý vị vượt qua được tthử thách hì không sao. Nếu không, quý vị sẽ phải bắt đầu lại từ đầu. Nếu quý vị không nhận ra sự thử thách, thì quý vị sẽ phải luyện lại một lần nữa.

Hòa Thượng Tuyên Hóa khai thị trên đường, thành phố Los Angeles, 1978

 

Ma quỷ hiện ra dưới nhiều hình thức. Chúng có thể xuất hiện ở bên ngoài như con người, ma quỷ, những người bất bình thường kỳ lạ, và những kẻ kỳ quái, ở xuất hiện bên trong thì như bệnh tật hoặc các trạng thái của tâm trí chính bạn. Ví dụ, chúng có thể biểu hiện như là “những tiếng nói của sự hoài nghi” ở bên trong để thử sự thành tâm và định lực của bạn. Hôm nay, trong khi đang lễ bái, tôi nghe thấy tiếng nói hoài nghi đó ở trong tâm trí về Phật pháp và con đường đến Phật quả. Tôi không dứt khoát cắt bỏ chúng. Tôi nửa nghe nửa bỏ qua. Nhưng nửa nghe đã mở ra một khe hở cho môt con quỷ chui vào. Ngay lập tức, tôi mất chánh niệm và đi vào trạng thái mơ mộng. Trong một giờ đồng hồ hoặc hơn (chỉ phỏng đoán vì tôi mất sự kiểm soát về thời gian và hoàn toàn bị say trong mộng như xuất thần), các suy nghĩ của tôi bị cuốn vào một bộ phim mộng tưởng ở đó tôi là một vị “Bồ Tát che dấu tông tích” đang tu Đạo, nhưng không mặc áo tràng và giới y – một “nhà sư không theo quy tắc” không có tu viện.

Trong giấc mơ tối hôm đó tôi gặp những con quỷ xấu xa và phải chịu đựng một sự mất năng lượng lớn.

“Ma quỷ không nhất định là xấu. Chúng là những Thiện Tri thức tốt nhất của quý vị. Tại sao? Khi chư Phật không còn làm công việc của họ, họ trở thành ma quỷ. Ma quỷ muốn thử thách quý vị… Quý vị càng bị khảo nghiệm, quý vị càng trở nên sáng hơn cho đến khi quý vị tỏa sáng như mặt trăng mùa thu. Điều này giống như mài dao: ma quỷ mài giũa quý vị cho đến khi quý vị trở nên sắc bén và sáng ngời.”

Hòa Thượng Tuyên Hóa khai thị trên đường

 

Bài học: Chế phục cơ thể và kiểm soát cái miệng thì chưa đủ. Tâm trí cũng phải vững chãi và thanh tịnh nếu không bạn sẽ luôn thua cuộc. Tu hành là ngay chính tại điểm này: thâu nhiếp và canh chừng tâm trí, không thả lỏng trong suy nghĩ. “Tâm trí thật nguy hiểm, hơn nữa, nó lại sâu thẳm” - Kinh Hoa nghiêm nói như vậy. Cứ chỉ chạy theo bất kỳ thứ gì trong tâm trí bạn thì sẽ chuốc lấy tai họa và gặp ma quỷ. Tại sao? Do dục vọng.

“Các cảnh giới ma quỷ đến từ một chút dục vọng hay bám chấp trong tâm trí của chính quý vị kết hợp với các duyên bên ngoài và thể hiện ra một con quỷ. Chất độc bên trong kết hợp với chất độc bên ngoài. Đừng dao động! Đừng động tâm…. Hãy hành xử như thể chúng không tồn tại.

Hòa Thượng Tuyên Hóa khai thị trên đường

 

Tái bút: Ngày hôm sau, bài ma quỷ khảo nghiệm giống hệt đã xuất hiện. Lần này tôi không để cho tâm trí lang thang nữa. Tối hôm đó, các con quỷ tập trung lại trong một giấc mơ để gây rối tôi. Nhưng đột nhiên một một danh sách các lời nguyện của tôi hiện ra trước mắt, bao quanh bởi sức mạnh và sự hiện diện đáng kinh ngạc của Tam Bảo. Các con quỷ biến mất, giấc ngủ yên ổn.

“Ma quỷ đến từ sự ích kỷ. Gốc rễ của tất cả các phiền não là dục vọng. Đến chỗ không mong cầu, thì không còn lo lắng Nếu quý vị không tìm cầu bất cứ điều gì, thì ma quỷ có thể làm gì được quý vị? Quý vị phải chế phục tất cả các loại ma quỷ."

Hòa Thượng Tuyên Hóa khai thị trên đường - Cuộc đối thoại tại phi trường, 1978.

 

Ghi chú:

(1) Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Địa http://www.dharmasite.net/KinhHoaNghiem26PhamThapDia.htm

(2) Niệm đầu tiên hay còn gọi là đệ nhất niệm (第一念). Hòa Thượng Tuyên Hóa có giải thích:

- Nếu quý vị ở niệm đầu tiên (đệ nhất niệm) thì quý vị sẽ không có tâm phân biệt. Niệm thứ nhì (đệ nhị niệm) chính là rơi vào tâm phân biệt. Niệm đầu tiên chính đó là Phật tánh, niệm thứ hai chính là vọng tưởng, là thức tâm. (你若第一念,那就沒有分別心;第二念,就是落於分別心。第一念,就是那個佛性;第二念,就是那個妄想、識心). http://www.drbachinese.org/vbs/publish/493/vbs493p012.pdf

- Niệm đầu tiên nói lên ý niệm do tâm phát ra. Chữ niệm thứ hai là chỉ ý niệm do miệng thốt ra. https://www.dharmasite.net/khaithi1.htm#8

 

Hằng Thật - Ngày 29 tháng 6 năm 1978

Tôi ước tôi đã bỏ túi mánh lới ở cánh cổng

 

“Người rất ngu ngốc”

Tôi được đào tạo để trở thành số 1, trở thành nhanh nhẹn, một người xông xáo, giữ liên lạc và chịu trách nhiệm. Bất kể tình trạng xã hội như thế nào, tôi cũng đẩy con đường của mình tiến đến phía đỉnh. Kết quả là: một bản ngã lớn, sự thỏa mãn ít ỏi, sự tranh giành tham lam nhều hơn và một ham muốn lớn về danh vọng. Tôi ước tôi đã vứt bỏ cái túi mánh lới này ở trước cửa của Tu Viện Kim Sơn Thánh Tự, nhưng tôi đã không vứt bỏ. Mất đến vài tháng bái lạy để bắt đầu thấu hiểu cái túi nặng nề của tập khí tìm kiếm danh vọng sâu dày này.

Tu đến giống kẻ khờ thật diệu thay.

Chỉ khi học đến ngu ngốc mới thật hiếm có.

Chúng tôi đang học một sự nhận thức về chính bản thân mới. Trở thành giống như Người Rất Ngu Ngốc thì chưa được thịnh hành; có một ít người làm gương để noi theo, nhưng lại cảm thấy có thứ gì đó như: không tỏa sáng, không quan hệ đến mình, không có sức thu hút, không quyến rũ. Nhưng hạnh phúc. Hạnh phúc là sự bí mật. Người Rất Ngu Ngốc trông giống chết hơn là đang sống.

Đừng để bị đánh lừa. Anh ta bận rộn bên trong, tập trung tâm trí mình vào công việc tu hành. Anh ta không có thời giờ cho việc tán gẫu xã hội. Vẻ bề ngoài ngốc nghếch của anh ta không phải là màn trình diễn; anh ta hoàn toàn thức tỉnh trong một thế giới không lời (vô ngôn), chú tâm hoàn hảo. Không mặt nạ, không giả vờ, Người Rất Ngu Ngốc không tranh đua với người khác để có vị trí số một. Anh ta không cần gì cả và không tim kiếm danh vọng hay lợi ích.

“Tôi nghe cha tôi kể rằng khi Hoà Thượng Hư Vân được hỏi một câu hỏi, ngài thường nhắm mắt và không trả lời. Ngài luôn niệm Phật.” nữ cư sĩ Quả Ngộ nói.

Người Rất Ngu Ngốc không lo lắng về bề ngoài của mình trông như thế nào; anh ta không nghĩ về chính mình một chút nào. Anh ta thấu hiểu được ảo ảnh của bản ngã và quyết tâm không để lãng phí một giây nào trên đường về nhà về cõi Tịnh Độ.

Khó để hiểu nhưng chân thật từ trong tâm. Thế giới có thể dùng ít chiến sĩ hơn. Thiên nhiên tri ân những Người Rất Ngu Ngốc.

 

Không tranh mà khéo thắng;

Không nói mà có kẻ nghe;

Không gọi mà tự đến;

Thong thả mà xong việc. (1)

Đạo Đức Kinh - Chương 73

 

Bằng việc tu tập, chúng ta từ từ gạt bỏ những ý tưởng sai lầm về việc nỗ lực giành danh vọng. Thay vào đó, chúng ta học cách trân quý sự tốt đẹp sâu xa của sự nhường nhịn và đi chậm lại. Bái lạy dạy những bài học muôn thủa.

 

Danh và thân, cái nào quí hơn? (2)

Tao Te Ching, Chương 44

 

Ghi chú:

(1) Nguyên văn Hoa ngữ:

Đạo Đức Kinh - Chương 73

不爭而善勝,
不言而善應,
不召而自來,
坦然而善謀。
 

Bất tranh nhi thiện thắng,
Bbất ngôn nhi thiện ứng,
Bất triệu nhi tự lai,
Thản nhiên nhi thiện mưu。
 

(2) Đạo Đức Kinh - Chương 44

名與身孰親?
 

Danh dữ thân thục thân?
 

 

Hằng Triều - Ngày 29 tháng 6 năm 1978

Phòng khách sạn phân hủy sinh học


“Giới hay khai phát gốc bồ-đề” (1)

Kinh Hoa Nghiêm – Phẩm Hiền Thủ

 

Giới luật là “sự đảo ngược vĩ đại”, sự quay trở lại và tiến về bờ bên kia. Khi từng lời nói, từng suy nghĩ và hành vi được tập trung lại và nấu chảy lại trong lò nung của đạo đức, cơn gió và ánh sáng của mảnh đất ban đầu (bổn địa) sẽ trở lại. Những sự chán nản độc hại sẽ phân tán và chúng ta lên tới được quốc độ cao, tới nơi công đức của hạnh thanh tịnh.

Đây chính là đang lấy được Viên Ngọc Như Ý. Khi các giới luật thanh tịnh thì bất kỳ thứ gì chúng ta mong ước thì chúng ta đều đạt được.

Ví như trong tất cả thế gian
Mà có như ý diệu bảo châu.
…
Nếu thường trì giới và tu học
Thời hay đầy đủ các công đức. (1)

Kinh Hoa Nghiêm – Phẩm Hiền Thủ

 

Bixby Landing, Big Sur

Một người lính cúng dường hai cái ba lô màu đỏ. Chúng thật lý tưởng cho việc mang bộ Kinh, bi đông nước, áo ấm và áo che gió trong khi chúng tôi bái lạy. Màu đỏ tươi làm tăng thêm sự an toàn – những chiếc giới y cũ bạc màu và áo tràng xám của chúng tôi gần như là không thấy được đối với một người lái mô tô tốc độ cao, đặc biệt khi trời chạng vạng tối hay vào một buổi sáng sương mù và ảm đạm. Ngay cả những người biết chúng tôi đang ở khu vực nào và đang tìm kiếm chúng tôi cũng gặp khó khăn trong việc tìm hai hình dáng đang chuyển động chậm mặc y phục che dấu sự hiện diện của họ. Tăng đoàn Phật giáo truyền thống mặc các y phục màu nâu đất để biểu thị cho Con đường Trung đạo, để không rơi vào tầm nhìn cực đoan của thường kiến và đoạn kiến. Màu đỏ thuộc về lửa và thuộc về phương Nam, không phải phía Giữa (Trung). Nhưng nếu việc mặc một chút màu “lửa” đỏ giữ chúng tôi tránh khỏi bị xe cán, thì đó là tôn trọng tinh thần của con đường Trung đạo, đó là: tùy duyên. Đừng rơi vào cái không và đừng bám vào cái có.


…. cuộc sống chỉ là một giấc mộng.

Mơ hay tỉnh dường như chỉ là các tốc độ khác nhau của cùng một động cơ, tâm trí. Bât cứ điều gì chúng ta vọng tưởng và dính mắc vào đều tạo nên các đợt sóng trên mặt nước của tâm trí. Đạo lý này áp dụng tương tự - ngủ và thức. Chỉ có điều là khi thức, chúng ta quá bận rộn để có thể nhận ra các đợt sóng. Nhưng trong giấc ngủ, khi các cơ quan cảm giác của chúng ta được cho phép nghỉ ngơi, chúng ta có một cái nhìn thoáng qua một góc nhỏ của tâm địa. “Tư tường ý thức” hay “vô thức”, “thực tại” hay “giấc mơ” không mô tả tâm trí nhiều như chúng bộc lộ sự thiếu hiểu biết về tâm trí của chính chúng ta. Tâm trí luôn luôn thức và tỉnh táo. Tâm trí không ngủ và không bị giới hạn bởi cơ thể, nơi chốn hay kích thước khác.

Tâm chẳng trụ nơi thân
Thân chẳng trụ nơi tâm
…
Tâm đó luôn chẳng trụ
Vô-lượng khó nghĩ bàn
Thị-hiện tất cả sắc
Ðều riêng chẳng biết nhau.(2)

Kinh Hoa Nghiêm- Phẩm Dạ Ma Cung Kệ Tán
 

Giấc mơ chỉ là vọng tưởng khi cơ thể nghỉ ngơi – xét cho cùng không khác với “điên đảo mộng tưởng” chúng ta làm khi đang “tỉnh”. Bản thân cơ thể là một sự vay mượn, một căn phòng khách sạn có thể phân hủy sinh học, nhưng tâm trí thì mãi mãi và luôn như vậy. Chúng ta chỉ thấy thoáng được một phần của Như Lai bởi vì chúng ta nhắm mắt lại và quên rằng chúng ta chỉ đang mơ. Năng lực của tâm trí rộng lớn và vĩ đại nhưng chúng ta cố gắng giam giữ chúng trong một căn phòng nhỏ bé.

Như tâm, Phật cũng vậy

Như Phật, chúng sanh đồng

Phải biết Phật cùng tâm

Thể tánh đều vô tận.(2)

Kinh Hoa Nghiêm- Phẩm Dạ Ma Cung Kệ Tán
 

Ghi chú:

(1) http://www.dharmasite.net/KinhHoaNghiem12PhamHienThu.htm

(2) http://www.dharmasite.net/KinhHoaNghiem20PhamDaMaCungKeTan.htm

 

 

Hằng Thật - Ngày 30 tháng 6, 1978

Cô ấy không biết sự thực hành của chúng tôi

 

“Một số ngày đói, một số ngày no”

 

Khi thấy bát trống

Nguyện cho chúng sanh

Rốt ráo thanh tịnh

Không còn phiền não. (1)

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Phạm Hạnh

 

Một nữ cư sĩ tốt bụng khuỳnh tay nhấn đầy cơm trắng vào những cái chén của chúng tôi. Cô ấy sẽ khiếp sợ khi biết cô ta đang làm tâm trí chúng tôi tràn đầy phiền não, hoàn toàn trái ngược với ý định của cô. Rất nhiều chuyện khôi hài ở đây. Các cư sĩ mang theo một bài giảng Pháp đến bữa ăn hôm nay. Thầy Hằng Triều và tôi đang khắc phục tánh tham ăn của chúng tôi bằng việc ăn một lượng thức ăn nhất định trong ngày. Đây là một thực hành khó khăn nhưng chúng tôi quyết định là bao tử của chúng tôi cần có kỷ luật nghiêm ngặt. Tuy nhiên Phật Pháp lại không cố định. Công phu thật sự đòi hỏi sự uyển chuyển và sự hòa hợp nhẹ nhàng. Sự thực hành của chúng tôi hôm nay trở thành một sự bám chấp, nguồn gốc của vọng tưởng và mê mờ.

Là những người hành giả tập sự, chúng tôi chưa học cách tùy theo hoàn cảnh. Những điều này gọi là “thấy biết hẹp hòi về giới” (2), một trong Năm Thứ Thấy Biết Sai (3). Thay vì dẫn đến hòa bình, thanh tịnh và an lạc, các ý tưởng cố định, cứng nhắc về tu tập của chúng tôi hôm nay mang đến cho chúng tôi nỗi khổ.

Vị nữ cư sĩ xúc đầy cơm vào chén của chúng tôi. Lời nguyện tịnh khẩu của chúng tôi đã ngăn lời không giải thích là “Hãy đợi một chút! Chúng tôi chỉ ăn một lượng thức ăn nhất định, dù thức ăn đó là thứ gì”. Cô ấy không biết sự thực hành của chúng tôi. Cô ấy đưa cho chúng tôi một phần cơm bình thường và sau đó tỏ ra lo sợ khi chúng tôi từ chối các đồ ăn khác.

 

Khi nhìn chén đầy

Nguyện cho chúng sanh

Đầy đủ sung mãn

Tất cả thiện pháp. (2)

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Phạm Hạnh

 

Bởi vậy không những chúng tôi đã không tùy thuận với mọi người mà chúng tôi cũng không biết cách trân trọng cơ hội tốt của việc đơn giản có một chén thức ăn để ăn. Chúng tôi cảm thấy khó khăn khi chỉ ăn cơm trắng, nhưng ít nhất chúng tôi được ăn. Ở Ấn Độ, các nhà sư hành khất ăn những gì đến trong bình bát khất thực của họ mà không bình luận. Một số ngày đói, một số ngày no. Nhiều người trên thế giới thường phải đi ngủ với cái đói; hai chúng tôi hiếm khi phải ăn chưa đầy bụng của mình.

“Tôi không biết là có bao nhiêu ngày trong cuộc đời này mà tôi không ăn; quá nhiều để có thể đếm.” Thầy chúng tôi (Hòa Thượng) từng nói.

Nhiều bài học hôm nay.

 

 

Ghi chú:

(1) Nguyên văn Hoa ngữ http://tripitaka.cbeta.org/X60n1115_001

若見空鉢

當願眾生

究竟清淨

空無煩惱

Nhược kiến không bát

Đương nguyện chúng sanh

Cứu cánh thanh tịnh

Không, vô phiền não

 

(2) Giới cấm thủ kiến: Thấy biết hẹp hòi về giới

(3) Ngũ Lợi Sử: Năm Thứ Thấy Biết Sai.

(4) Nguyên văn Hoa ngữ http://tripitaka.cbeta.org/X60n1115_001

若見滿鉢

當願眾生

具足盛滿

一切善法

Nhược kiến mãn bát

Đương nguyện chúng sanh

Cụ túc thạnh mãn

Nhất thiết thiện pháp

 

Hằng Triều - Ngày 30 tháng 7 năm 1978

Chỉ còn cách cánh cửa vài bước



Nhiều bài học hơn: Không đính mắc vào bất cứ thứ gì, bên trong hay bên ngoài. Vào mọi lúc và ở mọi nơi quay ánh sáng trở lại soi sáng bên trong.


Trong, ngoài, và trong các thế giới,
Bồ Tát không bám chấp nơi nào.
... Trong các quốc độ khắp mọi phương,
Bồ Tát không nương trụ nơi nào.

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Địa


Mọi thứ phải được từ bỏ, thậm chí các suy nghĩ, nghi ngời, tham dục. Sự thanh lọc phải tỷ mỉ kỹ lướng và tinh thuần như luyện kim nếu không thì con thuyền Pháp không thể vượt qua bài thử thách của lửa. Mọi thứ thuộc về cái tôi được vứt bỏ để tăng vận tốc cuộc hành trình bên trong. Nhiều hơn số dặm chúng tôi đi bằng chân của mình, chuyến hành hương là những thay đổi chúng tôi tạo nên trong tâm mình. Sự tự do đạt được là do làm mất đi, do thật sự buông xả. Xuất gia là một trạng thái của tâm trí. Khi một người xuất khỏi “ngôi nhà” (gia) của các dục vọng, phiền não và tà kiến, đây thực sự là xuất gia. Tôi vẫn cố gắng bám vào những gì tôi có được cho đến khi tôi hoàn toàn chắc rằng những gì phía trước là an toàn và chắc chắn. Kết quả là một chân của tôi thì trên chiếc thuyền đang ngược dòng và chân còn lại thì bám vào bờ. Một số ít lần tôi lấy hết can đảm để buông xả mọi thứ và tạo “bước nhảy vọt của niềm tin” thì tôi cảm thấy như một chú chim nương vào gió, bay trên các ngọn sóng.


Phật pháp giống như biển lớn, chỉ với niềm tin chúng ta mới có thể thâm nhập Phật pháp.
Hòa Thượng Tuyên Hóa - Thủy Kính Hồi Thiên Lục.

Cuối ngày. Một người đàn ông lớn tuổi, cao lớn, tóc bạc với bộ râu dài trắng như tuyết chậm rãi bước quanh chiếc xe vài lần, chìm trong suy nghĩ, xem xét kỹ lưỡng từng phân chiếc xe Đạo Tràng lưu động của chúng tôi. Sau đó ông rảo bước về phía chúng tôi, chắp tay xá chào một cách cung kính và rời đi.

Nước uống mới, quà tặng của Căn Cứ Hải Quân Point Sur. Chúng tôi trước đó chỉ còn vài ly nước cuối cùng – một sự cúng dường kịp thời và được đón chào. Chuyến đi này khiến chúng tôi trân trọng những điều đơn giản trong cuộc sống, như nước uống. Tôi luôn cho nước là thứ đương nhiên có sẵn, không có gì đặc biệt. Nhưng nước uống lạt bình thường là một kho tàng quý giá. Chúng tôi có thể đi mãi vô hạn dù không có tạp chí, thịt, nước cô ca, ti vi, bồn tắm, và giường ngủ nhưng chúng tôi không thể đi một ngày nếu không có nước. Pháp cũng vậy. Như một vị tăng già nói với chúng tôi “Một người tu hành có thể đi một ngày không có thức ăn, một ngày không ngủ, một ngày không áo ấm nhưng anh ta không thể đi một ngày mà không có Pháp”

Chúng tôi buộc phải bái lạy 400 lần tại một chỗ đất đậu xe nhỏ phía bắc của Cầu Rocky Creek. Con đường dẫn đến cây cầu không có một chút lề đường nào và chúng tôi không bao giờ bái lạy qua cầ; thay vì bái lạy qua cầu, chúng tôi đi bộ qua cầu và sẽ thêm 10% số bái lạy để bổ sung cho những chỗ bái lạy bị bỏ qua. Trong bữa ăn trưa, một người đàn ông lạ mặt từ cầu đi đến. Anh ta trông giống chú bé thần Pan vui nhộn, tôi đã có một cảm giác kỳ bí về anh ta, và tính khí của một nhân vật thần thoại trong câu chuyện cổ tích.

“Các ông có biết có một con đường đi vào bên trong cầu không? Đi nào, tôi sẽ chỉ cho các ông”, anh ta nói với một nụ cười tinh nghịch, hé nhìn vào cửa sổ xe đang mở.

“Tôi nghĩ các ông sẽ thực sự thích nó. Bốn cái cột trụ đó có một lối đi bí mật và các ông có thể đứng bên trong chúng. Đi nào, đi nào!” anh ta khuyến khích với đôi mắt vui vẻ và vẫy tay ra hiệu trong khi nhón chân đi lùi về cây cầu đá lớn.

Chúng tôi từ chối. Chúng tôi không bái lạy qua cầu bởi người ta nói rằng những cây cầu có những linh hồn và tinh linh thường gây rắc rối đang cư ngụ (như những con quỷ lùn và yêu tinh trong truyện dân gian và những “huyền thoại” phổ thông). Tôi tin điều này. Cả hai lần dừng để nghỉ và ăn quá gần một cây cầu, những “người” lạ mặt đều xuất hiện. Lần trước là hai vị quỷ loại thần dê cúng dường sữa dê tươi. Họ biến thành màu trắng như khăn trải giường và chạy xa khi chúng tôi bắt đầu niệm Chú Đại Bi. Chúng tôi thậm chí không niệm lớn – mà chỉ niệm trong tâm trí.

“Vị yêu tinh” trên cầu hôm nay xuất hiện bất ngờ tại bảng hiệu nói “Kết thúc vùng Big Sur”, giống như khi chúng tôi gặp “những quỷ thần đại dương và những người lập dị trên núi” tại điểm bắt đầu của vùng Big Sur.

***

Gió và biển không khóc hay cười. Thiên đường và trái đất không sợ hãi hay thèm muốn. Vậy tại sao tôi phải như vậy? Đá và cây, những dòng sông vĩ đại, những ngọn núi và sa mạc tất cả đều không có một cái tôi. Mọi thứ trong tự nhiên không có cái tôi và của tôi. Và tôi cũng nên như vậy, nên như vậy.

“Trống rỗng lìa ngã và ngã sở, vô tri vô giác, vô giác, vô thọ như cỏ cây, đá vách, cũng như vang bóng.”
Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập địa

Trái đất không dừng lại để cảm ơn mưa, các đỉnh núi cao không cản trở các đám mây bay, và mùa đông nhường lại cho mùa xuân mà không cần ký kết một giấy tờ nào. Không có bản ngã là hòa hợp với Đạo, đồng một thể tánh với tất cả vạn vật.

Kể từ lúc khởi đầu của cuộc hành hương, tôi từng có một giấc mơ thường lặp lại và trong giấc mơ đó có một người bạn cũ xuất hiện như một ác tri thức để dẫn tôi và nhiều người khác xuống một con đường sai lạc, xuống con đường của những hang động ích kỷ và nhưng phòng nhỏ tối mờ. Anh ta khuyến khích sự biểu lộ bản ngã, tự do cá nhân và làm bất cứ điều gì mình cảm thấy vui thích ngay lúc đó. Đạo đức, hiếu thảo, và sự đứng đắn thông thường bị chà đạp và phỉ báng một cách trắng trợn. Tối qua, anh ta xuất hiện trở lại, nhưng tôi đã có thể đứng dậy và nói “không”. Tôi thấy bản thân mình đang nói lên đạo lý chân thật với đoàn tùy tùng của anh ta.

Mọi người dừng lại. Giấc mơ dừng lại. Mọi người sửng sốt và lắng nghe, nói “Đúng như vậy”. Động lực đã xoay chuyển và một buổi tối khác với cuộc rượu chè truy hoan trác táng và nổi loạn đã bị đảo ngược. Như thể là một ai đó bật đèn sáng lên trong một bữa tiệc tối thắp đèn cầy mờ ảo và ngừng âm nhạc lại. Tôi biết đây là kết quả của việc bái lạy trong sự ăn năn và sửa đổi. Nếu không tôi sẽ không bao giờ có thể đứng dậy và chặn đứng điều này trong giấc mơ. Trong khi bái lạy trong ngày ngay trước hôm đó, tôi đã xin sự giúp đỡ và thành tâm cầu nguyện để chấm dứt nghiệp chướng này vĩnh viễn. Giấc mơ này đã đến vào mỗi tối. Sức mạnh của sự sám hối và sửa đổi thật tuyệt vời và thâm sâu.

“Nếu quý vị có thể khạc nhổ tội lỗi ra, thì hãy làm như vậy. Tại sao phải nhai lại các tội lỗi của mình? Với tư tưởng sám hối và sửa đổi này, chúng tai đảo ngược và phá được tâm trí đã liên tục nhớ về các việc làm ác.”

Lời nói đầu Kinh Hoa Nghiêm
Quốc Sư Thanh Lương

***


Đôi khi chúng tôi chạm đến điểm chúng tôi cảm thấy không thể tiếp tục nữa. Niềm tin dao động và giống như không còn con đường nào. Có thể đó là cơn gió hay cơn gió bão mùa đông khắc nghiệt dồn dập. Có thể đó là cái nóng như thiêu đốt hay một cái lạnh rét buốt cắt đến xương thịt và bám theo ngày này qua ngày khác. Có thể đó là một cảnh giới của tâm, những suy nghĩ nghi ngờ, những bài khảo nghiệm sức mạnh ý chí và sự thành tâm lại không lường được và làm mệt nhoài hơn bất cứ yếu tố thời tiến nào. Hôm nay, tôi chạm đến điểm này, tới giới hạn cuối cùng của tâm trí. Và đột nhiên tôi nhớ đến một chuyện thời thơ ấu ở tiểu bang Wiscosin: Trong suốt cơn mưa bão kéo dài năm ngày, một người nông dân mang một chiếc đèn lồng và đi kiểm tra các con bò của ông ta. Trên đường trở về từ chuồng bò, gió đã thổi tắt đèn cùa ông. Tuyết trôi dạt đã phủ kín đường mòn. Mặc dù ngôi nhà chỉ cách chuồng bò chưa đến 75 thước, ông đã bị lạc. Ông đi tới đi lui, sau đó đầu hàng và nằm trên đống tuyết. Vào buổi sáng hôm sau, người ta tìm thấy ông bị chết vì cóng trong khi chỉ còn cách cửa sau nhà một vài bước chân.

Nếu tôi dừng lại và nằm lại trong cơn bão tuyết trong tâm trí tôi, tôi có thể cũng bị lạnh cóng đến chết khi chỉ còn cách cửa nhà mình vài bước chân. Cửa nhà của người tu hành là tâm trí không bao giờ nằm xuống, ý niệm không trụ vào nơi nào. Chỉ một ý niệm tiếp tục đi khi bạn cảm thấy bạn không thể đi thêm một chút nào nữa cũng giải thoát đủ năng lượng để tiếp tục đi mãi mãi. Bánh xe Pháp luôn chuyển động (Pháp luân thường chuyển), con đường Bồ Tát là vô tận. không thối chuyển.

Trong tất cả thế giới tận cùng vị lai Bồ Tát trụ trong Bồ Tát Đạo không nhàm mỏi…. Bồ Tát phát tâm Bồ Đề không bao giờ thối chuyển."
Kinh Hoa Nghiệm - Phẩm Thập Hồi Hướng


***
 

Một “người thuyết giáo” đạo Cơ đốc xuất hiện để cải đạo chúng tôi. Tôi cố gắng nói với anh ta nhưng nó thật lạc lõng. Anh ta đã “đi”. Anh ta đứng trên đỉnh của một đống sỏi của Sở Giao Thông Tiểu bang California, một tay kẹp quyển Thánh Kinh, tay kia đưa thẳng lên trời, lắc mạnh và cảnh báo. Mặt đỏ, đầy cảm xúc, anh ta thậm chí còn không biết tôi đang cố gắng nói chuyện với anh ta. Tôi quay trở lại bái lạy.


“Chưa từng tạm khởi tâm hý luận
Chỉ quán các pháp không vô ngã.…

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Hồi Hướng

 

 

Tháng Bảy

 

Hằng Thật - Ngày 1 tháng 7, 1978

Tất cả có thể biến mất trong giây phút kế tiếp

 

Đi từ lúc mặt trời mọc cho đến tối, từ lạy này đến lạy khác. Không có dự tính nào cả là một dạng của giải thoát. Phật Pháp làm giàu có cho trái tim, lấp đầy từng khoảng trống tạo nên bởi giảm thiểu thức ăn, quần áo, ngủ nghỉ, lời nói, suy nghĩ dư thừa.

Sự thất bại và thành công mất ý nghĩa của chúng. Cuộc sống trở nên đơn giản, quay vào bên trong những thay đổi thường xuyên, một bài học không bao giờ dừng trong việc thích nghi và hài hòa.

Không gian bái lạy của chúng tôi, đồ đạc, xe, và thậm chí cuộc sống của chúng tôi tất cả có thể biến mất trong giây phút kế tiếp. Món quà của sự sống chính nó giống như một bong bóng nước trên mặt hồ, giống một hình phản chiếu trên tấm gương, giống như một giấc mơ qua đi trong một cái quay đầu. Có thành hiền xưa nói rằng:

 

Không cầu đạo lớn thoát đường mê

Cô phụ tài hiền, sao trượng phu (1)?

Trăm năm, ngày giờ như điện chớp.

Một đời, thân giống bọt nước trôi.

Thê, tài: vất đi! - Nào thật có

Tội nghiệp: theo mình, khó dối ai.

Thử hỏi chất vàng cao bằng núi,

Mua được “vô thường” đừng lại chăng? (2)

 

Ghi chú:

(1) Trong bài Đại Trượng Phu, Hòa Thượng Tuyên Hóa giải thích:

Trong tâm của đại trượng phu xuất thế thì chẳng có giàu sang, mà cũng chẳng có nghèo hèn, chẳng có quan niệm về giai cấp, về quyền lực; quan niệm về mình về người cũng chẳng còn nữa; trong tâm chẳng còn gì, quan niệm về uy vũ chẳng có, những chuyện thế gian đã được gội sạch, chỉ còn lại là cái phong thái đội trời đạp đất, thông suốt thiên địa, trong cái hào khí triền miên, và cái thái độ chính đại quang minh đầy ắp vũ trụ. Mọi ý niệm phải trái của người với của ta đã im bặt, những chuyện dính mắc thuộc loại này không còn nữa. Vậy thì người đó còn sự hiểu biết chăng? Còn hiểu biết. Cái gì cũng hiểu biết cả, có điều là họ không đi ngược lại đạo lý. Những bậc đại trượng phu ấy, họ nhờ vào cái gì mà có thể "giàu sang không dâm, nghèo hèn không đổi, quyền uy không thể khuất phục"? Bởi trong tâm của họ không còn cặn bã, không có thứ gì làm vẩn đục tâm của họ.

(2) Nguyên văn Hoa ngữ của bài thơ: http://www.drbachinese.org/online_reading/dharma_talks/volume2/volume2_73.htm , bản dịch Việt ngữ Đời Người Như Giấc Mộng Như Ảo Ảnh

不求大道出迷途

縱負賢才豈丈夫

百歲光陰石火爍

一生身世水泡浮

妻財撇下非君有

罪業將行難自欺

試問堆金等山嶽

無常買得不來乎.

 

Bất cầu đại đạo xuất mê đồ.

Túng phụ hiền tài khải trượng phu!

Bách niên quang âm thạch hỏa chước,

Nhất sinh thân tợ thủy bào phù.

Thê, tài phao hạ phi quân hữu,

Tội nghiệp tương hình nan tự khi!

Thí vấn đôi kim đẳng sơn nhạc,

Vô thường mải đắc bất lai hồ.

 

 

 

Hằng Triều- Ngày 1 tháng 7, 1978


“Marty” nôn nóng muốn xuất hiện trở lại

 


“Công đức – Tìm kiếm từ bên trong”


Trí huệ thấu suốt biển các pháp,
Thường thích tu hành pháp lìa si,
Thành tựu đủ công đức xuất thế,
Chẳng còn tu học pháp thế gian. (1)

 

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Hồi Hướng
 

Khi tôi lần đầu tiên đọc bài kệ này vào một buổi chiều, lúc đang ngồi trên một cồn cát xa khỏi xa lộ gần bờ biển, tôi gần như xúc động muốn khóc. Tại sao? Khó có thể diễn tả. Nó gợi lên một cảm nhận sâu sắc về sự giải thoát và để lại trong tôi một viễn cảnh về một con đường mới đang mở ra trước mắt tôi – một con đường thanh tịnh đưa tôi ra khỏi ngôi nhà tam giới. Tôi cũng biết hổ thẹn và hối hận vì đã lãng phí quá nhiều năm trong đời với những chuyện nhỏ nhặt và theo đuổi các pháp thế gian.

 

“Nhưng công đức là gì” Tôi tự hỏi. Thuật ngữ này dường như lặp lại trong các kinh, luận và trong lời dạy của Hòa Thượng trên đường đi. Ngài nói với chúng tôi “Chúng ta nên giữ hành vi với bản thân như thế nào? Thái độ của chúng ta nên là:

Có công đối với thế giới,
Có đức đối với con người.
Làm lợi ích to lớn cho bốn châu thiên hạ”.

Lập công tu đức là mục đích của con người và là nền tảng để trở thành một vị Thánh. Điểm cốt tủy trong cả ba trường phái tư tưởng Trung Hoa cổ đại là vun bồi và trau dồi đức hạnh. Khổng Tử, trong sách Đại Học gọi đức hạnh là đỉnh cao nhất của giáo dục và gốc rễ của tất cả mọi thứ khác.

“Đạo của học thức lớn (Đại Học) nằm trong việc làm sáng tỏ cái đức sáng của chính mình (Minh minh đức ), yêu thương dân (Tân dân), an trụ ở nơi chí thiện (Chỉ ư chí thiện)... Tu thân là gốc của vạn vật…” (2)

Khổng Tử cho rằng giống như sự giàu có tô điểm cho ngôi nhà, cũng vậy đức hạnh tô điểm cho con người (3). Và bởi vậy,

“Người quân tử trước hết và trên hết dồn tâm trí vào đức hạnh của mình” (4)

Mạnh Tử thì cho rằng tất cả con người đều được thiên nhiên ban cho phẩm chất đức hạnh của Thánh nhân, “Vạn vật đầy đủ ở nơi ta” (5) ông nói, và

“Thánh nhân khác phàm phu chỉ ở chỗ họ không phung phí vốn quý của mình. Tìm kiếm sẽ thấy, nhưng bỏ mặc thì sẽ mất nó” (6)

Bởi vậy Mạnh Tử nhấn mạnh:

“Con đường đức hạnh cần theo đuổi mà không được quay lại và không một ý nghĩ về bổng lộc” (7).

 

“Người trí không có gì là không biết nhưng họ chăm chú nhất về điều quan trọng. Người nhân từ không gì là không nhân ái, nhưng điều chú trọng nhất là tu dưỡng đức hạnh." (8)

“Người dậy vào lúc gà gáy và chăm chỉ làm thiện là học trò của vua Thuấn.” (9)
 

Lão Tử, khi đặt đề mục cho tác phẩm nổi tiếng nhất của mình, Đạo Đức Kinh, đã không còn nghi ngờ gì về sự vượt trội của đức hạnh trong việc tu Đạo.

Đạo sinh ra vạn vật
Đức nuôi dưỡng vạn vật
Khiến vạn vật hình thành
Hoàn thành vạn vật.
Vì vậy mà vạn vật đều
Tôn trọng Đạo và quí Đức. (10)

 

Đạo Đức Kinh - Chương 51

Nhưng trong Phật giáo, công đức được đón nhận sâu sắc nhất và đạt đến sự biểu lộ cao nhất trong Con đường Bồ Tát (Bồ Tát Đạo). Sự viên mãn tột cùng của công đức là Bồ Đề Tâm, là sự phát tâm vô thượng đến Phật quả.


Muốn biết tất cả các Phật-pháp
Phải nên mau phát Bồ-đề-tâm
Tâm này hơn hết trong công-đức
Tất được Như-Lai vô-ngại-trí. (11)


Kinh Hoa Nghiêm – Phẩm Sơ Phát Tâm Công Đức.


Tôi nhận ra ngày hôm đó trên đường quốc lộ bên bờ biển rằng tôi không có hiểu biết thực sự về công đức đích thực. Ở Phương Tây, chúng tôi học về các nhà phát minh, những người thám hiểm - những người đọ sức với bản tính của người khác, và chiến thắng. Những điều thiếu sót là thiếu những vị Thầy hướng dẫn có trí tuệ dẫn đường cho hành trình bên trong và cho con đường tâm linh của những anh hùng vĩ đại. Tôi nghe về công đức, đọc về công đức nhưng tôi không thực sự hiểu công đức. Đó là mảnh đất mới, tuy nhiên là mảnh đất lâu xưa nhất, mảnh đất bản hữu của tâm chân thật của chúng ta. Đạo và các phẩm chất đạo đức không bao giờ rời bỏ chúng ta dù chỉ một khoảnh khắc. Phật tánh không đến không đi, không tăng không giảm, chúng ta chỉ đơn giản là bỏ quên Phật tánh. Bởi vậy Khổng Tử nói,


Đạo không thể rời trong khoảnh khắc
Nếu nó rời đi thì không phải là Đạo. (12)

Trung Dung – Thiên Mệnh
 


Trí tuệ Phật như vậy
Thấu khắp tâm chúng sanh
Do vọng tưởng trói buộc
Chúng ta nào hay biết.
 

Kinh Hoa Nghiêm


Công đức là gốc rễ từ đó tất cả các nhánh cây nảy nở. Công đức là biển cả nơi tất cả các dòng nước nhỏ hơn tụ về. Công đức vượt qua tất cả sự khác biệt về thời gian và nơi chốn, kết nối Đông và Tây, cổ đại và hiện đại, vào một hiện thực ngay đây và bây giờ. Những lời dạy của Khổng Tử, Mạnh Tử, Lão Tử, tất cả chứa đựng những mô tả tuyệt vời về công đức. Nhưng cách diễn đạt “đanh thép” đầy đủ và chính xác nhất tôi tìm được là trong Kinh Pháp Bảo Đàn. Những trích dẫn từ Đai Sư Huệ Năng vô cùng quý báu và thân thiết đối với tôi. Nhiều lần trong khi bái lạy tôi tìm thấy mình quay trở lại những lời này như nguồn dinh dưỡng. Chúng hướng dẫn, truyền cảm hứng và hơn tất cả như là một khuôn đúc thích hợp để rót tâm trí của tôi vào đó, tôi luyện và rèn nên một con người mới với chánh tri kiến. Tôi cuối cùng đã chép các đoạn tôi ưa thích vào cuốn số tay và mang theo hành lý của mình. Tôi lấy chúng ra trong khi ngồi trên lề đường hay trong tiệm giặt mở suốt đêm và quán sát phần tốt nhât của việc làm người và những nền tảng cơ bản để trở thành một vị Phật.



“Công Đức – Tìm kiếm bên trong”


“Công đức ở bên trong Pháp thân, không phải do tu phước mà được. Thấy Tánh là Công, bình đẳng là Đức. Mỗi niệm không ngưng trệ, thường thấy bản tánh, diệu dụng chân thật gọi là công đức”. “Trong tâm khiêm hạ là công, bên ngoài hành lễ phép là đức. Tự tánh dựng lập muôn pháp là công, tâm thể lìa niệm là đức; không lìa tự tánh là công, ứng dụng không nhiễm là đức. Nếu tìm công đức pháp thân, chỉ y nơi đây mà tạo là chân công đức”


“Nếu người tu công đức, tâm tức không có khinh, thường hành khắp kính. Tâm thường khinh người, ngô ngã không dứt, tức là không công, tự tánh hư vọng không thật tức tự không đức, vì ngô ngã tự đại thường khinh tất cả”

“Này Thiện tri thức, mỗi niệm không có gián đoạn là công, tâm hành ngay thẳng là đức, tự tu tánh là công, tự tu thân là đức.

Ghi chú: “Thân” tức là “không tham, sân, si. Nếu không sát sanh, trộm cắp, nói dối, là tu thân. Đó là công”

“Này Thiện tri thức, công đức phải là tự thân mà thấy, không phải do bố thí cúng dường mà cầu được. Ấy là phước đức cùng với công đức khác nhau. Tổ sư ta không có lỗi”
“… Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân là cửa. Ngoài có năm cửa, trong có cửa ý…Phật nằm trong tánh mà tạo, chớ hướng ra ngoài mà cầu. Tự tánh mê tức là chúng sanh, tự tánh giác tức là Phật.” (13)


Kinh Pháp Bảo Đàn


* * *


“Đầy đủ tự nơi mình, và không dựa vào những gì bên ngoài, đó là đức.”


Hòa Thượng Tuyên Hóa

Los Angeles, ngày 8 tháng 5, 1978



* * *


Người xưa dạy rằng xã hội chỉ có thể trật tự khi tâm trí và bản tánh của người dân được trật tự. Quốc gia thái bình và thịnh trị chỉ khi các người lãnh đạo học được cách điều phục bản thân bằng cách tu sửa và “tìm kiếm sự trọn vẹn của bản thân” Khi nền tảng đức hạnh được vững chắc, và cái đức bên trong tròn đầy, thì nó sẽ sinh ra một năng lượng thiện lành chánh trực tự nhiên tuôn chảy nuôi dưỡng và dẫn dắt tất cả sự sống.

“Người quân tử tuân thủ nghiêm ngặt tu thân thì thiên hạ được bình yên” (14)
Mạnh Tử

Công đức nằm trong việc tự tu tập bản thân. Tự tu tập bản thân nghĩa là thanh lọc tất cả sai lầm, ích kỷ, nhỏ nhen, phiền não, và sửa chữa lại tất cả các sai lầm, các thói quen xấu, thái quá và thiếu sót. Con người được tu tập qua việc sửa sai lầm cho tâm trí. Sửa sai lầm tâm trí nằm ở việc loại bỏ hết các dục vọng. Công đức cao nhất và hoàn thiện nhất xuất hiện mà không cần nỗ lực khi tâm trí chánh trực, giống như một cơn mưa nhẹ, và vô tận như mạch nước trong núi. Tâm trí chánh trực nằm trong việc nảy sanh suy nghĩ không dính mắc vào đâu cả. Đây là tự tánh căn bản của con người, và là nghĩa của “tu thân” và “phản bổn” (trở về cội nguồn).


Các bậc Thánh Hiền cổ xưa khác nhau chút ít trong sự nhấn mạnh và cách tiếp cận, nhưng sự đồng ý với nhau của họ về cách thức tu tập công đức bằng các phương tiện của suy nghĩ đúng đắn và hành xử thanh tịnh là rõ ràng và chắc chắn. Thanh tịnh là nguồn gốc của công đức; trí tuệ là các cành nhánh của công đức.


“Phép dưỡng tâm không gì bằng bớt dần những điều ham muốn” (15)

Mạnh Tử

 

“Nếu còn tham muốn thì không có được chân chánh ”
Khổng Tử


“Bởi vậy, thường không có tư dục, mới nhận được chỗ huyền diệu của đạo;
Thường bị tư dục nên chỉ thấy chỗ chia lìa của Đạo. (16)
Lão Tử


“Ông tu phép Tam-muội cốt để ra khỏi trần-lao, nếu không trừ lòng dâm, thì không thể ra khỏi trần-lao được”.(17)
Kinh Thủ Lăng Nghiêm - Quyển sáu


* * *


Tu thân được hoàn thiện bằng việc sửa những sai lầm của tâm trí. Tâm trí được sửa chữa bằng việc xua đuổi các dục vọng. Dục vọng tự đuổi chúng đi khi các suy nghĩ được làm sạch và lắng lại. Khi dục vọng biến mất và suy nghĩ dừng lại, khi đó trạng thái tự nhiên của sự tĩnh lặng thanh tịnh giải thoát xuất hiện trở lại, như mặt trời chiếu sáng khi mây đen tan biến. Trạng thái cao nhất của tâm trí tự quay trở lại về nơi chốn không có thứ gì để tìm kiếm, không có gì để đạt được (vô cầu, vô đắc). Và sự trọn vẹn của công đức đến từ việc đơn giản biết đủ. Và bởi vậy, một tác giả cổ xưa viết,


Quả giác ngộ viên mãn
Trở về nơi vô đắc
Tự mình có đầy đủ
Không tìm cầu bên ngoài
Là trọn vẹn công đức.

* * *

Đường chia hai ngả giữa rừng vàng
Tiếc thay không thể đi cả hai
Tôi khách cô hành đứng lại lâu
Nhìn đường xa tắp cuối tầm nhìn
Tận khúc quanh xa trong bụi cây. (18)

Robert Frost


Phia cuối vùng Big Sur. Chúng tôi tái nhập trở lại nền văn minh trên vùng ven phì nhiêu của Cao nguyên Carmel.

“Ê Marty! Ê Marty!” ai đó gọi to từ phía sau khi chúng tôi lạy gần biển. Phải mất một lúc để cái tên “Marty” được cảm nhận. Đó là tên của tôi trước khi đi tu – tôi đã không nghe tên này trong hơn một năm (một năm tu tập dài hơn cả toàn bộ cuộc đời).

Chiếc xe chở đầy những người bạn cũ vẫy tay và cười.

“Chúng tôi cá rằng đã làm bạn bị bất ngờ, đúng không?” họ nói. Nếu mà họ biết rõ hơn, có những sự ngưng lại khó khăn, những cái nhìn chằm chằm lâu dài, có thể một chút bàng hoàng khi chúng tôi hòa nhập lại và dò tìm một vùng chung, một đường mòn quen thuộc. Đường mòn thì không còn nữa và vùng chung cũ thì đã cỏ mọc đầy.

Đây là những người bạn thân cũ. Chúng tôi cùng chia sẻ nhiều năm của những nhân duyên và kinh nghiệm sâu đậm trong cuộc sống: kết hôn, con cái, đại học, sống chung, sinh đẻ và qua đời, ly hôn, những quãng thời gian khó khăn và đẹp đẽ, nước mắt và những bài hát, tất cả những kết gằn và ràng buộc tình cảm của con người. Chúng tôi không bao giờ quên được nhau, tuy nhiên khi chúng tôi đứng đối diện trên xa lộ doc bờ biển đầy gió này, qua yên lặng, qua trực giác, tất cả chúng tôi đều biết rằng – lần này đã thay đổi tốt đẹp.

... Và hai con đường sớm mai ấy
Lá phủ đầy, chưa có dấu chân
Ồ, đường đầu tiên sẽ đi hôm khác!
Tuy biết đường sẽ tiếp nối đường
Ta không chắc còn quay trở lại. (18)

Robert Frost
 

Chúng tôi bắt đầu 15 năm trước đây trong căn phòng phía sau của một nhà hàng Ý nhỏ, quanh một tấm vải trải bàn hình ô đánh cờ có thắp đèn cầy cùng thề nguyện là “sẽ đi theo sự thật cho dù việc đó sẽ dẫn đến bất cứ nơi nào.” Chúng tôi còn trẻ, đầy lý tưởng và nhiệt huyết. Chúng tôi đã đi vào trận chiến cùng nhau, nhưng trận chiến của tâm hồn thì luôn luôn đơn độc và những người bạn tốt nhất phải nhanh chóng chọn những con đường khác.

"Người hành Ðạo ví như một người chiến đấu với muôn người; mang giáp ra cửa, hoặc có ý khiếp nhược, hoặc nửa đường rồi lui, hoặc chống cự đến chết, hoặc đắc thắng mà về.

Bậc Sa-môn học Ðạo phải giữ lòng bền vững và tinh tấn lướt tới, chẳng sợ cảnh trước, phá diệt bọn ma, chứng được Ðạo-quả." (

Kính 42 chương - Chương 33


Thật khó để tập trung sau khi họ rời đi. Nhiều kỷ niệm khuấy động, đầy những suy nghĩ. Ra khỏi vùng hoang vu đến một chiếc xe đầy những người bạn cũ là một cú sốc kép – một là văn hóa, hai là sự nhận diện. “Marty” thì rất háo hức muốn xuất hiện trở lại. Còn Hằng Châu mới, mong manh thì cảm thấy vụng về, không tự tin không sinh động, nhưng khá châm chạp và không ổn định. Lặng lẽ, nói nhỏ có thể thậm chí một chút lạnh lùng. Thật không dễ để thay đổi.

Và tuy vậy, nhà tu hành, một ẩn sĩ người “leo gió và cưỡi sương”, là ngôi nhà thật của tôi, trái tim tôi biết hạnh phúc của việc xuất gia, của việc chân thật và tự nhiên, của sự mất tất cả mọi thứ để tìm thấy tất cả. Miệng tôi không thể tìm được từ ngữ đẹp dễ hay cuộc nói chuyện lịch lãm nào, nhưng bên trong tôi quan tâm sâu sắc đến tất cả họ và tất cả nhân loại.

Tôi là một người mới bắt đầu, hãy còn là một Bồ Tát bằng đất sét, vừa chỉ mới có thể giữ được chính tôi nổi trên biển – chỉ cần một con sóng và tôi vỡ vụn. Nhưng khi đất sét trở thành kim cương, thì tôi sẽ quay trở lại đưa tất cả chúng sanh vượt qua biển khổ.

“Tôi bây giờ vì tất cả những chúng sanh này, tu tập phước huệ, và các pháp trợ Đạo. Bằng tự lực, tôi quyết tâm và không tìm kiếm bạn đồng hành. Tôi dùng công đức để làm tất cả chúng sanh tích tụ sự thanh tịnh tuyệt đối cho đến và bao gồm Thập Lưc của Như Lai và trí tuệ vô ngại.”

Kinh Hoa nghiêm.


Một phần trong tôi muốn tỏa chiếu một nụ cười lớn, nói chuyện hài hước, vỗ lưng, và làm giống trở lại như ngày trước. Nhưng chúng ta đã từng làm tất cả thuộc về thời trước và chúng không mang đến sự giải thoát; chúng không đuổi những bóng tối hay làm đầy âm vang trong trái tim. Đả đến lúc tiến tới. Sự trưởng thành trên những chồi nụ ở đầu nhánh cây, và mùa xuân cũng vậy. Chúng tôi quay ngược lại với bụi trấn để tái hợp với sự gíac ngộ (bội trần hơp giác). Làm sao chúng ta có thể là những người bạn chân thực của nhau trừ khi trở nên chân thực với tâm hồn của chúng ta? Tu Đạo là cô đơn và tự do, đầy niềm vui và sự kỳ điệu – Đó là con đường ít người đi và điều đó tạo nên sự khác biệt.

Tôi sẽ thở dài kể chuyện này
Từ nơi nào đó đã lâu rồi:
Hai ngả đường rẽ ra trong rừng
Và tôi chọn đường ít qua lại
Và điều đó làm nên khác biệt. (18)

Robert Frost


 

 

Ghi chú:

(1) Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Hồi Hướng https://www.dharmasite.net/KinhHoaNghiem25PhamThapHoiHuong1.htm

(2) Nguyên văn Hoa ngữ:

大學之道在明明德,在親民,在止於至善... 修身為本

Đại học chi đạo tại minh minh đức, tại thân dân, tại chỉ vu chí thiện... Tu thân vi bổn.

(3) Nguyên văn Hoa ngữ:

富润屋,德润身

Phú nhuận ốc; đức nhuận thân

(4) Nguyên văn Hoa ngữ:

 :是故君子先慎乎德

Thị cố quân tử tiên thận hồ đức

(5) Nguyên văn Hoa ngữ:

萬 物 皆 備 於 我 矣

Vạn vật giai bị ư ngã

(6) Nguyên văn Hoa ngữ:

求則得之,舍則失之
cầu tắc đắc chi, xá tắc thất chi.

(7) Nguyên văn Hoa ngữ:

經德不回,非以乾祿也
Kinh đức bất hồi, phi dĩ can lộc dã 
 

(8) Nguyên văn Hoa ngữ:

知者無不知也,當務之為急;仁者無不愛也,急親賢之為務

Tri giả vô bất tri dã, đương vụ chi vi cấp; nhân giả vô bất ái dã,cấp thân hiền chi vi vụ.

(9) Nguyên văn Hoa ngữ:

雞鳴而起,孳孳為善者,舜之徒也

Kê minh nhi khởi,tư tư vi thiện giả,Thuấn chi đồ dã。

(10) Nguyên văn Hoa ngữ - Đạo Đức Kinh:

道 生 之,

德 畜 之,

物 形 之,

勢 成 之.

是 以 萬 物 莫 不

尊 道

而 貴 德


Đạo sinh chi,
Đức súc chi.
Vật hình chi,
Thế thành chi.
Thị dĩ vạn vật mạc bất
Tôn Đạo.
Nhi quý Đức

(11) Kinh Hoa Nghiêm – Phẩm Sơ Phát Tâm Công Đức https://www.dharmasite.net/KinhHoaNghiem17PhamSoPhatTamCongDuc.htm

 

(12) Nguyên văn Hoa ngữ:

道也者, 不可須臾離也;
可離, 非道也。

Đạo dã giả, bất khả tu du ly dã;
Khả ly, phi Đạo dã。

 

(13) Kinh Pháp Bảo Đàn

 

(14) Nguyên văn Hoa ngữ:

君子之守,修其身而天下平

Quân tử chi thủ, tu kỳ thân nhi thiên hạ bình

(15) Nguyên văn Hoa ngữ:

養心莫善於寡欲。
Dưỡng tâm mạc thiện vu quả dục.

(16) Nguyên văn Hoa ngữ:

常無, 欲以觀其妙; 常有, 欲以觀其徼
Cố thường vô dục dĩ quan kỳ diệu; thường hữu dục dĩ quan kỳ kiếu.

(17) Nguyên văn Hoa ngữ:

汝修三昧本出塵勞。婬心不除塵不可出
Nhữ tu tam-muội bổn xuất trần lao. Dâm tâm bất trừ, trần bất khả xuất.
(18) Nguyên văn bài thơ Anh ngữ của Thi sĩ Robert Frost (1874 - 1963) https://poets.org/poem/road-not-taken: 

The Road Not Taken
Robert Frost - 1874-1963


Two roads diverged in a yellow wood,
And sorry I could not travel both
And be one traveler, long I stood
And looked down one as far as I could
To where it bent in the undergrowth;

Then took the other, as just as fair,
And having perhaps the better claim,
Because it was grassy and wanted wear;
Though as for that the passing there
Had worn them really about the same,

And both that morning equally lay
In leaves no step had trodden black.
Oh, I kept the first for another day!
Yet knowing how way leads on to way,
I doubted if I should ever come back.

I shall be telling this with a sigh
Somewhere ages and ages hence:
Two roads diverged in a wood, and I—
I took the one less traveled by,
And that has made all the difference.

 

 

Hằng Thật - ngày 2 tháng 7, 1978

Đưa tôi xem bàn tay đáng thương của bạn

 

“Hãy sẵn sàng”

Thường tu tập như vậy

Ngày đêm không nhàm mỏi

Thiện căn càng sáng sạch

Như lửa luyện chơn kim. (1)

Kinh Hoa Nghiêm – Phẩm Thập Địa

 

Trượt dài trên hạnh phúc của sự tu tập. Tôi trở nên lười biếng sáng nay và nhận được một bài khảo nghiệm. Trở về từ bái lạy cảm giác thảnh thơi và say sưa với vẻ đẹp của bờ biển. Lòng đầy lơi lỏng, tôi không sử dụng sự kiên nhẫn và tinh tấn của Thiền. Xả thiền quá sớm, trước khi tôi thu nhiếp thân và ttập trung tâm niệm lại. Ăn trưa với tâm trí phân tán. Không an ổn và lêch lạc, tôi quay trở lại bái lạy trong ánh nắng chói sáng của buổi chiều. Bài khảo nghiệm xuất hiện trước khi tôi lạy được chín bước.

Chiếc xe thể thao màu xám dừng trong đám bụi mịt mờ, cách đầu tôi vài phân tây. Cửa bật mở. Một giọng phụ nữ khàn khàn nói “Có phải các ông đang tìm đi nhờ xe? Tôi đang đi đến Hot Springs (Suối Nước nóng). Các ông có muốn đi cùng tôi không? Vị nữ hoàng rừng rậm sải bước ra từ ghế lái xe. Một người phụ nữ đã lập gia đình khoảng hơn 50 tuổi, dáng điệu nhún nhảy, tóc vàng hoe cao khoảng 1 thước 78. Khuôn mặt mập, váy lụa đen xẻ dài bên cạnh. Trang sức bạc hiệu Navajo lủng lẳng trên tai, tay, cổ. “Đi nào, tôi sẽ mời các ông ăn trưa và chúng ta cùng đi tắm. Các ông sẽ không đi suốt cả đoạn đường đến Monterey như thế này chứ? Để làm gì vậy?” “Tôi cũng là một người theo đạo Phật. Tôi thuộc về nhóm như vậy. Nhưng bây giờ tôi chuẩn bị đi ăn trưa và tắm nước khoáng nóng. Tôi sẽ mời các ông. Chúng ta đi chứ? (Cô ta ra lệnh) Lên xe”.

Bà ta nói thêm “Đưa cho tôi xem bàn tay đáng thương của các ông”

Bà đưa tay ra. Tôi rút tay lại. Bà ta dậm chân, lao đi và bước dài về chiếc xe, đồ trang sức rung rinh, kêu lách cách. Ống khói xe phun mạnh, bánh xe quay tít, chiếc xe biến mất sau đoạn đường vòng. Phù!

Những Thiện tri thức như bà ta thật hiếm. Bài học của họ không phai đi nhanh chóng. Bả ta nói Pháp về sự cần phải cẩn mật thận trọng liên tục ngày đêm, không mệt mỏi.

Giống như các nam hướng đạo sinh, hành giả tu Đạo phải luôn “sẵn sàng”. Các cảnh giới và khảo nghiệm đến từ mười phương. Chúng dường như tóm lấy chúng ta lúc không có sự phòng vệ, xuất hiện với thời điểm kỳ lạ vào lúc hành giả bất cẩn.

Bồ Tát không một niệm thôi nghỉ phế bỏ. Ði, đứng, ngồi, nằm, nhẫn đến lúc ngủ chiêm bao cũng chưa từng tương ưng với cái chướng. Luôn không hề bỏ những quán niệm (về trí tuệ sáng suốt) trên đây. (1)

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Địa - Phần Địa Thứ Bảy: Viễn Hành Địa

Tại sao? Bởi vì tất cả đều là khảo nghiệm. Chúng ta có thể thường vượt qua khảo nghiệm nếu tâm trí chúng ta trong sáng và tỉnh táo. Tâm ý chân thành cắt xuyên các cảnh giới một cách khéo gọn. Khi chú tâm, chúng ta không phân biệt các bài khảo nghiệm và không phải bài khảo nghiệm cho đến khi các cảnh giới đến và đi. Nhưng trong một khoảnh khắc lơi lỏng hay mê mờ, chúng ta che phủ lên trí tuệ của chúng ta và “đối cảnh lầm không biết” chúng ta sẽ trượt bài khảo nghiểm và phải làm lại từ đầu. (2)

 

 

Ghi chú:

(1) Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Địa http://www.dharmasite.net/KinhHoaNghiem26PhamThapDia.htm

(2) Nguyên văn Hoa ngữ - Bài kệ của Hòa Thượng Tuyên Hóa:

一切是考驗,

看爾怎麼辦?
覿面若不識,

須再從頭煉。

 

Nhất thiết thị khảo nghiệm,
Khán nhĩ chẩm ma bạn?
Địch diện nhược bất thức,
Tu tái tòng đầu luyện。

 

Tất cả là khảo nghiệm,

Coi thử mình ra sao,

Ðối cảnh lầm không biết,

Phải luyện lại từ đầu.

 

 

Hằng Thật - Ngày 3 tháng 7, 1978

Đi thuyền sang bờ bên kia

 

“Kiên nhẫn rất vĩ đại. Nếu quý vị có thể làm chủ được sự kiên nhẫn, quý vị sẽ đến được bở bên kia. Không có kiên nhẫn, quý vị không thể đến nơi. Quý vị có thể gọi kiên nhẫn là một con thuyền. Quý vị cỡi con thuyền kiên nhẫn để đến bờ tinh tấn bên kia.

“Quý vị lắng nghe và lắng nghe, nhưng ở đây lắng nghe không có tác dụng gì cả. Quý vị phải đi và làm. Bất cứ ai có thể kiên nhẫn sẽ đạt được đại phước, đại trí và đại an lạc.”

Hòa Thượng Tuyên Hóa

Ngay bây giờ ngồi tĩnh lặng trong thời khóa thiền buổi tối cần sự kiên nhẫn. Xương đầu gối tôi nóng cháy giống như ngọn lửa cháy rừng Ventana Cove đang cháy ngay phía đông nơi đây. Tôi lặng ngắm cách dòng nước khắc tạc một cách kiên nhẫn như thế nào để tạo nên các dòng suối sâu trong các vách núi đá rắn chắc. Tôi kiên nhẫn trì chú giống như dòng nước đang chảy róc rách trong tâm trí. Sẽ đến lúc Pháp âm sẽ tạo nên một dòng suối xuyên qua ngọn núi đá rắn chắc của các phiền não của tôi.

 

 

Hằng Triều - Ngày 3 tháng 7, 1978

Trắng tay gặp Diêm Vương

 

Giấc mơ: Một mình, cỡi các con sóng khổng lồ chạm tới những đám mây, chỏm núi và rơi trở lại về biển. Không sơ hãi, nhẹ nhàng và tự tại thoải mái. Tôi đáp xuống một hòn đảo bùn đang trôi nổi. Tôi rất vui thích và trước khi nhận thức ra thì tôi bị gài bẫy và làm quay cuồng bởi các linh hồn quỷ. Bị kẹt trong bùn, không thể quay về với các con sóng lớn.

Hòa Thượng Trụ Trì và đại chúng xuất hiện để nạp điện lại các bình điện của tôi. Hòa Thượng mỉm cười như một người cha và đưa tôi quay trở lại con đường đến Vạn Phật Thánh Thành. Tôi đã quá mệt mỏi sau khi chiến đấu với bọn quỷ trong đảo bùn và đã ngủ gục trong lúc ăn trưa. Một nhóm các vị Hộ Pháp xuất hiện trong một chiếc xe van bán tải bốn bánh. Con đường phía trước là không thể vượt qua, chỉ toàn là bùn. Các vị Hộ Pháp hét lớn: ”Chúng ta sẽ đi qua. Tiến lên và vượt ra khỏi những xiềng xích này”.

“Nhưng, nhưng…” Tôi lắp bắp

“Không nhưng gì hết!” người trưởng đoàn nói “Nhanh lên”

Chẳng bao lâu chúng tôi đưa được chiếc xe van bán tải chạy lên ngọn đổi và thoát ra khỏi hố bẫy bùn. Những vị Hộ Pháp khỏe mạnh, tự tin và vui vẻ. Giấc mơ đã đến sau khi “tách khỏi cái này”. “Cái này” là gì? “Cái này” là nhất tâm, cái vô tâm không không mưu cầu, không nắm bắt, không lo lắng. Tôi rời “cái này” để đến “cái kia” cố gắng nghĩ về sự vật bên ngoài và dự đoán tôi sẽ hành động như thế nào, sẽ nói gì nếu những người bạn cũ của tôi quay trở lại. Họ sống ở thành phố Carmel, cách đây một vài dặm và tôi không thể xua họ ra khỏi suy nghĩ của mình. Tâm trí của mình nên giống như tấm gương: khi một hình ảnh xuất hiện, tấm gương phản chiếu hình ảnh; khi hình ảnh đi rồi thì tấm gương trở về trống rỗng.

Tâm trí tôi thay vào đó lại giống như một tấm phim ảnh nhạy bén– in dấu và hấp thụ mọi hình ảnh đi qua. Vào cuối ngày, tôi cảm thấy giống như một cuốn an bum cũ bị nhồi nhét quá nhiều ảnh và giống như bị kẹt trên đảo bùn.

 

Nhứt tâm cầu Phật trí

Chuyên ròng không niệm khác.

...

Chẳng thích những thế sự

Thường lợi ích thế gian. (1)

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Địa

 

Trong một vài phút, tôi rời khỏi các suy nghĩ quanh quẩn, cố gắng “vui sướng trong các việc thế gian”. Ân hận ngay lập tức. Làm sao tôi có thể quên: Không có niềm vui nào trong các việc thế gian. Niềm vui thực sự duy nhất là rời khỏi thế giới.

 

Không trụ Pháp thế gian

Ưa thích rời thế gian

Biết pháp như hư không

Chẳng từ nơi nào đến.

…

Trụ biên tế vô tướng.

Chỉ còn có nhất tướng...

Tôi đọc những dòng này trong Kinh Hoa Nghiêm, ngồi trong xe mở cửa nhìn ra mặt trời lặn. Thầy Hằng Thật đang rửa trong một thau nhựa trên mũi trước xe. Một khoảng thời gian lặng lẽ trong ngày, một khoảng trống để nhìn lại. Các bạn tôi đã đi rồi, gia đình thì ở xa. Gió thổi từ biển. Phía trên, những đám mây trắng bồng bềnh cô độc trôi qua. Bên dưới, chúng tôi nhỏ xíu, bình yên bái lạy với tất cả mọi thứ. Tôi nhớ Hòa Thưọng Trụ Trì nói với đại chúng ở thành phố Loas Angeles:

“Thứ gì ở đó mà quý vị có thể cho là quan trọng trong cuộc sống này? Đó là tại sao tôi nói cho quý vị biết:

Cá hăm hở trong nước

Người thế gian cuồng náo,

Không biết làm công đức,

Mất tâm tạo nghiệp tội.

Vàng bạc cao như núi,

Nhắm mắt đều nào còn,

Trắng tay gặp Diêm Vương,

Hối hận nước mắt tuôn. (2)

 

Điều gì đáng giá với quá nhiều mồ hôi nước mắt và sự điên đảo? Hãy suy nghĩ kỹ, suy nghĩ thật kỹ”.

 

Ghi chú:

(1) Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Địa http://www.dharmasite.net/KinhHoaNghiem26PhamThapDia.htm

(2) Nguyên văn Hoa ngữ http://www.drbachinese.org/vbs/publish/272/vbs272p031.htm

魚在水裡躍,

人在世上鬧,

不知為善德,

虧心把孽造,

金銀堆成山,

閉眼全都撂,

空手見閻君,

悔心把淚掉

Ngư tại thủy lý dược,
Nhân tại thế thượng náo,
Bất tri vi thiện đức,
Khuy tâm bả nghiệt tạo,
Kim ngân đôi thành san,
Bế nhãn toàn đô lược,
Không thủ kiến diêm quân,
Hối tâm bả lệ điệu。

 

 

Hằng Thật - Ngày 4 tháng 7, 1978

Trong mỗi hoàn cảnh đều có một phương pháp

 

“Phương pháp”

Chiếc xe Plymouth là nơi chật cứng. Để tiến đến được chỗ ngồi thiền tôi sử dụng cách lăn và chui của một vận động viên. Thầy Hằng Triều nghiêng mình vào phía trước đúng thời điểm. Tôi đặt một chân trên bục cửa, một tay trên phần che bánh xe, cúi nhanh, nâng lên, xoắn vặn, trượt và tiến được vào bên trong, giống như những con cò màu xanh lớn thanh nhã gập mình lại trong không gian và trở về trái đất. Chúng tôi đã hoàn thiện nghi thức đi vào chỗ. Tôi hiếm khi đá lăn lò nướng hay thúc đầu gối vào tai Thầy Hằng Châu như tôi thường gây ra trước đây. Trong mỗi hoàn cảnh đều có một phương pháp. Phương pháp chấm dứt sanh tử tùy thuộc vào sự tập trung. Quán sát Trung Đạo, nguồn của mọi sự sáng tạo. Không gượng ép, không sợ hãi, không suy nghĩ, không tìm cầu hay tham lam, một cách đơn giản là đưa tất cả tâm niệm về Chân Tâm. Tập trung. Hòa hợp với các không gian xuất hiện, chui vào và cúi xuống, nâng lên và bước. Sau đó, không có gì trong Pháp giới có thể cản trở việc trở lại chỗ ngồi thiền của bạn.

 

 

Hằng Triều - Ngày 4 tháng 7, 1978

Đôi khi tôi quên tâm niệm đó, nhưng tâm niệm đó không bao giờ quên tôi

 

“Mặc dù các hành vi ác không to lớn, nhưng tâm ác lan khắp mọi nơi”

Kinh Hoa Nghiêm Sớ Tự

 

Phía Nam của Thung lũng Carmel. Ngày Lễ Độc Lập yên lặng. Bị một thử thách về lời nguyện của tôi là không uống nước trái cây sau bữa ăn trưa (một trong mười hai khổ hạnh hữ ích Đức Phật khuyến khích để gia tăng tinh tấn và nâng cao năng lượng). Một nửa chai nước nho đặt trên cửa sau xe trong khi tôi rửa đĩa, cuối cùng lưỡi tôi bị vướng mắc vào. Nhấp một ngụm nhỏ và một chiếc xe van bán tải ngay lập tức gầm rú và dừng lại sau lưng tôi. Một người đàn ông với đôi mắt giận giữ, hoàn toàn kỳ dị và không đoán trước được nhảy đến. May thay, tôi giữ lại được mình sau một ngụm nhỏ và cưỡng lại sự thúc giục của việc uống trọn cả chai.

Người đàn ông kỳ dị chếnh choáng say, nhe răng cười lớn và đưa tôi hai trái dâu tây đã héo.

“Các cậu bé đang định làm cái gì vậy hả?” ông ta cười khúc khích và bỏ đi.

Các hành giả ngày xưa không tự cho phép sự nuông chiều đam mê nhỏ nhặt nhất hay coi bất cứ điều ác nào là quá nhỏ không cần tránh. Họ vận hành trong phạm vi nhân quả như một người đang đứng trên bờ vực thẳm hay đang bước đi trên băng mỏng. Tại sao? Bởi mặc dù hành vi sai trái có thể là một việc nhỏ, tuy nhiên tâm trí sai trái lan ra khắp mọi thứ. Do đó người cổ đại

... Thận trọng như qua sông mùa Đông

Cẩn trọng mắt nhìn ra bốn phía.

Nghiêm kính dường như khách lạ,

Nhường nhịn như băng tan. (1)

Lão Tử Đạo Đức Kinh - Chương 15

***

Có một tâm niệm giữ tôi tiếp tục tiến bước trong khi những thứ khác thất bại và nao núng: Tu Đạo như một nhà sư, không bám chấp, không nhà cửa; thanh lọc tâm trí để hoàn thành mong ước chấm dứt sự khổ đau của tất cả các chúng sanh. Đây là nơi tôi thuộc về. Tâm niệm này đã theo tôi từ lâu không nhớ từ hồi nào. Đôi khi tôi quên tâm niệm đó, nhưng tâm niệm đó không bao giờ quên tôi. Tâm niệm đó còn hơn cả cơ thể và tâm trí của tôi. Để trở thành một “vị Phật”, một người đại ngộ và giúp đỡ, hỗ trợ những người khác đạt được như vậy – đây là một niệm, là trái tim duy nhất không bao giờ rời xa hay lay chuyển. Niệm này xâu lại tất cả những hạt rải rác của quá khứ, hiện tại và tương lai của tôi. Thâm chí trước khi tôi nói về niệm này, tôi đã có cảm giác về niệm này. Tôi tin tất cả chúng sanh cũng như vậy. Bây giờ cuối cùng hạt giống này sắp đến lúc kết trái khi tôi dần dần trở thành trái tim này và trái tim này trở thành tôi. Tôi trượt và ngã nhào nhưng chưa bao giờ quá xa.

Những ma quỷ cũ, những vai diễn và mặt nạ bao phủ và ràng buộc, nhưng không lâu dài và mạnh mẽ bằng. Đây là một điều tuyệt vời.

Chú tâm cầu Chánh giác

Độ tận các chúng sanh

Không bao giờ xao lãng

Lìa bỏ xa tâm này.

Kinh Hoa Nghiêm

 

Ghi chú:

(1) Lão Tử Đạo Đức Kinh - Chương 15 - Hiển Đức 顯 德:

豫 焉 若 冬 涉 川.

猶 兮 若 畏 四 鄰.

儼 兮 其 若 客.

渙 兮 其 若 冰 之 將 釋.

 

Dự yên nhược đông thiệp xuyên.
Do hề nhược úy tứ lân.
Nghiễm hề kỳ nhược khách.
Hoán hề kỳ nhược băng chi tương thích.

 

 

 

Hằng Thật - Ngày 4 tháng 7, 1978

Quý vị có dục vọng nhưng đừng dùng dục vọng

 

“Vô Niệm Như Nhánh Sông”

“Thần Chủ Sông Ly Trần Tịnh Nhãn được giải thoát môn dùng phương tiện đại bi khắp rửa sạch phiền não trần cấu của tất cả chúng sanh." (1)

 Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thế Chủ Diệu Nghiêm

 

Khi những niệm nóng giận lên, tôi quán sát,

“Tôi không có bản ngã nào để có thể được hoặc mất. Tôi không tìm kiếm sự tiến bộ về bất kỳ mục tiêu nào. Tu tập làm thế giới trở nên một nơi tốt đẹp hơn cho tất cả mọi người. Hãy chỉ lễ lạy và hãy an lạc. Một lạy, không có suy nghĩ, không có tướng do sự giận dữ là một chút thiện lành. Sự tranh đua làm hủy hoại thế giới”.

Nhánh sông Salmon (Cá hồi), nhánh sông Soda, khe sâu Redwood, và hánh sông Spruce, không bao giờ tìm kiếm sự tự lợi. Chúng rì rầm róc rách không ngừng nghỉ, mang lại lợi ích cho tất cả chúng sanh một cách bình đẳng, không suy nghĩ về sự báo ơn và không bao giờ suy nghĩ về sự tranh đua.

 

Thiện lành cao nhất giống như nước;

Nước làm lợi cho vạn vật mà không tranh.

Lão Tử - chương 8

 

“Gốc Dục vọng”

“Tất cả các phiền phức rắc rối của quý vi là đến từ dục vọng không được thỏa mãn. Bản chất của dục vọng là nó không bao giờ được thỏa mãn. Dục vọng là vấn đề cơ bản của việc tu Đạo. Tuy nhiên không thể làm cho dục vọng ngừng tồn tại. Quý vị có dục vọng nhưng chỉ đừng dùng dục vọng. Hãy thả lỏng và thư giãn, tự tại, không dính mắc”.

Hòa Thượng Tuyên Hóa

 

Dục vọng ra hiệu, tâm tìm kiếm và chạy theo, phiền não đốt cháy và sự thống khổ không bao giờ dừng lại. Tôi đang ngồi trên một gốc cây mục nát dưới bảng hiệu màu nâu của Sở Lâm Viên Quốc gia, nhìn ngắm mặt trời và bóng mát lay động trên những nhánh lá nhọn của cây tùng đỏ. Phải rồi, tôi muốn trở thành Phật. Phải rồi, tôi muốn chấm dứt sanh tử. Phải rồi, tôi muốn chứng được Toàn Trí.

Tuy nhiên thậm chí tìm kiếm những viên ngọc tinh khiết nhất vẫn là còn tham; đó là dục vọng về tâm linh. Còn hàng trăm lễ lạy cần làm hôm nay, hàng trăm dặm bờ biển để đi tiếp và còn nhiều chúng sanh bên trong tâm tôi nhiều hơn cả lá nhọn cây tùng đỏ dưới chân tôi cần giáo hóa .

Gió làm rớt trái tùng đỏ từ một nhánh cây trên đầu. Không có gì tồn tại mãi ngoài sự kiên nhẫn tu tập. Có chỗ nào để bám chấp vào?

“Khi đến chỗ không mong cầu thì không còn lo lắng”. (3)

 

Ghi chú:

(1) Nguyên văn Hoa ngữ Kinh Hoa Nghiêm:

離塵淨眼主河神。得以大悲方便普滌一切眾生諸惑塵垢解脫 門.

Ly Trần Tịnh Nhãn Chủ Hà Thần đắc dĩ đại bi phương tiện phổ địch nhất thiết chúng sanh chư hoặc trần cấu giải thoát môn.

(2) Nguyên văn Hoa ngữ Đạo Đức Kinh chương 8 易 性 - Dị Tánh

上 善 若 水. 水 善 利 萬 物 而 不 爭

Thượng thiện nhược thuỷ; Thuỷ thiện lợi vạn vật. Nhi bất tranh.

(3) Nguyên văn Hoa ngữ:

到無求處便無憂

Đáo vô cầu xứ tiện vô ưu

 

 

Hằng Triều, - Ngày 5 tháng 7, 1978

Không có công thức bí mật

 

Như cọ cây lấy lửa,

Chưa cháy mà nghỉ luôn,

Thế lửa liền tắt nguội,

Người giải-đãi cũng vậy.

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Bồ Tát Vấn Minh

Công việc tâm linh giống như bất kỳ công việc nào khác. Không có công thức bí mật, không có gì là bí ấn hay kỳ diệu – chỉ thuần là mồ hôi và nỗ lực. Càng làm việc chăm chỉ, bạn càng tiến nhanh. Càng nuông chiều và không cố gắng, bạn càng thối chuyển nhanh chóng.

Tu tâp là một kinh nghiệm của toàn bộ cơ thể và tâm trí, nhất nguyên không phân hai từ bắp thịt đến huyền vi. Khi tâm trí và ý chí kết hợp lại thành một điểm duy nhất, tất cả các đau đớn và mệt mỏi tan biến. Nhưng khi các niệm tán loạn và ý định yếu đi, thì ngọn lửa, giống như sự nỗ lực, sẽ yếu dần và biến mất. Khi chánh niệm được duy trì và dốc sức cho đến tột cùng, có thể có một sự chuyển đổi, một sự đột phá sang trạng thái vừa tuyệt vời vừa chưa từng đạt đến.

 

Ghi chú:

(1) Nguyên văn Hoa ngữ Kinh Hoa Nghiêm:

如鑽燧求火

未出而數息 

火勢隨止滅

懈怠者亦然

 

Như toản toại cầu hỏa

Vị xuất nhi sổ tức 

Hỏa thế tùy chỉ diệt

Giải đãi giả diệc nhiên.

 

 

 

Hằng Thật- Ngày 6 tháng 7, 1978

Nảy bật như trái banh bóng bàn

 

“Đến Thành Phố Los Angeles Bằng Xe Tải Nhỏ”

Quả Tài Schmitz đón chúng tôi trong chiếc xe tải dưới thành phố Carmel. Chúng tôi ăn trưa trong một cánh đồng dưới Tu viện dòng Carmelite, chuyền các túi ngũ cố dinh dưỡng (granola) và trái cây trên sàn xe tải nhỏ. Tôi ngồi ở phía sau xe khi chúng tôi ra con đường theo hường Nam đến thành phố Los Angeles. Quay mặt về phía sau, ngồi thế liên hoa trong khi vùng làng quê chạy vụt qua làm tôi nghĩ “Đây là cách tâm trí làm việc với các huyễn cảnh.”

"Như mộng, như ảnh, như huyễn, như hóa, dối phỉnh kẻ ngu." (Như mộng, như huyễn, như bóng, như vang, nói dối phỉnh kẻ ngu.)

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Hạnh

Từ xe tải, thế giới hiện ra giống như mô tả của kinh về các pháp. Những ngôi nhà, bảng hiệu, xe cộ, cây cối trông trống rỗng và giả dối, giống như giấc mơ và những cái bóng, giống như một bộ phim chạy ngược lại. Tâm trí tôi đã nhanh chóng trở nên mệt mỏi khi cố gắng giữ lại các ảo ảnh và rồi để tất cả các ảo ảnh qua đi. Không dính mắc là cách để thích nghi. Mọi thứ là vô thường, kể cả thân thể này. Đó là một sự ghép nghệ thuật dễ tan vỡ của đất, nước, gió, lửa, không khác so với các hình ảnh xoay tròn bay qua chiếc xe tải này theo chiều ngược lại.

 

Tám mốt nghi hết, cuồng tâm ngừng

Tĩnh lặng tư duy ai bận rộn

Tám vạn bốn ngàn tự chúng đi

Tự tại không đi, giác tánh vương.

 Hòa Thượng Tuyên Hóa

 

“Phía sau tay lái”

Sau đó đến lượt tôi lái. Đường xa lộ đến hường nam thành phố Pasadena chạy nhanh và đầy các khúc đường cong. Đã nhiều tháng không lái xe và tôi liên tục phán đoán không đúng các khúc đường cong. Tôi cán lên đường phân chia và nghe thấy tiếng trrmpp! trrmmpp! của dải phân chia dưới lốp xe. Dường như càng cố gắng lái vào giữa đường riêng dành cho xe, tôi càng bị lệch ra khỏi đường. Tôi sắp vào đoạn đường cong kế tiếp. Tôi không thể giảm tốc độ; mọi ngả đường tốc độ giao thông đều rất nhanh. Chiếc xe bán tải nảy lên như trái banh bóng bàn từ dải phân cách giữa hai chiều đến lề đường và bật trở lại với tốc độ 55 dặm/giờ.

Nguyên lý ở đây là gì? Lái ở tốc độ này tôi có thể nhìn phía trước ít nhất khoảng cách 10 chiếc xe và điều chỉnh thời gian cho sự đổi hướng ở phía trước, đúng không? Đúng!

Ngồi ở phía sau, tôi đã cố gắng tập trung và bị chóng mặt. Chiếc xe bán tải lăn quá nhanh. Tôi tìm được tâm điểm của mình chỉ bằng cách buông đi mọi thứ bám chấp và hòa vào nhịp điệu và dòng chảy của cảnh vật trôi qua.

Tôi áp dụng phương pháp này với đoạn đường cong khi lái xe. Đúng rồi! Chiếc xe gặp phải một đường rãnh và trượt như một miếng bơ qua phần giữa của làn đường. Bằng cách buông xả và tùy theo, đường Đạo tiếp tục luân lưu.

"Vì không có chút pháp nào là hiện sanh, đã sanh, sẽ sanh. Không có pháp nào có thể lấy, có thể chấp.”

Kinh Pháp Hoa - Phẩm Thập Hồi Hướng

 

Ghi chú:

(1) Nguyên văn Hoa ngữ Kinh Hoa Nghiêm:

如夢如影。如幻如化。誑惑愚夫

Như mộng như ảnh。 Như huyễn như hóa。 Cuống hoặc ngu phu.

 

(1) Nguyên văn Hoa ngữ bài kệ Khách Trần Tụng http://www.drbachinese.org/vbs/1_100/vbs7/7_4.html

 

Thủ bút của Hòa Thượng Tuyên Hóa - Bài kệ Khách Trần Tụng viết ngày 29 tháng 8 năm 1970

客塵頌

九九惑盡歇心狂

靜慮思惟是誰忙

八萬四千由他去

自在無往覺性王

1970年八月廿九日

Khách Trần Tụng
Cửu cửu hoặc tận hiết tâm cuồng

Tĩnh lự tư duy thị thùy mang
Bát vạn tứ thiên do tha khứ

Tự tại vô vãng giác tính vương.


1970 niên bát nguyệt nhị thập cửu nhật

 

 

 

Hằng Thật – Ngày 7 tháng 7 năm 1978

Một “lão hành giả” chân chánh cắt đôi một trái đào

 

“Trái đào”

Khi ăn bữa trưa với đại chúng Chùa Kim Luân, tôi ngồi giữa Hòa Thượng và một vị thầy đến từ Mã Lai. Tôi quyết định cho mọi người thấy rằng tôi là một “lão hành giả” chân chánh có thể từ chối tất cả những món ăn ngon và ăn theo phong cách khổ hạnh. Tôi đã nghĩ rằng bằng cách từ chối những đồ ăn ngon, tôi đang chứng tỏ sự tinh tấn khổ hạnh chân thật. Nhưng tu khổ hạnh không phải để trình diễn; nó không thể quảng cáo và rao bán. Nó diễn ra trong tâm của chúng ta. Những nhà tu khổ hạnh chân thật chế ngự những suy nghĩ tham lam, kiêu mạn, lấn lướt..

Hết thảy là khảo nghiệm,

Coi thử mình ra sao,

Đối cảnh lầm không biết,

Phải luyện lại từ đầu.

Hòa Thượng Tuyên Hóa

 

Thầy Hằng Triều đề nghị chia sẻ với tôi một trái táo. Tôi từ chối, ra hiệu rằng tôi muốn nguyên cả trái táo đó. Bài thử nghiệm của tôi lại đến. Một nữ Phật tử đặt ba trái đào trên một chiếc dĩa nhỏ trước mặt tôi.

“Thưa Sư Phụ, đây lả những trái đào trắng đặc biệt, Những trái đào này rất ngon. Chúng con chỉ có ba trái, chỉ đủ để cho Sư Phụ và hai thầy đang đi lạy.” cô ấy nói.

Biết rằng Hòa Thượng đang nhìn, tôi suy nghĩ: “Tốt nhất là không nên thể hiện sự tham lam, chỉ nên lấy nửa trái đào thôi. Và rồi do lòng ham danh thôi thúc tôi thành ngu ngốc, tôi cắt trái đào, tách nó ra, và thì thầm rất lớn “Suỵt” hai lần với thầy Hằng Triều, và rồi vói tay đưa cho thầy Hằng Triều một nửa trái bên trên cái dĩa của vị khách tăng. Tôi rõ ràng đã thô lỗ loại trừ thầy khách tăng ấy và cho mọi người thấy “công phu của tôi”. Hòa Thượng Tuyên Hóa ngay lập tức lấy một trái đào, cắt đôi nó và đưa một nửa trái vào tay của vị khách tăng. Rồi ngài đưa cho vị khách tăng một tô dâu tây, vói tay bên trên bình bát của tôi giống cách mà tôi đã làm. Tuy nhiên trên gương mặt ngài không thể hiện sự tức giận. Chỉ có một nụ cười từ bi. Tôi nhận thấy sự kiêu ngạo của bản thân, năng lượng tranh giành và ích kỷ của tôi tương phản rõ ràng qua cử chỉ đưa mời lịch sự của Hòa Thượng đã thể hiện. Tôi nhận ra lỗi lầm của mình trong việc mưu cầu để thắng một cuộc đua về sự tu hành. Sự phản ứng tự nhiên và vô ngôn của Hòa Thượng đã dạy tôi rằng Phật pháp nuôi dưỡng lòng từ bi, không phải tâm cạnh tranh. Bài thử nghiệm có thể gây nhức nhối, những sai lầm thì rất khó cho chúng ta có thể đối diện, nhưng trong việc tu Đạo, như là việc gặp một vị bác sĩ giỏi vậy, quý vị không thể được chữa lành nếu không nhận ra bệnh của quý vị. Sai lầm đầu tiên: cố gẳng tỏ ra mình là một người “tu hành lâu năm”. Hạt giống méo mỏ sẽ tạo ra quả méo mó.

“Tôi phải luôn thuyết pháp cho chúng sanh khiến họ lìa ác, đoạn trừ tham sân si, tánh không kiêu-mạn, che dấu, ích kỷ, ganh tỵ, dua nịnh, lừa dối, để tâm họ luôn nhẫn nhục nhu hòa.”

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Hạnh

 

 

Hằng Thật - Ngày 9 tháng 7 năm 1978

Không chấp nhận những hành vi sai trái

 

“Nhận Lỗi”

Cái thấy tỉnh táo: hành động như một người thủy thủ ở hải cảng vào cuối tuần này; những người hành hương và sám hối phải luôn thành tâm. Tôi cư xử như một đứa trẻ con, không phải như một tỳ kheo đang lẽ lạy. Tôi biểu lộ những phiền não của “thiếu hổ thẹn,” và “thiếu ăn năn.” Không thú nhận những hành động sai trái sẽ làm tăng gấp đôi những tội ban đầu. Giữ nguyên những sai lầm ban đầu, rồi không cắt bỏ phiền não, tạo ra và kết hợp với lỗi sai đầu tiên.

Để đảo chiều dòng năng lượng tiêu cực này, tôi sám hối sự thiếu thành tâm củatôi tại chùa Kim Luân. Tôi biết ăn năn và cảm thấy thấp kém về hình ảnh sự giả tạo của mình. Bằng cách sám hối, tôi lập ra một danh sách với những quy tắc rõ ràng và mạnh mẽ. Những phương thuốc tích cực dương tính này đã đối trị những sai lầm hồi cuối tuần.Tôi hy vọng cách nhận thức mới về sai lầm của mình sẽ dẫn tôi đến những hiểu biết sâu sắc hơn và những bước đi chân thật hướng tới cái thiện.

Có câu rằng:

Một ngày không có tội để sám hối

là một ngày không có được công đức.

 

1. Hãy cẩn thận trong lời nói, ý nghĩ, việc làm. Xem xét kỹ động lực đằng sau mỗi ý nghĩ. Dứt khoát loại trừ những suy nghĩ dơ bẩn ngay lập tức. Tâm trí của tôi đã tìm kiếm một kỳ nghỉ vào cuối tuần này.

2. Giữ gìn quy củ và bảo vệ giới luật một cách trong sạch. Những giới luật là nền tảng của Phật quả. Tôi đã trộm sách và chăn mền; phá vỡ lời nguyện và tìm kiếm danh tiếng.

3. Duy trì Bồ Tát hạnh không ngừng nghỉ. Ngày qua ngày, tu tập có kỷ luật là một cách đánh giá chân thật duy nhất về công phu tâm linh. Hãy nỗ lực tiến lên phía trước (thoát khỏi những thói quen xấu), cảm thấy sợ khi bị tụt lại sau. Cuối tuần này tôi đã bỏ buổi ngồi Thiền, đã tập Thái Cực Quyền lúc nửa đêm, trì tũng 42 Thủ Nhãn Ấn Pháp lúc 1 giờ sáng, và ngủ quá giờ công phu sáng.

4. Duy trì sự khiêm nhường bên trong và sự tôn kính bên ngoài. Sự khiếm nhã của bản thân trước những hành giả tu đạo khác thể hiện sự tự cao và tự mãn, hai thái độ làm chấm dứt sự tiến bộ trong việc tu hành. Đây không phải một trò đùa!

 

“Với lòng hổ thẹn và ăn năn trước Trời và Người, chúng ta xa lìa tâm thiếu hổ thẹn …đối diện hành vi xấu ác xa lìa tâm che dấu lỗi.”

Kinh Hoa Nghiêm


 

Hằng Triều - Ngày 7-9 tháng 7 năm 1978

Như một trái bong bóng bay màu đỏ mỏng manh trong tay một đứa trẻ

 

“Những ghi chú cuối tuần ở thành phồ Los Angeles và những hồi tưởng”

Tối thứ Sáu:

Hòa Thượng nói: “Ý tưởng của tôi là mọi sự việc sao cũng được, không có chuyện gì. Không có vấn đề gì, không thắc mắc. Không thắc mắc thì không có bất cứ thứ gì – kết thúc. Tôi không phán xét một người nào hay cái gì. Tôi không có thời gian để phán xét.”

Sáng thứ Bảy:

Ngủ nhẹ nhàng tối hôm qua; có rất nhiều năng lượng mạnh mẽ và tốt lành ở nơi đây.

Nằm mơ thấy Hòa Thượng và tăng đoàn cố gắng giúp tôi nhìn xuyên rõ sự việc. Tôi đã có một cái nhìn rõ ràng này: chúng ta không cần phải tìm kiếm bất kỳ thứ gì bên ngoài để được giác ngộ. Giác ngộ vốn đã nguyên vẹn và đầy đủ bên trong mỗi chúng ta, nhưng chúng ta sẽ không bao giờ hiểu được rằng trí tuệ của Nhất Thiết Trí (Toàn Trí) là vốn có trong tâm của chúng ta trừ khi chúng ta tu tập.

Tôi tỉnh dậy với một tâm trí trong suốt như pha lê, đầy ắp những hiểu biết mới, dù đơn giản nhưng thâm sâu vô cùng. Tâm trí tôi minh mẫn, không bị chướng ngại và tôi đã thấy được như tôi chưa từng nhìn thấy trước đây. Tôi cầm viết lên để ghi lại cảnh giới đó bằng ngôn từ và cảnh giới đó liền biến mất như bong bóng vỡ tan trong không khí. Cảnh giới không còn nữa; tôi đã không thể viết được dù chỉ một dòng. Không gì cả, không một dấu vết, chỉ còn một cảm giác rằng đó là một cảnh giới khai ngộ và cảnh giới đó chắc chắn chân thật như kinh dạy:

“Ðạo lớn của Như Lai
Vi diệu khó biết được
Lìa niệm chẳng phải niệm
...
Chẳng phải sơ, trung, hậu
Chẳng phải ngôn từ đến được
Vượt qua ngoài thời gian
Tướng đó dường hư không.”

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Địa thứ 26.


Những từ ngữ và ý niệm chỉ có thể chỉ ra chứ chúng không bao giờ có thể thâm nhập vào. Hầu hết thời gian là tôi sống trong một giấc mộng của ngôn từ, ý nghĩ và hình tướng, nhảy múa lướt trên bề mặt của mọi thư như một con nhện nước điên cuồng, ngớ ngẩn.

Hòa Thượng nói: “Trong tu hành, con phải quét tất cả pháp và lìa tất cả tướng. Con phải phá mọi sự bám chấp. Nếu dù chỉ còn một chút tướng nó sẽ gây rắc rối. Đó chỉ là những biểu hiện của lời nói, không phải sự thật. Sẽ không có chỗ để đặt đầu lên trên đầu ... Khi con hiểu được thật Pháp, sự hiểu biết đó xa lìa mọi ngôn từ, mọi nhận thức, và lời viết. Nếu con không thể lìa tất cả tướng thì dù con có tu hành bao nhiêu đi chăng nữa, con vẫn chỉ lướt qua trên bề mặt của mọi thứ mà thôi.”

Chiều thứ Bảy:

Lạy trên lề đường trước Chùa Kim Luân. Bên ngoài thì xe cộ thành phố Los Angeles. lưu thông nhộn nhịp, bên trong nội tâm yên lặng quán sát. Nhìn sâu vào trong dục vọng – nguyên do cốt yếu chúng ta không phải là Phật, nguyên nhân của mọi sự khổ đau và thảm họa là sự che lấp trí tuệ vốn có của chúng ta. Chúng ta sinh ra từ dục vọng và chết đi cũng từ dục vọng; vậy mà vẫn không thể nhìn xuyên suốt nó, không thể buông xả nó. “Dục vọng có ở bên ngoài không?” tôi tự hỏi, nhìn khu trung tâm mua sắm nhộn nhịp bên kia con đường Huntington Drive. Không, không có những vật đáng tham muốn, chỉ có những ý nghĩ tham cầu. Tất cả mọi vật mà ta khao khát và thèm muốn, tất cả mọi pháp duyên hợp đều là:

“Vô thường, khổ, bất tịnh, chẳng an ổn, hư hoại, chẳng ở lâu, sát na sanh diệt, chẳng phải từ thuở trước sanh, cũng chẳng phải theo thuở sau diệt, và chẳng phải trụ ở hiện tại.”

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Địa thứ 26

Bên kia con đường, một đứa bé đang cầu xin khóc lóc với mẹ đòi mua một trái bong bóng bay màu đỏ tươi. Bà mẹ chấp thuận. Với trái bong bóng trong tay, ngập tràn niềm hân hoan, họ đi về nhà. Một cơn gió mạnh giựt đi cái pháp sáng bóng bằng cao su khỏi tay của đứa trẻ và cuốn thổi bong bóng bay vào hư không. Đứa bé gái la hét và than vãn, nhìn thấy sự vui sướng trong tim đứa bé gái phai nhạt dần. Tất cả các Pháp, mọi thứ trên thế gian, giống như trái bóng bóng bay màu đỏ mỏng manh trong bàn tay lỏng lẻo của một đứa trẻ. Đó là,

“Vì như huyễn, như mộng, như bóng, như vang, như trăng trong nước, như tượng trong gương, như dương diệm, như biến hoá nên bình đẳng, vì có không bất nhị nên bình đẳng.”

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Địa thứ 26
 

“Có phải tham cầu chỉ là một trạng thái của tâm?” tôi tự hỏi. “Do không có thứ gì đáng để khao khát và mong muốn, không gì có thể mang lại sự an ổn và thỏa mãn thật sự, như thế tham muốn chỉ là một cách để nhìn vào sự vật. Tâm trí tôi chính là chỉ chú tâm vào chuyện không đáng.” Nhưng tâm trí tôi ngụ ở đâu? Nó thậm chí còn ít hữu hình hơn trái bong bóng bay màu đỏ bị thổi lên trời. Nhìn hết sức vào trong tâm, nhưng cũng không thể tìm thấy; cố gắng bám chấp lấy thân xác này, nhưng nó cũng biến mất.

Thân như đống bọt,

Tâm như gió,
Huyển hóa không rễ,,
Không thật tánh.

Hòa Thượng Tuyên Hóa
 

Tôi đã trở thành nô lệ cho thân thể của tôi, và là một tù binh của tâm trí. Trong lúc lạy, tôi chợt thấy rằng theo đuổi mọi tham muốn là ngu ngốc, trống rỗng và hoàn toàn điên đảo. Có niềm vui và ý nghĩa gì trong một cuộc đời để say mê cái đám bọt và theo đuổi cơn gió?

Mẹ của đứa bé từ chối mua trái bong bóng khác. Có ai biết được khi nào thì chúng ta sẽ có một cơ hội khác để tu Đạo?”

Tối thứ Bảy:

Sau khi lạy chúng tôi ngồi thiền trước buổi công phu tối và buổi thuyết pháp. Bình thường, năng lượng và ánh sáng trí tuệ của chúng ta chảy ra ngoài qua sáu giác quan và rỉ thoát ra qua việc truy cầu ngũ dục. Chúng ta quay cuồng và không bao giờ dừng lại để suy ngẫm, không bao giờ ngừng lại để quán sát mục đích của cuộc sống chúng ta. Và trong tất cả dục vọng, tình yêu là cái tệ hại nhất.

“Tất cả chúng sanh bị dòng nước chảy xiết sóng lớn nhận chìm vào dòng dục,(dòng sanh tử, dòng vô minh, dòng tà kiến, xoay lăn trong sanh tử), trôi nổi trong sông ái nhiễm, mãi bị dồi giập không rảnh để quan sát, rồi bị quan niệm tham dục, sân hận, độc hại không rời tâm họ, (nên họ bị quỷ La sát thân kiến bắt đem nhốt hẳn trong rừng rậm ái dục. Họ lại quá nhiễm trước nơi chỗ tham ái, ở nơi gò ngã mạn, ngụ trong tụ lạc sáu căn. Nếu không người cứu giỏi, thời không thể độ họ được).

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Địa thứ 26


Thiền đơn giản là dừng suy nghĩ về những gì chúng ta đang làm, tìm một khoảng trống trong cuộc sống bận rộn, lòng vòng để “hồi quang phản chiếu nội tâm”. Như vào buổi tối ở thành phố lớn này, khi giao thông ngừng lại người ta lại có thể nghe được tiếng gió thổi và tiếng chim hót, tương tự như vậy, khi chúng ta dừng lại và quán sát, chúng ta có thể nghe trở lại âm thanh của chân tâm và bản tánh giác ngộ.

Bên trong một ngôi chùa nhỏ, một số người tụ hội lại trì tụng danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm. Đi thành vòng tròn, người ta có thể cảm nhận được sự dong ruổi và những mảnh phân tán nhỏ lẻ của tâm và thân ngừng hẳn lại với lòng tri ân.

Khi bánh xe của sự chuyên tâm trì tụng lớn dần, sự sân si, mong cầu, và những điều gây hại trở nên nhẹ đi, lắng xuống mà không hề đau đớn. Khi hết tham cầu, thì trí tuệ hiển hiện. Phương pháp của Đức Phật dù thế nào đi nữa, không phải để kìm nén hoặc áp bức tham dục cho chết đi. Nói đúng hơn, tham dục được chuyển hóa một cách hòa bình, từng chút một, trở thành trí tuệ thông qua việc kiên trì và chuyên cần tu tập đức hạnh và thiền lâu dài. Điều này đã có công hiệu cho người xưa, có công hiệu cho hiện tại và sẽ công hiệu mãi mãi về sau. Bánh xe Chuyển Pháp Luân luôn luân chuyển.

“Lại phát đại nguyện: Nguyện trong tất cả thế giới, lúc Phật xuất thế : Giáng thần, nhập thai, trụ thai, sơ sanh, xuất gia, thành đạo, thuyết pháp, nhập Niết Bàn, tôi đều đến gần gũi cúng dường, làm thượng thủ trong chúng, thọ lãnh và thật hành chánh pháp,) đồng thời chuyển pháp khắp tất cả mọi nơi, rộng lớn như pháp giới, rốt ráo dường hư không, suốt tất cả kiếp số vi lai không thôi nghỉ.”

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Thập Địa thứ 26

* * *

Đệ tử: “Thưa Sư Phụ, “nhân duyên” nghĩa là gì?”
Sư Phụ: “Nhân là hạt giống, duyên là hoàn cảnh để nhân xảy ra, tất cả những yếu tố chung quanh.”
Đệ tử: “Chỉ đơn giản thế thôi ạ?” Con đã suy nghĩ rất kỹ về nó và cố gắng hiểu nó một cách thông suốt, nhưng không thể tin rằng nó đơn giản như vậy!”
Sư phụ: “Đừng cố gắng hiểu nó quá kỹ. Nếu con cố gắng tìm hiểu quá kỹ lưỡng hoặc quá sâu sắc, con sẽ bỏ qua nó và kết thúc bằng việc không hiểu gì cả.”


* * *

Ngày Chủ Nhật:

Ngày hôm nay chúng tôi đi cùng Hòa Thượng và vị Trưởng Lão Chu Mwo đến từ Malaysia, để làm lễ khai quang của một ngôi chùa mới ở thành phố Los Angeles. Một cuộc tụ hội lớn gồm các chư tăng, sư ni, và cư sĩ làm cho ngôi chùa nhỏ dường như trở nên nhỏ hơn. Sau một năm lạy ở các đường xa lộ và sống ở ngoài trời, chỉ đồng hành với núi cao và biển rộng, và lời nguyện tịnh khẩu, thật là kỳ lạ khi đột nhiên hòa mình vào một biển người, hàng núi những tòa nhà và hàng trăm cuộc trò chuyện đang diễn ra cùng một lúc.

Trên hành trình tới nơi này tôi cảm nhận được tầm quan trọng của Đạo Phật cho tương lai tốt đẹp của công việc và trách nghiệm của chính mình đối với việc đi và làm công việc của Phật. Trong thời kỳ Mạt Pháp, mạch Pháp thanh tịnh của các vị Tổ Sư đang bị treo trên một sợi chỉ mỏng. Chỉ có Đạo Đức mới có thể ngăn không cho sợi chỉ bị đứt, chỉ Đạo Đức mới có thể cứu tất cả chúng ta.

Quay trở sau buổi lễ khai mạc tôi cảm nhận một sự hỗn hợp của xấu hổ, bối rối, và xa lạ. Phật giáo Ngôi Chùa Nhỏ rất phổ biến ở Châu Á và là một trong những nguyên nhân chủ yếu cho sự Mạt Pháp ngay chính nơi sinh ra của Phật Giáo. Một vài ngôi chùa chỉ có một hoặc hai nhà sư, thường được xây dựng nguy nga, tranh giành nhau để nhận sự cúng dường và ủng hộ của các cư sĩ, trong khi không cung cấp những buổi giảng Kinh, các khóa tu Thiền, và quan trọng nhất, không có một hệ thống giáo dục cho thế hệ trẻ. Trong trường hợp tốt nhất, thì các đạo tràng trở thành nơi gặp gỡ xã hội, trong trường hợp xấu nhất, thì đó là ngôi chùa ma. Khi những nhà sư ở đây mất, ngôi chùa bị bỏ hoang hoặc chuyển qua cư sĩ cai quản. Một số những vị cư sĩ này tổ chức những buổi giảng Kinh vì tiền và tạo tiếng xấu cho Phật Giáo.

Những mưu đồ xã hội, phan duyên, và chuyện phiếm không phù hợp với ý định và tầm vóc rộng lớn ban đầu của Đức Phật. Thật buồn khi thấy Phật Giáo không lành mạnh và biến dạng này đã xuất hiện ở Phương Tây nơi mà Phật Pháp mới chỉ ở giai đoạn sơ khai! Tôi cảm thấy xấu hổ cho chính tình trạng tu hành đáng buồn của mình. Tôi cần trở nên tinh tấn và chân thành hơn, để liên tục mở rộng tâm lượng, và cần phải kiên cố tu tập truyền thống tâm linh cao nhất của con người từng biết đến, và lập đại nguyện để cứu độ tất cả chúng sanh. Tôi chỉ muốn quay trở về lại và bái lạy. Tôi biết sự phẫn nộ của bản thân là chưa trưởng thành và không từ bi, nhưng tôi mới chỉ là một hảnh giả trẻ và chưa có kiên nhẫn hoặc đủ Định lực để vẫn “như như bất động, liễu liễu thường minh” cho dù trong cảnh giới nào đi nữa. Vì vậy tôi tự nhủ khi trên xe quay về rằng, “Đừng trở nên thiếu từ bi và khắt khe như thế. Hãy hồi quang phản chiếu ánh sáng và chân thật nhận lỗi mình, đừng luôn luôn bình luận trên lỗi sai của người khác. Hãy gột sạch cho đến hạt bụi nhỏ nhất trong tâm trí của chính mình. Hãy điều phục hành vi bản thân như đang ở bên cạnh Đức Thế Tôn. Không mưu cầu, không sợ khó khăn. Thâm nhập vào một Pháp Môn cho tới khi hoàn thành được những điều cần làm, và không bao giờ quên lời nguyện giúp đỡ và hỗ trợ tất cả cúng sanh.”

Tôi nhắm mắt và hình dung hình ảnh của Vạn Phật Thánh Thành, và một nụ cười nở ra trong tim tôi.
 

 

 

Hằng Thật - Ngày 14 tháng 7 năm 1978

Tìm kiếm một thân kiên cố

 

“Thân kiên cố”

“Chúng-sanh ngu-si, vô-trí, ở trong sanh tử, thọ vô-số thân mỏng manh chẳng tạm dừng, mau về nơi hoại diệt, hoặc đã, hoặc hiện, hoặc sẽ hoại-diệt, mà họ chẳng thể đem thân chẳng bền để cầu thân kiên-cố.”

Kinh Hoa Nghiêm – Phẩm Thập Hạnh

 

Cuộc sống trôi đi nhanh như xe chạy trên xa lộ

Tự tánh, linh hồn thực sự, đi cùng bên trong những thân thể mới giống như một hành khách trong xe. Những người ngồi cách biệt đằng sau kiếng cửa sổ xe, đi trên những bánh xe đang quay tít, nhìn chằm chặm vào những người hành hương và bờ biển Big Sur. Mỗi cuộc đời cho ta một cơ hội khác để “tìm kiếm một thân kiên cố” và phá đứt nỗi đau của dòng sinh tử luân hồi. Bồ Tát phát tâm tu Đạo, để chuyển hóa thân thể đang hư hoại này và kiểm soát tâm trí của mình.

“Tôi phải học tập những điều mà chư Phật đã học tập, để được chứng nhứt-thiết-trí, biết nhứt-thiết-pháp, rồi vì chúng-sanh diễn thuyết tam-thế bình-đẳng tùy thuận pháp-tánh tịch-tịnh bất-hoại, khiến họ được vĩnh-viễn an-ổn khoái-lạc.”

Kinh Hoa Nghiêm – Phẩm Thập Hạnh

Chư Phật tu hành để có được thân kiên cố và lập đại nguyện để mang lại sự an lạc vĩnh cửu, sự an ổn và niềm hoan hỷ tới mọi người.

 

 

Hằng Triều - Ngày 14 tháng 7 năm 1978

Rất nhiều việc đang dở dang và chưa hoàn tất

 

“Mong muốn tăng trưởng rộng lớn tâm Bồ Tát trong Phật Pháp”

 Kinh Hoa Nghiêm

Đôi khi ngay cả một giấc mơ cũng có thể nới rộng tâm của một người.

Giấc mơ: Thị giả của Đại Lão Hòa Thượng Hu Vân đến để cứu chúng tôi. Ngài có vẻ chậm lụt và không đặc biệt, nhưng Ngài có một trái tim ấm áp và mọi hành động của Ngài đều là hiện thân của giới luật. Ngài nói với chúng tôi hãy để mọi việc diễn ra một cách tự nhiên và không nên cưỡng ép để tìm ra giải pháp hay làm cho mọi thứ hoàn hảo.

“Khi ta ở với Hòa Thượng (Hư Vân), rất nhiều việc đang dở dang và chưa hoàn tất, đặc biệt là những nhu cầu và công viêc cá nhân. Có một cách ngầm biết, không bám chấp và tự do, điều đó còn quan trọng hơn những mục tiêu hay kế hoạch cứng ngắc,” ngài ấy nói.

“Hòa Thượng đã giao cho ta rất nhiều việc, rồi khiến ta luôn bận rộn, vì thế ta không bao giờ hoàn thành được chúng. Thông thường, ta vốn là một người rất kỷ luật về thời gian. Và đó là cách ta được dạy về vô trụ, cái Tự Tánh Chân Như căn bản của ta,” rồi Ngài cười. “Hòa Thượng làm cho tâm ta nới rộng và thả lỏng, luôn sẵn sàng buông bỏ việc đang làm để đi ra và làm việc lợi ích cho kẻ khác khi nhân duyên tới.”

* * *

Hằng ngày, chúng tôi tìm ra một vài lỗi lầm hoặc bám chấp trong cá tính của chúng tôi. Chúng tôi cố gắng dứt bỏ nó. Không phải chúng tôi tìm kiếm những khuyết điểm, cũng không phải cố gắng che giấu. Chình việc lễ lạy phơi bày những sai sót và khuyết điểm của chúng tôi giống như những hạt bụi bay trong không gian bị lộ rõ dưới ánh nắng mặt trời. Hằng ngày, thế gian nói Pháp cho chúng tôi. Chúng tôi hân hoan lắng nghe. Vì mọi thứ bên ngoài mất đi mùi vị và vẻ rực rỡ lôi cuốn của chúng thì những điều bên trong đem lại sự vi diệu và mãn nguyện bất tận. Đó không phải là những điều chúng tôi tìm kiếm vì ai mà có thể tìm được những điều mà họ thậm chí chưa từng mơ tới là chúng hiện hữu? Niềm hoan hỷ của việc tu tập thật bất ngờ và chỉ đến khi người ta không khao khát nó. Việc nhất tâm lễ lạy mang tới tất cả điều tốt.

“Bây giờ thời gian và nơi chốn

Cà hai đều vô tận

Một chốn là tất cả chốn

Một thời là tất cà thời”

Kinh Hoa Nghiêm – Phần tự

Ở phía bên này đường, xe hơi và xe gắn máy chạy nhanh hơn cả gió. Ở phía kia, những cây cao thong thả buông rơi những lá thông hình kim khi những chiếc lá mùa hè dần phai sắc vào thu giống như con người già đi. Chúng tôi lạy xuống vùng trung tâm với tốc độ một dặm mỗi ngày, tìm kiếm sự nhất tâm. Tất cả mọi thứ đều thay đổi, vạn vật là vô thường. Tuy nhiên, trong dòng chày không ngừng nghỉ, có một sự không biến đổi mà ở đó thời gian ngừng lại và tất cả mợi nơi nối lại với nhau. Đôi khi, trong khi lễ lạy, nó là như thế này: hiện tại có vẻ như vĩnh cửu; vĩnh cửu chính là ngay lúc này. Và ở mọi nơi, chẳng phải nó đã luôn giống như vậy hay sao? Tu Đạo từ lúc bình minh này tới bình minh khàc, từ mùa này sang mùa khác – điều gì có thể tuyệt vời hơn thế!

“Họ được bình đẳng thời gian vì hăng hái làm Phật sự suốt mọi thời gian không ngừng nghỉ.”

 Kinh Hoa Nghiêm

 

Đội Tuần Tra Xa Lộ California dừng lại để xem chúng tôi như thế nào. Họ nói rặng văn phòng họ nhận được một báo cáo rằng hai người đàn ông mặc áo choàng đang lạy xuống giữa xa lộ trong giờ cao điểm. Chúng tôi xóa bỏ sự hiểu lầm và nhận được sự đồng ý để tiếp tục. Sắp xếp chỗ dừng nghỉ đêm bên cạnh công viên tiểu bang Pt. Lobos.

 

 

Hằng Thật - Ngày 15 tháng 7 năm 1978

Bản ngã chịu thiệt thòi mỗi khi tôi trì giữ miệng lưỡi

 

Sau khi chúng tôi dừng lại sau một ngày bái lạy, tôi hối hả cầm bút viết ghi chú đưa cho thầy Hằng Triều. Rằng tôi nhận ra hôm nay là một sự xả hơi: tôi không có tin gì gấp gáp để kể, tôi muốn bớt đi sự đơn độc khi nhìn sâu vào khoảng trống lặng của chính mình. Việc tu tịnh khẩu làm thương tổn ngã kiến về sự quan trọng của bản thân. Không nói lời nào khiến tôi cảm thấy yếu thế và tầm thường. Hôm nay, tôi quyết tâm thâm nhập vào cánh cổng thực hành yên lặng, chịu áp lực này và dùng nỗ lực để tụng chương Kinh này của tôi. Bản ngã chịu thiệt thòi mỗi khi tôi có thể trì giữ lại miệng lưỡi.

 

Nguyện tất cả chúng sanh rời bỏ lời nói vô ích, thích ở một mình, tâm không có hai niệm.

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Hồi Hướng

 

 

Hằng Triều - Ngày 15 tháng 7 năm 1978

Một xẻng cát đầy trên mặt băng

 

Lạy tới vùng ngoại ô của thành phố Carmel. Khảo nghiệm tới ngay lập tức. Năm chiếc xe hơi tụm lại trên ngọn đồi – những thanh niên trẻ, những tên say rượu và những kẻ gây rối địa phương. “Này, này, đi làm trò gì đi!”, một tên hét lên cùng với tiếng huýt sáo khởi chiến. Chúng vây quanh chúng tôi, chờ đợi xem chúng tôi sợ hãi hoặc thủ thế tự vệ. Nhưng chúng tôi lại đang quá dễ chịu có được từ việc lễ lạy và từ sự tĩnh lặng của vùng hoang sơ Big Sur này nên chẳng thể khó chịu hay tức giận. Chúng tiếp nhận được khoảng không gian êm ả đó của chúng tôi và bắt đầu dịu xuống. Có một số bước chân tiến tới gần hơn và nhã nhặn hỏi về chuyến hành hương. Trong khi những gã côn đồ địa phương dịu xuống và bỏ đi, một người phát ngôn viên tự phong của nhóm bợm nhậu tiến tới gần hơn. Anh ta lắc lư như cây sậy nước, một tay vịn vào cây cột điện thoại, chiếc quần ướt sũng và anh ta nói to: “Nhân danh Chúa, tôi có thể chúc phúc cho các ông không? Ý tôi là không có sự xúc phạm về mặt linh cảm.” Nói xong anh ta lái xe đi.

Một người đàn ông bắt chước vài động tác trong khi bạn gái của anh ta chụp vài bức ảnh. Nhưng chỉ sau chốc lát, anh ta lại ngay ngắn lại và và chân thành hỏi về mục tiêu của cuộc hành trình. “Đây là một chút ít cúng dường”, anh ta đưa cho tôi ít tiền mua xăng. “Việc các ông đang làm đáng giá triệu đô la. Chúng ta thực sự cần những rung cảm tốt lành, đó là tất cả những gì chúng ta có thể có được trong thế giới này. Cầu chúc các ông may mắn!” Chỉ trong vài phút, tất cả bọn họ đều đi hết.

Chúng tôi lạy xuống phía bên kia ngọn đồi hướng về vùng Carmel, qua được “một trạm thu phí” khác và vượt qua được một khảo nghiệm nữa. Tất cả chỉ là khảo nghiệm, để xem mình sẽ làm gì… Đó không phải do Trời hay Địa ngục đưa khảo nghiệm tới cho chúng tôi. Thử thách vốn có sẵn trong mọi thứ. Chúng được kiến tạo ở bên trong cấu trúc của cuộc sống và mô tả bản tính của thế giới này. Chỉ có cách duy nhất để vượt qua chúng là “Ưng vô sở trụ, nhi sinh kỳ tâm” (sanh cái tâm không bám víu vào bất cứ nơi nào cả - Không trụ tâm vào đâu cả).

Không chấp vào đó, chúng tôi lướt qua ngay, đáp ứng lại một cách thoải mái, tùy duyên, không bị cản trở do nắm bắt hay do bám chấp. Hồi còn nhỏ, vào mùa đông, chúng tôi hay trượt băng trên những mặt hồ, ao và mặt sông đóng băng. Do tiểu bang Wisconsin nằm trong “vùng đất nơi những dòng nước gặp nhau”, nên luôn có rất nhiều mặt nước đóng băng tự nhiên, trơn láng. Trên bề mặt hồ rộng lớn, băng đóng một lớp dày, phẳng và không bị vật cản tới hàng dặm. Vào ban đêm, dưới ánh trăng tròn, người ta có thể tản mát và lướt dọc trên mặt hồ một cách tự do và thoải mái tựa như chiếc thuyền buồm. Nhưng nếu có ai đó hất một xẻng đầy cát lên mặt băng thì khi giày trượt của quý vị đâm phải chỗ đó, toàn thân phải bất thình lình khựng lại đột ngột, rồi ngã lộn nhào. Bám chấp cũng tương tự như vậy. Chúng giống như những vết cát trên bề mặt trơn láng và không có gì cản trở của tâm trí. Chỉ cần một chút xíu bám chấp, sớm hay muộn thì mình cũng sẽ té ngã.

Ðối cảnh lầm không biết,

Phải luyện lại từ đầu. (1)

 

Ghi Chú:

(1) Nguyên văn Hoa ngữ:

一切是考驗,

看爾怎麼辦?
覿面若不識,

須再重頭煉。

 

Nhất thiết thị khảo nghiệm,
Khán nhĩ chẩm ma bạn?
Địch diện nhược bất thức,
Tu tái trọng đầu luyện。

Tất cả là khảo nghiệm,

Coi thử mình ra sao,

Ðối cảnh lầm không biết,

Phải luyện lại từ đầu.

 

 

Hằng Thật - Ngày 16 tháng 7 năm 1978

Kinh nghiệm mất đi khi động tâm

 

Sáng nay, một cánh cửa trong không gian mở ra, có thể đó là sự hồi đáp cho sự phát tâm của ngày hôm qua. Lạy xuống đồi con bọ rùa, toàn cảnh bờ biển phía trước mắt tôi mất đi sự giới hạn và các chiều không gian của nó. Thế giới đột nhiên trông phẳng lặng, yên tịnh, bất động. Cái thực tại ấy thâm nhập khắp cơ thể tôi và vạn vật không có ranh giới, không dừng lại. Tôi có thể yên tâm thư giãn an toàn vào trong cái hư không đó. Mọi ý niệm về sự khác biệt, mọi sợ hãi và kế hoạch hoà hợp vào nhau và biến mất – trong giây lát. Tâm trí tôi không thể ngồi yên được lâu; nó giống như đứa trẻ phấn khích trong tiệm đồ chơi, nó nhảy lên để phân tích mọi thứ, để định nghĩa và đặt tên cho kinh nghiệm của mình. “Định nghĩa” có nghĩa là dừng lại và đó là cách mà tầm nhìn Pháp Giới của tôi kết thúc; một đám mây ý niệm ồn ào cản trở chánh niệm tĩnh lặng như đám mây trước lúc sấm sét chặn ánh mặt trời.

 Một niệm không sanh: toàn thể tánh hiển hiện,

Sáu căn bỗng dậy: tâm bị che mờ.

 

Ghi chú:

(1) Nguyên văn Hoa ngữ:

一念不生全體現,

六根欻動被雲遮

 

Nhất niệm bất sanh toàn thể hiện,

Lục căn hốt động bị vân giá.

 

 

Hằng Triêu - Ngày 16 tháng 7, 1978

Sinh nhật của Bồ Tát vào cuối tuần tới

 

Con đường quá hẹp và nguy hiểm để lạy. Chúng tôi bước đi tới phía trước nơi chỗ đất trống, đo đoạn đường bước qua đó bằng tràng hạt – ba bước, một hạt, cộng thêm 10% cho sai sót khi đo và lạy tại chỗ, sử dụng những viên đá cuội và nắp chai trên mặt đất để đếm số lạy.

Đám thanh niên trẻ trên những chiếc xe đua gầm rú chạy tới và chạy ra khi chúng tôi lạy gần hết ngày trên đồi phía trên dòng sông Carmel.

Anh Amold Lee từ thành phố Pacifica tới cúng dường vật phẩm và kiểm tra chiếc xe.

“Cuối tuần tới là sinh nhật của Bồ Tát Quán Thế Âm”, anh ấy nói khi đóng mui xe lại. “Các thầy biết không, thật đáng kinh ngạc làm sao khi các bộ phận của chiếc xe cũ kỹ này lại vẫn còn gắn kết với nhau được, thật kỳ lạ!”

 

 

Hằng Thật - Ngày 17 tháng 7, 1978

Thật tự nhiên

 

Càng tiến xa hơn từ những điều tôi biết,

Càng gần tới những điều chân thật,

Càng nắm bắt, cố gắng và chọn lựa,

Càng lạc lối, càng mất mát,

Chẳng có gì để suy nghĩ hay nói năng:

Thật tự nhiên, ấy là Trung Đạo.

 

 

Hằng Triều - Ngày 17 tháng 7, 1978

Làm một việc kiểu như không nghĩ gì

 

Cuối ngày. Mặt trời màu cam dịu đang lặn thấp xuống phía dưới đường chân trời. Đến lúc để ghi lại những nổi bật trong một ngày bận rộn và những hình ảnh trước khi ngồi thiền và xoá đi những dấu vết đang còn đeo lơ lững.

- Rất nhiều người huýt sáo, giễu cợt gây căng thẳng cho chúng tôi, xe hơi của họ thì hai bánh ở dưới đường, hai bánh thì ở trên lề đường, họ nhìn xem có thể sát gần đến chúng tôi chừng nào trước khi làm chúng tôi sợ hãi và bỏ chạy.

- “Người phụ nữ bí ẩn chỗ cây cầu” ở Malibu đột ngột xuất hiện trong làn sương mù sáng nay khi chúng tôi đi tới Cầu Sông Carmel. Không thể lầm lẫn người này được. Tôi nhận ra và cảm thấy nặng nề, u tối, năng lượng nam châm bao quanh cô ta thậm chí trước khi tôi nhìn thấy mặt cô ấy. Chúng tôi tiếp tục lạy. Một người đàn ông đi cùng cô ta lúc này. Họ từ từ vây quanh chúng tôi. Sự căng thẳng kinh khủng choán đầy không gian, dường như tất cả cây cối đang nín thở. Họ đứng rất lâu ở đằng sau chúng tôi, yên lặng, quan sát và chờ đợi. Cuối cùng, khi sương mù bắt đầu tan đi, họ đi qua với hai tay chắp lại, thực hiện động tác vái chào mới học được rồi đi trở lại phía cây cầu đang bị bao kín bởi sương mù.

- Ông John Powers và dì Carol đi tới với nước cam tươi và sự khích lệ. Dì Carol bị ấn tượng bởi tấm hình Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát treo trên cửa sổ xe hơi. “Ồ! Ai đó”, dì thốt lên với vẻ vui thích.

- Một bà mẹ và hai đứa trẻ nhỏ đi bộ về từ siêu thị, họ dừng lại để lấy bánh mì và phô mai từ các bao thực phẩm đưa ra như một sự cúng dường. “Cảm ơn các ông cho một cơ hội để chia sẻ”, họ nói.

- Ken Peterson, một phóng viên từ tờ báo địa phương tới để phỏng vấn. Những nhà báo ở thị trấn thì thực tế và thoải mái hơn rất nhiều so với các phóng viên ở các thành phố lớn. Tôi hình dung được hình ảnh của Ken đứng trên một cánh đồng đầy cỏ, máy chụp hình đeo trên cổ đang quan sát chúng tôi với nụ cười. Một tay cầm túi đào để cúng dường, tay kia cầm cây viết chì, cuốn sổ ghi chép, anh ta kiên nhẫn, lịch sự chờ cho tới cái lạy cuối cùng trong ngày trước khi “can thiệp vào sự thờ phụng của ông”. “Các ông thậm chí đi giầy vải”, anh ta nói, “Không dùng đồ da là một hành động từ bi, phải vậy không?”

- “Mau đi nào, hôn đất cho tôi, các anh nói sao, hả?”, ai đó hét lên và chế nhạo ở phía bên kia đường. “Họ không có hôn đất, họ đang lạy. Hãy để họ yên,” một người mắng lại. “Họ không làm gì gây hại cả, có thể là làm những điều tốt. Họ làm đúng. Tao nói, hãy để họ yên”.

- Phần hay nhất của chương trình phỏng vấn của tờ L.A Times là xem phóng viên John, buông bỏ tánh hoài nghi của thành phố lớn và mất đi con ma áp lực cao của mình. John tìm thấy chúng tôi đang ngôi thiền trên nền gỗ của một cây cột điện của công ty điện lực PG&E. Những cái nền dành cho thợ sửa điện này có kích thước khoảng bằng cái ghế thiền và là chỗ tuyệt vời để ngồi thiền ngoài trời. Cây cột được đặt ở cách xa con đường xa lộ ồn ào, dưới những tàng cây bách. Chỗ này khá yên tĩnh đến nỗi có thể nghe thấy tiếng những trái dâu bạch đàn rơi xuống mặt đất và tiếng gió rít khe khẽ từ đôi cánh chim đang bay ngang qua. John tham gia ngồi cùng với chúng tôi trên cái sàn gỗ đó, anh ta lấy một hơi dài rồi nhìn xung quanh khi chầm chậm thở ra thoải mái và nói, “Ê, đây là một chỗ tuyệt đẹp đấy”.

Về cơ bản, anh ta đã có đủ mọi thông tin cần thiết cho câu chuyện về cuộc đối thoại với chúng tôi ở thành phố Los Angeles. Chúng tôi có cảm giác từ John rằng rất nhiều người chia sẻ khi họ đi ra ngoài này: họ không vội vã về nhà, đơn giản họ chỉ thích ngồi dưới một gốc cây và quan sát chúng tôi lạy và suy nghĩ, hoặc làm một việc kiểu như không nghĩ gì – việc mà họ đã lâu không làm từ hồi còn nhỏ, nằm trên thảm cỏ và nhìn lên những đám mây.

- Lạy trong khi mấy đứa trẻ nhỏ vô tư đạp xe quanh, chúng nhảy qua những cái gò và đụn đất dọc bên cạnh chúng tôi cứ như chúng tôi là một phần trong nhóm của chúng. Thỉnh thoảng, một đôi nam nữ dừng lại và quan sát. “Chưa bao giờ làm thử việc như họ đang làm đây, anh đã thử chưa hả Willie?” “Không bao giờ tôi sẽ làm như vậy!”

 

Nhiếp tâm thiền định thường duyên một

...

Thế gian không thể dò ngằn mé. (1)

Kinh Hoa Nghiêm – Phẩm Thập Hồi Hướng

 

Hồi tưởng cuối ngày: Tất cả những lỗi lầm và trở ngại của tôi đều do những suy nghĩ phân tán và tâm trí bất cẩn. Mối tương quan nhân quả trực tiếp giữa vọng tưởng và chướng ngại đối với Đạo đều xảy ra ngay tức thì và không thể phủ nhận trên đường xa lộ. Những nguy hiểm thật sự và những biến động tức thì mà chúng tôi gặp trên đường tạo áp lực cho chúng tôi phải luôn có hành vi tốt nhất và tĩnh lặng tâm trí. Sự tồn tại thường phụ thuộc vào việc giữ tâm chuyên nhất, chánh trực với tất cả sức lực và ý chí mà chúng tôi có thể có được. Không có sức mạnh nào mạnh hơn trí thanh tịnh và tâm kiên nhẫn; không sự chiêu cảm tai hoạ nào mạnh mẽ hơn lòng tham muốn và những ý nghĩ giận dữ. Nhưng ngay khi sự căng thẳng bên ngoài dịu xuống thì cái tâm tôi lại trôi tuột trở lại thành hàng ngàn mảnh nhỏ phân tán.

 Hoà thượng trụ trì nói với chúng tôi: “Tu Đạo chính là tu tâm nhất niệm” (2). Theo nghĩa đen, nhất tâm trong tiếng Trung Hoa có nghĩa là “một tâm trí” hay “một tâm” – nhiếp tụ lại chuyên nhất và hoàn toàn . Điều này quá rõ ràng rằng nhất tâm là cách duy nhất để chấm dứt sự lậu thoát do thói quen của chúng tôi và để khai mở ra trí huệ chân thật. Quá rõ ràng rằng tâm trí được giải thoát là vô tâm được sanh ra từ sự “nhất niệm”, nó không tìm cầu cái gì cả, không ngưng lại chỗ nào cả và ở khắp nơi đều hiểu rõ ràng.

 

Thành tựu pháp lành trong

Đầy đủ các công đức

Đối với nhứt thiết trí

Chuyên niệm tâm chẳng bỏ.

 Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Đâu Suất Kệ Tán Thán thứ hai mươi bốn.

 

Ghi chú:

(1) Nguyên văn Hoa ngữ: https://tripitaka.cbeta.org/T10n0279_033

禪定持心常一緣,

智慧了境同三昧,

去來現在皆通達,

世間無有得其邊。

 

Thiền định trì tâm thường nhất duyên,
Trí tuệ liễu cảnh đồng tam muội,
Khứ lai hiện tại giai thông đạt,
Thế gian vô hữu đắc kỳ biên。

 

Nhiếp tâm thiền định thường duyên một

Trí huệ rõ cảnh đồng tam muội

Khứ, lai, hiện tại đều thông đạt.

Thế gian không thể dò ngằn mé.

 

(2) Nguyên văn Hoa ngữ của Hòa Thượng Tuyên Hóa:

修道就是修一念心.

Tu đạo tựu thị tu nhất niệm tâm.

 

 

Hằng Thật - 18 tháng 7 năm 1978

Nước có vị ngon nhất trên địa cầu

 

“Dòng suối thiện hạnh”

Nếu không có sự mô tả về Bồ Tát Đạo trong Kinh, thì chúng ta có thể quên rằng sức khỏe thực sự và trí tuệ giác ngộ là có hiện hữu. Trước khi chúng ta bắt đầu tu hành, chúng ta không bao giờ biết được cảm giác của sức khỏe tốt tự nhiên. Chúng ta tạo nên những thói quen xấu, và xem những lo lắng, rắc rối và ô uế như một sự bình thường. Những trang Kinh rực sáng với những niềm hoan hỷ, phẩm hạnh đạo đức, và thanh tịnh. Những vị thánh nhân trong Kinh thúc giục chúng ta hãy tìm trở lại phúc lành và trí tuệ bởi đó là phần căn bản chúng ta đều có.

Khi chúng tôi đi qua thành phố Mesa, một nhân viên y tế cứu cấp hỏa hoạn kể về việc mang ba lô đi bộ thể thao dã ngoại ở Big Sur. “Có rất nhiều dòng suối từ núi ở mọi nơi, không cần thiết phải mang theo nước, kể cả trong mùa hè. Tôi chỉ nhét tay cầm của cái ly sắt Sierra vào thắt lưng quần và bắt đầu đi. Mỗi khi tôi cảm thấy khát thì dường như có một con suối róc rách xuất hiện trong tầm mắt. Và có thể là vì tôi sanh vào cung Song Ngư và hơi cuồng với nước, nhưng tôi thề rằng tất cả những con suối này đều có vị rất khác nhau. Mỗi dòng suối đều mát hơn, tinh khiết hơn và tươi mát hơn cái trước. Quý vị không cần lo lắng về nước khi đi qua vùng Big Sur. Những lạch nước này là tự nhiên, tươi mát, là nước có vị ngon nhất trên địa cầu.”

Bồ Tát Đạo giống như một dòng suối róc rách, tinh khiết, tụ lại từ vố số những hạt nhỏ của phẩm hạnh tốt. Hai phẩm hạnh trong đó là cảm giác luôn xấu hổ về những thói quen xấu, và một ước nguyện sâu thẳm muốn giải cứu tất cả chúng sanh khỏi sự đau khổ. 

Chuyên tâm cứu hộ tất cả chúng

Khiến họ xa lìa các nghiệp ác

Như vậy lợi ích các chúng sanh

Chuyên niệm tư duy chưa từng có.

Kinh Hoa Nghiêm – Phẩm Thập Hạnh

Một cảm giác luôn xấu hổ chữa lành tâm trí và rửa sạch tâm trí; sám hối tháo gỡ đi những nghiệp ác đã làm trong quá khứ. Tôi múc một bình nước suối và nhìn nó trong khi cặn bùn lắng xuống. Những nghiệp ác và thói quen xấu lắng xuống và tinh khiết giống như cặn bùn lắng xuống đáy bình, và từng cái lạy đều thanh tịnh hơn, mát mẻ hơn và tươi mát hơn cái trước.

* * *

Ngày hôm nay xuất hiện vô số con bọ rùa. Chúng đột ngột xuất hiện giống như một màn sương đỏ trên mặt đường nhựa, trên những bụi cây, trên cả giới y của chúng tôi. Ngày hôm qua chúng tôi không thấy một con bọ rùa nào. Tự nhiên, ngày hôm nay, vùng Big Sur tổ chức Ngày Bọ Rùa. “Vạn vật xoay chuyển, xoay chuyển, xoay chuyển …”

Một khi chúng sanh trụ trong sự hòa hợp với vạn vật, bản tánh của chúng ta hợp nhất với Trung Đạo. Nhưng bám chấp vào cái thấy có cái tôi (ngã kiến) thì chúng ta rời khỏi Đạo. Bị mê lầm, chúng ta làm việc ác và phá vỡ quy luật của Tự Nhiên. Thân và tâm của chúng ta trở nên đặc cứng và xoắn lại thành nút thắt, xoắn thành nghiệp báo của chúng ta.

Tu hành là làm thẳng ra chỗ xoắn, cởi bỏ nút thắt và thả lỏng những chỗ đơ cứng. Vị thiện tri thức chỉ cho chúng ta về hình hài ban đầu, về tự tánh chân thật của chúng ta. Rồi dần dần bước từng bước và qua từng cái lạy chúng ta xóa đi sự ô uế và những giả dối sai trái che đi bản tánh chân thật. Khi phần xấu của chúng ta được thanh lọc một lần nữa, Trung Đạo hiển hiện bên trong một cách tự nhiên bất ngờ, giống như những con bọ rùa xuất hiện ở vùng Big Sur.

Vì sao chúng ta lại cảm thấy mê mờ và rời xa Đạo, ngôi nhà nguyên thủy của chúng ta? Khi mà tôi có thể trả lời, thì cũng là lúc tôi có thể giải thích cơn mưa những chấm đỏ của bọ rùa ngày hôm nay.

Mẹ của Trời Đất sanh từ Đạo.

Trời trăng sáng rỡ vẫn xoay vần.

Bản thể vạn vật đều như thế,

Sanh sanh hóa hóa diệu vô cùng. (1)

Hòa Thượng Tuyên Hóa

 

Ghi chú:

(1) Nguyên văn Hoa ngữ:

天地之母曰道生

日月並明而運行

萬物本體亦如是

生生化化妙無窮

宣公上人作

Thiên địa chi mẫu viết đạo sanh

Nhật nguyệt tịnh minh nhi vận hành

Vạn vật bổn thể diệc như thị

Sanh sanh hóa hóa diệu vô cùng.

Tuyên Công thượng nhân tác

 

 

Hằng Thật. Ngày 19 tháng 7, 1978

Chúng tôi đã đi được một chặng đường dài!

 

“Tìm thấy một ngày đã mất”

“Như lúc mặt trời mọc

Chiếu sáng khắp thế gian

Phật phước điền cũng vậy

Phá trừ những tối tăm.”

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Bồ Tát Vấn Minh thứ mười.

 

Rơi vào một trạng thái tinh thần buồn chán kiểu cũ mà lúc trước khi tu tập, tôi thường hay như thế. Cảm thấy buồn chán, thất vọng về bản thân, đầy nước mắt buồn và tủi thân. Ngồi thiền trước khi bình minh lên, trong đầu đầy những suy nghĩ vẩn vơ, trước đây vào “một ngày lạc lõng” như thế này, tôi thường đi đến thành phố Ann Arbor, hoặc tới thành phố Sausalito, xem ngắm các tiệm sách và tiệm bánh ngọt hoặc nhàn rỗi qua buổi chiều bên những quán cafe cạnh cầu tàu giữa những chiếc thuyền buồm neo đậu. Tâm trí trôi dạt, bánh xe trôi lăn, cuộc đời ở cần số trung lập, tôi đã lãng phí hàng tuần của mình theo cách này, tìm kiếm Phật Pháp, tìm kiếm bản tánh chân thật nhưng lại thiếu giới luật và Chánh Đạo. Tôi từng nhìn chằm chằm vào lá số chiêm tinh của mình, nhấp nháp rượu sake nóng, rồi thở dài với cuộc sống rỗng tuếch, không mục đích này. Trong những ngày lạc lõng thế này, tôi chìm đắm trong những vũng nước ẩm ướt!

Thời gian đã thay đổi. Đám sương mù dày đặc nhanh chóng bao quanh khi chúng tôi tập xong một bài Thái cực quyền. Tôi hối hả đi ra ngoài để lạy. Sẽ chuyển hoá trạng tháng ẩm ướt này bằng cách lạy Phật! Năng lượng tốt lành lan toả. Trước giờ trưa, mặt trời làm tan sương mù, và Max, một ông chủ nhà hàng có mái tóc trắng đi tới tặng cho chúng tôi một bao tải bánh mì đen khổng lồ. “Đây là bánh swarzbrot”, ông ta nói qua giọng Đức đặc sệt. “Người ta vứt nó đi – những mẩu thừa – nhưng tôi nghĩ các ông có thể sử dụng bánh mì này. Chúng tôi đã tự nướng lấy”, ông ta nói với vẻ tự hào. Xong rồi ông ta ngừng lại để cho những lời nói đó thấm vào. “Chúng tôi thích việc hai ông đang làm. Chúng tôi nghĩ điều đó thật tốt đẹp”. “Tôi sẽ gặp lại các ông ở phía dưới đường xa lộ cùng với một ít bánh swarzbrot nữa”, ông ta vui vẻ nói lúc rời đi.

Lạy tại chỗ xong và cất đồ ăn trưa đi, thầy Hằng Triều và tôi thảo luận về lộ trình phía trước. Đường xa lộ phía trước có nhiều ngã rẽ, chúng tôi phải đi bộ một đoạn ngắn. Tôi chợt đi đến một chỗ để ngắm cảnh và thấy một một hình ảnh khó quên: Bán đảo Monterey trải dài phía dưới, biển Thái Bình Dương xanh màu ngọc bao quanh, căn cứ quân sự Ford Ord hoang vắng màu cát nâu trải về phía Bắc, thành phố Salinas tựa vào rặng núi Gabilan thấp thoáng xa xa về hướng Đông. Hình ảnh đó tràn ngập tâm trí và đôi mắt tôi. Chúng tôi đã đi được một chặng đường dài! Nhưng chặng đường đi bộ này vẫn chưa xa bằng chặng đường của tâm trí. Hôm nay lạy Phật đã giúp chuyển hoá cảnh giới phiền não của tôi trở nên bình lặng, mát mẻ, rõ ràng. Đây là món quà của cuộc đời, tìm thấy một ngày đã mất.

Lúc đại Bồ Tát tu tập những thiện căn như vậy ... Phật trí chiếu sáng tâm của Bồ Tát này, do đây dứt hẳn si mê, siêng tu Chánh Pháp ... (1)

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Hồi Hướng Thứ Hai Mươi Lăm

 

Ghi chú:

(1) Nguyên văn Hoa ngữ: Kinh Hoa Nghiêm – Phẩm Thập Hồi Hướng https://tripitaka.cbeta.org/T10n0279_030

[0162a10] 「佛子!菩薩摩訶薩修習如是諸善根時,得智慧明,為善知識之所攝受,如來慧日明照其心,永滅癡冥;勤修正法,入諸智業,善學智地,流布善根,充滿法界,以智迴向;盡諸菩薩善根源底,以智深入大方便海,成就無量廣大善根。

Phật tử,Bồ Tát ma ha tát tu tập như thị chư thiện căn thì,đắc trí tuệ minh,vi thiện tri thức chi sở nhiếp thụ,Như lai tuệ nhật minh chiếu kỳ tâm,vĩnh diệt si minh; cần tu chánh pháp,nhập chư trí nghiệp,thiện học trí địa,lưu bố thiện căn,sung mãn pháp giới,dĩ trí hồi hướng;tận chư bồ tát thiện căn nguyên để, dĩ trí thâm nhập đại phương tiện hải, thành tựu vô lượng quảng đại thiện căn。

Chư Phật tử ! Lúc đại Bồ Tát tu tập những thiện căn như vậy được trí huệ minh, các Thiện tri thức đều nhiếp thọ, Phật trí chiếu sáng tâm của Bồ Tát này, do đây dứt hẳn si mê, siêng tu chánh pháp, vào các trí nghiệp, khéo học trí địa, giăng bủa căn lành khắp pháp giới, dùng trí huệ hồi hướng tột nguồn đáy thiện căn của chư Bồ Tát, dùng trí vào sâu biển phương tiện lớn, thành tựu vô lượng căn lành rộng lớn.

 

 

Nhưng không có gì để bám vào

Monterey, Cali., ngày 20 tháng 7 năm 1978.

 

Kính thưa Sư Phụ,

Chúng con đến thành phố Monterey, trở lại thành phố sau ba tháng cô lập giữa những tảng đá và sóng biển của vùng Big Sur. Thật rất kỳ diệu. Những sự khác biệt con kinh nghiệm qua chỉ hiện hữu trong tâm con. Pháp giới là một tổng thể an lạc. Khi tâm con động thì không còn thấy tổng thể, mình và người trở thành hiện hữu, và vùng Big Sur, thành phố Monterey, và Vạn Phật Thành trở thành những tên gọi trên bản đồ, chia cách bằng những dặm đường lễ bái gian truân. Khi vọng niệm lắng lại và sự phân biệt dừng nghỉ, thì lúc đó dầu ở đâu đi nữa, chúng còn vẫn đang đảnh lễ trước tượng Ðức Bồ tát Quán Âm khổng lồ tại chánh điện Vạn Phật Thành.

Kinh Hoa Nghiêm nói:

"Thế nào là thế-gian

Thế nào phi-thế-gian

Thế-gian phi-thế-gian

Chỉ là tên sai khác !

Tam-thế và ngũ-uẩn

Nói gọi là thế-gian

Nói diệt là phi-thế

Như vậy chỉ giả danh."

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Dạ Ma Thiên Cung Kệ Tán

Ngôn ngữ và danh cú chỉ là sự tạo tác của tâm thức. Chúng là dụng cụ của tư tưởng và cũng hư vọng như như vậy.

Tại sao Sư Phụ phải đã cho chúng con lời khai thị luôn được nhắc nhở: "Đừng có vọng tưởng nào cả! Phải tìm cách chặn đứng luồng vọng tưởng ngay khi chúng vừa phát khởi." Vì vọng tưởng tạo nên thế giới chúng ta cư ngụ. Vọng tưởng tạo nên nghiệp và quả báo chúng ta gánh chịu. "Mười Pháp giới không ngoài một tâm niệm." Từ địa ngục đến Phật quả, chúng con gặt quả của những hạt giống chúng con đã trồng trong tâm thức. Khi chúng con kết hợp với Ðạo thì chúng ta làm đúng cũng ngay trong chính tâm đó.

Tổ thứ Ba là Tổ Tăng Xán nói về ngôn ngữ, tư tưởng và Đạo. Ngài nói:

"Càng nói càng suy nghĩ,

Thì càng xa cái ấy.

Nếu ngừng bặt ngôn tưởng,

Sẽ thấy nó cùng khắp."

(Tín Tâm Minh)

Thiền thất vưà rồi, Sư Phụ có dạy: "Người tu Đạo tâm không thì đồng với Phật."

Ðệ tử: Sư Phụ, con đã cố gắng hết sức để dẹp bỏ phàm niệm, chỉ còn Phật niệm.

Sư Phụ: Tốt, hãy nói xem, Phật niệm là gì? Nói đi, câu trả lời của ông là gì?

Ðệ tử: Ồ, à ..., ồ, Con biết đó không phải là vọng niệm, con có nhiều vọng niệm ...

Sư Phụ: Vì con có nhiều vọng niệm mà con không biết. Cái gì không thể tả ra, không diễn bày được, đó là Phật! Bất cứ cái gì có thể diễn bày bằng ngôn ngữ thì vẫn chỉ là bên ngoài. Người xưa có nói:

Vọng tâm muốn phan duyên,

Nhưng không có gì để bám vào

Đường ngôn ngữ dứt bặt

Chỗ tâm hành bèn diệt. (1)

Hễ còn có niệm tưởng thì vẫn chưa thành Phật quả"

Ðệ tử: Ồ, vậy vô niệm là Phật niệm!

Sư Phụ: (không trả lời.)

"Bồ tát nguyện tất cả chúng sanh được thân không mệt mỏi như kim cang."

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Hồi Hướng.

Sư Phụ dạy con rất nhiều về thân cũng như về tâm của con. Trong chuyển hành trình lễ bái nầy, còn đang học niệm kinh "Pháp thân" để thay đổi túi da âm, cong, cứng để lấy thân thắng đứng, uyển chuyển, đầy năng lực dương. Việc bái lạy cùng thiền định đang làm thay đổi toàn thế giới của con. Tu hành là ngọn suối vi diệu. Mỗi ngày con giữ giới và chế phục vọng tưởng con càng cảm thấy trẻ trung ra, thành thật hơn và chân chính hơn. Một cách tự nhiên!

"Tu hành hàng phục thân tâm. Chúng ta điều phục thân để có thể tiếp tục làm việc ngay cả những lúc mỏi mệt; chúng ta điều phục tâm để không khởi sinh vọng tưởng."

Sư Phụ Khai Thị, Kim Luân Tự, tháng 5, 1978.

 

Ðệ tử Quả Chân kính lạy.

 

Ghi chú: :

 

(1) Hai câu sau là từ nguyên văn Hoa ngữ:

言語道斷,心行處滅

即念離念,念而無念

 

Ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xử diệt

Tức niệm ly niệm, niệm nhi vô niệm

 

 

Hằng Triều - Ngày 22 tháng 7 năm 1978

Mã số 217, có vũ khí và nguy hiểm, 10-4

 

Trong những chúng-sanh đó : các thứ tiếng, các thứ nghiệp, các thứ chấp, các thứ thí cho, các thứ hòa-hợp, các thứ lưu-chuyển, các thứ việc làm, các thứ cảnh-giới, các thứ sanh, các thứ chết, Bồ-Tát này do đại-nguyện ở trong đó an trụ mà giáo-hóa họ, chẳng để tâm họ có động có thối, cũng chẳng có một niệm nhiễm-trước.

Tại sao vậy ? Vì Bồ-Tát này đã được vô-trước, vô-y, tự-lợi và lợi-tha đều thanh-tịnh đầy đủ. (1)

Kinh Hoa Nghiêm – Phẩm Thập Hạnh - Phần Bồ-Tát Vô-Trước-Hạnh thứ bảy

 

“Ở trong các thứ đó an trụ.“ Cắm trại qua đêm trên một con đường nhỏ nhiều cây cối đằng sau một trung tâm mua sắm. Yên lặng tụng kinh công phu sáng và ngồi thiền trước khi bình minh. Thực hành một vài động tác thái cực quyền, uống trà nóng dưới một cây sồi già sần sùi. Bắt đầu lạy trên một mảng cỏ nhỏ ở đoạn giao nhau giữa hai con đường đầy cỏ ba lá trên lối đi ra đại lộ Munras. Như giữa trung tâm của một cơn bão. (2)

 

7:30 sáng. “Những hiệp sĩ đưởng lộ” ngái ngủ bò ra khỏi những căn lều dựng lên phìa sau chúng tôi, ngáp và dụi mắt nửa buồn ngủ nửa không ngờ khi thấy hai nhà sư đầu cạo trọc, mặc y dài đang lạy trên bãi cỏ ngập tràn sương sớm trong khi xe dầu và xe của những người đi làm chạy gầm rú và bao vòng quanh.

 

Bác sĩ Kim, một bác sĩ châm cứu ở địa phương, dừng lại và cúng dường cho chúng tôi trái cây tươi.

 

“Chắc phải chạy mất, tôi đang bị trễ hẹn để trị liệu cho đức Tổng Giám Mục.” anh ấy nói, “Các áo tràng của quý thầy thật truyền thống, làm tôi nhớ về quê nhà. Ba của tôi cũng từng mặc như vậy.”

 

8:00 sáng. Một nhà báo từ báo Monterey Herald dừng lại để phỏng vấn

 

9:00 sáng. Một người điên tiến tới gần vừa cầu nguyện, vừa ngân nga vừa làm trò ma thuật và làm dấu hiệu tay bên trên chúng tôi trong khi một người khác cười và nhét chút tiền vào cần gạt nước trên kính chắn gió xe.

 

9:30 sáng. Tôi nghe một tiếng động cơ ầm ầm của một xe cảnh sát tấp vào lề và chầm chậm đậu xe phía sau chúng tôi. Một khoảng ngừng lâu và tiếng tanh tách của máy vô tuyến cảnh sát trước khi có tiếng đóng sầm cửa xe. Tôi nhấc trán của tôi từ mặt đất đến chiếc dày đen bóng và chân một người mặc quần đồng phục màu xanh chờ tôi đứng dậy. Có phải gặp rắc rối không? Không, thật ngạc nhiên.

 

“Thưa các ông, xin lỗi vì đã làm phiền. Tôi là cảnh sát viên Taylor của sở cảnh sát thành phố Monterey” ông ấy cười và nói Pháp danh của ông với một bàn tay chắp lại và vái chúng tôi. “Tôi là một cư sĩ Phật giáo. Có cách nào tôi có thể giúp quý thầy không?”

 

10:00 sáng. Một người điên khác vừa ngân nga và gào thét, cố gắng chạm vào thầy Hằng Thật.

 

11:00 sáng. Viên cảnh sát Taylor quay trở lại với tàu hủ, rau dền, và giá đậu để cúng dường cho bữa ăn trưa. Anh Taylor hỏi một vài câu hỏi về Kinh Lục Tổ và Tịnh Độ trong khi anh rửa rau dền và chiên tàu hủ trên chiếc bàn dã ngoại ở một công viên nhỏ ngoài đường chính. “Tôi vừa đặt mua dài hạn tạp chí Bồ Đề Hải. Báo này rất hay. Tôi đặc biệt thích… Ối, xin thứ lỗi” anh nói, tai lắng nghe máy vô tuyến từ xe cảnh sát của anh.

 

“…mã số 217, có vũ khí và nguy hiểm, 10-4.”

 

Anh Taylor bị khựng lại, và sau đó sẵn sàng chạy đi ngay.

 

“Dù sao thì hãy lấy chiếc bánh mì kẹp này đã,” tôi hét lên.

 

“Được, đó là một ý kiến hay,” anh nói, nhanh nhẹn kẹp tàu hủ bơ đậu phụng vào bánh mì. Anh xá chào nhanh và nhảy vào chiếc xe. Tiếng máy xe gầm rú, tiếng còi báo động vang lên.

 

1:00 trưa. Richard từ tờ báo Salinas California dừng lại để tìm câu chuyện viết báo.

 

“Tôi có nói chuyện với cảnh sát và họ nói những điều tốt về các ông. Mấy ông đang tuân thủ mọi luật lệ và làm mọi việc một cách đúng đắn. Họ nói các ông tôn trọng luật pháp. Rất nhiều người ngưỡng mộ điều đó.” anh ấy nói với chúng tôi.

 

R1:30 trưa. Quay trở lại với việc lạy. Xe cộ lưu thông dày đặc. Chiếc áo giới bị mắc vào gót giày của tôi. Rách toạc! Đó là biểu tượng của sự bám chấp của tôi, một trạng thái của tâm “bị dính mắc vào gót chân”.

 

2:00 chiều. Nhớ lại lúc ăn trưa, đang quan sát thầy Hằng Thật bình tĩnh thực hiện nghi thức Đại bàng Kim xí điểu trong khi một xe chở đầy những thiếu nên trẻ tuổi ngang qua, nhạc rock vang rền, và một câu nói “Chào những người trọc đầu!” Chúng tôi hầu như không còn để ý thứ gì khác và sau một vài ngày, họ cũng hầu như không để ý tới chúng tôi. Có điều gì đó về viêc lễ lạy và cách sống truyền thống đã xoa dịu những khó chịu bực mình và làm tan biến những nghi ngờ.

 

Vào khoảng thời gian lúc chúng tôi lạy ra khỏi thành phố, chúng tôi đã trở thành một phần của cộng đồng thành phố, đã thầm lặng thích hợp vào một nơi nào đó trong tâm mỗi người.

 

“Ồ, đó là những nhà sư đang lạy” và “như mấy ông biết, chúng tôi sẽ rất nhớ hai người. Tôi đã có cảm giác quen với việc nhìn các ông lạy dọc theo các con đường, các ông có biết không?” những người khác nói một cách trìu mến. Mọi người dần dần tiếp nhận chúng tôi và đối xử với chúng tôi như những người trong gia đình hay những người bạn cũ cho dù chưa từng gặp hay thậm chí chưa từng nói chuyện với chúng tôi.

 

2:30 chiều. Viên cảnh sát Taylor quay trở lại và cúng dường tiền xăng và kiểm tra tiến trình của chúng tôi. Một lần nữa máy vô tuyến cảnh sát lại gọi anh đi, “Đối tượng tình nghi lái một chiếc Chevy năm 66… tiếp cận một cách thận trọng…”

 

3:00 chiều. Nghỉ ngơi để thiền và viết.

 

4:00 chiều. Một miếng cà chua lăn qua gần đầu thầy Hằng Thật.

 

5:00 chiều. Một người đàn ông dừng lại, nhẹ nhàng đặt tay lên vai tôi và nói, “Tôi không biết các ông đang làm gì, nhưng tôi thực sự thán phục. Tôi có thể được phép đóng góp không?”

 

5:30 chiều. Hồi hướng công đức của một ngày lễ lạy. Quay trở lại chiếc xe và lái qua những con đường bận rộn của thành phố để tìm một “nơi tĩnh lặng” để qua đêm.

 

Ngồi thiền trong xe, một cơ hội để ngẫm nghĩ về những bài học hôm nay… học buông thả và an trụ trong chánh niệm.

 

“Chánh niệm hiện tiền không chấp lấy.” (3)

Kinh Hoa Nghiêm – Phẩm Thập Hạnh - Phần Bồ-Tát Vô-Trước-Hạnh thứ bảy

 

Tôi đi vào vùng Carmel Montery nhộn nhịp trải rộng và đã bám chấp vào sự hoang dã tuyệt vời của vùng Big Sur. Đã thích hợp cho việc lễ lạy không gián đoạn và thiền định lâu dài trong tĩnh lặng, sự xô bồ và phô trương của thành phố lớn làm tôi quay cuồng. Khi những thứ không thể tránh được xảy đến không phù hợp với sự mong mỏi thôn dã đồng quê, tôi vấp ngã bởi chính chân mình. Làm rách áo giới ở gót chân mính đã giúp nhắc nhở tôi rất nhiều về việc rời bỏ chánh niệm. Chánh niệm là gì? Chánh niệm chỉ là vô niệm. Nói rõ hơn là khởi niệm vô trụ vô chấp – thậm chí không bám chấp vào sự tu tập hay cảnh giới tâm có vẻ như Tam muội thiền định của mình.

 

“Chẳng chấp-trước nơi thân, nơi pháp, nơi niệm, nơi nguyện, nơi tam-muội, nơi quán-sát, nơi tịch-định, nơi cảnh-giới, nơi sự giáo-hóa điều-phục chúng-sanh. Cũng chẳng chấp-trước, nơi sự nhập pháp-giới... chánh-niệm hiện-tiền không chấp lấy.” (4)

 

Kinh Hoa Nghiêm – Phẩm Thập Hạnh - Phần Bồ-Tát Vô-Trước-Hạnh thứ bảy

Bây giờ, một ngày đã kết thúc, tôi ngồi trong chiếc xe, cúi xuống gần cái đèn dầu để khâu lại những chỗ rách bên ngoài với kim và chỉ; đồng thời sửa chững những sai sót bên trong với Kinh Điển và sự quán chiếu bên trong.

 

Ghi chú:

(1) (3) (4) Kinh Hoa Nghiêm – Phẩm Thập Hạnh - Phần Bồ-Tát Vô-Trước-Hạnh thứ bảy.

http://tripitaka.cbeta.org/T10n0279_020

[0105c19] ... 菩薩爾時復作是念:『我當為一眾生,於十方世界一一國土,經不可說不可說劫,教化成熟。如為一眾生,為一切眾生皆亦如是;終不以此而生疲厭,捨而餘去。』

又以毛端遍量法界,於一毛端處,盡不可說不可說劫,教化調伏一切眾生;如一毛端處,一一毛端處皆亦如是。乃至不於一彈指頃,執著於我,起我、我所想。於一一毛端處,盡未來劫修菩薩行;不著身,不著法,不著念,不著願,不著三昧,不著觀察,不著寂定,不著境界,不著教化調伏眾生,亦復不著入於法界。

何以故?菩薩作是念:『我應觀一切法界如幻,諸佛如影,菩薩行如夢,佛說法如響,一切世間如化,業報所持故;差別身如幻,行力所起故;一切眾生如心,種種雜染故;一切法如實際,不可變異故。』

又作是念:『我當盡虛空遍法界,於十方國土中行菩薩行,念念明達,一切佛法正念現前,無所取著。』

菩薩如是觀身無我,見佛無礙,為化眾生,演說諸法,令於佛法發生無量歡喜淨信,救護一切,心無疲厭。無疲厭故,於一切世界,有眾生未成熟、未調伏處,悉詣於彼,方便化度。其中眾生種種音聲、種種諸業、種種取著、種種施設、種種和合、種種流轉、種種所作、種種境界、種種生、種種沒,以大誓願,安住其中而教化之,不令其心有動有退,亦不一念生染著想。

何以故?得無所著、無所依故,自利、利他,清淨滿足。

是名菩薩摩訶薩第七無著行。
 

... Bồ Tát nhĩ thì phục tác thị niệm:『 Ngã đương vi nhất chúng sanh, ư thập phương thế giới nhất nhất quốc thổ, kinh bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp, giáo hóa thành thục。như vi nhất chúng sanh,vi nhất thiết chúng sanh giai diệc như thị; chung bất dĩ thử nhi sanh bì yếm,xả nhi dư khứ。』

Hựu dĩ mao đoan biến lượng pháp giới,ư nhất mao đoan xử,tận bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp,giáo hóa điều phục nhất thiết chúng sanh;như nhất mao đoan xử,nhất nhất mao đoan xử giai diệc như thị。Nãi chí bất ư nhất đạn chỉ khoảnh,chấp trước ư ngã,khởi ngã、ngã sở tưởng。ư nhất nhất mao đoan xử,tận vị lai kiếp tu Bồ Tát hạnh; bất trước thân,bất trước pháp,bất trước niệm,bất trước nguyện,bất trước tam muội,bất trước quan sát,bất trước tịch định,bất trước cảnh giới,bất trước giáo hóa điều phục chúng sanh,diệc phục bất trước nhập ư pháp giới。

Hà dĩ cố?Bồ Tát tác thị niệm:『 Ngã ứng quan nhất thiết pháp giới như huyễn,chư phật như ảnh,Bồ Tát hạnh như mộng,phật thuyết pháp như hưởng, nhất thiết thế gian như hóa, nghiệp báo sở trì cố; sai biệt thân như huyễn, hạnh lực sở khởi cố; nhất thiết chúng sanh như tâm, chủng chủng tạp nhiễm cố; nhất thiết pháp như thật tế, bất khả biến dị cố。』

Hựu tác thị niệm:『 Ngã đương tận hư không biến pháp giới, ư thập phương quốc thổ trung hành Bồ Tát hạnh, niệm niệm minh đạt, nhất thiết phật pháp chánh niệm hiện tiền, vô sở thủ trước。』

Bồ Tát như thị quan thân vô ngã,kiến phật vô ngại,vi hóa chúng sanh,diễn thuyết chư pháp,lệnh ư phật pháp phát sanh vô lượng hoan hỉ tịnh tín,cứu hộ nhất thiết,tâm vô bì yếm。vô bì yếm cố, ư nhất thiết thế giới,hữu chúng sanh vị thành thục、vị điều phục xử,tất nghệ ư bỉ,phương tiện hóa độ。kỳ trung chúng sanh chủng chủng âm thanh、chủng chủng chư nghiệp、chủng chủng thủ trước、chủng chủng thí thiết、chủng chủng hòa hợp、chủng chủng lưu chuyển、chủng chủng sở tác、chủng chủng cảnh giới、chủng chủng sanh、chủng chủng một,dĩ đại thệ nguyện,an trụ kỳ trung nhi giáo hóa chi,bất lệnh kỳ tâm hữu động hữu thối,diệc bất nhất niệm sanh nhiễm trước tưởng。

Hà dĩ cố?Đắc vô sở trước、vô sở y cố,tự lợi、lợi tha,thanh tịnh mãn túc。

Thị danh Bồ Tát ma ha tát đệ thất Vô Trước Hạnh。

 

... Lúc đó Bồ-Tát này lại nghĩ rằng : Tôi sẽ vì một chúng-sanh nơi mỗi quốc-độ trong thập phương thế-giới, trải qua bất-khả-thuyết bất-khả-thuyết kiếp giáo-hóa thành-thục. Như vì một chúng-sanh, vì tất cả chúng-sanh cũng như vậy. Trọn chẳng vì đây và nhàm lìa bỏ đi nơi khác.

Lại lấy đầu sợi lông khắp lường pháp-giới, nơi chỗ đầu một sợi lông trọn bất-khả-thuyết bất-khả-thuyết kiếp giáo-hóa điều-phục tất cả chúng-sanh. Như nơi đầu một sợi lông, nơi tất cả đầu sợi lông đều như vậy. Chẳng chấp trước ngã, chẳng khởi tưởng ngã, ngã-sở. Nơi mỗi đầu sợi lông thành-tựu bồ-tát-hạnh tận vị-lai kiếp, chẳng chấp-trước nơi thân, nơi pháp, nơi niệm, nơi nguyện, nơi tam-muội, nơi quán-sát, nơi tịch-định, nơi cảnh-giới, nơi sự giáo-hóa điều-phục chúng-sanh. Cũng chẳng chấp-trước nơi sự nhập pháp-giới.

Tại sao vậy ? Vì Bồ-Tát này nghĩ rằng : Tôi phải quán-sát tất cả pháp như huyễn, chư Phật như bóng, bồ-tát-hạnh như giấc mơ, Phật thuyết-pháp như vang, tất cả thế-gian như hóa, vì do nghiệp-báo chấp trì, thân sai-biệt như huyễn, vì do hành-lực khởi ra. Tất cả chúng-sanh như tâm, vì các thứ tạp-nhiễm, tất cả pháp như thiệt-tế, vì chẳng thể đổi khác.

Bồ-Tát này lại nghĩ rằng : Tôi sẽ thật hành bồ-tát-hạnh trong thập phương tất cả quốc-độ, niệm niệm rõ thấu tất cả phật-pháp, chánh-niệm hiện-tiền không chấp lấy.

Bồ-Tát quán thân vô-ngã như vậy thời thấy Phật vô-ngại. Vì giáo-hóa chúng-sanh mà diễn thuyết các pháp, làm cho họ đối với phật-pháp phát sanh vô-lượng hoan-hỷ và lòng tin thanh-tịnh. Cứu hộ tất cả chúng-sanh lòng không nhàm mỏi. Vì không nhàm mỏi nên trong tất cả thế-giới, nếu có chúng-sanh chưa thành-tựu, chưa điều-phục, thời liền đến đó dùng phương-tiện hóa-độ. Trong những chúng-sanh đó : các thứ tiếng, các thứ nghiệp, các thứ chấp, các thứ thí cho, các thứ hòa-hợp, các thứ lưu-chuyển, các thứ việc làm, các thứ cảnh-giới, các thứ sanh, các thứ chết, Bồ-Tát này do đại-nguyện ở trong đó an trụ mà giáo-hóa họ, chẳng để tâm họ có động có thối, cũng chẳng có một niệm nhiễm-trước.

Tại sao vậy ? Vì Bồ-Tát này đã được vô-trước, vô-y, tự-lợi và lợi-tha đều thanh-tịnh đầy đủ.

Đây gọi là Bồ-Tát Vô-Trước-Hạnh thứ bảy.

 

(2) Nguyên văn: The eye of a hurricane: Trung tâm cơn bão. Trong cơn bão thì vùng trung tâm cơn bão thường tĩnh lặng.

Hình chụp cơn bão Katrina với trung tâm bão ở giữa (An imagery of the Hurricane Katrina with the eye at the centre).

Ở đây hai Thầy đang lạy giữa cảnh nhộn nhịp nhưng tâm an tịnh như giữa trung tâm cơn bão, giống như đoạn kinh Hoa Nghiêm nói trên:

"Các thứ tiếng, các thứ nghiệp, các thứ chấp, các thứ thí cho, các thứ hòa-hợp, các thứ lưu-chuyển, các thứ việc làm, các thứ cảnh-giới, các thứ sanh, các thứ chết, Bồ-Tát này do đại-nguyện ở trong các thứ đó an trụ mà giáo-hóa họ, chẳng để tâm họ có động có thối, cũng chẳng có một niệm nhiễm-trước."

 

 

Hằng Thật - Ngày 22 tháng 7, 1978

Áp lực làm cản trở dòng chảy tự nhiên

 

“Không mong cầu”

Lời giải thích căn bản nhất cho sự không cầu mong đã quá rõ ràng: đừng mong đợi những của cải thế gian hay thành tựu xuất thế gian. Bất cứ những nghiệp quả bạn tự tạo đều sẽ xuất hiện trên con đường của bạn mà không cần nỗ lực nào của bạn. Trân trọng những gì đến với mình, không tham lam mong cầu nhiều hơn cũng không hoàn toàn từ chối. Tất cả mọi thứ mà tôi muốn có được trong chuyến đi của tôi đã đốt bỏng bàn tay tôi trước khi nó biến mất. Vì sao? Bởi vì mong cầu là dục vọng, dục vọng tạo áp lực lên tự nhiên và áp lực làm cản trở dòng chảy tự nhiên.

“(Bồ Tát liền suy nghĩ rằng): cảnh ngũ dục này là thứ chướng đạo, nhẫn đến chướng vô thượng Bồ Đề. Do đây nên Bồ Tát chẳng có một niệm dục tưởng, lòng thanh tịnh như Phật.”

Kinh Hoa Nghiêm. Phẩm Thập Hạnh Thứ hai mươi mốt.

 

Hằng Triều - Ngày 22 tháng 7, 1978

Đối xử với nó như một ngôi đền thiêng liêng

 

“Đức Phật ở đâu”

“Hiểu biết tự tánh của mình được gọi là Phật.”

Kinh Hoa Nghiêm

 

Trung tâm thành phố Monterey vào một buổi sáng thứ bảy – người đi mua sắm, du khách, thương gia và những câu hỏi thường xuyên nhất:

“Này, các ông đang làm gì thế?”

“Lạy,” tôi trả lời

“Lạy ai? Lạy Chúa à?” ông ấy hỏi

“Lạy Phật” tôi nói

“Phật là ai? Đó là chúa của ông à?”

“Không hẳn…” tôi bắt đầu

“Ô, vậy sao!? Chúa ở trên thiên đường, nhưng Phật thì ở đâu?” ông ấy hỏi thêm.

Đôi khi có một tâm hồn trung thực, cởi mở ẩn sau những câu hỏi và có cơ hội để đưa ra một câu trả lời trung thực cởi mở. Đôi khi có một bức tường lừa gạt của sự đối địch và những ý kiến bảo thủ đằng sau sự thăm dò, chỉ cho phép im lặng để trả lời. Nhưng trong tấm trí khi đang lạy tôi im lặng đưa ra câu trả lời này:

Đạo-Sư không lai khứ

Cũng lại không sở trụ.

Xa lìa các điên đảo

Đây hiệu Đẳng-Chánh-Giác.

…

Như Lai không sở trụ

Mà trụ tất cả cõi

Tất cả cõi đều qua

Tất cả nơi đều thấy,

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Đâu Suất Kệ Tán

 

Đức Phật là một người giác ngộ hoàn toàn. Đức Phật chính là sự thức tỉnh tự tánh của chúng ta mà mỗi người trong chúng ta đều có khả năng để kinh nghiệm.

Tự tánh là khuôn mặt thật sự (bổn lai diện mục) của chúng ta, là gốc rễ và cội nguồn mà tất cả chúng sanh tìm kiếm để quay trở lại và là nơi tất cả những cuộc tìm kiếm kết thúc. Đây cũng chính là Trung Đạo và “đến được bờ bên kia” (đáo bỉ ngạn). Đó là Bồ Đề - Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, và tất cả đều có thể trở thành Phật. Tự tánh không

đến hoặc đi, không được hay mất. Chúng ta giác ngộ tự tánh bằng cách tu hành hành vi thanh tịnh, định tâm, và trí tuệ, hay chúng ta che đậy tự tánh với sự tham lam, sân hận, và ngu si. Nhưng tự tánh không bao giờ rời khỏi chúng ta. Không một ai có thể đưa tự tánh cho chúng ta; không ai có thể lấy tự tánh khỏi chúng ta.

“Đức Phật ở đâu… Đức Phật là gì?” người lạ hỏi,

Những cuốn Kinh chúng tôi mang trong chiếc ba lô đeo sau lưng dạy rằng,

Nếu có kẻ muốn biết

Tất cả Phật ba đời

Hãy quán tánh Pháp Giới

Tất cả do tâm tạo.

 Kinh Hoa Nghiêm

Nhưng tâm trí chúng ta giống như một cái gương bụi bặm, sự sáng lạn của gương bị che tối bởi những ý niệm của tham lam, sân hận, và đố kỵ; bị hoen ố đi bởi những lời nịnh hót, lừa dối và sự ngạo mạn. Tôi như vậy, tất cả chúng sanh đều như vậy. Tuy nhiên nếu chúng ta có thể lau sạch những bụi bẩn và với một tâm trí ngay thẳng thường luôn làm điều tốt và tránh làm ác, nếu trong tất cả mọi lúc chúng ta có thể thanh tịnh suy nghĩ của mình và chiều soi tâm trí mình, thì lúc đó chúng ta có thể trở về tri kiến của Đức Phật. Đức Phật chỉ chính là tâm của chúng ta.

“Ngươi nay phải tin rằng cái Phật tri kiến đó chỉ là tự tâm của ngươi, chớ chẳng có Phật nào khác.” Lục Tổ Đại Sư nói. [Kinh Pháp Bảo Đàn - Phẩm Cơ Duyên]

Lạy giúp dần dần khôi phục lại sự sáng lạn tự nhiên trong tâm trí chúng ta. Đó là một cách nhẹ nhàng lau chùi sạch nó lần này qua lần khác để đống chướng ngại biến mất. Và khi tất cả bụi bẩn đều đi hết, thì người đó được gọi là Đức Phật.

* * *

Một nhóm người Việt Nam theo đạo Phật gặp chúng tôi sáng nay ở Monterey. Sau khi cúng dường bữa ăn trưa dưới một vài bóng cây ở một công viên nhỏ, và mặc dù lái xe gần 7 giờ đồng hồ từ thành phố Los Angeles, họ vẫn còn năng lượng để thực hiện Ba bước Một lạy với chúng tôi trước và sau khi ăn. Thật là hứng khởi! Chúng tôi lạy theo hàng dọc ở trên đường dành riêng cho xe đạp xuyên qua Công viên Monterey và vào khu phố thương mại – một đoàn người gồm chín Phật tử đa dạng, với những chiếc áo tràng màu xám hoặc nâu phất phới trong gió, nhấp nhô như một con sóng với hai cậu bé đến gần từ phía sau.

“Ba ơi! Nhìn kìa!” một cậu bé nói với người cha, gần như sắp té ngã khỏi xe đạp “Họ đang làm gì vậy?”

“Ba không biết con à!” người cha hơi bối rối nói. “Chắc đó là một cách cầu cho hòa bình thôi, phải không con?” trong khi họ rời ra khỏi đường mòn và nhìn chúng tôi đi qua.

* * *

Hai tín đồ Hồi Giáo bên ngoài tiệm ăn Denny.

“Tuyệt vời, nhưng ở đây dơ bẩn quá. Mấy ông sẽ được tốt hơn nếu ở một chỗ sạch sẽ hơn.” họ nói.

“Sạch hay dơ đều tùy thuộc vào cách bạn nhìn nó.” tôi trả lời

“Tôi biết, nhưng ngay cả với một tâm trong sạch, vỉa hè vẫn quá dơ bẩn!” họ đáp.

“Tạp nhiễm và thanhtịnh

Vô lượng thế giới chủng

Tùy tâm chúng sanh khởi

Bồ Tát lực gia trì “

Kinh Hoa Nghiêm – Phẩm Hoa Tạng Thế Giới

Dơ bẩn hay sạch sẽ tùy thuộc vào cách mà bạn nhìn nó. Ví dụ như, hầu hết mọi người đều cảm thấy cơ thể là một tài sản vô giá – chúng ta liên tục thỏa mãn thèm khát của nó, nuông chiều nó và phô trương nó, yêu mến và trang điểm nó và không bao giờ cảm thấy mệt khi cố gắng làm hài lòng và giữ gìn nó. Nhưng thật ra, cơ thể chỉ là một cái nhà vệ sinh – một túi rác thối tha, rỉ nước. Không có xà phòng, nước hoa, chất khử mùi, kem che khuyết điểm, kem trang điểm, phấn và một tủ đầy thuốc, thuốc xịt, thuốc bôi lên vết thương và thuốc viên, nó thực chất sẽ có mùi hôi thối, ghê tởm: chất từ mắt, nước nhầy từ mũi, ráy tai, nước bọt từ miệng, cùng với nước tiểu và phân, máu và mủ, vảy từ da chết và ngay cả mồ hôi ghê tởm từ các lỗ chân lông. Vậy mà chúng ta vẫn luôn đối xử với nó như một ngôi đền thiêng liêng. Chúng ta coi nó đáng yêu và luôn lo lắng về một viễn cảnh nó bị “dơ bẩn” trên lề đường hay bị lấm bẩn với đất trên mặt đất. Tuy thế những đồ mà chúng ta ăn đến từ đất và nó thấm đẫm trong phân bón, thuốc trừ sâu hóa học, và những thứ tương tự như vậy. Nước chúng ta uống và khí chúng ta thở, đầy đầy vô số vi sinh vật, vi khuẩn, bào tử, chất độc hại, thậm chí bụi phóng xạ.

Ở thế giới này, mọi thứ không như mọi người nghĩ. Bẩn thỉu và trong sạch hòa quyện và kết hợp lại. Vậy nên,

“Uế thế giới tức là tịnh thế giới

Tịnh thế giới tức là uế thế giới,,”

Kinh Hoa Nghiêm – Phẩm Sơ Phát Tâm Công Đức

Bên trong cửa hàng mở cửa 24 giờ “sạch sẽ” mà chúng tôi đang lạy phía trước, trên vỉa hè “bẩn thỉu”, mọi người thản nhiên ngấu nghiến thịt bò, thịt heo, thịt gà, thịt cá, thịt cừu, được phục vụ trên đĩa được khử khuẩn hoặc gói trong giấy trắng sạch được vệ sinh và ly nhựa. Nhưng chính những thức ăn đó, xác thịt của động vật đã chết, cũng được tẩm ướp đầy chất hóa học, và những độc tố tự nhiên và nhân tạo mà việc tiêu thụ chúng sẽ dần dần dẫn tới sự tự sát chậm. Thịt được biết đến như một nguyên nhân chính của bệnh ung thư. Bệnh ung thư vào đến ngay cả những ngôi nhà sạch nhất để giết ngay cả những người cẩn thận nhất. Sau bữa ăn trưa có người mở ra những bao thuốc lá vệ sinh sạch sẽ, niêm phong bằng bao nhựa với những điếu thuốc trắng như bông huệ tây (lily) và thong thả hít những khói thuốc độc giống hệt như những thứ phun ra từ ống khói thải của xe hơi. Bao thuốc được dán nhãn rõ ràng “Nguy hiểm cho sức khỏe,” họ nuốt sâu khói thuốc và thổi đám khói độc vào mặt bạn của họ. Tất cả là ở cách nhìn.

“Vì tâm chúng-sanh tịnh

Được thấy cõi thanh-tịnh."

Kinh Hoa Nghiêm – Phẩm Hoa Tạng Thế Giới

Với một tâm trí trong sạch thì ngay cả những nơi dơ bẩn cũng là sạch sẽ; với một tâm dơ bẩn thì ngay cả một nơi sạch sẽ cũng trở nên dơ bẩn. Những thứ dơ bẩn nhất thế giới này không phải là những vỉa hè của thành phố, những nhà vệ sinh hay thậm chí những bãi rác. Những thứ dơ bẩn nhất thế giới này là những niệm sân giận và gây hại, những hành động phá hoại và ích kỷ. Bom nguyên tử và bạo lực là bất tịnh, sự thèm muốn và dục vọng là dơ bẩn. Nơi sạch sẽ nhất, trong sạch nhất để sống là ở trong tâm không bám chấp bất cứ thứ gì, không bị xiềng xích gò bó, tâm giải thoát. Giới luật là thanh tịnh, bố thí là thanh tịnh và chế ngự bản thân là thanh tịnh.

(Người trí do đây mà hồi hướng)

"Cúng dường vô lượng vô biên Phật

Bố thí trì giới phục các căn

Vì muốn lợi ích các chúng sanh

Khiến khắp tất cả đều thanh tịnh.”

Kinh Hoa Nghiêm – Phẩm Thập Hồi Hướng

 

 

Hằng Thật - Ngày 23 tháng 7, 1978

Không quá chậm, không quá nhanh


“Khóa Thiền 1978”

Mỗi ngày, cảm giác ngạc nhiên kỳ diệu của chúng tôi tăng thêm lên và lòng kính trọng của chúng tôi ngày càng sâu đậm hơn đối với trị liệu pháp tâm lý cổ xưa có tên là Phật Pháp đưa chúng tôi trở về cội nguồn của tâm trí chúng tôi. Cần có áp lực ổn định đều đăn mà không cần ép buộc, và dụng công vững chắc trên con đường Trung Đạo.

Đó là khóa Thiền năm 1978.
Không quá chậm, không quá nhanh. Đừng căng thẳng!
Chỉ cần tiến bước đều đặn, liên tục, tinh tấn.
Chẳng bao lâu quý vị sẽ đến Phật Địa.

Hòa Thượng Tuyên Hóa

 

 

Hằng Triều - Ngày 23 tháng 7, 1978

Hết sợ hãi và cảm thấy vui mừng khi nhìn thấy "người tốt"

 

Monterey. Một ngày chủ nhật đầy nắng và yên tĩnh. Quang cảnh lạy thông thường ở trong thành phố: khách du lịch với những chiếc máy ảnh đang cố không đẻ ý đến chúng tôi; đám thanh niên trong những chiếc xe thời trang đang nổ máy ầm ầm gầm chạy gần đến chúng tôi để thử thách thần kinh cùng với những việc làm táo bạo; còn những người chân thành không kể tuổi tác, tầng lớp xã hội, chủng tộc hay tín ngưỡng đều chia sẻ tấm lòng chung về lòng nhân ái thuần khiết và một mong ước cho một thế giới hòa bình. Họ đến gần, cầu chúc cho chúng tôi “may mắn”, và đôi khi còn hỏi họ có thể làm gì để giúp.

Vào thời điểm cuối ngày chúng tôi chúng tôi lạy đến đoạn cuối của con đường chính, hai vị mục sư của đạo Tin Lành bất ngờ xuất hiện trước chúng tôi. Mở sách Kinh Thánh, tâm trí khép lại, và một trận mưa đá lửa và diêm sinh phóng ra.

“Đã có ai giảng Thánh Kinh cho các anh chưa?” một người hét lên

“Hãy tán thán chúa Giê Su! Hallelujah! (1) Amen, amen! (2)”, anh ta hét lên trong tay vẫn cầm cuốn sách màu đen. “Đây là Kinh Thánh! Kinh Thánh … Thánh thiện…!”

Sau đó họ buông ra những lời nói không ngừng và những câu hỏi. Không có thời gian để trả lời, chỉ những lời đe dọa, cảnh báo, lăng mạ và cáo buộc liên tục. Họ đặc biệt độc hại đối với Đức Phật.

“Jesus là Chúa. Ông ấy là số một. Đức Phật là một nhà tiên tri sai lầm. Tất cả bọn ngươi sẽ xuống địa ngục. Bọn ngươi sẽ không bao giờ tới được thiên đường nếu theo Đức Phật,” lời chế nhạo từ một khuôn mặt đỏ bừng.

“Bọn ông nghĩ rằng Đức Phật có một phương pháp tốt ư, ồ chúa Jesus đã hiện hữu từ rất lâu trước cả Đức Phật rồi,” một người khác nhẹ nhàng nói, sau đó bỗng đột nhiêu lên giọng và mất bình tĩnh. Sủi bọt mép ở miệng, người ấy xỉ vả chúng tôi:

 “Jesus là tối thượng, Đức Phật thì không như vậy! Jesus đã thoát ra được, còn Đức Phật thì không. Chỉ có chúa Jesus mới cứu được các ông. Đức Phật thì không thể cứu các ông. Bọn ông đang phí bỏ cuộc đời mình. Bất cứ cái gì hay bất cứ người nào mà các ông đang lễ lạy đến đều không mang lại cho ông dù một xíu lợi ích. Hãy tin nhận chúa Jesus. Mấy ông có nghe tôi nói không?” người đàn ông đó đe dọa. “Hãy tin nhận Chúa Jesus!”

“Nghe có Phật hay không có Phật, nghe có pháp hay không pháp, nghe có Bồ-Tát hay không Bồ-Tát, nghe có Bồ-Tát hạnh hay không Bồ-Tát hạnh, nghe có Bồ-Tát tu hành được xuất-ly hay chẳng xuất-ly, … đối với trong phật-pháp tâm đều chẳng thối chuyển.”

Kinh Hoa Nghiêm. Phẩm Thập Trụ thứ 15

Những người giảng đạo càng trở nên chống đối và không có lý trí. Thái độ họ hung hăng, lời nói họ thiếu văn hóa: “Chúa nhìn chúng mày như một cái giẻ rách dơ bẩn. Chúng mày có biết không?” một người cười nhạo. Một người mẹ và hai đứa con của bà đã tham gia buổi lạy chiều. Họ đã chứng kiến sự gặp gỡ đó trong một sự im lặng điếng người, gần như bang hoàng. Họ là những con người tử tế, an lạc. Một trong những đứa trẻ của họ đã khóc khi vô tình giết chết một con kiến. Họ đã rất sợ và lo lắng, gần như kinh hoảng bởi hành vi lăng mạ và đe dọa của hai nhà truyền đạo kia. Họ chưa từng thấy ai bạo lực và gần như mất kiểm soát như vậy đặc biệt là quá thật và rất gần.

Đột nhiên một người lạ nhô ra từ một khu đất bán xe cũ đã đóng cửa. Ông ấy chạy băng qua đường nhanh và nhẹ như một cơn gió. Không khí trở nên năng động như được nạp điện. Rắn chắc và vạm vỡ, ông ấy có một mái tóc xoăn màu đỏ và ánh thiện quang tỏa ra.

Đứng vững chãi hai chân trên vỉa hè, ông ấy chen vào giữa chúng tôi và những nhà truyền giáo, ngực ông ưỡn ra và sẵn sàng chiến đấu. Năng lượng của ông ấy thật mạnh mẽ, thượng võ; thái độ của ông ấy thật chánh trực. Giọng nói của ông ấy đầy uy lực, nhưng không lấn áp. Tức giận nhưng không mất kiểm soát, ông ấy nói như búa rìu chẻ củi, mỗi lời đều chắc nịch và dứt khoát. Ông ấy hùng hồn, cùng với tài hùng biện quả quyết không một chút sợ hãi. Tinh thần công bằng của ông ấy đã bị chọc giận và ông ấy sẵn sàng cho một cuộc đụng độ ở góc phố. Ông ấy sẵn sàng để bảo vệ những nguyên tắc mà ông ấy thực sự tin tưởng và ông ấy biết rõ Kinh Thánh hơn những nhà giảng đạo tự phong.

“Các người đã bao giờ đọc về người Samartian nhân hậu chưa?” (3), ông ấy thách thức hai người kia. “Để những người này yên. Hãy nhân ái! Đó là tất cả, đó là những gì chúa Jesus đã dạy. Những gì chúa Jesus nói thì hãy làm! Đừng chỉ giảng đạo mà không thực hiện nó!”

Những nhà chuyền đạo sững sờ trong một khoảnh khắc, ngọn lửa của họ đã bị dập tắt bởi nước lạnh.

“Đúng vậy, nhưng…” một người bắt đầu phản kháng.

“Các người sẽ như thế nào khi ai đó đến và cố tước Chúa khỏi các người?” người lạ đó hỏi. “Đừng có can thiệp vào những chuyện này, tôi nói cho các người biết.” Ông ấy nói ở một giọng điệu mà không một ai muốn xem nhẹ. Nó có không khí như một mệnh lệnh lệnh của một hoàng đế hay như Trời đang nói vậy.

“Nhưng!” một người truyền đạo nói một cách yêu ớt, “Ông biết Chúa nói rằng nhờ ân sủng thì ông mới đến với Ngài. Thế nhưng, ông có thể nhìn thấy những gì họ đang làm phải không? Họ đang cố gắng làm theo cách của họ đó”.

“Đúng vậy” người lạ mặt gắt lên, “và các ngưởi có biết không, tôi nghĩ họ sẽ thành công trước các người.”

Tất cả kết thúc. Bầu không khí được giải tỏa, những nhà truyền đạo lui ra, hoàn toàn bị chế ngự và áp đảo. Chúng tôi tiếp tục trên con đường của mình. Từ đằng sau tôi nghe thấy một người truyền đạo đưa ra một lời bào chữa yếu ớt, “À, chúng tôi chỉ đang cố gắng truyền bá tin lành…”

“Họ mới là những người thật sự truyền bá tin lành” người lạ nói. “Và các người đang làm gì? Các người đang quấy rầy họ. Các người đáng lẽ ra phải đi chân trần và truyền đạo. Đó là những gì chúa Jesus đã làm.”

(Những đứa trẻ sau đó có nói với chúng tôi rằng ngay vừa khi chúng nhìn thấy ông ấy, chúng đã biết ông ấy là “một người tốt”. Chúng thấy “ánh sáng phát ra từ ông ấy” và lập tức hết sợ hãi và cảm thấy vui mừng khi nhìn thấy ông ấy.) “Ông ấy đích thực là một vị Hộ Pháp, con biết điều đó. Ông ấy xuất hiện từ hư không và sau khi tất cả kết thúc, ông ấy lại biến mất” một trong những đứa bé trai nói.

 

Ghi chú:

(1) Hallelujah : Lời ca ngợi Thiên Chúa.

(2) Amen: nghĩa là "Sự thật là như vậy!"

(3) Người Samartian nhân hậu (good Samartian): https://www.voatiengviet.com/a/nguoi-samaritan-nhan-hau-11-07-2011-133377863/917154.html

Dưới ảnh hưởng của Phúc Âm Luca, chữ “Samaritan” trở thành biểu tượng của sự từ ái nói chung. Và từ thế kỷ 17, nó nhập vào kho từ vựng tiếng Anh, với nghĩa là người có thiện tâm, biết đồng cảm với nỗi đau của người khác và không ngại cứu giúp người khác. Không phải chỉ giới hạn trong văn chương. Nó còn biến thành luật. Trong thuật ngữ luật pháp, có chữ luật “Good Samaritan” rất phổ biến, với ý nghĩa là “một người nào đó sẵn sàng cứu giúp một kẻ khác đang bị thương hoặc có nguy cơ bị thương chỉ vì thiện chí và không hề tính toán đến chuyện được đền đáp hay bất cứ một phần thưởng nào khác.”