Nhất Tâm Đảnh Lễ Vạn Phật Thánh Thành

Tuyển Tập Nhật Ký và Thư Từ

Hằng Thật và Hằng Triều

Quyển 2

 

Nguyên bàn Anh ngữ:

One Heart Bowing

A Collection of Journals and Letters

by

Heng Sure Ph.D.

and

Heng Ch’au Ph.D.

Published and translated by:

Buddhist Text Translation Society

1777 Murchison Drive, Burlingame, CA 94010-4504

© 2007 Buddhist Text Translation Society

Dharma Realm Buddhist University

Dharma Realm Buddhist Association

First edition 2007

  Hình ảnh

Welcome Dharma Master Heng Sure and Dharma Master Heng Chau - 11/1979

Các bài nói chuyện trong buổi lễ chào đón Thầy Hằng Thật và Thầy Hằng Triều về đến VPTT (11/1979)

Mục lục

Lời nói đầu

Tiếng Vang Im Lặng

Từ chối công việc được trả lương cao để giữ sự chân thật

Ba kho báu quý giá của tôi

Máy ghi âm nhỏ

Những người khác thì thấy chúng tôi là ma quỷ

Nó chỉ là sự khởi đầu thành kẻ giết người

Bữa ăn trưa có gì?

Điều đó trở nên khó tìm

Hai con gà trống gáy lẫn nhau

Dâu tây hay Chư Phật?

Không có những công việc học tập nền tảng thì chẳng có lễ tốt nghiệp

Anh ta giữ lấy đám trẻ nhỏ
Thầy chỉ cho ta một lối thoát

Đến thời hạn phải hoàn thành rồi, em ơi!

Ông ấy là một người tốt, tử tế, ngay thẳng và sợ Phật
Từ chối một chút thỏa mãn cho cơ thể mình

Quái sư

Chỉ đi từng bước một

Tôi không quan trọng

Thay đổi thực sự diễn ra ở trong người làm vườn

Hãy tìm hiểu thử ngay bây giờ, trước khi chết

Hãy để cuộc đấu tranh bắt đầu

Trái đất được tạo ra để ăn thịt người

Tâm nhàn rỗi sân chơi của ma quỷ

Chư Phật đang đến, Phật - bơ

Không ăn bữa trưa quá no

Mỗi ngày là sự khác biệt và không thể đoán trước

Việc ngủ gật lúc ngồi thiền sẽ từ từ biến mất đi
Mạng sống của chúng ta thật mong manh
Đã giúp tôi vượt qua lúc khó khăn
Đá là đá và nước là nước

m một người buông bỏ đưa ta tiếp xúc gần hơn

Sẽ phải lạy rất nhiều thì mới thấy được cái thấy đó

Hãy nói như thể đang ở giây phút cuối cùng của cuộc đời

Trong chiếc hồ đang dần cạn nước

Thực hành ngay; Phật Pháp vi diệu

Để quan sát, lắng nghe và noi gương một vị Thầy

Đạo Phật là lời dạy của chúng sanh

Người bảo vệ đức tin

Có tâm niệm nào trong mười lạy đó không?

 

Tháng 8, 1977

 

Tôi không thích những màn cửa mới này

Bà có muốn bản thông cáo của chúng tôi không?

Sự chú tâm của Thầy ấy thật hoàn toàn

Thế giới trong thế giới, quốc gia trong quốc gia
Một con người khác của thầy đang hé lộ ra ngoài

Tôi không tìm cầu gì cả

Làm thế nào mà có quá nhiều chuyện xảy ra như thế!

Đó là một sự sắp xếp lý tưởng cho việc tu hành

Căn phòng sống động với những tiếng cười và sự hài hước

Rốt cuộc ta không phải là người Thầy tệ lắm

Họ không tìm kiếm tiền lương và tiện nghi

Ít nhất 3.000 tuổi

Thành thật mà nói, tôi hơi lo lắng

Thay bộ đồ hiệu Levis bằng áo tràng và y giới

Con khỉ trong tâm

 

Cái nào thc s là quý v?

Ngay lúc tôi động niệm

Mặc kệ gió

 

 

 

Chẳng có gì giới hạn

Chúng tôi tán thán danh hiệu Chúa mỗi ngày

Những thói quen xấu có thể cho cảm giác khá thoải mái

 

Mười thứ tâm

Tránh sự chặn đứng và phiền nhiễu

Đào xới lên những phần xấu xa

Bị nghi ngờ về “trụ”

Chúng tôi nhìn thấy các hình dạng giống nhau trong những đám mây và trong bóng tối

 

Có hơn 84.000 tấm cạc tông Phật Pháp

Giống như viên đá bị đánh xuống bằng tay

Một lý tưởng được hiểu một cách rất tệ

Dạ, cháu không sợ!

Bắt đầu từ lúc này và không bao giờ ngừng nghỉ

Cố gắng hết sức để không tạo thêm nữa

Khi một người chân thật tu hành

 

Một sức mạnh lớn hơn cả tình yêu thương

Lễ siêu độ tổ tiên

Mô hình của một người hoàn hảo

Bồ đề đạo tràng của chính mình ở trên đường

Đừng lay chuyển vì bất kỳ thứ gì

Việc đập búa và kéo cưa bắt đầu

Việc tốt không rời cửa trước

 

Chúng ta sẽ đi đâu?

Thời tiết là một chúng sanh

Cầu chúc các thầy bình an!

Chỉ bằng cách cố gắng

Một ngôi sao băng giải mê

 

Tôi chắc chắn đã nói chuyện với Hòa Thượng

Những người trẻ tiếp thu như phép mầu

 

Dừng nó lại tại những cánh cửa và quay nó lại

Bệnh tan biến

Đừng tìm kiếm kết quả

Phạm quy củ, bể kiếng

Và bạn sẽ không tái sinh

Miệng và môi chúng tôi lại khô nữa

Trong một khoảnh khắc tôi có thể thấy suốt con đường

Việc lạy đã khiến cơn đau biến mất, tôi đoán thế!

Hiệp Hội Bảo Vệ Nhẫn

Thành công phụ thuộc vào sự thành tâm

Vị khổ vui là những gì ngươi nhận được

 

Những điều căn bản đơn giản vẫn giá trị nhất

Tâm gặp tập khí

Trẻ em từ nhận thức có sẵn nhận ra sự thật này

 

Nếu có thể đoạn diệt dục niệm, con có thể tiến lên

Làm bất cứ điều gì để phá hoại sự lễ lạy

Việc duy trì là ngay nơi đó

Không phải vậy, bây giờ hãy xem ta

Tất cả được thực hiện như thể đang ở trên sân khấu

 

Thực hành dựa trên những đạo lý chân thật

May thay, nó chỉ có một

Gió lạnh làm tôi xoay chuyển

Bắt gặp trái nho khô và được dạy cho bài học

Sợ không gian rộng mở phía trước

Luôn luôn bị săn và luôn làm kẻ đi săn

Như thế là anh bị dẫn dắt để tin tưởng

Điều đó xảy ra một cách tự nhiên, từ trái tim

Đừng sợ chúng tôi

Con có thể không bao giờ thành Phật!

Đi chậm và không bao giờ tức giận

Vũ trụ là do tâm tạo

Làm lại thành thép kim cang

Anh có nghe cái tên “điên rồ” này sẽ làm gì không?

 

Vì Pháp Quên Mình

Trang bị cần thiết tốt nhất và đáng tin cậy nhất

Sự đoạn trừ sẽ sâu xa hơn

Tam muội không có thời gian

Không có cảnh giới nào là thật
Chỉ làm điều đúng đắn

Thêm rung động tiêu cực

 

10 pháp thực hành để làm sạch tâm ý

Bạn phải đóng chặt cửa

Phải giữ thanh kiếm của mình hoạt động

 

Từ bỏ những phản ứng đã huân tập

Nơi nào thì bùn kết thúc và hoa sen bắt đầu?

Mọi thứ nên như vậy
 

* Các ghi chú trong bản dịch là của Ban Phiên Dịch Việt Ngữ Vạn Phật Thánh Thành nhằm giúp độc giả hiểu rõ hơn.


 

Lời nói đầu

Ba bước, một lạy - ba bước dọc theo cạnh xa lộ, rồi lạy một lạy xuống đất; đầu gối, cùi chỏ, bàn tay, trán đều chạm đất, rồi đứng lên, chắp tay, bước thêm ba bước, rồi lại lạy thêm một lạy. Hết giờ này sang giờ khác, ngày này sang ngày khác, trong hai năm rưỡi, họ hành hương lễ lạy theo cách đó. Tại Trung Hoa, những Phật tử thành tâm có những lúc thực hành công việc khó khăn có tính cách cầu nguyện là ba bước một lạy trong vài trăm thước cuối cùng trước khi đến một nơi thánh địa. Nhưng đây là California, và hai tăng sĩ hành hương này là người Mỹ trẻ tuổi. Mặc áo tràng và giới y, không mang tiền bạc, không trang bị gì ngoài kỷ luật và lòng thành kính, họ đã đi bộ và lạy 800 dặm (1) dọc theo vệ đường nhỏ hẹp của Xa Lộ Ven Biển Thái Bình Dương. Mỗi ngày tiến triển một dặm, họ lạy từ trung tâm thành phố Los Angeles về phía bắc dọc theo bờ biển, xuyên qua Thành phố Santa Barbara và dọc theo vùng Big Sur, xuyên qua thành phố San Francisco và qua cầu Cựu Kim Sơn, rồi lạy xa thêm 100 dặm (2) về phía Bắc để đến Vạn Phật Thánh Thành, một trung tâm giáo dục và tôn giáo vừa được thành lập taị quận hạt Mendocino. Khi lễ lạy, họ cầu nguyện thế giới không còn thiên tai, tai họa và chiến tranh.

Vị tăng sĩ tịnh khẩu dẫn đầu là Thầy Hằng Thật. Thầy từ thành phố Toledo, tiểu bang Ohio, vào năm 1974 Thầy đã tự tìm đường đến Tu Viện Kim Sơn Thiền tự tại San Francisco. Tại đó trên một đường phố cạnh khu Mission, có một cao tăng Trung hoa là Hòa Thượng Tuyên Hóa, đang sống thầm lặng trong khi thực hiện công việc tiên phong của ngài là gieo trồng lại truyền thống tăng đoàn Phật Giáo tại phương Tây. Nhờ đức hạnh và trí tuệ của Hòa Thượng làm cảm động, Thầy Hằng Thật đã gia nhập với những người trẻ tuổi Hoa Kỳ khác thọ nhận pháp danh và toàn giới của một tăng sĩ Phật Giáo.

Trong thời gian học hỏi tiếp theo, Thầy Hằng Thật được đọc về cuộc hành hương lễ lạy do Hòa Thượng Hư Vân thực hiện vào thập niên 1880, ngài là một tăng sĩ Trung hoa đặc biệt nhất trong thế hệ của ngài. Hòa Thượng Hư Vân đã lạy mỗi ba bước qua suốt bề rộng của nước Trung Hoa; và mất đến năm năm. Thầy Hằng Thật biết rằng Hòa Thượng Hư Vân là Tổ Sư của dòng thiền Quy Ngưỡng của Thiền tông, và Thầy biết Hòa Thượng trụ trì và cũng là Thầy của Thầy, tức là Hòa Thượng Tuyên Hóa, là vị tổ sư hiện tại, đã nhận được sự truyền pháp từ Hòa Thượng Hư Vân vào năm 1949. Do sự liên hệ gần gũi này gây hứng khởi, Thầy Hằng Thật đã xin Hòa Thượng Tuyên Hóa để được thực hiện chuyến đi hành hương ba bước một lạy. Hòa Thượng chấp thuận nhưng lại nói "Hãy chờ đợi!". Thầy Hằng Thật phải chờ đợi một năm. Hòa Thượng Tuyên Hóa cho biết điều mà Thầy Hằng Thật cần là một người đồng hành và là người hộ pháp thích hợp. Đó là Thầy Hằng Triều. Vốn quê quán từ thành phố Appleton, tiểu bang Wisconsin, Thầy Hằng Triều đã đến thành phố Berkeley để học võ thuật, và đã trở nên một người tài giỏi về nhiều môn phái võ thuật. Khi người thầy dạy Thái Cực Quyền cuối cùng có nói với Thầy là "Thiền định cao hơn bất cứ võ thuật nào.", Thầy Hằng Triều đã qua bên kia Vịnh để theo học tại Tu Viện Kim Sơn. Khi vừa nghe lời nguyện của Thầy Hằng Thật, Thầy liền hỏi là Thầy có thể đi theo để cùng lễ lạy được chăng. Và chỉ trong vòng một tuần, Thầy Hằng Triều thọ giới Sa Di và phát nguyện chính thức cùng đi lễ lạy bên cạnh Thầy Hằng Thật, đồng thời phụ trách các công việc như nấu nướng, dọn dẹp, dựng lều, và tiếp chuyện với những người xa lạ.

Như vậy cuộc đi hành hương bắt đầu. Hòa Thượng Tuyên Hóa tiễn đưa họ khi họ rời Tu Viện Kim Luân ở Thành Phố Los Angeles vào ngày 7 Tháng 5, năm 1977. Đối với Thầy Hằng Triều, là một nhà võ thuật, Hòa Thượng nói: "Con không được dùng võ thuật trong chuyến hành hương. Lời nguyện của Thầy Hằng Thật là mong muốn chấm dứt những thiên tai, tai họa và chiến tranh; như thế làm sao con có thể tự mình dùng bạo lực đuợc? Nếu một trong hai con đấu tranh, hay thậm chí đắm chìm trong cơn giận, các con sẽ không còn là những môn đệ của ta." Về việc bảo vệ tránh những nguy hiểm trên đường hành hương, Hòa thượng Tuyên Hóa chỉ dẫn họ hãy thực hành bốn vô lượng tâm của Bồ Tát là Từ, Bi, Hỷ và Xả. Đó hẳn nhiên không phải là lần cuối cùng mà hai vị tăng sĩ lễ lạy cần đến lời khuyên của Thầy của họ.

Trên đường, hai người hành hương nghiêm ngặt tuân theo kỷ luật tu viện của họ - mỗi ngày chỉ ăn một bữa chay; không vào trong nhà, ngủ ngồi trong chiếc xe băng rộng Plymouth đời 1956 cũ kỹ được dùng làm nơi trú ngụ của họ. Vào những buổi tối sau một ngày lễ lạy, họ học Kinh Hoa Nghiêm qua ánh sáng của ngọn đèn dầu. Họ dịch những đoạn kinh sang tiếng Anh và cố gắng áp dụng đạo lý trong Kinh với những kinh nghiệm ngoài đường hàng ngày của họ, như thầy của họ đã khuyến khích họ làm. Những tăng sĩ này bảo vệ sự tập trung tâm trí của họ bằng cách tránh đọc báo, bằng cách tắt máy radio, và bằng cách giữ thời biểu thiền tập nghiêm ngặt. Thầy Hằng Thật giữ nguyện tịnh khẩu trong suốt chuyến hành trình, vì vậy trả lời những câu hỏi của nhiều người gặp trên đường trở thành công việc của Thầy Hằng Triều. Thỉnh thoảng có những người đến thăm với thái độ thù nghịch, một số người đe dọa dùng bạo lực, nhưng đa số thì hiếu kỳ, và thường những kẻ hiếu kỳ lại trở thành những người hộ pháp cho các tăng sĩ này, mang đến thức ăn và những đồ dùng cho đến khi những tăng sĩ này lễ lạy ra khỏi khu vực.

Tất cả những điều quan trọng xảy ra trên xa lộ - những lỗi lầm và trưởng thành, những thử thách và những cuộc gặp gỡ đáng chú ý, những nguy hiểm và những thâm giải, việc nỗ lực dụng công bằng thân thể và tâm trí - những người hành hương đều báo cáo lại trong những bức thư gởi đến Hòa Thượng Tuyên Hóa. Ngài đích thân trả lời bằng cách thỉnh thoảng đến thăm viếng họ, cho họ những hướng dẫn tâm linh vô giá, những khiển trách, những câu chuyện vui, và những khai thị vừa cao siêu vừa bình phàm vào đúng lúc. Những bức thư đó là nội dung của quyển sách này.

Những bức thư này viết ra không có ý niệm là để xuất bản, mà chỉ là phương tiện hai vị tăng dùng để cố gắng chân thành cởi mở nói ra những kinh nghiệm trên đường của họ. Như vậy, những bức thư này lưu giữ lại một ký sự không tô vẽ về một cuộc hành trình tâm linh xác thực

_____________

Ghi chú:

(1) khoảng 1300 Km

(2) khoảng 160km


 

Hằng Triều - 11 tháng Bảy 11, 1977

Từ chối công việc được trả lương cao để giữ sự chân thật
 


Một cuộc phỏng vấn.

Hỏi: Điều gì thực sự đã đưa ông đến với Phật giáo?
Trả lời: Điều tôi mong muốn làm nhất có thể để giúp chấm dứt đau khổ của tất cả chúng sanh ở khắp mọi nơi.

Hỏi: Và cuộc hành hương lễ lạy này thì sao? Nó phù hợp với điều đó như thế nào?
Trả lời: À, lý do thực sự cho chuyến lạy này và trở thành một nhà sư - lý do nòng cốt - là để đền ơn cha mẹ tôi.

Hỏi: Tôi chưa hiểu lắm. Ông có thể giải thích một chút được không?
Trả lời: Lễ lạy và ngồi thiền, sống bên ngoài
trời hoặc trong tu viện, nói chung cuộc sống của một người "xuất gia" sẽ giúp quý vị thoát khỏi tất cả những thứ không quan trọng trong thế giới này. Vẻ bóng bẩy rỗng tuếch chớp nhoáng sẽ biến mất và quý vị sẽ đối mặt với những vấn đề thực tế lớn lao còn lại là: sanh, già, bệnh, chết (sanh, lão, bệnh, tử).

Hỏi: Rồi sao nữa?
Trả lời:
Không có truyền hình, phim ảnh, quan hệ tình dục, thực phẩm ngon, ma túy, hoặc "thời gian giải trí" - không quần áo đẹp và tiệc tùng những thứ tương tự - tôi thấy mình đang nhìn vào một số thực tế nguyên sơ của cuộc sống: từ trước đến nay tôi vẫn chưa biết cái gì để giúp đỡ bất cứ ai.

Hỏi: Vậy việc đó liên quan đến việc đền ơn cha mẹ của ông như thế nào?
Trả lời: Khi tôi nghĩ lại và nhớ
về nỗi nhọc nhằn mà cha mẹ tôi làm việc cho chúng tôi khi còn là những đứa trẻ, không bao giờ phàn nàn, không bao giờ ích kỷ, tôi vô cùng hổ thẹn rằng trong cuộc đời này của mình, tôi đã làm quá ít để đền ơn cha mẹ.

Hỏi: Và hành trình lạy này là một sự đền ơn?
Trả lời: Một khởi đầu. Nếu tôi có thể đặt cùng một loại nỗ lực và cống hiến vô ngã vào
lạy mỗi ba bước đi (tam bộ nhất bái) như họ đã đặt vào gia đình của chúng tôi, thì như thế là sự khởi đầu đúng hướng.

Hỏi: Những lợi ích gì mà cha mẹ ông có thể nhận được từ việc thiền định và sự cầu nguyện của ông? Chính xác là ông đang làm gì để đền ơn họ?

Trả lời: Đó là những gì tôi đã hỏi chính mình.

Hỏi: Rồi sao nữa?
Trả lời: Cha mẹ tôi là người
hết sức tuyệt vời. Họ làm việc trong khi những người khác chỉ nói mà thôi. Trong khi những người khác nói về gia đình nào đó đã gặp khó khăn như thế nào khi có cha mẹ bệnh hay nằm bệnh viện, thì cha mẹ tôi nấu ăn, chăm sóc con cái và cha mẹ bệnh của gia đình đó. Mẹ tôi làm việc suốt cả ngày và ngủ gục trên ghế khi đang ngồi may khâu vào ban đêm. Bố tôi thì không bao giờ nóng giận cả và vì ông không nói dối hay lừa gạt, ông ta đã từ chối công việc được trả lương cao để sống chân thật. Cả hai người đều rất chân thật, không che đậy giả dối.

Chỉ những đức hạnh này là những gì mà người tu hành cố gắng sống cho chính mình và với những người khác. Đạo Phật hết sức thắng thắn và đơn giản là chân thật.

Hỏi: Nhưng ông đã "bỏ nhà" (xuất gia) và đã từ bỏ cuộc sống gia đình rồi.
Trả lời:
Đúng. Cha mẹ tôi cư xử với tất cả mọi người giống như họ là một phần của gia đình chúng tôi. Mọi người luôn có cảm giác được chào đón và xem như người nhà tại nhà chúng tôi. Trong Đạo Phật, tất cả chúng sanh là người trong một nhà và cần được đối xử như những người thân ruột thịt. Vì thế, tôi từ bỏ ngôi nhà nhỏ để tới một ngôi nhà lớn hơn - “chúng sanh khắp nơi”. Cuối cùng chẳng có hàng rào hay sự tách biệt giữa mọi vật. Giữa tất cả mọi thứ đều là nhất thể. Ý tưởng về một “cái tôi” hay “chỉ có nhóm của tôi” là một ảo tưởng. Chúng ta đều chung một thể, một tâm. Vì thế, tôi cố gắng sống với điều đó trong việc tôi làm là một nhà sư và đền ơn cha mẹ và gia đình không ngừng nghỉ.

Hỏi: Đó là một điều quá tổng quát. Những cách thức cụ thể gì mà một nhà sư như ông, một người rời bỏ những thứ “thế tục”, có thể làm để giúp những người “trần tục” – như cha mẹ ông?
Trả lời: Chính xác
. Những vấn đề mà bây giờ họ đang phải đối mặt, là quan trọng đối với họ – tuổi già, đau ốm và đặc biệt là cái chết – tôi biết gì về những điếu đó? Tôi có thể cho họ cái gì? Những lời nói trau chuốt, tiền bạc, bác sĩ giỏi? – những thứ đó không quan trọng đối với họ. Họ đã dành những năm tháng đầy năng lực nhất của họ cho chúng tôi. Họ không có thời gian để nhìn vào vấn đề bệnh tật, tuổi già và cái chết. Giờ họ đang đối diện với những vấn đề ấy, nhưng ai là người hiểu biết về những việc này, ai là người thực sự biết hoặc thậm chí nhìn vào những vấn đề này một cách đúng đắn?

Hỏi: Đó là những gì tôn giáo đem lại. Đạo Phật mang đến điều gì khác biệt so với những tôn giáo khác?
Trả lời:
Tự do tối hậu thoát khỏi nỗi đau khổ – khỏi sanh và tử.

Đó là những gì mà chúng tôi tìm kiếm ở trong Đạo Phật. Có một truyền thống và phương pháp 3000 năm hiện đang ở Tây phương. Truyền thống đó đối mặt với sanh tử bệnh tật và tuổi già một cách trực diện và chân thật. Nó đặt người ta vào thế để giải quyết những việc đó một cách thực tiễn, ngay bây giờ.

Hỏi: Có phải chỉ cần cầu nguyện thôi không, và nếu vậy thì có gì tốt đẹp? Ý tôi là làm sao mà cầu nguyện có thể làm được gì đó?

Trả lời: À, hơn cả việc cầu nguyện rất nhiều, nhưng cho dù “chỉ có cầu nguyện” như anh nói thôi, thì cũng có tác dụng rồi. Cầu nguyện hay thiền định là một trong vài tài nguyên thiên nhiên ít ỏi mà chúng ta vẫn chưa tìm ra cách gây ô nhiễm hay làm cạn kiệt đi.

Giá trị của nó hoặc nó “có hiệu dụng” như thế nào thì không thể giải thích bằng lời được. Vượt ngoài ngôn từ. Trong số tất cả những kinh nghiệm quan trọng ở cuộc đời của ông, đâu là những ngôn từ cho những điều ấy, chúng đã “tác dụng” ra sao? Thứ thật sự chân thật thì rất bí ẩn, vi tế và tuyệt vời. Vượt trên cả tư tưởng và giá cả.

Hỏi: ông hy vọng bằng cách nghiên cứu Phật giáo và "tu Đạo" để đạt được một số điều gì đó để tặng cho những người khác và gia đình chăng?
Trả lời:
Có câu rằng, "Khi một người con đạt Đạo, thì bảy đời tổ tiên sẽ được sinh lên cõi Trời”. Tôi có cơ hội hiếm có để tìm hiểu những điều này càng sâu càng tốt. Nếu không cố gắng hết sức thì có thể đó là điều sai lầm.

Một lần, cha tôi tham dự một khóa thiền thất trên một hòn đảo ở Great Lakes. Khi trở về, ông thật là khác lạ– điềm đạm và thanh tịnh một cách mà tôi không bao giờ quên được. Một trong những điều mà ông dạy chúng tôi lúc đó là đừng “quá bám chấp vào cuộc sống, vào thế gian, vì chúng ta chỉ đi ngang qua thôi”.

Cha tôi đã không bao giờ có cơ hội để theo đuổi điều đó – đi ngang qua từ đâu đến đâu? Nếu tôi có thể sử dụng cơ hội này, tôi sẽ có được cái gì đó thật giá trị để chia sẻ cùng với cha mẹ tôi và với rất nhiều người khác.

Hỏi: Điều đó nghe có vẻ cha mẹ anh rất có tín ngưỡng. Tại sao họ lại quan tâm đến điều gì khác như là Phật Giáo chứ?

Trả lời: Một sự thật chân thật và đáng buồn là cha mẹ tôi là những người Thiên Chúa Giáo thuần thành suốt cả đời họ, và anh có biết rằng, họ đã chẳng được nhiều hiểu biết hoặc được an lạc với điều đó khi họ phải đối mặt với tuổi già và cái chết. Họ rất là sợ hãi và đầy nghi ngờ cùng với mong mỏi trong tuyệt vọng về một điều gì đó. Đấy là sự thật.

Có một thời điểm khi mà mọi thứ hét lên “Tôi không thể đi nữa, tôi không thể”.

Nhưng quý vị vẫn đi. Và khi quý vị chạm đến cực điểm này, giống như một kiểu chết vậy, bang! Đột nhiên quý vị ở phía bên kia và mọi việc lại ổn. Và nhìn lại phía sau tất cả mọi thứ đen tối nặng nề đó trông thật là ngốc nghếch và xa vời. Có cái gì đó được bứt đi, được tháo lỏng. Không khí mát mẻ hơn và quý vị tái sanh trở lại … và con đường phía trước nếu quý vị nhìn kỹ, còn có nhiều chỗ tối và nhiều ánh sáng hơn xa đến tận tâm trí mình có thể thấy. “Phiền não vô tận, thệ nguyện đoạn”, vì thế quý vị đi để đối mặt với nó.

Điều mà luôn cảm thấy “lệch lạc” và sai lầm ở bên trong về chính trị và hoạt động chính trị xã hội là phải có một kẻ xấu, một kẻ thù. Gọi nó là phe đối lập, hay đảng phái hay một bộ máy, hay giai cấp hay kẻ đó hay nhóm đó - rốt cuộc cũng như nhau. Cái cách tách biệt, phân loại nhận diện thay vì đồng cảm chính là điều mà tâm trí đã nảy sinh ra những vấn đề để cho những phe nhóm này tranh đấu với nhau để giải quyết.

Trong Đạo Phật, không có sự phân biệt như vậy, không có “chúng ta” và “họ”, không có “tôi” và “anh” đối với bất kỳ việc gì hoặc với bất cứ ai. Quý vị không phải mang trong tâm mình mối hận thù với bất kỳ một “học thuyết” hay tôn giáo nào. Một trong mười giới trọng của Bồ Tát Giới, đúng thế, nghiêm cấm “việc cố ý ghen ghét”.

Giờ đây khi việc đó đặt vào đúng vị trí và nó sẽ khiến cho con người ta thoải mái hơn rất nhiều khi nhìn vào tất cả mọi người một cách chân thành và với một trái tim trong sáng.

 

Hằng Thật - Ngày 12 tháng 7 năm 1977

Ba kho báu quý giá của tôi



Mong ước của tôi.

Tại căn cứ hỏa tiễn, tôi nhớ lại mong ước của mình mấy năm về trước: nếu quý vị có thể hoàn toàn có được bất cứ thứ gì trên thế gian, vật gì đó hay sự kiện gì đó, thì quý vị mong ước điều gì? Câu trả lời của tôi lúc đó là: Tôi mong ước sự chấm dứt của tất cả các loại vũ khí, mọi thứ được thiết kế ra để giết hại.

Lời mong ước tốt đẹp. Ngoại trừ điều đó mãi mãi sẽ chỉ là một sự tưởng tượng không bao giờ trở thành thực hiện. Thế những suy nghĩ về sự giết hại thì sao? Đó là nơi mà vấn đề phát sinh.

Tôi đột nhiên liên hệ: Nếu quý vị có thể chấm dứt những suy nghĩ về tham, sân, si, thì khi đó quý vị có thể đạt được mong ước của mình quý vị có thể thực sự chấm dứt việc giết hại trên thế gian này. Thật tuyệt vời làm sao!

Bắt tay vào làm việc và thực hiện các điều ước.

Những suy nghĩ khao khát của tôi mấy ngày này đều chìm trong những ảo tưởng rằng thật tuyệt làm sao nếu có thể được ăn “miễn phí - muốn ăn bao nhiêu cũng được” trong một quán ăn tự phục vụ công cộng. Thật là nực cười! Một bước ngược vào bên trong có thể giúp tôi chữa trị căn bệnh ảo tưởng của mình. Tôi biết thức ăn là hư thối, không chay tịnh, rằng bầu không khí làm tê khẩu vị và rằng bức tranh toàn cảnh là giả tạo.

Nhưng nó cứ vẫn tiếp tục tái xuất hiện. Kéo nó lại và nhìn vào nó một lần nữa. Tìm kiếm nguồn gốc. Đập vỡ ảo tưởng, quay trở lại làm việc. Đổ hết rác rưởi ra ngoài.

 

Ba người bạn sai lầm của tôi.

Sáng nay tôi tỉnh dậy với một nhận thức chân thực vững chắc rằng tôi hoàn toàn là một kẻ ngu ngốc. Đây không phải là lời biện hộ xu nịnh thông thường của tôi để được chấp nhận hay để được ưa thích hay được tha thứ từ người cha tưởng tượng của mình (hoặc bất kỳ một nhân vật thay thế nào đó mà tôi hướng đến), đây đơn giản chỉ là tôi đang chán ngấy với ba người bạn xấu xa của mình – Tôi ngu ngốc, tôi đã bị đánh lừa trong một thời gian đủ dài. Tôi mệt mỏi với nó. Mọi việc tôi làm đều dựa trên sự giả dối về một cái tôi đang tồn tại – Tôi lên thiên đàng và xuống địa ngục để làm hài lòng những người bạn giả dối này. Một động cơ thúc đẩy khác trong cuộc sống là tôi đặc biệt quan tâm cho cái thân thể dơ dáy và yếu đuối này. Người bạn giả dối này được chế tác bằng tất cả sự chính xác của chiếc hơi chế tạo ở Detroit với chuẩn mực trung bình và nó tồn tại cũng không được lâu dài cho lắm. Cái thân xác này làm hỏng mọi ước nguyện của tôi ở khắp mọi nơi chốn. Những thói quen của tôi thì ô uế, bủn xỉn và ích kỷđây là ba người bạn hư giả của tôi.

Tôi là một kẻ ngu ngốc mới tiếp tục đi theo họ thêm nữa.

Cuối cùng tôi cũng gặp được điều gì đó tốt đẹp và tinh khiết – Pháp của Phật và ba bảo vật quý báu của tôi, cái tôi, thân thể tôi và những thói quen của tôi, những chức năng vận động vô tận thỏa mãn cho cái tôi và và thể xác để làm mọi việc và bất kỳ điều gì để cố gắng làm hư hoại, hoen ố và méo mó các nguyên tắc của Trung Đạo mà tôi đang cố gắng thực hành.

Chỉ nhờ Phật Pháp và Tam Bảo cùng vị thầy vô cùng t bikiên nhẫn, “thường trụ” và có thật, thì ba người bạn xấu xa của tôi mới không bao giờ che khuất được toàn bộ ánh sáng của sự hoàn hảo thứ đã thu hút tôi tu hành cũng giống như những mạt sắt bị nam châm hút vào vậy.

Nhưng họ cố gắng, theo những cách thô thiển và vi tế và tôi nghe theo họ.

Bao nhiêu lần việc ăn quá nhiều làm hỏng công việc buổi chiều của tôi? Bao nhiêu lần những vọng tưởng bất tận phá hỏng chánh niệm của tôi? Bao nhiêu lần năng lượng do những thói quen ô trược gây ra sự lãng phí những gì thực sự quan trọng? Nếu tôi có được một mảy may của sự rõ ràng chân thật, thì tôi sẽ buông bỏ mọi bám chấp giống như buông bỏ một nhúm kiến đang gặm nhấm lên cánh tay tôi.

Nếu tôi có một chút ít lòng từ bi đối với thân phận của mình, thì có lẽ tôi sẽ không bao giờ để mình rời khỏi tư thế chắp tay cung kính trước ngực – tôi cũng sẽ không thôi tụng niệm, tán thán và cúng dường chư Phật, Bồ Tát và Pháp Giới. Và tôi cũng sẽ chân thật tiến về điều tốt đẹp với những bước đi vững vàng trên thực địa.

Tôi phát ngán việc bị ba người bạn xấu xa lừa phỉnh và dối gạt. Đã đến lúc tôi phải bỏ mặc họ lại phía sau và tìm kiếm những người bạn đồng hành tốt hơn, những người muốn làm việc vì lợi ích của người khác, chứ không vì sự keo kiệt và tham lam ích kỷ của bản thân. Đã đến lúc phải trưởng thành chân thật và vững chắc.

Lúc này có một tiếng nói ở trong tôi thường xuyên cho tôi những chỉ dẫn, lời khuyên và những quyết định cho việc bước đi trên con đường chân chánh (Chánh Đạo). Đó là một tiếng nói nhỏ nhẹ nhưng tôi thường lờ đi và thay vào đó tôi lại nghe theo những thôi thúc đang thì thầm và rên rỉ cũ rích của mấy người bạn giả dối của mình. Nhưng giờ tôi không còn thỏa mãn với những lời khuyên của họ thêm được nữa. Tôi không còn muốn bước đi trên con đường tối tăm, gồ ghề và nhỏ hẹp của họ thêm nữa. Tôi sẽ tìm và lắng nghe một tiếng nói khác – tiếng nói của trí tuệ vốn có, tiếng nói của thầy tôi, tiếng nói của ánh sáng, từ bi và giải thoát.

Cũng có thể tôi sẽ không bao giờ chấm dứt là một kẻ ngu ngốc, nhưng tôi muốn một cơ hội để bước đi đúng hướng và xứng đáng với những người bạn mới chân thật của mình.

 

Hằng Triều - Ngày 13 tháng 7 năm 1977

Máy ghi âm nhỏ
 


Bà Hsiah và cô Alice lái xe
đến mang theo bữa ăn trưa và một số vật dụng (đèn cầy, hương, , và xà phòng). Họ cũng mang một máy ghi âm nhỏ và chúng tôi đã được nghe một cuốn băng các bài giảng kinh tối của Sư Phụ tại chùa Kim Sơn Thánh Tự.

Chúng tôi đang lạy tại những Tổng Hành Dinh: Trung Tâm Thử Nghiệm Hỏa Tiễn Thái Bình Dương (Pacific Missile Test Center) Kho Quân S(Military Installation). Không được phép trên khu căn cứ, chúng tôi lạy tại chỗ nơi phi đạo bắt đầu. Tiền gầm rú của những chiếc máy bay đang hạ cánh tranh với giọng đọc kinh Hoa Nghiêm của Sư Phụ - sẽ nghe được cái nào đây? Sẽ phải cần rất nhiều kiên nhẫn và tu hành để mang những chiếc hỏa tiễn và Phật Pháp trở lại với nhau. Điều đó rất tương phản.

 

Hằng Thật - 15 tháng 7, 1977

Những người khác thì thấy chúng tôi là ma quỷ



Cái gì đó quý vị không thể chịu đựng được.

Tôi đã từng nghe một nguyên tắc nói rằng để cho việc tu hành thật tốt đẹp thì quý vị cần có cái gì đó ở chung quanh khiến cho quý vị không thể chịu đựng được. Nó giúp cho quý vị sống trong khốn đốn, nó dồn quý vị vào dụng công ở bên trong.

Ở trên đường có nhiều thứ khác nhau mà ngay lúc đầu không thể chịu nổi, rồi dần dần, chúng trở thành “những vị thiện tri thức”, trợ giúp cho việc tu hành.

Bên ngoài có kiến và những loại bò sát, những đàn muỗi, ruồi, những cơn gió mạnh, ánh nắng thiêu đốt, những chiếc xe tải chở hàng khổng lồ, những tiếng còi, tiếng la hét, chế nhạo, lời nguyền rủa, những chiếc máy bay phản lực bay thấp chừng 30 thước ở trên đầu, thử nghiệm hỏa tiễn, đá sạn, mảnh chai, những khu chật chội, bẩn thỉu.

Bên trong thì có bệnh tiêu chảy, cần đi tiểu, không chỗ trú ẩn cả nhiều dặm, ăn quá nhiều, ăn quá ít, khát nước, vọng tưởng, những bài hát, nỗi sợ hãi, tham lam, sân hận, ngu si, kiêu ngạo, xấu hổ và chán nản.

Khi ít nhiều tất cả những thứ như thế này cùng xuất hiện trong quá trình lạy của một ngày, quý vị có thể nghĩ rằng chúng tôi là những chuyên gia tu hành rất giỏi, theo câu nguyên tắc nói trên – buồn thay chúng tôi không được như vậy. Trong khi gặp một số trong những thứ này chúng tôi buông bỏ được, thì hầu hết những thứ đó vẫn là “những điều mà tôi không thể chịu đựng được” và tâm tôi vẫn chưa được “như như bất động”.

Hành trình này ngày càng làm rõ thêm rằng không có cái thực tế nào “ở bên ngoài” cả. Thực tế đến trong nhiều thứ đa dạng khác nhau nhiều như số chúng sanh đang nhìn vào thực tế đó. Thực tế được tạo thành bởi nghiệp, chướng ngại, sự sợ hãi của quý vị, bởi những hạn chế về giác quan của cơ thể ở mức độ cơ bản, và rồi nó được định hình bằng những kết quả của nền tảng gia đình, bạn bè, thức ăn, và môi trường.

Một số nhìn vào chúng tôi và thấychúng tôi là những người thánh thiện, những người khác thì lại thấy là ma quỷ.

Một số thì thấy chúng tôi như là phước lành và nhiều người lại thấy chúng tôi như là những mối đe dọa. Chúng tôi vẫn làm công việc giống nhau, cái lạy như nhau trước mặt tất cả những người khác biệt này – chính những gì họ mang đến biểu lộ cho họ những điều mà họ nhìn thấy.

Không có thực tế khách quan và cũng chẳng có tính khách quan. Một phi công hải quân đã nhìn thấy chúng tôi lạy và lúc đầu nghĩ rằng chúng tôi đang mong điều không tốt cho khu căn cứ này. Sau khi nói chuyện với chúng tôi, anh ta nghĩ rằng chúng tôi đang phù hộ khu căn cứ. Trước đó chúng tôi có khác gì không?

“Không lớn, không nhỏ, không trong, không ngoài. Tự tu, tự hiểu rõ, tự an bài”

 

 

Thầy Hằng Triều - Ngày 14 tháng 7 năm 1977

Nó chỉ là sự khởi đầu thành kẻ giết người



Tập Thái Cực Quyền trước lúc bình minh trên khu đất để vật liệu nông trại của công ty Pure-Gro. Một nhóm mấy người nông dân ngái ngủ, đầy sửng sốt nhưng thân thiện nhìn xem chúng tôi trong lúc mặt trời mọc lên phía trên thung lũng khô cằn. Có thể họ nghĩ đó là một vũ điệu cầu mưa.

Thung lũng Pleasant đang bị hạn hán. Do không có nước đã biến vùng này thành một vùng trũng đầy đất mịn và bụi. Chiếc xe bị phủ và những đám mây bụi xoáy cuộn và di chuyển theo từng cơn gió hoặc chiếc xe chạy nhanh qua. Còn sót lại vài cây mọc tự nhiên để giữ đất – không có cỏ, những nông trại trồng trọt kinh doanh rộng lớn. Sở giao thông Tiểu bang Cal Trans đang xịt thuốc diệt cỏ bằng một chiếc xe tải đang chạy chậm ngay phía bên đối diện với chúng tôi. Chúng tôi đi ba bước và lạy một lạy. Họ thì đi ba bước rồi xịt mấy con bọ và thực vật bằng những hóa chất độc hại. Chúng tôi trườn lên cùng một vận tốc. Cùng một lúc, họ giết những con bọ và chúng tôi làm lễ quy y cho những con bọ đang chết. Chúng tôi nhìn họ. Họ nhìn chúng tôi. Cả hai đều đang tự hỏi. Đối với một con bọ, điều đó hẳn phải giống y như một quả bom dội lên chúng ta. Việc giết hại không bao giờ là sự chấm dứt, cuối cùng – đó chỉ là một sự khởi đầu cho kẻ giết người thôi. Tất cả sẽ quay trở lại, quay vòng và trở lại. Nếu như lúc này đây trên thế gian thiếu vắng lòng từ bi thì đó là vì trong quá khứ đã có quá nhiều việc giết hại. Lịch sử là lúc này.

Anh Bob Sweet dừng lại và cúng dường, nói “Cần bất kỳ thứ gì, xin hãy gọi cho tôi”, và để lại địa chỉ, số điện thoại ở Oxnard. Sau đó, anh ta mang lại phô mai và hoa quả. Hai người phụ nữ lớn tuổi cúng dường ít nước chanh và bánh mì kẹp. “Chúng tôi không chắc lắm, vì vậy chúng tôi đả làm những chiếc bánh này theo kiểu chay”, một người nói. “Đúng vậy, đó là bánh bột mì tự làm”, một người khác nói. Thật là những người tử tế.

Thầy Hằng Thật nói chuyện với một viên phi công, người này biểu lộ một cảm giác mạnh mẽ về việc không muốn giết hại. “Nhưng ông sẽ làm gì?” anh ta hỏi.

Khi Tổ Bồ Đề Đạt Ma lần đầu tới Trung Hoa, Ngài đã gặp một chú vẹt bị nhốt trong chiếc lồng đan bằng cây gai. Chim nhận ra Tổ, liền nói:

Tây lai ý,

Tây lai ý,

Thỉnh Ngài dạy con cách,

Thoát khỏi chiếc lồng này.

Để dạy chim cách để chấm dứt đau khổ, Tổ Bồ Đề Đạt Ma chỉ cho một phương kế:

Để thoát khỏi lồng,

Để thoát khỏi lồng,

Hai chân duỗi thẳng,

Đôi mắt nhắm nghiền,

Đây là phương cách,

Để con thoát lồng.

Khi người chủ trở về nhà, ông ta thấy con chim yêu quý của mình nằm yên và bất động ở dưới đáy lồng. Ông ta mở cửa lồng và lấy tay bốc ra ngoài, nhận thấy nó vẫn còn ấm, ông mở bàn tay ra để quan sát rõ hơn và ... vù ... vù ... – chim vụt bay lên được tự do.

Giết hại sẽ buộc quý vị vào việc giết hại thêm nữa. Trong một kiếp quý vị là một người lính và giết người, trong kiếp tới, bộ Ngoại giao gửi thông báo tới gia đình quý vị , “Chúng tôi rất tiếc phải thông báo với gia đình anh rằng anh A đã bị giết trong chiến trận”. Hành động và tác động ngược, quay vòng và quay vòng, đời đời nối tiếp cho tới khi quý vị ngừng lại. Rồi những con sóng tự nó sẽ yếu dần đi và sự bình yên sẽ trở lại. Đôi khi, quý vị phải giả chết để được tự do.

Có bao nhiêu gia đình mất đi những người cha và con trai vì chiến tranh? Có bao nhiêu đứa trẻ và những người vợ mất chồng, cha và anh vì chiến tranh nối tiếp chiến tranh? Tất cả những hình thức tranh đấu và thù ghét làm tan vỡ gia đình. Tôi muốn góp phần mang lại hòa bình và hạnh phúc tới mọi gia đình ở khắp muôn nơi. Tôi muốn bằng cách nào đó nói lên rằng,cha mẹ và con cái hãy thôi làm tổn thương lẫn nhau vì sự tham lam, căm ghét và ngu ngốc.

Hãy chấm dứt sự phá vỡ gia đình do đấu tranh và giết hại; hãy từ bi và kiên nhẫn.

Tôi nguyện sẽ không ngủ nằm vào ban đêm nữa và hồi hướng mọi công đức cho mục tiêu này.

 

 

Hằng Triều - Ngày 15 tháng 7 năm 1977

Bữa ăn trưa có gì?

 

Thức ăn, thức ăn! Câu chuyện xưa cũ. Đóng lại một trong những chiếc van ham muốn lớn nhất và những chiếc van khác bắt đầu xì ra, phình lên và rung lắc do áp suất bị chuyển hướng tìm kiếm một chỗ thoát ra ngoài.

Bắt đầu ngủ ngồi và chuyện gì xảy ra? Đêm đầu tiên, giấc mơ rõ ràng sống động về thức ăn. Suốt cả ngày trong khi lạy những vọng tưởng về thức ăn thoi đấm cơ thể và tâm trí tôi. “Bữa trưa có gì?”

“Ngày mai thì sao?”

“Không, tôi không thể chờ đợi. Nhớ món ăn đó .... ”

“Liệu có ai đó sẽ cho chúng tôi mấy quả dâu tây?”

Thật ghê tởm. Tôi không bao giờ nghĩ mình lại có thể bị như vậy – giống như que kem đang tan chảy trong những con sóng xô mạnh. Tất cả đều giống nhau - ham muốn = lậu thoát hay phun trào ra.

Cắm trại ở gần một vườn chanh cách xa đường Hueneme bên ngoài Oxnard. Yên lặng - Cơn cuồng phong Thức Ăn tạm thời được kiểm soát.

 

Hằng Thật - Ngày 16 tháng 7 năm 1977

Điều đó trở nên khó tìm

 

Khi sự chú tâm tốt đẹp, thế giới Ta Bà mà tôi tiếp nhận qua các giác quan kết hợp lại và ngừng chuyển động. Tôi hòa vào đó, ánh sáng trí tuệ và sự sáng tỏ của kinh nghiệm đó thật tuyệt vời. Đó là “như, như, bất động, thấu triệt và chấm dứt, và quang minh thường trụ”. Khi một niệm kế tiếp sanh khởi, thì thế giới sanh khởi.

 

Bình yên và tĩnh lặng.

Sư: “Chuyến viếng thăm Vạn Phật Thánh Thành của quý vị thế nào?”

Cư sĩ: (khá trầm và không hứng thú, có cảm giác như ưa thích những địa điểm khá sống động hơn, “nơi náo nhiệt”) “Ồ, nơi đó đẹp… tĩnh lặngyên bình, thầy biết đấy, chỗ đó cũng được”.

Nếu mọi người có thể nhận ra tiềm năng của hạnh phúc tột cùng và sự tốt lành chỉ đơn giản là tĩnh lặngbình yên, và điều đó tương phản như thế nào với địa ngục của sự ồn ào, đau khổ hỗn loạn, và trái nghịch với những gì được thấy ở Vạn Phật Thánh Thành, thì kinh nghiệm về sự bình yên và tĩnh lặng có thể sẽ mang lại thêm đôi chút giá trị.

 

Bình yên và tĩnh lặng khó đến trong thế giới này. Điều đó trở nên khó tìm.

Sự thanh khiết đang biến mất. Không gian dành cho con người, loài vật, sự tăng trưởng, lòng tốt và sức khỏe là những thứ quý báu nhất trên trái đất này, chỉ sau nước sạch. Nếu quý vị không tin, hãy đi bộ bên dưới con đường xa lộ ở Los Angeles hoặc ở bất kỳ thành phố lớn nào. Mở rộng các giác quan và đón nhận tất cả vào.

Hãy nhớ rằng mọi người cũng giống như chúng ta đã tạo ra vùng đất khô cằn bị bê tông hóa. Hãy mở rộng trí tưởng tượng của quý vị, lát và sơn toàn bộ không gian xanh mà chúng ta còn lại. Quý vị không phải làm việc quá nhiều để xem điều ấy diễn ra. Rồi quay trở lại Vạn Phật Thánh Thành rộng mở các giác quan của mình. Quý vị có muốn sống ở một thành phố của Chư Phật không?

 

Để nó nghỉ ngơi hay để nó làm việc.

Tâm trí của tôi liên tục chuyển động và làm việc, không bao giờ ngơi nghỉ. Tôi sẽ giao cho nó vài việc gì đó để làm, khiến nó hạnh phúc, trao cho nó một tư tưởng lớn, giống như Chư Phật, giống như Thế Giới Hoa Tạng, giống như Pháp Thân chẳng bao giờ đi và cũng chẳng bao giờ đến. Được rồi, tâm trí, hãy làm việc đó nhé. Hoặc đơn giản hãy im lặng.

 

Đừng làm vơi đi hoàn cảnh khốn khó

Khi quý vị chăm chỉ tu hành, đôi khi việc chăm chỉ tu hành đó có thể trở nên “khó chịu” bởi vì quý vị đang thực hiện một quá trình chuyển hóa ở bên trong thân tâm và hệ thống năng lượng của quý vị. Những phần này của quý vị lâu nay không lành mạnh, bị đông cứng lại với sự mục ruỗng và ô uế do sử dụng không đúng cách. Để cho nó làm việc đúng cách, quý vị cần phải làm nóng lên, phải chịu đựng một vài sự khó chịu và xây dựng nó mạnh mẽ trở lại.

Có một sự hối thúc liên tục để làm giảm áp lực, bớt căng thẳng, thoát khỏi hoàn cảnh khốn khó nghiệt ngã. Cái Tôi kháng cự lại khi đang dần bị tiêu diệt nó gợi ý cho bộ não của quý vị nhiều cách thức rất vi tế và khéo léo để giúp cái Tôi được sống sót. Những thôi thúc tưởng chừng vô hại nhưng lại gây trở ngại cho công việc của quý vị: uống một ly nước, tán chuyện đôi chút, bông đùa, quan sát, nhìn quanh, ăn thêm một chút, thưởng thức kỷ niệm, viết một kịch bản phim ở trong đầu – tất cả những điều này đều là những hành trình được dẫn dắt bởi cái Tôi nhằm đưa quý vị ra khỏi tình cảnh ấy, hạ nhiệt và cản trở nỗ lực của quý vị đi đến sự giác ngộ.

Hãy thật nhạy cảm với những mánh khóe của những vị cố vấn xấu xa đầy lão luyện này, giữ nắp đậy trên nhiệt lực bên trong của quý vị bằng thần chú, chánh niệm không vọng tưởng – dùng những Pháp môn thích hợp để đi vào vào kho báu Phật tạng ở ngay bên trong chính quý vị. Hãy cúng dường thân thể và cuộc sống của quý vị cho Tam Bảo.

 

 

Hằng Thật - Ngày 16 tháng 7, 1977

Hai con gà trống gáy lẫn nhau



Một người đàn ông trẻ trong chiếc xe tải cũ kĩ dừng lại, “Chúng tôi nhìn thấy các ông trên TV. Chúng tôi nghĩ rằng điều các ông làm thật tuyệt vời!”, ông nói. “Đây là một số thực phẩm. Con trai nhỏ của chúng tôi thích những đồ ăn này, nên tôi nghĩ các ông cũng có thể ăn được. Đó là tất cả những gì chúng tôi có trong nhà, chúng tôi vẫn chưa đi mua sắm”. Bơ đậu phộng, mứt bánh mì và bột pha nước uống mùi vị trái cây (KoolAid).

Một người lang thang già không mang giày và không tắm đã hàng tháng đi ngang qua chúng tôi, trên con đường Hueneme Rd. gần vườn cây ăn trái và đậu Hà Lan. Chúng tôi đưa cho ông ấy một ít bánh mì kẹp và bột pha nước KoolAid. “Hôm nay các ông làm gì thế” ông ấy hỏi.

“Thực hiện chuyến hành hương tôn giáo về Vạn Phật Thánh Thành”

“Để cầu mưa à?” ông ấy thắc mắc.

“Phải, và hơn thế nữa. Có quá nhiều căm hận và đau khổ. Chúng tôi đang cố gắng làm dễ chịu đi chút ít và gây ảnh hướng tới những người khác cũng làm như vậy”. Ông ấy nhìn thẳng vào mắt như thể là muốn kiểm tra sự chân thành của chúng tôi.

“Công việc lớn lao”, cuối cùng ông ấy nhận xét. “Không giày [bootless] hả?”

“Không”, tôi trả lời, “Phật tử, [budhist]. Chúng tôi là những Buddhist (Phật tử), còn ông là bootless (không có giày)”.

Mỉm cười và thư giãn.

Ông ấy nhìn lên trời khi hai chiến đấu cơ phản lực đang hạ cánh xuống khu căn cứ. “Kỹ thuật”, ông ấy nói và lắc đầu. “À! Miễn rằng các ông là nhà thờ của thế giới và làm tốt công việc tôn giáo của mình”.

“Khá đúng”, tôi trả lời.

 

Mỗi người thấy theo sự hiểu biết của mình.

Phật Pháp không thể nắm bắt bằng suy nghĩ.

....

Người huệ nhãn thanh-tịnh

Nơi đây mới thấy được (Phật Pháp).

...

Chỗ thấy đều sáng rõ.

Kinh Hoa Nghiêm

 

Thật khô hạn! Không mưa – trái đất đang biến thành bột phấn màu nâu, một thứ bột rất mịn nhỏ đi qua những ô cửa sổ đóng, quần áo và các lỗ chân lông của chúng tôi. Thật khổ sở cho mắt và phổi đặc biệt khi những xe tải dài chạy bằng dầu diesel cùng với hai toa kéo chạy qua trên đường cuốn theo những đám mây “cát bụi khô hạn” này phả vào chúng tôi.

Ở đây có một vài con côn trùng hoặc chim. Vài bông hoa, ngọn cỏ. Nhưng lại có rất nhiều chất độc (thuốc trừ sâu và thuốc phun nông nghiệp) và thiên nhiên yên nghĩ phản ứng lại sự khuấy phá của chúng ta với thiên nhiên. Thật là một “mùa hè yên lặng”.

Chúng tôi thức dậy theo tiếng một con chim kêu “croak croak” và tiếng “bíp” điện tử từ phía vườn cây ăn trái. Tấm bảng ghi “Trang trại sản xuất sản phẩm tươi”.

Phật diễn một diệu-âm

Nghe khắp mười phương cõi. (1)

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Như Lai Hiện Tướng

Một anh chàng cao bồi cao lớn kêu ré lên bên trong chiếc xe tải nhỏ và bước qua, đứng như chôn chân ngay trước chúng tôi, năm cậu thanh niên vẻ háo hức vây xung quanh. Đôi mắt tôi nhìn ngang tầm với cái khóa thắt lưng kiểu Tây phương của anh ta. “Thật khó cho tôi để hiểu được (chúng tôi đang quá khác biệt so với những gì mà anh ta đã từng trông thấy), nhưng, tốt, các ông thực sự có gì đó đáng tin cậy (anh ta nắm chặt bàn tay lên phía trái tim) đến từ đây. Tôi có thể thấy điều đó. Các ông đang thực sự làm việc gì đó mà mình tin tưởng. Tôi ngưỡng mộ điều đó”, tiếp theo là cái bắt tay lớn mạnh và cúng dường. Đám thanh niên không nói một lời, chỉ im lặng quan sát.

 

Những chú gà chọi.

Có một định gọi là “vô tranh” hay “không tranh chấp” tam muội và đạo lý ẩn chứa bên trong đó là một phần tuyệt vời của Phật Pháp trong hành động. Huấn thị cho chuyến đi của chúng tôi đã rõ ràng: “Không đánh nhau, không tranh chấp, không tranh cãi, không tức giận. Đây hẳn sẽ là một khía cạnh chính yếu của Đạo Phật ở Phương Tây”.

Khi chúng tôi gặp sự thù nghịch hoặc nóng nảy, thầy Hằng Triều đã học cách buông xả và không bị xoay chuyển một mảy may. Sáng thứ hai trên con đường nông trại, một người lính hải quân dáng nhỏ bé có tật nói cà lăm bước ra khỏi xe, bước tới và chỉ trích. Hằng Triều nghe những lời nói đầu tiên của ông ta, xem sắc thái của ông ta, rồi đưa cho ông ta một bản thông cáo và nói, “Xin lỗi, tôi đi lạy đây!” và đi. Rồi ngay sau đó, một chiếc xe khác dừng lại, một vị mục sư của Nhà thờ Phổ Độ (Universalist) nhảy vọt ra, người này thích bảo vệ quyền tự do của mọi người về tín ngưỡng cho dù điều đó có nảy ra một trận tranh luận nảy lửa và vũ lực để tạo chỗ cho tín ngưỡng đó. Vị mục sư nhanh chóng tham gia vào cuộc tranh luận với viên hải quân nọ - nói anh ta rằng hãy để cho những người Phật tử được yên. Họ bắt đầu đưa ra những trích dẫn Kinh Thánh như những cú đấm ném vào nhau. Tôi lúc đó đang lạy phía trước và đã không biết rằng, người đàn ông thứ hai đã lái xe đến. Tất cả những gì tôi nghe thấy là những âm thanh nóng nảy trong một trận chiến thực sự, đấu qua đấu lại bằng những ngôn từ và trích dẫn Kinh Thánh. Tôi nghĩ, “Hằng Triều chắc chắn thoát khỏi rồi”. Rồi tôi nghe thấy tiếng sột soạt của chiếc y giới ny lông của thầy ấy. Tôi quay lại, thì ra là thầy Hằng Triều đang lạy phía sau tôi. Đằng sau, dưới con đường là hai chiến binh tôn giáo đang thái quá trong cuộc chiến về sự đúng đắn của mình.

Phía bên kia đường ngang qua phía trước họ có một ngôi nhà nông trại và hai chú gà chọi đang gáy nhau, lớn và dài tiếng. Không kẻ nào thắng trong cả hai cuộc chiến, nhưng họ vẫn cứ cố làm trong khi chúng tôi lạy xa dần khỏi tầm nghe và xuống phía dưới con đường.

 

Ghi chú:

(1) Nguyên văn Hoa ngữ: 佛演一妙音 周聞十方剎 - Phật diễn nhất diệu âm chu văn thập phương sát.

 

Hằng Triều - Ngày 17 tháng 7 năm 1977

Dâu tây hay Chư Phật?



"Tu là khổ, hết khổ là Phật"
Hòa Thượng Tuyên Hóa

 

Đôi khi, từ bỏ mọi phiền não dường như làviệc không thể được. Phiền não là gì? Phiền não đơn giản là bám chấp. Chấp vào tài, sắc, danh, thực, thùy. Chấp tướng, thọ, tưởng, hành, thức. Khi bám chấp thì quý vị:

“… Chẳng tu đạo sâu mầu
Bị các khổ não loạn.”

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa
 

Vua Lương Võ Đế, triều đại nhà Lương đã bị chết đói vì ông ta không có chút công đức nào, không tu hành. Tu cái “chân lý vô ngã” là cách để chấm dứt đau khổ. Nếu quý vị muốn chấm dứt đau khổ thì quý vị cần phải tu hành.

Vì thế, khi tôi lạy, đau khổ cùng với tất cả những vọng tưởng của tôi về lương thực và tụng bài tà chú của mình “có phải lương thực đang tới chăng, có phải lương thực đang tới chăng, hoặc khi nào thì thức ăn sẽ tới đây”, tôi nhận ra rằng sự đau khổ này là do chính mình tạo ra. Tôi càng ít tu tập thì tôi càng đau khổ. Tôi càng chuyên tâm lạy thì ham muốn và vọng tưởng khiến tôi đau khổ được giảm đi.

Tôi tưởng mình ít bám chấp vào mọi thứ hơn là thực sự. Ba bước một lạy đang ăn mòn tất cả những vỏ bọc mà tôi đã và đang phủ lên cái tôi thật – tốt và xấu, giả và thật. Sau một thời gian, điều này trở nên không che đậy và vi tế. Ai có thể nghĩ lạy bên cạnh cánh đồng đầy dâu tây chín lại có thể là màn đối đầu đầy căng thẳng. Dâu tây hay là Chư Phật?

Đào xuống, sâu và bẩn, nơi những cái rễ bắt đầu, đám ma quỷ của tôi và vị Phật cùng nằm ở đó. Mới đầu thật là khó phân biệt. Con quỷ sâu xa nhất, tăm tối nhất, khó nắm bắt và lén lút nhất, con ma vương chia sẻ cái đu đối trọng cùng với Phật . Cái đu đối trọng mọi hướng là cái tâm. Có thể làm thăng bằng cái đu đối trọng để nó chẳng bồng lên hay hạ xuống. Có thể làm thăng bằng cái tâm để nó không phải quỷ cũng không phải Phật, và vì vậy nó như như bất động. Nó có thể… dễ dàng như những trái dâu tây.

Sáng nay. Tôi đã gắng hết sức để không khởi vọng tưởng trong khi lạy. Chúng tới như những con sóng dâng trào và với mỗi cơn sóng, tôi lại chuẩn bị tinh thần và lánh sâu vào việc niệm và bái lạy. Một lúc sau, cơn gió mát lành mang đi cái nóng nực và không còn ý niệm nào vế nó. Tôi đã hiểu được một câu kinh mà trước đây tôi đã không thể hiểu. Một thắng lợi nho nhỏ.

Sau cuộc tranh luận với một lính hải quân nhỏ con, Louis Aosco, vị mục sư theo thuyết Phổ độ trở lại xin lỗi thay cho người thủy thủ đó. "Công việc của tôi là chấm dứt việc đó - để tiêu trừ cái tính không khoan dung đó. Tôi xin lỗi. Nếu tôi làm việc của mình, điều ấy hẳn sẽ không xảy ra ". Ông ta nói tiếp "Tôi tôn trọng quyền của các ông bao dung cho những điều như vậy, nhưng tôi không nhất thiết phải làm như vậy". Louis ngỏ lời muốn phục vụ và bảo vệ chúng tôi khi chúng tôi ở trong khu vực. "Các ông đã mang đến cho tôi một điều gì đó mà tôi không thể diễn tả. Trong khi các ông còn ở trong khu vực này, tôi sẽ lo các nhu cầu của các ông". Ông ta nói một cách chắc chắn và ân cần.

"Anh ta có làm phiền các ông không?"

Thầy Hằng Thật chỉ tay thẳng về phía trước như muốn nói "Vượt qua cả mưa gió, vượt qua những lời khen chê, chúng tôi vẫn tiến bước".

Louis kêu lên "Đúng như thế! Có phải vậy không?"

Chúng tôi hỏi "Điều gì?"

"Không quay lại, cứ tiếp tục. Tôn giáo là như vậy phải không, không quay lại"?

Khi chúng tôi lạy qua con đường dành cho xe của một trang trại chăn nuôi gia súc lớn, hai người đàn ông giúp một phụ nữ ốm yếu ra ngoài để quan sát chúng tôi. Cô ta bị liệt một phần, và gần như bị mù. Cô ta chỉ có nói hay đứng dậy được rất khó khăn. Thật đáng thương. Cô ta không quá 45 tuổi. Họ nhìn chúng tôi một cách đầy hy vọng như muốn nói "Các ông có thể chữa cho cô ấy không? Chúng tôi đã thử mọi cách. Các ông có thể giúp không?"

 

Ghi chú:

(1) Kinh Diệu Pháp Liên Hoa - Phẩm 'Phương Tiện' Thứ Hai - http://www.dharmasite.net/KinhPhapHoa1.htm#4

Căn độn ưa pháp nhỏ.
Tham-chấp nơi sinh-tử
Nơi vô-lượng đức Phật
Chẳng tu đạo sâu mầu
Bị các khổ não loạn
Vì đó nói Niết-bàn.

 

Hằng Thật - Ngày 19 tháng 7, 1977

Không có những công việc học tập nền tảng thì chẳng có lễ tốt nghiệp

 

Những trạng thái hư vọng: Tán loạn.

Ngày hôm nay, có một cảm nhận đang ở bên trong một cột không khí trong suốt bay lên chừng mười lăm mét bên trên đầu và quan sát khắp mười phương trong lúc đang lạy tên của Kinh. Khi tôi đi ba bước, tôi cảm giác cơ thể và tâm trí mình biến thành pha lê – vô hình, nhưng trái tim thì đang tụng niệm và ở chính giữa trung tâm đang phát sáng đỏ chói. Cảm giác trống rỗng.

Cả hai trạng thái hư vọng này được mang đến bởi sự cố gắng của tôi muốn ngừng tâm trí của mình lại. Làm thế nào mà Bồ tát có thể chuyển hoá mọi tư tưởng ô nhiễm thành Bồ đề là một sự kỳ diệu đối với tôi! Đây là công việc của những trí huệ xuất thế và không liên quan gì đến một kẻ phàm tục giống như tôi, một kẻ mà thậm chí còn không thể nhận ra pháp của bữa ăn trưa là bình đẳng, không thật sự thấy được như vậy. Những người mà nói rằng sự Giác ngộ là ngay lập tức (đốn ngộ), thì họ đang nói về một số người có tâm linh mạnh mẽ đã buông bỏ ngũ dục và thậm chí không chấp vào cả cuộc sống. Đó là một công việc lâu dài và vất vả.

Nó là ngay lập tức cũng như nhận được tấm bằng đại học ngay lập tức. Sau bốn năm học tập chúng ta bước lên khán đài để nhận tấm bằng tốt nghiệp đại học ngay tại ch. Nhưng nếu không có tất cả những công việc học tập nền tảng thì cũng chẳng có lễ tốt nghiệp, chẳng có gì để ăn mừng.

 

Hằng Triều - Ngày 19 tháng 7, 1977

Anh ta giữ lấy đám trẻ nhỏ


Một người nông dân nói tiếng Tây Ban Nha đã quan sát chúng tôi khoảng một tiếng đồng hồ từ chiếc xe tải nhỏ trong khu rừng Bạch Đàn (Eucalyptus). Khi chúng tôi tới gần, anh ta bước tới, “Công giáo hả?”

“Hả?” Tôi hỏi.

“Các ông là người Công giáo à?”

“Không”, tôi đáp lại, “Phật tử”.

“Hả?” anh ta hỏi.

“Những nhà sư Phật giáo”. Chúng tôi nói chuyện vài phút mà chẳng ai trong chúng tôi hiểu gì nhiều. Nhưng điều đó không quan trọng. Anh ta đã thấy điều gì đó và muốn chúng tôi biết. “Tôi không uống rượu, không hút thuốc, không khiêu vũ, không nói dối, không dối gạt, và không giết hại”.

“Chúng tôi cũng vậy”, tôi nói.

“Vị Thượn Đế nào?” anh ta hỏi. “Ở đâu?”

Tôi đặt tay lên tim mình. Anh ta cũng đặt tay lên tim và mỉm cười “Cũng vậy”. Anh ta đi về phía chiếc xe tải chở đầy bắp cải và những đứa trẻ vui vẻ, mang cho chúng tôi nhiều bắp cải. Chúng tôi nhận một bắp cải và một đô la cúng dường. Anh ta giữ lấy đám trẻ.


“Lìa các dua dối lòng thanh-tịnh
Thường thích từ-bi tánh hoan-hỷ” .

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thế Giới Thành Tựu
 

Sau đó, tôi có ý tưởng rằng điểm cốt yếu về Đạo Phật có thể được diễn đạt bằng kịch câm, không lời. Nếu tôi không thể làm vậy và giao tiếp với người nông dân, những người không nói ngôn ngữ của tôi, thì tôi đã không “có được” điều đó. Tôi đã soạn một vở kịch ngắn và thử diễn cho thầy Hằng Thật xem. Tập trung chung quanh ngũ giới và tìm Phật tánh ở bên trong – “nhất thiết duy tâm tạo”.

Lạy xuyên qua một dãy những người tài xế xe tải đang cầm bảng đình công đứng cản đường và một viên cảnh sát đi xe mô tô, đeo kính mát đứng bất động.

Hai người đàn ông Việt Nam dừng lại, bước tới và mỉm cười, “Ồ, chúng tôi rất vui mừng khi được gặp các vị sư Phật giáo. Các thầy xây chùa ở đây à?” Họ hỏi và chỉ tay về phía cánh đồng trống mà chúng tôi vừa dừng nghỉ.
Nhiều cảnh sát hơn – rất thân thiện. “Chúng tôi có thể giúp được gì chăng?” “Ồ, Phật tử! Chúng tôi thực sự ngưỡng mộ các ông”. “Chúng tôi có thể giữ bản thông cáo không, có rất nhiều người ở trạm cảnh sát muốn biết nhiều hơn về việc các ông đang làm”. “Các ông có thời gian nói chuyện không? Chúng tôi không muốn làm gián đoạn hay làm phiền các ông”


“Cảm ứng Đạo giao nan tư nghì…”

Đại Bi Sám.



“Lạy để xóa đi những khó khăn và vấn đề của chính bản thân – để giải thoát mình ra khỏi mọi lỗi lầm và những lề lối thói quen xấu”.

Hòa Thượng Tuyên Hóa.
 

Khi những thứ đó đi rồi, thì khi ấy, quí vị mới đang giúp thế giới và cống hiến cho nền hòa bình cùng chấm dứt đau khổ. Quý vị lạy để tự lo cho mình và như hế không phải phiền người khác.

Câu hỏi: “Ông có tin vào Thượng Đế không?”

Trả lời: “Có. Phật tử tin vào tất cả và chẳng gì cả. Họ chủ yếu tin vào điều mình làm, chứ không phải điều mình tin, đó mới là quan trọng. Đó là lý do tại sao chúng tôi nói “chẳng tin gì cả” bởi vì chúng tôi đặt niềm tin vào thực hành. Quý vị đi lên hay rơi xuống, được cứu rỗi hay ‘mất đi’, nó nằm ở hành vi của quý vị và không một lời nào hay niềm tin nào sẽ giúp được nếu như quý vị làm điều tà ác. Bất kể là quý vị tin vào chư Phật, Chúa Trời, chúa Jesus hay chẳng tin vào ai cả - nếu quý vị làm điều thiện thì quý vị sẽ có lại điều đó. Để được nhận, quý vị cần phải biết cho đi”.

Một người phụ nữ từ một quán rượụ bước tới và nói, “Mấy cậu bé này đang làm gì thế?” Tôi giải thích và bà ấy lấy tay che miệng, xấu hổ.

“Tôi xin lỗi vì đã thiếu tôn kính, tôi đã không biết rằng các ông là làm việc thật sự”.

Tôi nói với bà ấy rằng chúng tôi “đang cố gắng tác động tới mọi người để được hạnh phúc và bình an”, bà ấy nở nụ cười lớn và nói, “Cầu phúc lành cho các ông”. Mọi người từ quầy bar đang quan sát và chờ đợi bà ấy quay trở lại để biết ai đã nói đúng về chúng tôi.


“Khi một người rộng lòng giữ những giới luật này, thì giống như một người mà trước kia bị mắc kẹt vào chỗ tối, nay bỗng chợt tìm thấy ánh sáng; họ như người nghèo thiếu vấp vào của báu trước mặt; như kẻ tàn tật nay hoàn toàn được bình phục; như tù nhân cuối cùng cũng được ngày tự do”

Lới tựa Kinh Phạm Võng Bồ Tát Giới
 

“Mẹ tôi trông thấy các ông hàng ngày khi bà đi làm, vì thế chúng tôi mang tới biếu các ông một chút trái cây”. Rất nhiều câu hỏi và cuối cùng, “Chúc vui vẻ” (Không thật lòng).

“Chúng tôi vui mà!”

“Các ông ?”

“Đúng thế, chúng tôi rất hạnh phúc. Khi quý vị từ bỏ lđiều giả và tìm thấy sự thật –kiểu hạnh phúc đó. Không thể hơn thế được!”.

Ba chiếc bánh mì kẹp thịt từ một người đàn ông rất chân thành. Tôi không thể từ chối. Anh ta rõ ràng là đã nhịn ăn để mua chúng. Phải làm gì đây? Rồi ngay lúc đó, một người đàn ông đã nói chuyện với chúng tôi đêm qua lái chiếc xe tải đi tới.

Peter làm nghề lắp đặt các cửa treo nhà để xe và chưa ăn trưa. Vấn đề đã được giải quyết. “Các ông đang theo đuổi những gì mà mọi người đang tìm kiếm – tâm bình an chân thật”, anh ta nói.

Những đứa trẻ trên con đường Hueneme: buổi chiều hè nóng nực, những chiếc chân trần lấm lem chạy tới siêu thị mang theo 5 và 10 xu, 8 lần một ngày, chở đôi trên chiếc xe đạp, những đứa chị lớn tuổi hơn quán xuyến và “chăm sóc” em trong khi cha mẹ làm việc. “Các em về nhà ngay lập tức không thôi chị sẽ quất thật mạnh vào mông bây giờ, nghe chưa!” Kem đây, “Này Tony không lấy cái đó”. “Này Tubs” và “Bù Nhìn đến”. Những câu hỏi và cuộc diễn hành đi theo sau của “Mấy chú khỉ Phật” – một số em nhỏ cố gắng lạy để chạm vào da chúng tôi để xem nó ra sao. Số khác thì cố gắng bắt chước niệm “Num o da bung…” (1) Những người ngưỡng mộ thì dọn đá và miểng chai ra khỏi đường đi của chúng tôi.

“Này Tony đừng lấy cái đó!”, một giọng nói nhỏ bé cất lên lần nữa – chỉ cao chừng 75 cm, cậu bé đứng chắn đường tôi, chống tay ngang hông một cách ngang nghạnh (cậu bé 4 tuổi) – “Tony, đừng lấy cái thiệp đó, tao nói rồi!”. Ngay cạnh cậu bé đó là người bạn nhỏ yên lặng Tony đang chờ đợi đến lượt lấy tấm thiệpcard (thiệp về Kim Sơn Thánh Tự và Vạn Phật Thánh Thành).

Một người đàn ông trong chiếc xe hơi lớn "đi dạo” tới. “Các có ông được trả tiền không?”.

“Chỉ ở bên trong, là điều đáng kể”.

Anh ta mỉm cười và gật đầu, lái xe đi khuất.

“Hẹn gặp lại các sư sau nhé”; tiếng trẻ em mờ nhạt dần, “Ê, ở đây có một chiếc xe bán kem”. “Mày nhát không dám đứng gần họ, ha ha!”. “Không có!”, “ Có!”, Không có…
 

 

Hằng Thật - Ngày 20 tháng 7 năm 1977

Thầy chỉ cho ta một lối thoát
 


Phải, thưa ông, ông gieo những hạt giống và thu hoạch vụ mùa của mình. Không ai chia sẻ thu hoạch đó; không ai quan tâm đến điều đó chỉ có thầy của ông.

Nếu quý vị lắng nghe những lời hướng dẫn của thầy mình và làm theo những gì thầy của quý vị dạy bảo, mọi lúc, thì sẽ có một lối thoát cho vụ thu hoạch nghiệp chướng của quý vị. Nhưng…

Quý vị phải làm như những gì thầy dạy, mọi lúc. Đừng giải đãi nếu không quý vị sẽ sẵn sàng cho những cú đấm bọc thép to lớn mà quý vị phải chuốc lấy.

Quý vị đang sa lầy trong khổ đau. Vị thầy sẽ chỉ cho quý vị lối thoát ra khỏi nỗi khổ đau đó. Một khi quý vị đã quyết định rằng quý vị thực sự muốn rời bỏ nó, quý vị có thể lắng nghe những điều được dạy bảo, quý vị có thể đi theo ánh sáng đang chiếu soi từ phía bờ bên kia, ấm áp, khô ráo và an toàn hoặc là quý vị có thể quay lưng và rơi trở lại biển khổ. Đó là lựa chọn của quý vị. Và điều cuối cùng quý vị có thể nói về nó là, trong bất kỳ tình huống nào, không ai có thể cứu quý vị ngoại trừ chính bản thân quý vị mà thôi. Không ai có thể làm được điều đó và cũng không ai sẽ làm điều đó; Chư Phật chỉ đơn giản chỉ bày cho con đường, tự thân quý vị phải bước đi trên Con Đường (Đạo) đó. Không có liên quan đến bất cứ ai cả.

 

Hằng Triều - Ngày 20 tháng 7 tháng 1977

Đến thời hạn phải hoàn thành rồi, em ơi!



Năng lượng và “ánh sáng” của quý vị không bị chiếm đoạt bởi bọn quỷ nhơ nhớp, bị hút ra như
thế, chúng bị mất đi là do chính quý vị. Chúng thoát ra ngoài theo đúng nghĩa đen của nó.

Chúng không bị lấy đi.

Đi bộ vào thành phố Oxnard sau những ngày ở bên ngoài, giữa bốn bề mênh mông trong sự tu hành tương đối yên lặng. Tôi đã làm gì? Giống như vùng Viễn Tây xưa khi “những anh chàng cao bồi trẻ tuổi” cưỡi ngựa vào thành phố Dodge sau cả tháng phiêu bạt đó đây và có một trận nổi giận lôi đình. Tất cả những năng lượng đã được dồn nén tích tụ đó, giống như trái cà chua chín nẫu, lõng bõng nước và rơi lộp bộp! Tiêu phí. Cái đó gọi là “Tu hành kiểu cao bồi”. Xây nó lên rồi thổi bay nó đi.

Vì thế, tôi đã lạy vào thành phố Oxnard sẵn sàng (Cách làm đó là – nhìn về phía trước, ngóng đợi thay vì tùy duyên và bất biến) để cho đi và được nhận lại. Và tôi đã bị lừa. Hay nói đúng hơn là tôi đã cho đi nguồn “khí” (năng lượng) đã được tích lũy một cách cẩn thận giống như cho đi những nụ hôn gió trên chiếc xe diễu hành. Thật ngu ngốc!

Hằng Triều bị che mù bởi cái “tôi” của mình.

 

Nếu quý vị thực sự muốn làm vài việc tốt đẹp, thì đừng bỏ phí đi những nguồn năng lượng đó nhưng hãy ảnh hưởng tích cực đến những người khác để họ hồi quang phản chiếu, để chính họ tự tu hành. Bằng cách nào? Bằng chính sự tu hành của quý vị.

 

Một sai lầm khác, một bài học khác – một bài học tốt, bài học này. Một bài học không được quên.

Chúng tôi nhận được rất nhiều lời mời cho “một bữa ăn nóng hổi ngon lành và nơi để tắm, nơi để nghỉ trên bãi biển và bất kỳ điều gì mà chúng tôi muốn”. Mọi người không thể tưởng tượng chúng tôi đang thích thú sự tu hành khổ hạnh. Chúng tôi tu hành càng khổ hạnh thì nó lại càng dễ dàng đạt được bấy nhiêu.

Chúng tôi tu hành càng dễ duôi bao nhiêu thì càng khó đạt được bấy nhiêu.

 

Tạm dịch:

“Nếu tâm còn vướng vào những thứ hời hợt và nhỏ nhặt và bị dính mắc vào thực tại, thì sẽ không thể thể nghiệm với điều mà chư Phật đã chứng ngộ được”.

Kinh Hoa Nghiêm.

 

Một người phụ nữ đang cười lớn ngồi trong xe tại một giao lộ, “Này, tôi đã trông thấy các ông lâu rồi. Tôi nhìn thấy các ông từ hồi còn tận Santa Monica”. Giống như những người bạn cũ. Đạo, con đường, là sự tự do duy nhất. Trên hành trình của chúng tôi, nơi duy nhất mà không thuộc sở hữu hay bị hàng rào ngăn mà mọi người ai cũng có thể sử dụng mọi lúc là đường, là đường phố. Quý vị không cần giấy cho phép hay giấy chứng nhận nào để đi trên những con đường. Đạo là của mọi người và cũng không phải của bất kai. Nhưng quý vị phải tiếp tục tiến bước. Ngay khi quý vị bị dính mắc hay dừng lại thì quý vị không còn ở trên đường, ở trong Đạo. Dừng lại càng lâu bao nhiêu thì quý vị càng có nhiều bám chấp bấy nhiêu và chằng bao lâu sau thì quý vị có một địa chỉ, điều đó cũng được, miễn là quý vị đừng quên mất Đường về nhà.

Hai cậu bé cưỡi trên một chiếc xe đạp quá lớn, “Này, này! Lạy lạy – lạy lạy lạy. Cầu nguyện, cầu nguyện– Cầu nguyện, cầu nguyện, cầu nguyện!”.

Câu hỏi: “Các ông đang cầu nguyện cho ai vậy?”

Trả lời: “Cho mọi điều và mọi người. Chúng tôi cầu nguyện ‘để từ bỏ những thói quen xấu, để loại trừ những vấn đề rắc rối, để làm sạch bản thân chúng tôi nhờ đó chúng tôi có thể đem lại lợi ích cho người khác’. Bằng cách làm như vậy, chúng tôi đang cầu nguyện tới thực thể tinh thần cao hơn đang ở bên trong tất cả mọi vật – cầu nguyện cho trí tuệ và lòng từ bi vốn có sẵn của quý vị.

Nhưng chúng tôi không cầu nguyện để ‘được’ hoặc đẩy trách nhiệm lên thiên đàng. Cầu nguyện để loại bỏ sự ích kỷ. Rồi cả thế gian sẽ được lợi ích. Đó là cách nó hoạt động”.

Bản chất của mọi sự việc được thông hiểu qua thực hành.

Nói thì giống như đứng trong xi măng đang dần đông cứng.

 

Tony Joseph của tờ báo The Ventura Star Free Press hôm nay đi ra ngoài và tản bộ một mình. “Đến thời hạn phải hoàn thành rồi, em ơi!”. Cuộc phỏng vấn hoàn tất với cây bút chì giắt thêm sau tai.

Ted Nauman của tờ báo The Press Courier đi ra ngày hôm qua. Thật là tương phản. “Ông có thời gian cho một cuộc nói chuyện không?” anh ta hỏi một cách lịch sự bằng một giọng mềm mại từ phía sau một cái cây. So với Tony, nhảy vọt ra khỏi xe và hét lên, “Được rồi, thế ai trong các ông không nói chuyện?”

 

 

Hằng Thật - Ngày 17 tháng 7, 1977

Ông ấy là một người tốt, tử tế, ngay thẳng và sợ Phật

 

Hãy thận trọng với tự do. Quá tự do có thể giết chết quý vị. Nếu sự tự do của quý vị không phải là kết quả của việc giữ kỷ luật, làm việc chăm chỉ, có được qua một thời gian dài, thì nó có lẽ không phải là tự do gì hết. Nếu sự tự do của quý vị đến dễ dàng và liên hệ đến việc sử dụng các vật liệu, các đồ vật hoặc các công cụ ở bên ngoài thân, bên ngoài trái tim, thì rất có thể là sự tự do của quý vị sẽ tốn nhiều chi phí, không thỏa mãn và sẽ chứng minh là một chuỗi xích chân nặng nề không lâu sau đó.

Quan sát

Những người đàn ông mặc áo trắng sạch sẽ ở trong trang trại, nói chậm rãi, ăn chậm, ngủ sâu, làm việc cả ngày với gia đình bên cạnh họ, cùng nhau về nhà khi trời tối. Những người phụ nữ mặc những bộ quần áo màu sáng, nói chuyện với nhau, mỉm cười chậm rãi, chăm sóc gia đình, làm việc vất vả cả ngày và cùng nhau về nhà lúc tối. Lũ trẻ có đôi mắt to, khuôn mặt cởi mở, ít nói, nhiều ánh sáng. Họ có được sự tự do của mặt trời.

Trong thành phố những người đàn ông mất chỗ đứng. Họ học cách nói chuyện nhanh và ăn uống nhanh, ngủ không yên, làm việc xa gia đình và ra ngoài vào ban đêm để tìm ma quỷ. Phụ nữ thì học cách nói chuyện với đàn ông, cười theo nhiều kiểu khác nhau, tiết kiệm thời gian và công việc bằng các máy móc và cách suy nghĩ như thế nào về mọi việc cần làm khi đàn ông đi rồi. Trẻ em thu hẹp những đôi mắt, học những thủ đoạn, những lời lẽ thô lỗ, và học làm thế nào để che giấu ánh sáng của mình. Họ có sự tự do của mặt trăng.

 

“Hãy nhìn hai người này. Ồ, tôi sẽ không làm như thế vì tình yêu hay vì tiền đâu”.

Đúng thế, thưa ông, chúng tôi cũng vậy. Cũng chẳng làm thế vì danh tiếng, hay vì đồ ăn hay vì giấc ngủ. Quý vị có thể tưởng tượng được ai đó nói rằng, “Ông ấy là một người đàn ông tốt, tử tế, ngay thẳng, sợ Phật?” Chẳng ai sợ Phật cả. Nó có thể giống như là sợ sự chuyển động của mặt trời và mặt trăng, thời gian và hư không. Tại sao tôi không phải là người Cơ Đốc giáo? Tôi đã tốt nghiệp và mất đi sự sợ hãi về tính bất diệt rồi.

Một bài kệ của Hòa thượng được gọi là “Hồi quang” đã luôn có một ý nghĩa đặc biệt đối với tôi và hôm nay tôi lại hiểu nó rõ ràng hơn. 

Chân thật nhận lỗi mình

Đừng tìm kiếm lỗi người

Lỗi người là lỗi mình

Đồng thể là Đại Bi.

 Hòa thượng Tuyên Hóa

Khi tôi từ bỏ cái mà tôi đã làm việc chăm chỉ để bảo vệ qua những năm tháng này, chỉ khi ấy tôi mới có thể gia nhập vào thế giới. Không có cái tự ngã, thì không có sợ hãi – chẳng còn có gì để mất. Đây gọi là đồng thể, là một chất là tất cả chúng ta được hình thành nên từ đó. Tất cả những mối quan tâm sai lầm cho một loạt những năng lượng tạo những mặt nạ giả, sẽ được dùng tốt hơn khi quan tâm tới tất cả chúng sanh như quan tâm tới chính bản thân mình – như thế gọi là Đại Bi và đó là chân lý.

Giữ nó, thì nó ở,

Bỏ nó, thì nó đi.

Khi đi nó không báo,

Khi về chẳng cho hay.

Nó đến đi nào biết.

Nó được gọi là Tâm.

Mạnh Tử

 

Hằng Thật - Ngày 20 tháng 7, 1977

Từ chối một chút thỏa mãn cho cơ thể mình

 

Nước sau giờ ngọ.

Có đôi khi, lúc trời đã xế chiều và việc lạy trở nên thực sự mệt mỏi và tôi nhận ra điều đó, tôi có một số suy nghĩ về việc uống một chút nước hồi sức như là nước cam hay trà mật ong và rồi tôi nhớ rằng tôi đã phát một lời nguyện là chỉ uống nước lã khi quá ngọ. Tôi đã giữ lời nguyện này khá tốt kể từ khi lập nguyện và tôi nhớ khi còn là cư sĩ sống ở Kim Sơn Thánh Tự, tôi là một tay uống cừ khôi với tất cả các loại đồ uống. Đặc biệt tôi đã quá dính mắc vào những thứ đồ uống có đường và tôi để ý thấy rằng những gì tôi đưa vào cơ thể mình sau 4 hay 5 giờ chiều đã có ảnh hưởng thực sự tới việc tu hành và sự tập trung của tôi vào buổi giảng Kinh tối. Thông thường những gì tôi uống cũng sẽ chi phối toàn bộ ngày tiếp theo, cũng như trước đây những đồ uống có chất rượu thường khiến tôi bị ô nhiễm trong hai hoặc ba ngày sau đó. Biết được tính mình là nước, tôi nhận thấy những gì tôi đã uống sẽ làm vẫn đục tôi và có tác động thực sự tới nhận thức và sự tập trung của tôi. 

Thanh tịnh dường như là một mục tiêu đáng giá vì thế tôi quyết định hạn chế những đồ uống, chỉ uống nước lã sau bữa trưa (thực tế là đến tận nửa đêm và như thế là cả 12 giờ đồng hồ nhịn nước) (Thuốc thì được cho phép).

Cám dỗ để phá vỡ lời nguyện này trên cuộc hành trình lạy này quả là mạnh, có vài lần, nhưng tôi lại nhớ lại mục tiêu ban đầu và thế tôi lại giữ vững lời nguyện. Có những lúc tôi có cảm giác giống như mình cần muối vì tôi đã đổ rất nhiều mồ hôi suốt cả ngày. Vì thế, tối đến, tôi thêm một muỗng muối vào ly nước nóng. Rồi tôi lại nhận ra rằng điều này cũng là hành vi vi phạm lời nguyện. Nước muối, khi uống để cung cấp năng lượng phấn chấn, thì cũng có thể như là một ly sữa trộn cà rốt. Chẳng khác biệt. Vì thế, tôi lại từ bỏ muối và quay trở lại lời nguyện. Hôm qua, tôi cảm thấy bị cám dỗ trở lại vì có rất nhiều nước cam sắp bị hư. Nhưng tôi nghĩ, “Chịu khổ một chút” là điểu chính.

Từ chối một chút thỏa mãn cho cơ thể mình chính là việc tu hành cần có. Làm điều này chân thực hơn thì sau đó tôi nhìn ra rằng đó chính là ý nghĩa của khổ hạnh – để có công đức hồi hướng và để có cái gì đó cúng dường lên chư Phật.  

 

 

Hằng Triều - Ngày 21 tháng 7 năm 1977

Quái sư



Câu hỏi:
Chắc hẳn là đau đớn lắm. Ý tôi là ông có bị đau kinh khủng lắm không?

Trả lời: Đau đớn phát xuất từ cái tâm cứng ngắt– từ việc bị phiền não. Phiền não giống như băng. Nó cứng ngắt, không uyễn chuyển và ngăn giữ quý vị không luân lưu được. Nếu tâm trí của quý vị không bị phiền não, thì đó là nước thoáng và mềm mại.

Trong nước thì không đau đớn. Băng đá làm ta đau đớn.

Câu hỏi: Làm sao mà việc này có thể làm cho các ông hạnh phúc được – trãi qua tất cả s đau đớn này?

Trả lời: Chúng tôi đang rất hạnh phúc đến nỗi không hay biết điều đó.

(Tôi muốn nói vài điều nữa nhưng bị lúng túng khi cần nói).

Tại một trung tâm thương mại, một cô gái trẻ tựa lưng vào tường trong tay cầm điếu thuốc với tư thế chụp ảnh trước kia của thuốc lá Marlon Brando: “Này, ông, ông mua cho tôi 6 lon bia nếu tôi đưa cho ông tiền được không?”

“Không. Tôi không thể đến gần thứ đó”.

“Quá là thất vọng”.

Dạo này, mọi người dường như không giống như con người đối với tôi, ý tôi là giống như mọi người xưa kia. Cảnh vật và các thành phố, xe hơi và những lời nhận xét, thời tiết và những con bọ - tất cả những thứ này trở nên đồng nhất và ít khác biệt hơn. Thế nhưng con người dường như thường có đầy những đặc điểm và hương vị khác nhau – họ nổi bật lên trong một s quan trọng đặc biệt so với mọi thứ khác. Thật khó giải thích nhưng tất cả mọi thứ, thậm chí con người đang được hòa trộn thành một cụm bằng phẳng thật tuyệt vời này. Cái tuyệt vời đến từ cái gì khác ở đằng sau sự đồng nhất của mọi vật. Không có cái gì nhiều hay ít hơn; thật haykhông thật; tốt hay xấu về điều đó. Nó đơn giản chỉ xảy ra, gần như không thể cảm nhận được. Bằng phẳng đồng nhất ở khắp mọi nơi. Một mặt, nó giống như ở trên một hành tinh khác và đồng thời càng ngày càng có nhiều người trông quen thuộc hơn – gần như là bà con có quan hệ huyết thống vậy. Mọi người đến cúng dường và tôi tự nói với mình, “Mình đã gặp anh ấy/ cô ấy trước đây ở đâu?”

 

Nhét mình và co người ngồi bên trong khoang của chiếc xe Plymouth củ kỷ trên bến cảng Hueneme, miệng lẩm nhẩm niệm Phật và lắng nghe Kinh Hoa Nghiêm, tôi chưa bao giờ thấy tự do đến thế.

Nếu chính bản thân tôi thực sự dụng công thì tôi mới có thể sẵn sàng thực sự trở thành đệ tử quy y của Hòa thượng khi chúng tôi tới Vạn Phật Thánh Thánh Thành và bắt đầu học tập.

Mấy đứa trẻ lớn tuổi hơn nói với mấy đứa trẻ nhỏ rằng chúng tôi là những con quái vật. Chúng hoảng hốt . Nhìn chòng chọc từ đằng sau những chiếc xe và xung quanh các góc phố khi chúng tôi lạy qua một khu vực thương mại, có ba đứa nhỏ cuối cùng đã lấy hết can đảm tới kiểm tra chúng tôi. Hai đứa nhỏ nhất thì núp đằng sau một bé gái mũm mĩm đang đi trên chiếc xe đạp như thể là chúng sẵn sàng tăng vận tốc và lướt đi rất nhanh trong trường hợp những con quái vật giở trò gì đó.

“Có phải việc này là để cho hòa bình?” cuối cùng cô bé hỏi.

“Đúng vậy”, tôi trả lời. Thư giãn một chút – theo nguyên tắc thì những con quái vật không lạy vì hòa bình. Hai đứa kia vẫn còn hoang mang.

“Các ông có tên không?” Tôi với lấy cái túi để lấy một trong những tấm danh thiếp của chúng tôi để đưa cho cô bé. Hai đứa trẻ nhỏ hết hồn bỏ chạy, “quái vật đang đến, quái vật đang đến”, giọng nói hoảng sợ vang ra từ phía sau mấy bức tường. Một đứa to khỏe sau đó quay lại cúng dường nước và tên của chúng tôi:

“Quái sư Thật và Quái sư Triều” (1)

 

Một người thanh niên tình cờ vừa chạy xe ra khỏi trung tâm thương mại ngay khi chúng tôi tiến tới. Anh ta dừng lại và quan sát chúng tôi. Sau những câu hỏi thông thường, anh ta muốn biết nhiều hơn về việc tu đạo và thực sự hứng thú khi nghe đề cập là tại Vạn Phật Thánh Thành chúng tôi đã cố gắng xây dựng một ngôi nhà cho những người cao niên và dưỡng đường cho người bịnh sắp chết. “Ý ông là họ không phải tới những ngôi nhà dưỡng lão cộng đồng hiu quạnh và bị bơm đủ loại thuốc sao?” anh ta hỏi.

“Phải. Vì thế, người ta có thể ra đi trong sự tương trợ của cộng đồng dám nhìn thẳng vào cái chết và trgiúp một phương cách tâm linh để đối mặt với sự chết – chứ không phải là đầy sợ hãi”.

“Đạo Phật dạy cho ông điều gì về cái chết?’

“Tôi không thể nói với anh. Căn bản là anh phải tự mình nhìn vào nó

“Bằng cách nào?”

“Chúng ta có những phương pháp mà đã có từ hơn 3000 năm để nhìn vào vấn đề sanh tử”.

Đứa trẻ ngồi ở ghế sau: “Ba ơi, đi thôi”.

“Chờ chút, ba cần phải hiểu cái này mới được. Đây thực sự là một điều gì đó”.

Đứa trẻ: “Ồ”

“Tại sao ông lại tới tu viện Kim Sơn Thánh Tự và trở thành nhà sư?”

“Tôi muốn hiểu tận gốc của mọi vật”.

“Trước đây ông làm gì?”

“Cũng giống như bao người ở cùng trang lứa với tôi: đây, đó, khắp nơi nhưng chưa bao giờ thật sự ở nhà. Luôn luôn tìm kiếm cái…”

“Tìm kiếm cái gì?”

“Tìm cách nào đó để đi tới nơi là chân thực và bình an. Tìm kiếm những câu trả lời của câu hỏi như: Tôi từ đâu đến? Tôi sẽ đi về đâu? Tôi là ai?

“Rồi sao nữa?”

“Rồi, trong đạo Phật có 84,000 Pháp môn để tìm hiểu kỹ những câu hỏi này và chúng đều đem lại kết quả!”

“Thật ngoài sức tưởng tượng! Điều này thực sự không thể tin nổi. Thực sự có một nơi như vậy sao? Ý tôi là mấy ông thực sự làm như vậy, có phải không?”

“Có. Chúng tôi cố gắng hết sức”.

Người đàn ông đó chân thành và trung thực. Anh ta cho thấy có rất nhiều câu hỏi và giá trị tương tự mà rất nhiều người, trong đó có thầy Hằng Thật và tôi cũng có. Và anh ta cũng rất vui mừng giống như bao người tôi biết khi họ phát hiện ra rằng có một cách và một nơi để làm điều tốt đẹp cho mọi chúng sanh và cũng được giác ngộ nữa. “Thực sự có một nơi như vậy sao?” toàn khuôn mặt và người của anh ta sáng lên và lấp lánh không thể diễn tả nổi.

“Chúng ta có thể đi chưa Ba?”

“Hả? Đi hả? Được rồi, chắc chắn rồi (như chợt giật mình). Chúc các ông may mắn”.

“Cảm ơn, cũng chúc anh như vậy”.

 

Ba cậu bé lượm vỏ chai: “Này ông, các ông được gì khi làm vậy?”

“Chúng tôi không được, mà chúng tôi cố gắng cho đi. Chúng tôi cố gắng từ bỏ những thói quen xấu và tính ích kỷ đ chúng tôi có thể cho đi và giúp đỡ”.

Chúng đặt những cái chai rỗng không xuống đất. “Ông có ngủ không?”

“Chắc chắn rồi, chúng tôi ngủ nhưng giống rất nhiều các vị ni và sư khác, chúng tôi ngủ ngồi, không nằm xuống”, tôi trả lời.

“Như thế đ lừa mọi người nghĩ rằng các ông đang cầu nguyện?” một đứa nói vẻ chân thành.

“Không phải. Đ chúng tôi không muốn ngủ quá sâu khiến chúng tôi không thể thức dậy được. Đ chúng tôi không bị lạc lối trong những giấc mơ”.

“Phải mất một thời gian thật sự rất dài để tới được Thành Phố một nghìn vị Phật”.

“Không, Mười nghìn vị Phật”, bạn của cậu bé chỉnh lại.

“Tôi từng có một người bạn cũng trạc tuổi các em. Cậu ấy thu lượm đủ chai trong sáu tháng để mua một chiếc xe đạp mới”, tôi nói với chúng.

“Thật sao?” chúng kêu lên.

“Chuyến lễ lạy của chúng tôi cũng vậy. Nếu các em thật sự muốn một việc gì rồi và chăm chỉ làm hướng về nó – cứ từng một cái chai và một lạy – các em sẽ có được việc đó”.

Một người đàn ông bước tới và nói thẳng thắn, chân thật: “Tôi nghĩ điều các ông đang làm thật sự tuyệt vời! Cuộc đời tôi thay đổi ngay kể từ khi tôi đọc về các ông”.

Một nhóm mấy cậu bé khác tới tấp đưa ra cho chúng tôi những câu hỏi, “Nhân tiện”, chúng tôi hỏi, “Các em thường làm gì?”

“Ồ, chẳng gì nhiều. Chúng cháu đạp xe cả ngày và đi bơi”.

Rồi một em trong số chúng hỏi, “Thế các nhà sư có bơi không?”

“À, chúng tôi đã từng bơi và đạp xe cả ngày nhưng giờ thì chúng tôi làm việc để giúp những người khác và đền ơn cha mẹ”, chúng tôi trả lời. Một thời dành cho tất cả mọi thứ và một thời để buông xã.

 

Tuần ẩn tu đó trong một tu viện mà cha tôi đã tham dự khi tôi còn nhỏ vẫn chưa hoàn thành . Ông đã không bao giờ được quay tr lại và theo đuổi những gì mà ông tìm thấy ở đó, bên trong mình, trong cái tuần ngắn ngủi rời khỏi công việc và gia đình của mình đó. Nếu tôi có thể giúp trong việc thành lập và duy trì một nơi (một đạo tràng), nơi mà mọi người giống như cha tôi có thể tìm thấy bình an trong tâm thì cuộc đời tôi sẽ không bị uổng phí.

 

Một người đàn ông to chắc, Hank, đến từ một nhóm Phật tử ở địa phương tại Oxnard: “Này các anh! Cái đó khổ cực hơn rất nhiều so với thực hành của chúng tôi”, anh ta nhận xét sau khi nghe về những khổ hạnh của tu viện Kim Sơn. Hàng ngày tôi bơi từ một đến một dặm rưỡi, cố ăn ít đi và ít thịt để lấy lại vóc người để ngồi thiền. Điều đó thật là khó”, anh ta nói.

“Nhưng anh đang làm đó thôi! Như thế mới quan trọng. Nếu có thể làm được, thì anh sẽ tốt hơn và mọi người chung quanh anh cũng vậy”, chúng tôi đáp lời. Chúng tôi nói cho anh ta biết một câu Thiền thoại “Hành khổ, tâm lạc”.

Khi rời đi, anh ấy nói, “Hãy thoải mái nhé!”.

“Không, phải chịu khó,”, chúng tôi nói.

“Ồ, phải vậy”, anh ta kết luận. “Chịu khổ thì tâm ông mới an lạc”.

Mỉm cười và vẫy chào tạm biệt.

 

Trong và xuyên suốt tất cả những phản ứng khác nhau mà chúng tôi nhận được, tôi có thể nhìn thấy chính mình đã từng làm tất cả những điều đó ở lúc này hoặc lúc khác trong cuộc đời của mình. Từ những sự giúp đỡ tới những lời nói khôn ngoan; từ những sự cúng dường cho tới những lời giễu cợt. Bằng cách nào đó, nhớ rằng dường như san bằng tất cả những phản ứng đó thành những tác động bình đẳng. Tốt, xấu, hay bình thường, chúng đều đi qua giống như những cái “tôi” khác nhau đã tạo nên chúng. Đã qua đi, đã qua đi, tất cả đi mất.

 

Kinh Kim Cang dạy rằng:

 

Nhất thế hữu vi pháp

Như mộng, huyễn, bào, ảnh

Như lộ diệc như điển,

Ưng tác như thị quán.

Dịch nghĩa:

Tất cả Pháp hữu vi

Như mộng, huyễn, bọt, bóng,

Như sương, như điện chớp

Nên quán sát như vậy.

 

Nhìn thấy chính mình trong tất cả những lời và những lối sống này, cuộc đời đã qua của tôi quay cuống bởi “quán sát như vậy” – giống như rất nhiều những bức ảnh cũ. Trong mười nguyện của Bồ Tát Quán Thế Âm, có lời nguyện là "Nguyện con mau về nhà vô vi.” (2)

Đó là một nơi nào đó bị chôn vùi phía dưới tất cả những bức ảnh cũ kỹ này – bộ mặt vô vi ban đầu – dễ mất đi, khó tìm thấy. Nhưng luôn luôn ở đó, chờ đợi và không thay đổi.

 

Một chiếc xe dừng lại với hai người phụ nữ lớn tuổi ngồi đằng trước, một bé gái ngồi ghế sau. Đứa bé gái đang mong mỏi đợi một tín hiệu từ phía ghế trước. Một trong số người phụ nữ ngồi phía trước là người thẳng thắn và chính trực. Trông bà ấy giống như Katherine Hepburn đang đóng vai nhà truyền giáo thời nữ hoàng Victoria – tóc cuốn lại phía đằng sau, không thả lỏng hay lãng phí cảm xúc gì c. Bà ấy gật đầu mà không nhìn, đứa trẻ hào hứng chìa tay đưa cho tôi một ít tiền. Ngay khi tôi với tay để cầm lấy, người phụ nữ ngồi ghế trước xoay đầu. Cái nhìn: họ có chân thật không?

Và bà ấy nhìn với đôi mắt thận trọng, đúng, họ chân thật và không ra ngoài để gạt người, không phải là kẻ lợi dụng trên trái tim và tình cảm của người khác, không phải là kẻ đạo đức giả. Rồi trong một khoảnh khắc, một vết nứt nhỏ ở ngay chính vẻ bề ngoài được kiểm soát này, bà ấy cho ra một con người khác mà không phải là chính bản thân bà ấy – một người mà không được phép lộ diện rất thường xuyên đặc biệt là với những người lạ. Mặt bà sáng ra và gật đầu tán thành về việc chân thành và làm một cái gì đó tốt đẹp, có ích lợi cho những giá trị chân chính. Bà ấy chỉ nói “Cảm ơn”. Điều mà bà ấy không nói lên là điều được nghe lớn nhất.

Tôi nghe nói rằng một trong những con đường đạt tới sự giác ngộ là sự hoàn hảo của việc bố thí. “Những người thực hành các hạnh nguyện của Ngài Phổ Hiền Bồ Tát chỉ có họ mới có thể đạt được sự giác ngộ". (Kinh Hoa Nghiêm). Hạnh thứ ba của Ngài Phổ Hiền Bồ Tát là “Quảng tu cúng dường”. Có rất nhiều người trong khi bố thí bỗng nhiên thay đổi và trở thành trẻ nhỏ. Họ thích thú và sống động với lòng tin tưởng và sự giàu có trống vắng trong một hoặc hai phút của sự không ích kỷ. Bố thí và lạy cũng rất giống nhau. Chúng tôi lạy để từ bỏ cái “bản ngã” của mình, không phải để nhận lấy cái gì đó cho bản thân mình. Người ta bố thí là để cho đi, để từ bỏ cái “bản ngã” chứ không phải để nhận được lời cảm ơn hay được ghi nhận.

Mọi người đến với những đồ cúng dường, và một vết nứt nhỏ mở ra, một trái tim đẹp, thiện lành rộng mở hiện ra trên khuôn mặt và vẻ bừng sáng. Ngay lúc đó, nếu chúng tôi lạy một cách chân thành, thì người bố thí và người lễ lạy hòa nhập, và không phải là hai mà là một. Một điều hết sức không ngờ xảy ra! Với mỗi một sự cúng dường chân thành, chúng tôi có được thấy khuôn mặt của Phật. Thật là tuyệt vời!.

 

Ghi chú:

 

(1) Nguyên văn Anh ngữ: "Dharma Monster Sure and Dharma Monster Chau". Do sợ hãi, khi đọc trên danh thiếp có ghi chữ Dharma Master (dịch từ Hoa ngữ chữ 法 師 Pháp Sư), các em nhỏ lẫn lộn giữa chữ Master (Thầy, Sư), với chữ "Monster (quái vật), hai chữ này phát âm gần giống nhau.

(2) Nguyên văn trong Đại Bi Sám:

南 無 大 悲 觀 世 音, 願 我 速 會 無 為 舍.

Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm, nguyện ngã tốc hội vô vi xá.

 

Hằng Thật - Tháng 7 năm 1977

Chỉ đi từng bước một


Hàn vá vĩnh viễn lỗ thủng.

Cho dù
cần thời gian của đời đời kiếp kiếp, quý vị vẫn sẽ vẫn chỉ đi từng bước một, trượt lại phía sau, đứng lên và lại đi tiếp.

Không có gì khác để làm cả, quý vị không tồn tại bên ngoài nghiệp và hạt giống Phật của mình. Tất cả mọi thứ khác là vô thường; trở nên tồi tệ, trống rỗng, đau yếu và không cách nào có thể bám víu vào quý vị hay quan điểm của quý vị nhìn nhận về cái tôi và thực tại.

Tất cả quý vị có thể làm là thanh lọc cái túi nước nhơ bẩn mà quý vị đã được, và lê theo, vấp váp và cứ như vậy. Đó là tất cả những gì đang có – đã từng có. Phần còn lại đã và đang là hoa ở trong không gian, bong bóng, những giấc mơ và âm nhạc từ cây đàn hạc (harp) bị hư.

Nếu quý vị có thể giải quyết con ma ở trong cái túi da của mình, đốt nóng nện cho nó thêm vài búa, đi chậm rãi và hàn gắn các vết rò rỉ, thì một ngày nào đó, quý vị sẽ đến nơi. Vào cái ngày đó, quý vị sẽ không cần quan tâm đến nó nữa.

 

Hằng TriềuNgày 22 tháng 7 năm 1977

Tôi không quan trọng

 

Một con chim két kêu ré lên, ca hát trong một cái cây, chỗ chúng tôi bắt đầu lạy trong buổi sáng đầy sương mù này. Tôi không nghĩ mình đã từng nhìn thấy con chim két ở ngoài lồng. Tôi cũng không nghĩ chú chim két đã từng nhìn thấy những người như chúng tôi. Nó nhảy từng bước theo chúng tôi từ cây này sang cây khác chừng hai tòa nhà và rồi sự lư thông xe giờ cao điểm làm nó biến mất.

Đứng dậy sau cái lạy yên lặng, tôi bị vây quanh bởi mấy phụ nữ ăn mặc đẹp, đánh phấn, lăng xăng như thể họ đang trước ngày cưới hay một bữa tiệc làm bất ngờ. Họ mua đồ ăn sáng từ cửa hiệu MacDonalds cho chúng tôi.

“Sữa và bánh mì kẹp MacMuffins tất nhiên là không có thịt bằm”, một người nói giọng hối thúc, đầy hăng hái. Lúc đó là 7:30 sáng. Từ nơi đâu mà họ tới đây, ở chỗ con đường trống vắng dành cho xe tải này, vào giờ này, trong những trang phục màu rực rỡ và giày được đánh bóng, tóc mới uốn này? Thầy Hằng Thật và tôi thì lại tương phản với râu tóc không được cạo, mang theo bụi dấu ngoài đường bốn ngày qua. Khi họ đi khỏi, chúng tôi ở lại nhìn vào đôi bàn tay nứt nẻ dơ bẩn của mình, nhìn kiến, và ngửi mùi khói dầu cặn. Tôi không nghĩ mình tổng cọng nói nhiều hơn ba lời với họ. Điều đó dường như không quan trọng.

Họ có chút lo lắng. Kiểu lo lắng khi quý vị mở lòng, chân thành “buông bỏ” sau một thời gian dài bị đóng kín và sợ hãi. Sợ khi cho người ta thấy quý vị thực sự như thế nào và hy vọng mình sẽ không bị “đốt cháy” hay bị cười nhạo khi mình chân thành và hết sức thuần khiết. Và họ nhanh chóng rời đi cũng vì cùng lý do - bởi vì quý vị không thể xử trí quá nhiều việc cùng một lúc. Vì đã quá lâu nên việc trở thành tự nhiên lại cảm thấy không tự nhiên.

Thực sự là một điều rất hay đẹp khi nhìn thấy điều này ở những người cúng dường. Bị chôn vùi sâu dưới tất cả những vết bầm tím và sẹo, giống như thầy Hằng Thật và tôi, đó là một khuôn mặt chân thật, bản tính thuần khiết đầy sống động và tốt lành. Có nhiều hạnh phúc trong công việc Ba Bước Một Lạy và mỗi sự cúng dường là một bữa tiệc sinh nhật.

Những tiếng la hét to nhất và lăng mạ nhất đến từ những người bị tổn thương nhiều nhất. Chúng tôi chạm vào vết thương đang che chở cái “bản ngã chân thật” bị hành hạ và sợ hãi. Tất cả những gì chúng tôi nghe thấy khi chúng hét vào chúng tôi là “Đau quá, Ái ui!”.

 

“Lạy Cha, xin Cha nhận số tiền này”, một người phụ nữ lớn tuổi cùng với con chó nhỏ trên vai trong chiếc xe Buick to lớn. “Con cá là các cha mệt rồi phải không?”

“Hầu như chỉ là niềm vui. Nhân tiện, chúng tôi là những vị sư chứ không phải là những Cha”.

“Chúc may mắn, thưa Cha” và rồi họ đi.

 

Hai nhân viên bảo trì đường dây từ Công ty Điện Thoại cúng dường một số trái cây và nước trong giờ nghỉ của họ.

Cửa hàng MacDonalds: Một người to lớn, vạm vỡ với điếu thuốc lá lắc lư trên miệng, người tựa lại phía sau, ngón tay và bàn tay nắm lấy dây nịt thắt lưng và nói, “Các anh thực sự tin vào những gì mình đang làm à?”

(Tôi đã muốn nói rằng: “Ai có thể làm việc gì mà họ không có niềm tin vào đó?”). Trước khi tôi đáp lại, một phụ nữ bước tới bên cạnh và la mắng anh ta rằng, “Này, để cho họ yên. Họ thực sự tin tưởng vào những gì họ đang làm”.

Người đàn ông to lớn chuyển tư thế và quay sang phía cô ấy như một cậu bé và nói, “Được rồi, nào, tôi chỉ hỏi thôi mà, thế thôi”.

“Được rồi, tốt”, cô ấy nói, “Nhưng đừng khinh khỉnh thế”.

 

- Manuel, một nhân viên phụ giúp tram xăng chạy tới, “Xin chào, tôi muốn giúp các ông”.

- Một phụ nữ từ tiệm ăn Granny’s Pantry cúng dường chúng tôi bất kỳ món nào có trên thực đơn. Chúng tôi giải thích về lời nguyện sống ở bên ngoài trong chuyến hành hương và vì thế chúng tôi thực sự không thể chấp nhận. Sau đó, bà ấy cho người đầu bếp ra. “Xin chào, tôi là Matty”, và trao cho chúng tôi một túi trái cây.

- Người chơi trượt nước: “Chúc vui vẻ”, anh ta nói sau khi nói chuyện về “công việc khó nhọc”. “Không”, câu trả lời đáp lại. “Chúc khó nhọc – Có thời gian nhọc nhằn thì chính là có thời gian tốt đẹp”. “Ồ, đúng vậy”. Anh ta mỉm cười và lái xe đi khỏi cùng với chiếc ván trượt xác nhận sở thích gắn trên nóc xe.

- Một người đàn ông lớn tuổi cúng dường: “Tôi chắc chắn là các anh sẽ làm được”.

- Một nhóm mấy người nấu bếp của một nhà hàng Nhật Bản mang ra hai nắm cơm và một ít tiền, tất cả được gói gọn gàng trong giấy đã được gấp lại.
- Một toán nhân viên điện thoại
khác dừng lại và cúng dường.

 

Một khi quý vị xuất hiện trên TV và trên báo, mọi người sẽ cảm thấy gần gũi với quý vị và với những gì quý vị đang làm. Họ tới để nói lời “Xin chào” và muốn chia sẻ cuộc sống của họ với chúng tôi như thể chúng tôi là những người bạn cũ hay những người hang xóm.

Có một phụ nữ lái xe vòng quanh rất nhiều lần cùng với một thiết bị liên lạc vô tuyến trong xe và đang theo dõi các sự việc. Bà ấy gọi cho cảnh sát để nói với họ về đám trẻ em đang chơi trong khu vực giao thông đông đúc hoặc trên những con đường nguy hiểm. Bà ấy muốn chăm nom chúng tôi.

“Đây là một vài bánh mì tròn và vài thứ cho cuối tuần. Tôi sẽ đi khỏi đây và không muốn lo lắng về việc các anh đều được yên ổn”.

Một người đàn ông lái chiếc xe van tới. Chúng tôi chưa bao giờ trông thấy anh ta trước đây. “Hôm nay thế nào?” v.v… “Hẹn gặp lại các anh sau nhé. Cần phải tới trung tâm mua sắm trước khi bọn trẻ về nhà”.

 

“Chúa ban phước lành cho các anh. Chúa Jesus yêu quý các ông lắm. Chúng tôi cầu nguyện cho các anh, người anh em”. Tôi đã mắc sai lầm khi bắt tay trước khi nghe thấy giọng bà ấy nói. Giờ thì bà ta không buông tay mà lại quàng cánh tay kia ôm lấy tôi thay cho chúa Jesus. Tôi ngồi xụp xuống quỳ trên gối, lạy và thoát ra. Họ cho cậu bé đuổi theo chúng tôi cùng với cuốn sách nhỏ về việc dược cứu rỗi dễ dàng.

 

“Ồ, các anh thật tuyệt diệu. Chúc vui vẻ!”, một phụ nữ trẻ tuổi tựa mình ngay phía trước tôi và làm vài cử chỉ dễ thương trên chiếc ván trượt sóng và cúng dường một quả chuối – đung đưa qua lại để cố thu hút sự chú ý của tôi.

“Đã nhìn thấy các anh trên TV, thật tuyệt diệu”.

 

Một người đàn ông dừng lại trên chiếc xe tải chở rác đưa một ít tiền, “Để cho bữa trưa hoặc cái gì đó”.

Hai cậu bé (tám tuổi): “Các ông đang làm gì đấy?”

“Cầu nguyện”.

“Các ông không mệt sao – suốt quãng đường từ Los Angeles?”

“Không, chúng tôi khỏe mạnh hơn”.

“Thật sao?”

“Có biết cái gì khiến các em mệt không?”

“Là gì?”

“Nói dối, ăn cắp, uống rượu, hút thuốc, giết hại, theo đuổi các cô gái. Cầu nguyện sẽ khiến các em mạnh khỏe hơn!”.

Một cậu bé đi tới và bắt đầu lạy bên cạnh thầy Hằng Thật. Đứa kia thỉnh thoảng ném đá vào cánh đồng và quan sát.

 

Người cha và con gái: “Nó muốn xin các anh chữ ký”.

“Tôi không quan trọng”.

“Chắc chắn có đấy nếu anh xuất hiện trên TV và trên các tờ báo”.

“À, điểm mấu chốt là chuyến hành hương này đầu tiên hết là để từ bỏ những thói quen xấu của chúng tôi và các thói quen xấu đó khởi sự với tánh ích kỷ. Vì thế, nếu tôi ký tên mình thì điều đó sẽ như nói rằng, ‘Nhìn này, tôi là một nhân vật gì đó!’ Điều đó là kiêu hãnh giả tạo. Tôi không cần một sự kiêu hãnh giả tạo nữa. Tôi đang cố từ bỏ cái kiêu hãnh giả tạo này”.

“Ý anh là anh sẽ không ký cho cô bé sao?”

“Đúng vậy. Nhưng cô bé có thể lấy một trong những tấm thiệp của Tu viện”. Đưa cho cô bé tấm thiệp.

Hoan hô! Ánh mắt mở rộng trên khuôn mặt cô bé. Chuyện quan trọng! Cúng dường và sự khích lệ liên tiếp ùa tới.

 

 

Hằng Thật - Tháng Bảy, 1977

Thay đổi thực sự diễn ra ở trong người làm vườn

 

Trường Phật giáo.


Hỏi: Các ông đang làm gì?

Trả lời: Từ ngữ Phật giáo dùng gọi việc này là tu hành. Đó là công việc tôn giáo. Giống như chăm sóc một khu vườn trong khi cầu nguyện: quý vị cố gắng có được rau cải, nhưng không chỉ là rau không thôi, mà còn là sự thay đổi thực tế đang diễn ra trong người làm vườn, đó là mấu chốt, anh hiểu chăng?

Hỏi: Ừ, không, nhưng nó gợi tò mò. Ông đã học cách làm việc ấy thế nào? lấy vài lớp? Tới trường?

Trả lời: Phải, quý vị có thể nói rằng tôi đến trường để học những bài học về tu hành. Đó là một ngôi trường đặc biệt và những khóa học luôn có mọi lúc. Trên thực tế, một khi quý vị ghi danh học, quý vị sẽ luôn luôn ở trong lớp và mọi thứ đều là bài thi thử nghiệm.

Hỏi: Trời, nghe thật khó khăn. Ai dạy trường đó?

Trả lời: Có một người ở đó, người này đã tốt nghiệp rồi, đã tinh thông môn học này, người ấy truyền lại bằng nhiều dự án khác thường và phù hợp theo cá nhân– một dạng bài tập kiểm tra ở nhà liên tục, nếu quý vị theo học.

Hỏi: Không, nhưng tôi muốn hiểu. Môn học về vấn đề gì?

Trả lời: Quý vị thích cái gì?

Hỏi: Không, ý tôi là có một sách danh mục các môn học không? Làm thế nào để tôi có thể biết ghi danh cho môn gì?

Trả lời: Không cần phải lo về điều đó. Danh mục các môn học khá lớn, nhưng nếu thường tới lui thì quý vị sẽ tìm thấy qúy vị chuyên môn vào trong điều mà quý vị thực sự lúc nào cũng muốn. Khá hài hước về việc đó diễn ra thế nào., Thông thường quý vị sẽ được làm điều mà quý vị muốn nhiều nhất và rồi quý vị sẽ khám phá ra rằng còn có nhiều điều hơn là quý vị tưởng.

Hỏi: Có rất nhiều bài tập về nhà phải không?

Trả lời: À, tùy thuộc vào quý vị. Quý vị có thể nói rằng không bao giờ có nhiều hơn khả năng làm của quý vị nhưng vừa đủ, luôn luôn vậy.

Hỏi: Còn về bằng cấp, rốt cuộc thì khi nào tốt nghiệp?

Trả lời: Ồ, không có danh hiệu nhất định. Quý vị có thể gọi nó là Bậc thầy của tất cả những bí mật của thời gian và không gian trong vũ trụ và xa hơn thế nữa.

Hỏi: Còn về học phí thì sao?

Trả lời: Nói theo một cách thì là hoàn toàn miễn phí, nhưng mặt khác có thể nói rằng trường sẽ nhận tất cả mọi thứ mà quý vị có, rồi quý vị sẽ có được nhiều hơn những gì mà quý vị nghĩ là mình có, và cuối cùng quý vị sẽ có ít hơn so với ban đầu, nhưng đó lại là tất cả những gì mà quý vị cần đến. Điều này thật là tuyệt vời.

Hỏi: Tên của trường là gì?

Trả lời: Tu viện Kim Sơn Thánh Tự.


 

Hằng Triều - Ngày 23 tháng 7, 1977

Hãy tìm hiểu thử ngay bây giờ, trước khi chết



Viên sĩ quan cảnh sát vùng Oxnard: “Hẳn là các ông gặp rất nhiều quấy rối ở Oxnard phải không? Nó thực sự là một thành phố khắc nghiệt, rất nhiều tên ma quái”.

Chúng tôi: “Tại sao chúng tôi gặp phải nhiều quấy rối?”

Cảnh sát: “À, cho dù quý vị có an hòa thế nào đi chăng nữa, thì ai đó vẫn sẽ gây rắc rối cho quý vị”.

Chúng tôi: “Chúng tôi đi qua những khu vực ‘gay cấn’ và ‘dễ chịu’, tất cả chúng đều khá giống nhau. Chúng tôi thấy rằng chúng tôi nhận lại những gì mà chúng tôi đã cho ra dù chúng tôi ở đâu”.

Cảnh sát: “Tôi đã theo dõi các ông từ khi các ông bắt đầu. Các ông là những 'người tụng kinh' à”?

Chúng tôi: “Chúng tôi từ chùa Kim Sơn Thánh Tự, và ở đó chúng tôi làm mọi việc – tụng kinh, ngồi thiền, trì chú, niệm danh hiệu Phật, đọc và giảng Kinh, tuân trì các giới luật – tất cả những việc đó với nhau”.

Cảnh sát: “Những giới luật gì?”

Chúng tôi: “Không giết hại, không trộm cắp, không nói lời vọng ngữ, không tà dâm, không dùng ma túy và các chất gây say”.

Cảnh sát: “Thế các Phật tử có quan tâm về vấn đề tái sanh không?”

Chúng tôi: “Tất cả chúng ta đều quan tâm về vấn đề tái sanh – tất cả mọi người”

Cảnh sát: “Đúng vậy. Các Phật tử thì biết, tuy nhiên những người khác thì lại không biết và họ vẫn đang chờ đợi để tìm ra điều đó”.

Dừng lại một lát. Dường như anh ta bớt chút băn khoăn và cởi mở thêm một ít.

Cảnh sát: “Đúng, tôi cũng tin vào việc tái sinh. Nhưng tôi có một câu hỏi: điều gì xảy ra giữa khoảng thời gian anh chết và thời gian anh được tái sinh? Ý tôi là, điều đó như thế nào? Mình sẽ đi về đâu? Trong bao lâu?”

Chúng tôi: “À, việc cần làm là nhìn vào trong nó, tự bản thân anh phải kiểm chứng”.

Cảnh sát: “Ý anh là (cười) phải chờ cho đến khi chết và tìm hiểu hả?”

Chúng tôi: “Không. Hãy tìm hiểu thử ngay bây giờ, trước khi chết”.

Cảnh sát: “Làm thế nào?” (không cười nữa).

Chúng tôi: “Bắt đầu với ngũ giới. Năm giới sẽ dẫn cho tâm trí ta ít phân tán và tập trung, từ đó trí huệ sẽ ‘mở ra’ và anh sẽ hiểu mọi thứ”.

Cảnh sát: “Giới luật là quan trọng, phải không?”

Chúng tôi: “Giống như là cố gắng xây một ngôi nhà bằng gạch mà không cần xi măng – hoặc hơn thế nữa, là không cần gạch”.

Cảnh sát: “Mục tiêu của các anh là gì?”

Chúng tôi: “Tất cả mọi người ở Tu viện Kim Sơn Thánh Tự làm việc để tự khai ngộ cho chính họ và cho những người khác cùng với chấm dứt mọi đau khổ.”

Cảnh sát: “Nhân tiện cho hỏi, Giác ngộ là gì?”

Chúng tôi: “Anh cần phải tự bản thân mình tìm hiểu xem. Người ta nói rằng điều đó vượt trên cả mọi ngôn từ. Tự bản thân anh cần phải tìm hiểu xem bằng cách thực hành”.

Cảnh sát: “ Chắc mình phải chờ xem phải không?”

Chúng tôi: “Không. Đừng chờ (đợi) – hãy bắt đầu ngay từ bây giờ. Hãy tìm hiểu đi”.

Cảnh sát: “Ừ. Có thể. Nghe này, nếu các anh cần điều gì hoặc cần tôi giúp, thì hãy cho tôi biết nhé. Hãy bảo trọng”.



Một người đàn ông có râu, mặc quần treo có vải che ngực, tên là Casey mang chiếc “bánh cuộn burrito trộn lẫn” gồm các loại ngũ cốc và đầy các loại đậu "vi sinh".

Tôi không cần nó nữa”, Casey nói. “Tôi đang trong chế độ ăn chay nghiêm ngặt trong một thời gian, nhưng tôi lại tăng quá nhiều cân – béo phì – nhìn này!” anh ta ra điệu bộ về khổ người to lớn của mình.

Anh ta đã đọc rất nhiều về lãnh vực tôn giáo và triết học Đông Phương, đã hết sức thích thú về công việc phiên dịch Kinh sang các ngôn ngữ phương Tây của Hội Phiên Dịch Kinh Điển Phật Giáo.

Một người đàn ông trông giống y Jason Roberts lái xe tới. “Các ông có nhận sự đóng góp bằng chi phiếu không? Tôi ngưỡng mộ những gì các ông đang làm. Đừng nản chí”.

 

Một người đàn ông và mấy trẻ con đi xe đạp. “Khi nào thì các Phật tử nói chuyện?”

Trả lời: “Các Phật tử nói chuyện khi đó là lúc để nói. Khi không phải là lúc để nói, họ yên lặng. Cách đó khiến họ không gây ra quá nhiều rắc rối với các miệng của mình”. Hôm nay rất nhiều gia đình cúng dường. Những con người thực sự chân thành và lương thiện.

Nó giống như họ rất hạnh phúc khi nhìn thấy điều gì đó mạnh mẽ, thực tế và trong sạch.

Đạo Phật ở Phương Tây!



Cậu bé Chris và chú chó Messiah. “Đó là một cái tên khác của chúa Jesus. Chúng tôi sống ở phía đằng kia bên cạnh chiếc xe cắm trại mới của chúng tôi cùng với gỗ ở bên ngoài, các ông biết không?”

“Thật sự hy vọng em sẽ không phải băng qua sa mạc Mojave!”.

“Nó giống như thế nào, sống ở trong tu viện và làm những việc này ấy?”

“Tuyệt vời, Chris”, chúng tôi trả lời, “Mỗi ngày giống như ngày đầu tiên của kỳ nghỉ hè khi trường cho nghỉ học”.

“Hay quá. Hẹn gặp các ông sau. Đi mau Messiah. Đi mau Messiah!”

Một gia đình: “Chúng tôi rất có ấn tượng. Làm như thế này cho tất cả chúng sanh. Đó là điều ấn tượng nhất – nó dành cho tất cả mọi người. Chúng tôi thật hạnh phúc và rất phấn chấn khi nhìn thấy điều này”. Sau đó, họ quay trở lại và làm ngập chúng tôi trong đồ cúng dường. Người mẹ muốn tìm một ngôi chùa để tới. Đưa cho bà địa chỉ của Tu viện Kim Luân ở Los Angeles.

 

Sai lầm: Những đồ cúng dường – do đề cập tới lương thực trong cuộc phỏng vấn báo chí, tôi đã gieo những hạt giống cho những sự cúng dường về lương thực. Thay vì không đề cập, thì tôi lại khoanh vùng một khu vực. Vì điều này nên tôi thật xấu hổ. Thật là nhỏ bé và tham lam. Cho dù không phải là cố ý, nhưng hiệu ứng lợi ích it oi. Tôi sẽ không mắc lại sai lầm này nữa.

Nói chuyện – vẫn còn quá nhiều. Gắn chặt vào những câu trả lời ngắn gọn với tính cách quay ánh sáng trở vào. Không giải thích rộng ra và cung cấp nhiều hơn so với những gì yêu cầu. Nhiều quá một cái gì đó sẽ làm tê vị giác. Tốt hơn là ít đi. Để khiến tò mò và quan tâm.

Dù sao đi nữa thì mình biết cái gì chứ? Hãy chỉ tu hành!

 

Thời gian – vẫn trễ ba hay năm phút chỗ này, chỗ khác. Không bào chữa.

Đấu tranh ngay cả những điều nhỏ nhất, những thói quen xấu nhỏ gây ra đau khổ lớn.

Mắt, tai, mũi, thân và ý – chỉ sử dụng khi cần thiết, ngoài ra để chúng ở nhà, trên băng đá ấy.

Có rất nhiều sự thử nghiệm. Quý vị đã biết những câu trả lời: chỉ tu hành, tu hành, tu hành từng giây phút rồi sau đó chẳng có chuyện gì cả. Chúng được nhìn thấy đúng như chúng là gì. Vọng tưởng để lại những vết nứt.

 

Nhân viên trạm xăng: “Các ông làm việc này cho Đức Chúa Trời phải không?”

“Chúng tôi làm vì tất cả mọi thứ và mọi người. Hoặc là ông có thể nói chúng tôi làm việc này chẳng vì ai cả và chẳng có ai mà chúng tôi không vì họ mà làm”.

Anh ta đồng cảm về một cách: với chúa Giêsu. “Chúng ta không thể đúng hết cả được!”

“Tại sao lại không?”

“Khi chúa Giêsu ở trên thế gian…”

Đã đến lúc đi lạy. “Hãy bảo trọng. Chúng tôi quay trở lại với công việc”, chúng tôi nói.

“Tốt, tôi đoán như thế tốt hơn là không làm gì cả”. Anh ta kết luận.



Suy nghĩ phụ: Trong khi chờ đợi chúa Giêsu “trở lại lần nữa”, hẳn không phải là ý tưởng tệ khi làm sạch mọi thứ một chút, như thế ông ấy sẽ không phải giải quyết tất cả mọi việc lại lần nữa.

Đó là một kiểu giống như tham lam, chỉ ỷ lại và chờ đợi người tới cứu.

Cắm trại ở cuối một con phố cụt, trong một khu nhà.

Ánh đèn rọi loang loáng và tiếng loa của cảnh sát kiểm tra lại lần nữa.

Cắm trại ở gần một nhóm những người trẻ tuổi, những người đã xây bến du thuyền và sống trong những cái lều. Ban đêm, họ chơi nhạc rất hăng và trong khu đất trống họ đốt lửa trại với đống gỗ thừa còn lại từ dự án của họ. Chúng tôi cùng nhau chia sẻ trong một khoảng đất trống ở giữa những căn chung cư và những ngôi nhà ven biển hiện đại đắt tiền.

Sau những câu hỏi và trao đổi ý kiến, “Marina Rick” vị trưởng bộ lạc không chính thức nói, “Các anh hãy ở bao lâu tùy các anh thấy cần thiết. Chúng tôi có rất nhiều lương thực để chia sẻ. Ông chủ đến lúc 7:00 A.M. Ông ấy có thể không hiểu, nên…”

“Chúng tôi hiểu. Không vấn đề gì”.

“OK!”

 

Hằng Thật - Tháng Bảy, 1977


Hãy để cuộc đấu tranh bắt đầu



Tôi muốn thoát khỏi những phiền não nghiệp chướng ham muốn/ô nhiễm rất nhiều của mình. Việc QUAN TRỌNG là cắt bỏ những hạt giống này ngay bây giờ .

Những liên hệ như thế nào? Không khời ra bất kỳ tâm trí nào để cho con quỷ tạo tác với.

Giữ cho tâm trí lúc nào cũng bận rộn với ánh sáng và sức mạnh của Phật Pháp. Làm gì?

Tôi nhìn và thấy tất cả mọi công cụ đang có sẵn ở ngay đó để sử dụng – vì tôi đã học chúng trong suốt bốn năm qua. Các Pháp Đại Bi thì thật hùng dũng, thuần khiết, đầy năng lực và ánh sáng. Lúc này tôi cần đến chúng và chúng cũng có sẵn để dùng.

Khi quý vị tu hành, quý vị không thể để tâm trí nhàn rỗi dù chỉ là giây lát – quý vị leo lên cột càng cao thì càng trơn trợt và càng té ngã xa.

Cứ để mặc cho sự đấu tranh bắt đầu! Điều tôi chỉ quan tâm đến là thực hiện công việc này. Cứ để xem lúc này tôi bất cẩn như thế nào. Tôi muốn tự do khỏi bị ác quỷ và không có vọng tưởng khi làm việc. Không có nghỉ ngơi cho tới khi tôi có chút gì đó để dâng lên Sư phụ để báo ân lòng Đại từ của Ngài.

Rồi sau đó, lại cũng không nghỉ ngơi.

 

Hằng Triều - Ngày 24 tháng 7, 1977

Trái đất được tạo ra để ăn thịt người



Thầy Hằng thật gần như đưa sát mặt vào ngay một mạng nhện có cả con nhện góa phụ đen
. Đây là thành phố của rắn độc và nhện độc.

Thêm một thứ khác cần coi chừng khi chúng tôi bò dọc trên mặt đất và bên lề đường.

Giống kiến mới: nhiều màu, mạnh mẽ và dữ dội. Chúng thực sự hung hăng và rất mạnh mẽ. Tôi tìm thấy một bầy kiến trèo lên trên một con bọ cánh cứng. Một con kiến cắn rất sâu và mạnh đến nỗi không thể tách rời nó ra khỏi con bọ cánh cứng nên tôi làm lễ quy y cho chúng cùng với nhau. Thật đúng là “trái đất được tạo ra để ăn thịt người” (Thủy Kính Hồi Thiên Lục)

Ở nơi hoang vu giữa những cây xương rồng và những cái chai bể xuất hiện một gia đình có mái tóc vàng, những khuôn mặt rám nắng vì bơi lội vùng California với những nụ cười và cúng dường, và hoa tươi.

“Ồ, các bạn là Phật tử. Chắc chắn rồi, các bạn có thể qua đêm ở đây”

 

Hằng Thật - Tháng Bảy, 1977

Tâm nhàn rỗi sân chơi của ma quỷ



Đ
ầu tiên trong nguyên thủy là: Phật tánh.

Ba tướng vi tế biểu lộ tiếp theo: nghiệp, nghiệp hiển lộ, nghiệp chuyển.

Chúng tạo ra tâm.

Tâm tạo ra mọi vọng tưởng.

Tâm còn mang một tên khác: con khỉ.

Nó biến hóa hàng ngàn lần.

Ba bước, một lạy: Bầu khí quyển

Quán sát chư Phật thi hiện

Ch khi tâm bặt hết vọng tưởng

Bên kia đường là một nhà máy điện đầy ác mộng;

Bên kia ngón chân là mt chú kiến ngũ sắc.

Chỉ cách đầu gối vài phân là mt làn gió mang hơi khí dầu cặn;

Chỉ cách một nắm bắt là tâm bình an.

Vui mng khấp khi khi nghĩ về đất Phật,

Da tht bxuyên thủng bi nhng nhành lá nhọn vùi trong cát,

Tiếng kèn xe và tiếng la hét của trẻ con mang hoa quả,

Đốt cháy cây hoặc đào rễ.

Mặt tri đơn độc hành hương cõi thiên đường;

Giao thông dày đặc như nhng suy nghĩ trên Xa Lộ Số Một.

 

Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát

 

Đây là cách khám phá và học hỏi. Trước hết, quý vị cần phải muốn một điều gì đó, và rồi quý vị phải cố gắng để đạt được nó. Nếu có những chướng ngại trên đường đạo, quý vị gắng loại bỏ chúng và nhắm đi đến mục tiêu của mình. Khi quý vị khám phá ra một phương pháp để giải quyết vấn đề của mình, sẽ có thể phải cần rất nhiều năng lượng tích cực để áp dụng phương pháp đó.

Ví dụ: Tôi đã mất một thời gian dài gần 3 tháng để quen được cuộc hành trình này; buông bỏ những vật chất cá nhân tỉ mỉ để thích ng theo mọi điều kiện và hoàn cảnh; và để bắt đầu tập trung vào chất lượng của công việc.

Cùng với sự gia tăng năng lượng do việc lễ lạy là sự gia tăng phiền não, đó là điều xảy ra khi quý vị tu tập và bắt đầu cày xới “mảnh đất tâmcủa mình. Nguồn năng lượng này đã lớn mạnh hơn thói quen đối phó của tôi – các phương pháp của tôi đã lỗi thời, không hiệu quảchẳng bao lâu tôi không có khả năng điều khiển được nhng năng lượng này. Những vọng tưởng, những suy nghĩ vẩn vơ dẫn đến những ham muốn làm tâm phóng dật ra bên ngoài, điều này đưa đến nhng lậu hoặc không kiểm soát được rồi từ đó làm cạn kiệt nguồn năng lượng mới tìm được.

Sự lãng phí vô ích nguồn năng lượng là một cái tát vào mặt đối với những người tu hành. Lúc bấy gì quý vị sẽ không còn một sự lựa chọn nào ngoài đứng dậy đi tiếp hoặc là bỏ cuộc. Đây không phải chuyện đùa. Tâm trạng này thật khủng khiếp và đau khổ. Được vài ngày tốt đẹp, tích tụ được một ít năng lượng, và rồi lại tiêu hao trongng phí vô ích.

Tôi sẽ làm bất cứ điều gì để ngăn chặn những lậu hoc rò rỉ này. Rõ ràng là sự hiểu biết và thực hành của tôi có thiếu sót một điều gì đó. Tôi đã nhìn vào mọi nơi, ngay cả trước mặt mình. Tôi tr nên thành tâm, thật sđã rất thành thật tìm kiếm lỗ hổng rò rỉ trong tôi. Tôi khẩn cầu trong lời nguyện một cách rất vụng về với Tam Bảo xin được tẩy rửa sạch mọi nghiệp chướng.

Đây là một bước ngoặt. Điều đến với tâm tôi bấy gìờ là lập một lời nguyện cho bản thân, rằng tôi được tẩy sạch mọi phiền não của mình. Tôi đã sức cùng lực kiệt để giải quyết việc này. Tôi nhìn vào trong tận đáy của cuộc đời mình và nhận ra rằng điều tôi mong muốn hơn hết là học cách để trở thành Bồ Tát và tiếp nối công việc của Hòa Thượng và Tam Bảo. Khám phá này có vẻ như vững vàng, chắc chắn và trong sạch. Không nghi ngờ, không do dự. Vì thế, từ đó tôi nhận ra rằng tôi cần bắt đầu với công việc căn bản là dọn dẹp nhà cho dù phải nỗ lực thế nào, dù lâu dài như thế nào, dù phải lâu xa nhiều đại kiếp mà công việc này đòi hỏi, thân tứ đại giả tạm này sẽ được dùng để chấm dứt những con đường ma quỷ và thanh lọc tâm.

Và chuyện gì đã xảy ra? Lậu thoát nhiều hơn, chỉ có một chút xíu thay đổi. Vẫn chưa kiểm soát được tâm mình nhưng tôi có cảm nhận ra rằng – tôi đã trồng những hạt giống tham muốn từ những hành vi xấu xa trước đây của mình và rằng tôi có một số món nợ lớn phải trả. Quý vị không thể chỉ mong ước suông để được tiêu trừ hết nhng tội lỗi to ln như thế này được. Quý vị phải tháo gỡ chúng ví rất nhiều nỗ lực cố gắng.

Trong suốt những giờ lạy, mọi vọng tưởng của tôi diễn ra liên tục và việc tập trung tâm trí thật khó nắm giữ được, rất bc bôị. Vài chút xao lãng đã lọt qua sự canh chừng của tôi, bám chặt vào tâm tôi và những tập khí cứ đeo bám dai dẳng. Tôi nhận ra rằng có một sự khác biệt lớn giữa thời gian tôi dùng để lễ lạy và nhng gì mà tôi đã làm vào những lúc khác. Tôi cảm thấy giải đãi khi không ở trên đường để lạy và đây chính là nguồn gốc của nhng rắc rối trong tôi. Nhưng tôi vẫn không thể xác định được rõ ràng nhng rắc rối này đến t đâu. Tôi bèn phát một lời cầu nguyện khác xin trợ giúp. Tôi muốn được thanh tịnhtrong sạch từ thân, khẩu, ý, nhưng tôi còn cách xa điều này lắm, mặc dù tôi đã tụng đọc lời sám hối trong từng bước lạy. Trọng tâm của lời cầu nguyện mộc mạc của tôi là: Con nguyện quy y vi tất cả Chư Phật, Pháp và Tăng. Con không trong sạch, xin hãy chiếu sáng tâm con và chỉ cho con biết làm thế nào để sửa đổi.

Kết quả ra sao? Nhiều lậu thoát hơn. Gần như chết lặng vì sốc và đau khổ, đã hết cách, tôi đã quyết định là sẽ quên đi mọi suy nghĩ và cảm giác của mình, quên đi tất cả mọi thứ đi qua tâm trí và nhng nguyên nhân gây hạnh phúc hay đau khổ, và chỉ đi ra ngoài lễ lạy. Chẳng có điều gì tôi biết là đúng, không có gì tôi làm là đáng tin cậy hay có hiệu quả; tất cả những gì tôi có là giới luật để trì giữ và những lời nguyện để hoàn thành. Tôi không hoài nghi về những lời cầu nguyện của mình hay sự không ứng nghiệm. Tôi biết rằng những chướng ngại của tôi rất sâu dày và sẽ không thể được chuyển hóa nhanh chóng. Tôi một lần nữa cảm nhận về một sự hiện diện, một sự xâm chiếm âm tối, tôi cảm thấy như bị mất chính mình nhưng lại không thể cưỡng lại.

Sau đó, tối hôm qua trong khi đang tụng kinh, chợt tôi bị tấn công bởi những suy nghĩ ô trược giống như trước, giống như một làn gió hôi hám bốc ra từ đầm lầy. Con quỷ đã quay trở lại lần nữa và nếu tôi không hành động, tôi sẽ mất tất cả những gì tôi có. Đột nhiên tôi biết được điều mà tôi đã làm sai trái. Một câu nói thường được lập đi lập lại là, “Tâm nhàn rỗi là sân chơi cho ma quỷ”. Sau một ngày lễ lạy, tôi đã để cho tâm trí mình tự do – không chú tâm chuyển hóa năng lượng mới mà tôi đã tích tụ trong ngày qua s tu tập. Trước kia khi tôi chưa thc hiện vic lễ lạy thì điều này có thể cho phép được – vì không có sự khác biệt lớn lắm. Nhưng lúc này mọi thứ đã khác. Để cho tâm trí xao lãng giống như lái xe thả phanh từ trên ngọn đồi San Francisco – chiếc xe cứ tự nhiên lăn xuống dưới chân đồi.

“Bồ Tát làm việc ngày đêm không ngơi nghỉ”. Tôi hiểu nguyên tắc này và nghĩ mình đã giữ chánh niệm với câu chú kiên nhẫn và lạy đức Phật Thích Ca Mâu Ni, việc mà tôi làm hàng đêm, nhưng những sự thực hành này, mặc dù chúng rất tốt, nhưng laị không đủ cho tôi đương đầu với năng lượng ma quỷ trong tôi. 

Và sau đó tôi sực nhớ đến: Thầy Hằng Triều tụng 108 biến chú Đại Bi mỗi ngày, giống như rất nhiều hành giả ở tu viện Kim Sơn, và chánh niệm của thầy ấy lúc nào cũng tốt đẹp. Tất nhiên rồi! Chú Đại Bi mà tôi đã sử dụng lúc có lúc không trong suốt bốn năm là Pháp Bảo của Hòa Thượng và đó chính là điều mà tôi cần ngay lúc này!

Sau khi hồi hướng công đức, tôi lấy chuỗi hạt ra và bắt đầu trì chú với lòng thiết tha chân thành, ngay lập tức tâm trí tôi trống rỗng không còn bóng tối âm khí và từ từ bắt đầu tràn ngập ánh sáng. Tôi cảm giác được gội ra, hồi sinh. Lúc nửa đêm, khi mà ma quỷ thường hay tấn công, tôi thức dậy và thấy mình vẫn đang trì chú trong giấc ngủ. Đây là câu trả lời cho lời cầu nguyện của tôi, và tôi cảm thấy xấu hổ vì đã xin sự giúp đỡ trong khi Sư Phụ đã kiên nhẫn làm tất cả để trao cho chúng tôi các công cụ để tu hành, vậy mà tôi còn chẳng có một chút ý thức sử dụng chúng nữa.

Câu thần chú đã lấp đầy khoảng trống rỗng bên trong bộ não nhàn rỗi của tôi, tôi cảm thấy như thể mình được cứu thoát khỏi vực nước xoáy, được nhấc bổng ra khỏi căn nhà đang cháy, được nâng hng bi cái lưới an toàn lúc chỉ cách mặt đường đúng một vài phân. Tôi mở cuốn Chú Lăng Nghiêm chú giải và ở đó dưới phần dịch chú Đại Bi chính là những lời nguyện vụng về của tôi, chỉ có là chúng được viết đúng lại bằng những ngôn từ tao nhã vượt thi gian của Chánh Pháp: “Con quy y và kính cẩn nương theo Tam Bảo. Con cung kính cúi lạy và nguyện từ bỏ mọi điều tà ác… Với tâm đại bi, con sẽ khai ngộ chính mình và cho những người khác. Con sẽ tu hành những Pháp môn vô thượng này… ngưỡng mong chư Phật, Bồ Tát và các bậc thánh tăng sẽ lưu tâm đến con và bảo hộ con”.

Tất cả đều nằm ngay trong bài chú – những chủng tử âm thanh cứu rỗi mà tôi cần đến trong giờ phút tăm tối bấy gìờ. Thực sự là một viên ngọc vô giá.

Tôi sẽ trì giữ các Pháp Đại Bi cho tới tận khi hư không vỡ tan từng mảnh và đến khi nghiệp của chúng sanh cạn kiệt.

Xin tạ ơn Bồ Tát Quán Âm Đại Từ Đại Bi, người quán sát âm thanh của thế gian, quán tự tại, với nghìn tay nghìn mắt. Đệ tử này của Phật xin dành trọn cuộc đời quay về thờ phụng và cúi lạy trước thường trụ Tam Bảo khắp mười phương.

 

Hằng Triều - Ngày 25 tháng 7, 1977

Chư Phật đang đến, Phật - bơ

 

Thiền định thay đổichuyển đổi từ sự chú tâm vững chắc, tập trung sang bất chợt thấy mình biến mất, vào khỏang không. (Điều này xảy ra cả khi ngồi và khi lạy). Và rồi, có cái gì đến kiểm soát và tôi chợt nhận ra, “Ồ, tôi đây. Tỉnh dậy đi!” Tôi hoàn toàn không có ý thức gì về thời gian đã trôi qua bao lâu hay điều gì đã diễn ra quanh tôi.

Mọi việc trông sẽ như thế nào khi chúng được nhìn thấy mà không có tôi can d vào? Không bị gạn lọc và sắp xếp bởi mọi ham muốn, vọng tưởng và sợ hãi của tôi. “Một niệm không sanh khởi, toàn thể hiển bày” (1).

Trong khi tôi lạy, điều này đã xảy đến với tôi: Không thể tạo cảnh phim trên trạng thái này được, tính kịch của phim sẽ giết chết mọi thứ. S vật sẽ tr nên chết cng. Chúng đặt cái “ngã” to lớn lên tất cả những gì chúng nhìn thấy và làm đông cứng lại. Trong Lục Tổ Pháp Bảo Đàn Kinh Lược Giảng có nói, “… Nó biết tự tánh có thể sanh vạn pháp, vạn pháp quy về tự tánh” (2).

Nhìn vạn vật trên thế gian mà không có sự phân biệt thì mọi vật sẽ trông như thế nào? Tôi đã không thể nắm bắt được điều này nhưng đã nhìn thoáng được, nếm được một chút hương vị này trong buổi sáng nay trong khi lạy qua những đụn cát.

“Tôi nghĩ anh sẽ phải đã rất đói vào lúc này”, một người đàn ông nói khi cúng dường một số thực phẩm. “Tôi cũng nghĩ vậy”, tôi t nói thầm với sự xấu hổ. Chúng tôi đã bị tràn ngập trong lương thực từ bài báo mới đây, trong đó tôi đã trả lời câu hỏi về làm thế nào chúng tôi duy trì bản thân bằng cách nói, “Mọi người đã rất tốt bụng và rộng lượng trong việc cúng dường lương thực, và rất có lòng đối vi việc hành hương”. Câu trả lòi này là một lời kết phù hợp với câu truyện “Lòng tham lớn về thúc ăn mang lại thu hoạch ‘nhỏ’”. Câu truyện về chú Sa Di sợ bị chết đói, vì thế chú ta đã vọng tưởng về thc ăn và quên mất Phật, đánh đổi điều lớn lao để lấy cái nhỏ nhặt.

 

Bài trắc nghiệm bơ đậu phộng.

Không được có thêm vọng tưởng về thức ăn na ! Đủ rồi ! Tôi cương quyết bít lỗ hổng này. Năng lượng hình thành, và năng lượng đó đi đâu? Đến với chư Phật, hay rò rỉ ra ngoài các lỗ hổng? Gần đây, lỗ hổng của tôi là cái bao tử và nếu tôi không dừng lại, tôi sẽ biến thành ma đói.

Vì thế tôi cố gắng. Nhưng, bơ đậu phộng lại làm tràn ngập tâm trí tôi. Rồi tiếp đến là tam muội bơ đậu phộng. “Bơ đậu phộng, bơ đậu phộng, tốt hơn hãy đến nhanh đi, nhanh đi”. Điều này cho thấy việc thanh lọc tâm có những lúc nhỏ nhặt như thế nào. Tôi đấu tranh và vật lộn để loại bỏ vọng tưởng này. Và ngay khi tôi bắt đầu làm chủ được tình thế thì một chiếc xe tiến đến. “Xin chào, tôi là Louise. Tôi cũng là người ăn chay. Các anh muốn tôi mang tới cái gì?” Quá nhiều rồi! Tôi sẽ không nói điều đó. Tôi sẽ không! Đây là một dạng thử nghiệm để xem tôi thực sự có thể từ bỏ bám chấp của mình vào thức ăn hay không. Tôi thậm chí sẽ không nghĩ đến nó.

“À, chúng tôi không bao giờ đòi hỏi gì cả. Bất cứ thứ gì mọi người muốn cúng dường. Việc đó tùy họ”. Có một giọng nói nhỏ, bị bóp nghẹn và bị bịt miệng, đang cố gắng hét lên: “Bơ đậu phộng. Bà Louise, hãy đưa cho tôi bơ đậu phộng!” Nhưng, tôi đã làm bóp ngạt đứa bé hỗn xược ấy. “Cứ nói đi” Bà Louise nài ép, “Tôi sẽ mang đến bất cứ điều gì các anh cần”.

Sư Phụ đã nói với tôi việc này sẽ xảy ra, và khi ấy tôi nên niệm “Chư Phật đang đến, chư Phật đang đến,” thay vì niệm “Thc ăn đang đến, thức ăn đang đến,”.

Thế là tôi đã làm như vậy. Lúc đầu việc ấy diễn ra với chút lộn xộn, “Chư Phật đang đến, Phật – bơ ...”, ấy chết, ý con là… Và tôi đã thoát. Bà Louise sau đó quay trở lại cùng với bánh mì và các loại hột đậu. Bà ấy nói sẽ quay trở lại. Tôi đã nghĩ “Có lẽ hễ tôi thường vọng tưởng về thc ăn thì bà ấy sẽ quay trở lại.” Đôi khi s thay đổi và tiến bộ được đo lường bằng vài phân (inches), đôi khi bằng những hột đậu phộng.

 

Ông Shao và Quả Kinh mang bữa trưa tới cúng dường và sau đó lạy theo chừng một tiếng rưỡi. Sau đó, một phụ nữ dừng lại và hỏi cô cùng chồng có thể lạy theo vào cuối tuần này hay không. Cô ấy đã nhìn thấy bốn chúng tôi và muốn làm theo. Nếu Phật giáo sẽ tồn tại sống động được ở phương Tây, thì đó chính là bằng cách này: là mọi người thực hành Phật Giáo.

 

Một chiếc xe tải dừng lại. Một người phụ nữ bước xuống, mở cửa xe và đám trẻ bắt đầu ùa ra giống như một trong những chiếc xe kéo ảo thuật gánh xiếc, và từ trong xe bốn mươi chú hề xuất hiện. Chúng cúng dường và nói với chúng tôi về người phụ nữ tám mươi tuổi này đã đi bộ khắp nước vì hòa bình (Người hành hương cho Hòa Bình”).

 

“Tôi lo lắng đến chết vì các anh”, một người phụ nữ hốt hoảng từ trong chiếc xe hơi vừa mới đến nói. “Chuyện gì đã xảy ra với anh? Trời ơi” Đôi tay của bà nắm chặt và xoắn lấy tay lái chiếc xe với tâm trạng lo lắng, răng cắn vào môi dưới và nhìn về con đường phía trước, “Các anh sẽ làm gì ở cái cầu to lớn phía đằng trước kia?” Chiếc cầu to lớn? Ở giữa sa mạc? Tôi nhìn về phía trước, nơi bà ta đang chỉ tay tới thì chỉ là một cái cầu vòng nhỏ (mười mét hoặc hơn vòng phía bên trên một khe nước sâu đã khô cạn). “Tôi thật không hiểu, mấy anh làm tôi lo lắng phát bịnh”.

“Chúng tôi rất an toàn và hạnh phúc, thưa bà. Không cần phải lo lắng đâu”.

“Ôi trời. Các anh không biết tất cả những thứ này khiến tôi lo lắng thế nào đâu!”. Bà ấy không mấy được an tâm và cũng chẳng bình tĩnh lại.

 

Ghi chú:

(1) Kinh Pháp Bảo Đàn Lược Giảng do Hòa Thượng Tuyên Hóa giảng, Phẩm Sám Hối http://www.dharmasite.net/KPBDLGP6.htm :

Nếu chẳng nghĩ đến muôn pháp, nếu cái gì cũng không nghĩ, thì

"Nhất niệm bất sanh, toàn thể hiện." (一念不生全體現)

Một niệm không sanh, Phật tánh bổn lai liền hiển hiện. Nhưng quý vị có thể "không sanh" không? Quý vị có thể không có vọng tưởng không? Nếu quý vị có thể không có vọng tưởng, đó chính là Phật. Nhưng nếu chưa đạt đến cảnh giới này, thì cần phải tu hành. Nếu không tu hành thì người vẫn là người, chó vẫn là chó.

"Lục căn hốt động bị vân giá." (六根忽動被雲遮)

Lục căn, lục trần, lục thức vừa động thì bị mây che phủ.

 

(2) Kinh Pháp Bảo Đàn Lược Giảng do Hòa Thượng Tuyên Hóa giảng, Phẩm Bát Nhã http://www.dharmasite.net/KPBDLGP2.htm

Kinh văn:

Chư Thiện tri thức! Kẻ mê miệng nói, người trí lòng làm. Lại có người mê để lòng trống không, ngồi yên lặng chẳng nghĩ đến việc gì mà nói chính đây là "lớn." Với hạng người ấy, không thể nói gì được, vì họ bị sa vào lưới tà kiến.

Chư Thiện tri thức! Cái tâm lượng thiệt là rộng lớn, châu biến cả thảy Pháp giới, dùng nó liền hiểu rõ ràng. Cái tâm lượng khi ứng dụng ra, thì biết hết thảy cả sự vật. Cả thảy tức quy về một, một tức gồm hết cả thảy, tới lui thong thả, tâm thể suốt thông, không ngưng trệ, tức là Bát nhã vậy.

 

Giảng:

Người mê chỉ biết miệng nói mà không biết thực hành, người có trí huệ chân chánh thân hành thực tiễn mà không tu khẩu đầu thiền. Lại nữa, người mê để tâm không ngồi thiền, cái gì cũng không nghĩ đến mà nói đây chính là "lớn." Những người này đã lạc vào ngoan không, không nên cùng với họ giao lưu tiếp chuyện, vì họ là tà tri tà kiến, không phải là chánh tri chánh kiến, cho nên không cần để ý đến họ.

Ðại sư lại nói:

–Quý vị đều là người có trí huệ. Tâm lượng quảng đại rộng khắp pháp giới, mà pháp giới thì không có gì không bao hàm. Tâm dụng rõ ràng sáng suốt, như gương soi vạn vật, vật đến thì chiếu, vật đi thì không; ứng dụng của nó là biết tất cả, biết tất cả tức là một, một tức là tất cả. Nó biết tự tánh có thể sanh vạn pháp, vạn pháp quy về tự tánh, tự tánh đến đi tự do. Bổn thể của tâm thông suốt, không có ngưng trệ, không có cái gì không thông, chính là minh bạch tất cả, không phải ngu mê, đó chính là Bát nhã.

 

Hằng Thật - Tháng Bảy, 1977

Không ăn bữa trưa quá no

 

Áp lực lớn để tu hành tốt đẹp hơn

Tu Viện Kim Sơn Thánh Tự là một nơi tuyệt vời để tu Đạo. Tại sao?

Bởi vì Tu Viện Kim Sơn Thánh Tự lạnh lẽo, trắng xóa, trống trải và không thoải mái. Có gì tốt về điều đó? Khi quý vị tu hành, cần thiết phải chuyển tâm. Tâm trí trở nên chậm chạp và nhanh chóng bị kiểm soát bởi những thói quen và bám chấp. Khi quý vị bắt đầu tu hành và thanh lọc tâm trí, quý vị cần phải áp dụng rất nhiều áp lực đều đặn lên tâm trí và đừng để tâm trí thoát ra và chạy vào các pháp ở bên ngoài. Tại Tu Viện Kim Sơn Thánh Tự và tại đây, trên xa lộ 101 này, không có gì hấp thụ năng lượng của quý vị. Tất cả đều phản chiếu lại. Không có cái gì mềm mại. Khi quý vị gắng sức lấy chân tạo một lực đẩy vào tâm trí, khi ấy quý vị ở trên mặt đất cứng. Trong môi trường âm tính, thoải mái, có trải thảm, ăn uống no đủ, thì tu hành sẽ khó khăn hơn bởi vì cứ mỗi lần quý vị muốn khiến cho tâm trí tạo ra một cú đẩy ngược trở lại chính nó, thì quý vị lại bị lún xuống cái gì đó mềm mại. Năng lượng của quý vị bị thoát chảy đi bởi những thứ mềm mại và thoải mái. Thật khó để mà siết những con ốc vào cái tâm như khỉ của quý vị.

Nguyên tắc tương tự giải thích về “hội chứng sau khóa tu thiền”. Trong suốt các khóa thiền có rất nhiều năng lượng được hình thành bởi vì việc ngồi đã gây áp lực lên tâm trí. Mọi người thực sự đã rất thành công trong tu hành. Họ thắp sáng bên trong. Nhưng cũng có việc xảy ra rất thường sau khóa thiền là mọi người đột nhiên ngừng dụng nỗ lực lên tâm trí của họ và tất cả năng lượng bị phóng thích, giống như mở con đập ra sau khi nó vừa chứa đầy nước. Năng lượng vọt ra ngoài và mọi người làm những việc hồ đồ mà họ không thường làm. Năng lượng bị đánh mất.

Cái mẹo là luôn luôn phải có một cái gì đó cứng và dương tính để đẩy ra và đẩy liên tục. Bằng cách đó, cho dù quý vị không cảm thấy mình đang tiến bộ - điều mà quý vị rất có thể bị – thì ít nhất quý vị cũng sẽ không bị mất nền tảng.

Hư Vân lão Hòa thượng đã nói rằng Thiền thực hành tham thoại đầu cần được làm giống như một con mèo rình lỗ chuột. Nếu quý vị thực hành bên trong với sự kiện nhẫn và tinh tấn thì quý vị sẽ nhanh chóng,tìm ra điều mà quý vị luôn luôn muốn biết.

 

Bây Giờ Thì Nó Đã Ở Sâu Thẳm Trong Tôi.

Có những sự thay đổi. Tôi cảm nhận một cách khác biệt về mọi vật nói chung, từ bên trong. Bây giờ tôi hiểu từ sâu thẳm trong tôi và tôi không muốn để nó đi nữa. Tôi muốn làm việc này đúng đắn. Tôi muốn thắng trong trận đấu vật này với cái tâm như con khỉ (của tôi). Tôi muốn trí huệ, lòng từ bi, giác ngộ cho tất cả mọi người.

Tôi muốn truyền bá Phật Pháp để giúp đỡ mọi người. Tôi muốn theo gót những bậc vĩ nhân. Tôi muốn báo ân lòng từ của cha mẹ và làm thầy tôi hài lòng.

Để làm bất cứ điều này, đòi hỏi trí huệ chân thực và sự thành tựu tâm linh. Công việc đó ở ngay phía trước tôi trên dải đường đá trộn nhựa đường và bụi bẩn này. Điều đó hẳn là đúng. Tôi có thể nếm được điều đó. Cái ‘vô ngã’ của tôi thực sự muốn giác ngộ và công việc tu hành – càng khó khăn càng tốt. Các lời nguyện của tôi cần phải được hoàn thành. Tôi phải thực hiện sự chỉ dẫn của thầy tôi.

Công việc đang giành lại. Tôi đang làm cuộc cách mạng hóa những thói quen của mình để phù hợp với những giờ lạy chính xác. Sự tập trung thật mong manh và dễ bị phân tán. Việc trở lại chậm chạp. Tất cả những hành vi không lợi ích cần phải triệt để và liên tục điều chỉnh. Điều này có nghĩa là những việc ăn quá nhiều, nói chuyện, mơ mộng, và nhìn ra bên ngoài – tất cả đều vô ích. Chúng phải ra đi.

Tôi sẽ lạy trên con đường này trong định trước khi quay qua hướng bắc tới Xa Lộ số 1. Cứ như vậy. Ta bà ha.

Băn khoăn không hiểu năng lượng đi đâu mất

Trong khi cười nói chẳng giữ gìn.

 

Cảnh giới đẹp.

Tôi đã lạy chừng hai trăm thước với Hòa Thượng đang ngồi kiết già trì chú trong trái tim tôi. Một số người với những thiện căn cực kỳ tốt lành và đã tu hành trong một thời gian lâu xa luôn luôn nhìn thấy Hòa Thượng hiện diện. Họ không bao giờ tách biệt với Ngài. Với những người khác như chúng tôi, vẫn còn có rất nhiều công việc và cần làm sạch trước khi chúng tôi có thể thấy được sự hiện diện của Sư phụ.

Sau đó, sự phân tán xuất hiện và sự tập trung của tôi bị phá vỡ và tôi không còn thấy Sư phụ trong một thời gian. “Sư phụ đi rồi”, tôi nghĩ. “Không sao, khi một niệm không sinh, toàn thể hiện. C tiếp tục và không vọng tưởng. Hãy nhớ những gì Sư phụ đã nói với ngươi trong cú điện thoại đầu tiên gọi từ thành phố Los Angeles rằng ‘Nếu con không khởi lên vọng tưởng, thì ta sẽ luôn ở bên con’ ”.

Ít phút sau, khi phương pháp ấy đã khiến tâm tôi lắng dịu trở lại, tôi nhìn thấy Sư Phụ như lúc nãy, ngồi như như bất động, và tôi nhận ra rằng Ngài đã không đi đâu cả, mà là tôi đã đi! Những tâm niệm đã mang tôi đi khỏi thế giới của tôi và đưa vào một thế giới với những nghiệp hồ đồ và các thói quen xấu. Khi chánh niệm trở lại, tôi trở về với thế giới của sự tĩnh lặng, bình yên.

Thời gian biến mất. Xe vận tải không nhấn còi. Dường như là tôi cũng biến mất. Thanh kiếm Bát Nhã đã chém xuyên qua những chướng ngại lớn lao.

Bí mật của quý vị là gì? Quý vị làm thế nào tìm ra được thế giới hôm nay? À, với tôi, một điều là không ăn bữa trưa quá no trong bốn ngày liên tiếp. Nghe có vẻ phàm tục không? Là ở ngay đó. Đó là sự thật. Trong đó Không có một lời nói.

 

 

Thầy Hằng Triều - Ngày 26 tháng 7 năm 1977

Mỗi ngày là sự khác biệt và không thể đoán trước

 

Đôi khi, chúng ta đi quá nhanh đến nỗi thậm chí không thể thấy chính bản thân mình. Sự liên hệ giữa nguyên nhân và hậu quả bị che mờ đi bởi tốc độ. Khi bị quả báo, đó là một cú sốc lớn. “Tại sao lại là tôi?” “Tôi thật không may mắn”. “Số phận của tôi”. “Có người lại được mọi may mắn”.

Một trong những lợi thế của việc đi thật chậm mà thầy Hằng Thật và tôi có được là nhìn thấy kết quả của những hành động của chúng tôi khi nó còn mới mẻ. Có rất nhiều điều học được và rất nhiều lỗi lầm không lặp lại. Cuộc đời thật ngắn ngủi và vô cùng mong manh. Chúng tôi nhìn nó đến và đi nhanh như giao thông qua lại và đôi khi với giao thông – như trong trường hợp của “những vụ tai nạn”. Vòng luân hồi luôn luôn chuyển trên đường xa lộ và tốc độ gây chết người .

Đạo Đức Kinh (Lão Tử) dạy rằng:

Không ra khi ca, biết vic thiên h.

Không dòm ngoài ca, thy được Đạo Tri.

Càng ra xa,

Càng biết ít. (1)

 

Sự làm chậm lại và nhìn vào nơi mà chúng tôi đặt chân lên trở nên vô cùng quan trọng đối với sự sống sót và phát triển của chúng tôi. Không có gì là rủi ro cả.

Bố thí mà mong cầu hay tham muốn thì có những lỗ hổng. Không tham muốn, bố thí không lưu vết tích, không có lỗ hổng.

Nam, nữ, báo chí, trẻ em, động vật, ma quỷ…v..v… tất cả tới để bố thí hay đón nhận, giáo dục hay khuyên bảo. Điều đó vô tận. Khi tôi tràn đầy với cái “tôi”, thì tất cả chúng đều là gió. Chúng khuấy động ham muốn của tôi về danh vọng, thực phẩm, tình dục, giàu có hay dễ dãi và một khi mở ra, liền có lậu thoát.

Nếu tôi có thể từ bỏ khỏi cái “t ngã” lớn lao, thì tất cả những người này và tôi đều như nhau – những chúng sanh cần được giúp đỡ và hỗ trợ, những người có thể giúp và hỗ trợ người khác. Cho hay nhận, chúng ta đều đang chỉ ra Đạo và đang được chỉ cho biết về Đạo.

Một người thanh niên, vẻ cứng cỏi và lạnh lùng, kiểu nam tài tử James Dean, dừng lại và nói "Trò gì vậy?”

“Xin lỗi”, tôi nói.

“Cái gì, à, giống như những gì các anh làm?”

Khi tôi giải thích, anh ta dò xét khắp chúng tôi, từ trên xuống dưới, lướt t thầy Hằng Thật rồi tr lại tôi. Áo choảng, y giới, cái đầu – anh ta không bỏ sót dù là một chi tiết nhỏ nhất. Và, trong lúc đó chúng tôi tìm hiểu sự lạnh lùng. Điếu thuốc chưa đốt trong tay anh ta (cái “phong cách người đạo diễn”) thêm không khí mong đợi vào khung cảnh. Cuối cùng, anh ta nói, “Rất có lòng! Đó là tất cả những gì mà tôi có thể nói. Các anh rất có lòng”. Không áo, anh ta phơi bày một bộ sưu tập đắt tiền với những hình xăm tục tĩu ở khắp thân và cánh tay, và một cái mũi bị gẫy làm mặt anh ta bầu ra.

Tôi đưa cho anh ta một bản thông cáo . Anh ta nói, “Không, không”, lui đi và tay ra hiệu giống như trọng tài bóng chày gọi “an toàn” ở điểm hai (second base).

Không thể tìm hiểu được, nhưng các anh rất có tâm”.

Anh ta nghênh ngang và khệnh khạng bỏ đi, vẫn quay điếu thuốc lá chưa đốt với những ngón tay, trèo lên xe tải rồi lái đi mất.

 

Tôi có cảm giác một bàn tay đặt lên lưng tôi và nghe thấy một giọng than vãn, “Chúa ơi, hãy nhìn xuống xem người tội lỗi này…” Một phụ nữ to, béo một tay đặt lên người tôi, tay kia giơ lên trời, đôi mắt cuốn ngược vào và nửa khép lại, bà ta đang làm việc của bà, tay chạm vào tôi.

“Xin lỗi, thưa bà”.

“Hả, cái gì?”

“Bà cầu nguyện cách của bà và tôi sẽ cầu nguyện cách của tôi. Được chứ? Và bà vui lòng không chạm tay lên tôi khi tôi đang cầu nguyện”.

“Ồ, được rồi”. Bà ta nói và quay trở lại với dáng bộ rửa tội và trục tà âm thầm hơn. Đang trong lúc này một người đàn ông tên là Charles mang đến mấy chiếc bánh ngọt chiên, xúc xích hun khói, và xin tất cả chúng tôi cầu nguyện cho anh ta. Đôi khi, mọi thứ có thể trở nên thật lạ ở bên trong và bên ngoài đây.

 

Một người đàn ông làm việc ngay gần nhà máy điện Edison và vợ đi tới cúng dường trái cây, một số hạt và nước trái cây. “Tất cả những người đàn ông đang nói chuyện về các anh. Tôi sẽ lấy bản thông cáo này và dán lên ở nhà máy”.

 

Một chiếc xe dừng lại, một người đàn ông rảo bước nhanh tới và nói, “Tôi nghĩ việc các anh làm thật là cao cả. Tuyệt vời! Cần có nhiều người hơn như các anh. Cảm ơn các anh rất nhiều”.

 

Hồi hướng công đức vào lúc cuối ngày trên đại lộ Harbor. Một chiếc xe chở đầy những người thô bạo, đã ra ngoài uống rượu xong, họ dừng xe lại phía trước chúng tôi. Một thanh niên trẻ tuổi vạm vỡ đáng kinh ngạc, “Xin chào, tên tôi là Lonny. Bắt tay!” anh ta yêu cầu. Chúng tôi bắt tay và cố gắng chấm dứt. “Gì đây hả?” Anh ta dai dẳng.

“Thứ lỗi cho tôi nhé, Lonny, chúng tôi đang thực hiện một buổi lễ cầu nguyện đặc biệt, thế nên anh có thể chờ vài phút nhé”.

“Hả? Ồ, được, chắc chắn rồi”, anh ta lẩm bẩm và loạng choạng bước trở lại chiếc xe.

Ngay lúc đó, một chiếc xe khác tới dừng lại phía đằng sau. Cha mẹ của một nữ tu ở dòng tu tại thành phố Santa Barbara mang đồ tới cúng dường và những lời động viên. Thực sự thanh khiết và chân thành. Chúng tôi lại xin lỗi lần nữa và kết thúc.

 

Chúng tôi càng xa hơn Los Angeles, càng gần hơn tới cái mà không ai trong chúng tôi đã từng kinh nghiệm hay nhớ đến. Vùng quê dường như đang mở và trải rộng ra với tâm trí của chúng tôi. Mỗi một ngày thật khác biệt và không đoán trước được. Nhưmg, việc lạy và trì niệm thì không thay đổi. Chúng tôi đang nhận ra rằng, cái mà chúng tôi nhìn thấy và kinh nghiệm là một sản phẩm của tâm trí chúng tôi. Mỗi niệm cũng giống như mảnh đất mới, chưa thám hiểm, đầy nguy hiểm và bài học. Và, thỉnh thoảng chúng tôi có thể nhìn thấy “Chư Phật thường trụ khắp mười phương”. Tôi nghĩ, chúng tôi đều có chút ít thành thật hơn và bớt đi thêm chút kiêu ngạo, mỗi ngày một quyết tâm hơn và luôn luôn hạnh phúc khi đi trên đường Đạo.

Tất cả những quốc-độ

Ðều tùy nghiệp-lực sanh

Các ngài nên quan-sát

Tướng chuyển biến như vậy.

 Kinh Hoa Nghiêm. Phẩm Thế Giới Thành Tựu

 

Ghi chú:

(1) Nguyên văn Hoa ngữ:

不出戶,知天下;
不窺牖,見天道.
其出彌遠,其知彌少.

Bất xuất hộ, tri thiên hạ﹔
Bất khuy dũ, kiến thiên đạo.
Kỳ xuất di viễn, kỳ tri di thiểu.

Đạo Đức Kinh - Chương 47.

 

Hằng Thật - Tháng Bảy, 1977

Việc ngủ gật lúc ngồi thiền sẽ từ từ biến mất đi

 

Tất cả là đau đầu gối.

Khi quý vị ngồi Thiền, cái đau đầu gối và lưng tạo ra sức ép để mở những ống dẫn sét rỉ của quý vị để cho dòng năng lượng lưu chuyển đúng cách. Đó là cái đau. Tại sao? Vì vấn đề là cần ngồi cho yên lặng trong khi thực sự rất đau. Bất cứ chuyển động nào cũng sẽ khiến đau thêm.

Không lâu sau đó, quý vị sẽ thấy rằng sự chuyển động khởi đầu từ trong tâm của mình. Để giảm đau, hãy giữ cho tâm trí tĩnh lặng. Thắng rồi! Một cú phá vỡ xuyên thủng qua và cơn đau biến mất.

Cái đau là nhiên liệu để tiến bộ tâm linh và khai ngộ. Nếu quý vị không thể chịu đau, thì rõ ràng là quý vị bị đau rất nhiều và việc không thể chịu đau này lại vô ích. Nếu quý vị luôn luôn chuyển động chân của mình khi bị đau trong khi ngồi thiền, thì nó cũng vô ích giống như trong cuộc phẫu thuật vết mổ được mở ra mà lại không cắt đi được phần bị bệnh.

Cứ lặp đi lặp lại mãi: Những vết thương ở bên trong và ngoài với cùng một căn bệnh ở bên trong. Hãy cắt sạch đi và chữa lành. Hãy ngồi yên!

 

Khi quý vị lạy trên xa lộ, quý vị cần phải tự tạo áp lực cho chính mình để giữ tâm trí yên lặng. Việc xe cộ qua lại là cái đòn bẩy tốt, mặt trời và gió cũng vậy. Nhưng có thể né tránh chúng mà không phải mất quá nhiều nỗ lực. Cần phải có áp lực thực sự. Áp lực này đến từ những lời nguyện, quyết tâm và từ sự tu hành đầy nghị lực.

Ông không thể không làm việc, Quả Chân! Hãy lạy đàng hoàng! Đừng ngủ gật nữa!

 

Một khám phá quan trọng nhất trong ngày của những khám phá vui vẻ: Các mảnh bài giảng phối hợp lại với nhau giúp giải quyết vấn đề kéo dải ba năm qua của tôi. Từ khi tôi xuất gia, mỗi khi ngồi thiền là tôi ngủ gật. Sau khi ngồi được chừng năm phút, một năng lượng u ám, mơ hồ, mờ mịt choán khắp đầu tôi. Đôi khi, sau một ngày căng thẳng, việc ngủ gật thật dữ dội đến nỗi tôi bị té ngã , rơi ra khỏi ghế thiền! Đó là một sự đáng tiếc, biến việc ngồi thiền thành một kinh nghiệm đau đớn, đầy ngờ vực, không giác ngộ một chút gì cả.

Trong chuyến hành hương, tôi gặp phải vấn đề tương tự. Tôi đã hỏi Sư phụ và Ngài nói rằng việc đó sẽ từ từ biến mất đi. Nếu có thể ngủ, tỉnh dậy và tiếp tục ngồi, thì cứ làm như vậy.

 

 Đây là một số mảnh giáo pháp đã phối hợp lại với nhau trong ngày hôm nay:

1.      Tôi đang dụng công trong việc “xoay ánh sáng trở lại (hồi quang phản chiếu)”, theo đúng nghĩa là theo dõi tất cả những vọng tưởng về tới tận cùng gốc gác của chúng và kéo trở lại một phần “ánh sáng (quang)” hay năng lượng mà chúng đã mang đi.

2.      Tôi đang thực hành quán niệm về cái “số không (zero)” của tôi, trung tâm năng lượng của cơ thể tôi. Đây là nơi mà ánh sáng quay trở lại khi tôi mang ánh sáng trở lại. Trung tâm năng lượng của tôi đã phát triển ấm áp hơn mỗi ngày khi sự tập trung của tôi trở nên nhạy bén.

3.      Tôi trở nên khéo léo hơn với thanh kiếm bát nhã, chém đứt mọi ý tưởng bất chợt. Tâm trí trở về với cảnh giới tỉnh táo rỗng lặng. Cách thực hành này đem lại rất nhiều ánh sáng và được đưa xuống vùng trung tâm.

4.      Sư Phụ giải thích “ngọn lửa vô minh” cuối tuần vừa qua tại Chùa Kim Sơn Thánh Tự và điều này đối nghịch với trí huệ. Khi quý vị bắt đầu tu đạo, năng lượng mà quý vị sử dụng vào sự nóng giận hay ham muốn thì được dùng làm nhiên liệu cho trí huệ. Nó cần phải được chuyển hướng, kềm chế, làm tan chảy và rồi được dẫn về nơi vị trí vốn của nó. Quá trình này cần có thời gian.

5.      Đây là mấu chốt quan trọng. Tôi đã đảo ngược những ý tưởng của mình về danh và các bản tin tường thuật về chuyến đi và đã nhận được một lượng lớn năng lượng từ việc này. Nếu tôi có thể xoay năng lượng hướng ngoại của tôi trở vào trong, thì đó có thể là điều mà tôi cần cho sự giác ngộ. Sư Phụ đồng ý, và nói tôi hãy sử dụng nỗ lực của mình trong việc thực hành phương pháp này.

 

Chiều nay khi tôi lạy, tôi quan sát những dục niệm của mình để chặt đứt chúng đi, và nắm bắt lấy lại ánh sáng của chúng. Những dục niệm đã giảm đi rất nhiều trong suốt ba tháng qua, thật hạnh phúc, và tôi đã không có nhiều cơ hội để sử dụng sức mạnh của mình. Tôi thiền và ngủ gật trong lúc nghỉ ngơi, vẫn như mọi khi.

Sau một ngày làm việc, tôi ngồi chờ cho đến lúc ngồi thiền tiếp theo và đột nhiên hiểu ra. “Ngọn lửa vô minh” chỉ là dục niệm chưa được dẫn lưu đúng. Đó đều là những năng lượng bị lãng phí. Đó là điều đã làm hủy hoại việc thiền định của tôi suốt ba năm qua! Đó chính là ý mà Sư phụ nói đến! Bây giờ thì tôi đã có cách để đối phó với nó rồi, để lấy lại năng lượng bị lãng phí. Ôi chao! Vọng tưởng phát khởi và “chém” một đường kiếm rồi “chuyển” qua hơi thở và chánh niệm “hồi quang”. Đoán xem điều gì đã không xảy ra? Tôi đã không ngủ gật! Lần nữa vọng tưởng lại tăng trưởng và lại sử dụng thanh kiếm. Mỗi lần tôi sử dụng Pháp môn tuyệt vời này thì thay vì buồn ngủ, tôi lại tỉnh táo hơn, tập trung hơn bởi vì năng lượng đi về lại chỗ của nó, quay trở lại trung tâm. Ôi, năng lượng! Không buồn ngủ! Thật là tốt đẹp! Nam mô A Di Đà Phật!

 

Dụng công mọi lúc.

Mục tiêu tiếp theo, có hiệu lực ngay lập tức: tôi muốn chú tâm và tinh tấn trong kiếm thuật Bát nhã suốt cả ngày lẫn đêm.

Khi tôi có thể chấm dứt những vọng tưởng trong khi đang ở giữa vọng tưởng và làm được như vậy suốt cả ngày – suốt cả tuần – và đối phó hữu hiệu với những thử nghiệm mà chắc chắn sẽ đến, thì tôi sẽ sẵn sàng bắt đầu thực sự thực hành Trung Đạo. Cứ tiếp tục lạy.

Ngày hôm nay tôi khám phá ra rằng “phản bổn hoàn nguyên” (quay trở lại gốc rễ và trở về cội nguồn) là một cảnh giới vượt ngoài ngôn từ. Tôi đã thầy một hình ảnh rõ ràng về hướng đi mới của tôi. Đó là sự quay trở lại của tâm trí và cơ thể về cái tuổi trước tuổi dậy thì, cái tuổi của sự ngây thơ trước khi tôi chìm đắm lặn sâu vào trong thế giới ô trược. Điều này thực sự đang diễn ra theo những cách rất quan trọng. Tôi đã đạt được mức độ rõ rảng mà tôi nhớ được từ nhiều năm trước.

Điều này giống như quay trở lại cuốn phim lịch sử bản thân, chỉ có lúc này với ý chí và mục tiêu. Còn nhiều nữa.

 

 

Hằng Triều - 27 tháng 7, 1977

Mạng sống của chúng ta thật mong manh

 

Ở giữa Oxnard và Ventura, trên đại lộ Harbor, vị mục sư của phái Universalist (Phổ Độ) lái xe đi ra ngoài cùng với một người bạn để kiểm tra và sửa hộp số xe của chúng tôi. Ngay khi ông ta đang bước tới, một vụ đụng xe khủng khiếp xảy ra cách chừng hai mươi thước. Vụ đụng xe ở ngay bên cạnh chúng tôi. Chúng tôi đã trông thấy tất cả và không thể làm được gì. Giống như là việc xảy ra ở trong phòng của quý vị – kiểu cảm giác về sự liên hệ. Chúng tôi nhìn thấy những phần của xe hơi, kiếng bể và kim loại, nhăn nhúm và tung tóe. Và chúng tôi bất lực ngồi nghìn các thân người bay xuyên qua tấm kiếng chắn gió và bay ra khỏi cửa xe. Tất cả những gì chúng tôi có thể làm là nhìn. Thầy Hằng Thật và tôi hướng dẫn giao thông, trong khi ông Louis gọi xe cứu thương và cảnh sát bằng chiếc máy điện đàm vô tuyến của mình. Hai nạn nhân đổ gục chồng lên nhau, nửa người vắt lên trên đống kim loại bị xoắn lại, đổ nát. Họ thực sự ở trong hình dạng rất tệ hại. Một người đã chuyển sang màu xanh trắng rồi. Việc xảy ra quá nhanh.

Mạng sống của chúng ta thật mong manh.

Thầy Hằng Thật suýt nữa thì bị một chiếc xe lái nhanh và ẩu đâm vào. Người lái xe lái thẳng vào chúng tôi với vẻ mặt không một chút thay đổi. Anh ta nhìn chòng chọc vào chúng tôi – gần như là anh ta muốn đụng chúng tôi. Ông Louis cố gắng ra hiệu anh ta chậm lại nhưng anh ta phóng thẳng qua. Ai biết được lúc nào thì chết đây?

Một người đàn ông má đỏ ửng, tóc xoăn dài thò đầu vào trong xe chúng tôi khi chúng tôi đang ăn. “Tôi đã nhìn thấy nhóm của các anh ở dưới thành phố Willits, và trời ơi, sau đó chúng tôi không chú ý đến và họ đã đi xa đến vịnh Coos Bay Oregon”. “Hả?” cả hai chúng tôi đều hỏi. “Rất lịch sự, những người ấy, cũng vậy”, anh ta nói thêm.

Cuối cùng chúng tôi hiểu ra rằng anh ta nói chuyện về chuyến lễ lạy hành hương của thầy Hằng Cụ và Hằng Do đã thực hiện vài năm trước. “Tôi cảm thấy tội nghiệp cho họ”.

“Tại sao mà anh cảm thấy tội nghiệp cho họ trong khi họ rất là an lạc?” chúng tôi hỏi ông.

“Này, hẳn nhiên là an lạc rồi! Nhân tiện, tên tôi là Vaughn. Các anh độ chừng,bao lâu sẽ tới được San Francisco vậy?”

“Tôi không biết. Có thể mất một năm rưỡi, Vaughn. Tại sao anh không cùng lạy? Đây là đường xa lộ lớn, rất rộng chỗ. Anh thấy thế nào?”

“Hê hê hê. Không phải cho tôi, cảm ơn. Tôi nặng hơn 325 pound (147 kg) . Tôi cần phải giảm xuống cỏn 265 (120kg)”.

“Khi chúng ta về tới Vạn Phật Thánh Thành, anh sẽ giảm hết tất cả tr5ong lượng dư thừa”.

“Hê, hê. Ngoài ra, tôi cần phải chặt củi đốt để mọi người không bị lạnh cóng trong mùa đông này. Tôi cá rằng lạy kiểu như thế này là một công việc thật cực nhọc khó khăn,. Nghe này, các anh hãy cẩn thận. Chúng tôi chặt củi ngay dưới con đường này. Chúng tôi sẽ trông chừng cho các anh. Bây giờ thì chúc các anh may mắn!”.

“Cảm ơn, Vaughn. Hẹn gặp lại anh sau”.

 

Hai người đàn ông trên chiếc xe máy dừng lại khi chúng tôi đang ngồi thiền cách đường xa lộ không xa lắm. “Đạo Phật dạy điều gì? Các anh làm gì vậy?” họ hỏi. Chúng tôi nói chuyện một chút và đưa cho họ một bản thông cáo. Sau khi họ đi, tôi đột nhiên nghĩ lại là nên nói rằng “ Đây. Hãy ngồi xuống chiếc thảm này với chúng tôi và xếp chéo chân, thanh lọc tâm trí” như là câu trả lời cho những câu hỏi của họ. Nó tự nhiên và trực tiếp hơn tất cả những lời nói cũ kia. Hãy cùng nhau làm việc!

Một ngày khác, ông Shao và Quả Jing lạy cùng chúng tôi chừng một tiếng rưỡi trên một địa hình khá gồ ghề. Đó là Đạo Phật!

Hãy chú tâm và làm đi! Dù thế nào thì những ngôn từ nói được gì về Đạo Phật? Đặc biệt là những lời nói của tôi.

Hai người bạn của gia đình của một người đàn ông trong vụ đụng xe dừng lại.

“Cảm ơn các anh đã giúp đỡ, hướng dẫn giao thông”.

“Họ thế nào?” tôi hỏi.

“Một người đã không qua được. Anh ta chết rồi. Còn người kia thì thực sự rất tệ - xương gãy rất nhiều, nhưng anh ta có thể qua khỏi”. Họ cúng dường.

“Cảm ơn các anh lần nữa” và họ rời đi.

Tôi nhìn lại phía sau nơi đụng xe. Tất cả những gì còn lại là rất nhiều miếng kiếng bể và những mảnh nhỏ của xe hơi, một cái mũ và một mắt kiếng bế nát. Giao thông lưu chuyển với tốc độ như bình thường, và chúng tôi thì lạy trở lại. Một số cuộc sống thì dường như không thay đổi, và một số dường như thay đổi.

Nhưng tất cả chúng ta đang liên tục thay đổi và đều chết như nhau, “sớm hơn mình tưởng”.

Không có nhà để về hay nơi nào đó để đi, kiểu của chúng tôi là nơi đâu cũng là nhà. Vì thế, khi ai đó chết ngay bên cạnh chúng tôi, việc đó giống như trong gia đình. Chúng tôi cảm nhận sự mất mát, và sự gần gũi về cái chết của chính chúng tôi.

 

 

Hằng Triều . Ngày 28 tháng 7, 1977

Đã giúp tôi vượt qua lúc khó khăn

Bên ngoài nhà máy xử lý nước Ventura – một số công nhân trẻ chừng mười tám tuổi dồn dập hỏi chúng tôi từ phía bên kia của hàng rào dây thép gai.
“Những thói quen xấu là gì”
“Trộm cắp, giết hại, nói dối, ma túy và rượu, tà dâm”.
“Ôi, những thứ đó”.
“Nhưng các anh chỉ có hai người thôi. Thế giới là cả một mớ hỗn độn. Các anh có thể làm được gì?”
“Cũng giống như đám cỏ dại này – bãi cỏ là một mớ hỗn tạp. Nếu các anh chỉ ngồi đó và nhìn vào chúng, thì bãi cỏ này vẫn cứ là một đám hỗn tạp. Nếu một người bắt đầu nhổ cỏ dại, sẽ mất một tuần lễ để làm sạch cỏ dại. Nếu mười người làm, thì có thể chỉ mất một ngày. Nhưng ai đó cần phải bắt đầu làm việc ấy”.
“Là tu sĩ, công việc của các thầy là gì?"
- Chúng tôi giải thích -
“Trời! Điều đó giống như chết vậy”
“Đúng”, một người khác nói. “Đặc biệt là không có bạn gái và không có tiền. Ý tôi là, đó là những lý do mà chúng ta ở cuộc đời này – phụ nữ và công việc. Cuộc sống là vậy, phải không?”
“Và khi các bạn trở nên quá già để quan tâm đến việc theo đuổi phụ nữ và dể làm việc kiếm thật nhiều tiền, rồi lúc đó tất cả những câu hỏi quan trọng là: tất cả những việc này là vì cái gì và tôi sẽ đi về đâu – rồi tất cả những câu hỏi này đổ xuống các bạn. Lúc ấy thì thế nào?”
- Yên lặng, không đùa cợt -
“Nhưng, các thầy cần tiền và những việc đó của nhà sư có vẻ thật nhàm chán”.
“À, có nhiều thứ không luôn luôn giống như mình thấy”
“Ý thầy là gì?”
“Tôi đã từng nghĩ cha mẹ tôi thì nhàm chán, một loại chán ngấy còn bạn bè thì thú vị – những người bạn mà tôi đã thường đi hoang với họ. Giờ thì tôi biết rằng chính cha mẹ tôi mới thú vị còn tất cả những người bạn tốt đi hoang một thời của tôi đang suy kiệt ở tuổi ba mươi, rỗng tuếch và chẳng đi đến đâu cả”.
- im lặng -
“Vậy chứ vụ Phật này thì có thú vị phải không?”
“Ư hừm, Khắp mọi nơi”.
“Các thầy có được trả tiền không?”
“Cái bên trong, đó mới là nơi thực sự đáng kể. Trong suốt một thời gian dài tôi tưởng có một việc làm tốt và có tiền là mục đích. Tôi đã làm rất nhiều công việc cho những người khác và cho dù họ có trả cao đến mấy, họ sẽ luôn luôn là người điều khiển và nếu mình không có cái tâm trong đó, mình sẽ chẳng đi đến đâu cả. Mình có thể chết về tâm lý ở tuổi ba mươi và đem chôn ở tuổi sáu mươi”. (1)
“Các anh biết đấy, thế gian có lẽ sẽ không phải là nơi tồi tệ để sống như thế này nếu mọi người đều không phạm năm giới luật mà các thầy đang giữ”.
“À, chúng tôi phải đi lạy đây”.
“Một câu hỏi cuối cùng. Tại sao các thầy không ăn thịt?”
“Để trở nên từ bi và không giết hại những chúng sanh khác”.
“Nhưng, nếu chúng ta không giết loài vật, thiên nhiên sẽ trở nên lộn xộn hết cả - mất cân bằng”.
“À, chúng ta đang sát sanh (giết hại), và điều đó đem lại gì cho chúng ta? Hãy nhìn thế giới hiện nay”.
“Hừm”.
“Đúng, chúc may mắn, cảm ơn quý thầy đã nói chuyện với chúng tôi”.
“Này các thầy, thực sự có rất nhiều Phật như thế sao?”
“Bao nhiêu?”
“Thầy biết mà, mười ngàn”
Một giọng nói lớn tiếng làm gián đoạn cuộc đối thoại, “Này các anh, quay trở lại làm việc”, và tất cả chúng tôi đều cùng quay lại làm việc.

Morris Heck, một kỹ sư hải quân, làm việc tại căn cứ Pt. Mugu, hàng ngày anh ta đến với một chút đồ cúng dường, một nụ cười và những lời nói tốt đẹp. “Các thầy biết không”, anh ta nói, “Tôi không nghĩ tôi có thể giải thích được bởi vì tôi không thực sự hiểu gì về nó, nhưng mà – đây là một tuần thực sự khó khăn đối với tôi về mọi việc.Kinh hoàng lắm, thực như thế.
Và không hiểu sao, việc mang vài thứ ra ngoài này cho các thầy đã giúp tôi vượt qua được tuần này. Tôi cảm thấy tốt đẹp hơn và hạnh phúc hơn. Kiểu như là đã tạo cho tôi những ngày suôn sẻ và giúp tôi vượt qua lúc khó khăn”. Anh ta đứng đó, lặng lẽ, nhìn chăm chú nơi khác khoảng vài giây, rồi sau đó, như tỉnh lại, vui vẻ nói, “Hẹn gặp lại các thầy sau nhé”, mỉm cười và lái xe đi.

Khi chúng tôi mở cửa xe vào lúc cuối một ngày dài lễ lạy vất vả, chúng tôi thấy hàng nghìn dòng kiến ở khắp bên ngoài và bên trong mọi thứ.
Chúng tôi quay lại với những thói quen cũ của mình, và nhìn chúng như thể là mối phiền toái và “những côn trùng phá hoại”. Mặc dù đã cố gắng cẩn thận, nhưng vẫn rất nhiều con bị chết và bị thương trong sự điên cuồng đuổi chúng đi của chúng tôi. Chúng tôi thổi và quét nhẹ bằng khăn ăn, nhưng có quá nhiều và cuối cùng, chúng tôi có cảm giác rằng, “Này, chúng ta đang giết những chúng sanh nhỏ bé này. Điều này là sai trái”.
Chúng tôi đi ngủ trễ, cảm giác như thể vừa bị trượt bài khảo nghiệm về lòng từ bi – kiên nhẫn – chính là điều mà chúng tôi đang lễ lạy để đạt đến. Đây là vài ví dụ! Tôi tỉnh dậy suốt đêm bởi kiến bò khắp người– thỉnh thoảng lại cắn vào chú sa di rất mệt mỏi và xấu hổ này.

 

Ghi chú:

(1) Nguyên văn: You can die at thirty and be buried at sixty.

- Có nghĩa rằng bạn có thể sống thêm 30 năm (sau khi kết hôn) nhưng sống như người chết còn sống. Đây là câu một tu sĩ Thiên Chúa Giáo đã dùng khi nói đến những gì xảy ra cho những thanh niên kết hôn lúc còn quá trẻ, trước khi họ khám phá ra tiềm năng của chính họ. (Meaning, you can live for 30 more years (after you get married) but it's as if you were a living dead person. This is a phrase a Catholic priest used when referring to what happens when young men get married too young, before they discover their own potential. )

- Còn có nghĩa rằng có người đã chết đối với những kỳ diệu và phong phú của cuộc đời ngay lúc còn trẻ bởi vì chấp nhận những thói thường theo lối mòn và rỗng tuếch, đó là họ chết về tinh thần. Sau đó họ sống những năm còn lại nhưng về tinh thần thì đã chết, mặc dầu về thể xác thì vẫn còn sống; nhưng không còn sự phát triển, chuyển hóa, thật sự như là đã chết. Hòa Thượng Tuyên Hóa gọi những người này là "những người sống đã chết" ("dead living people"). The meaning is that some people die to life in all its wonder and richness at a young age by settling into ruts and empty routines; that is they die in spirit. They then live out the remaining years spiritually dead, though physically still alive; but there is no growth, transformation, really, just like being dead. Shifu called them "dead living people."

 

 

Hằng Thật - Tháng 7, 1977

Đá là đá và nước là nước

 

Biết đủ.

Hôm nay, trong một phút chốc, tôi nhìn thấy những nơi mà tất cả chúng sanh kết nối với nhau và với Phật tánh. Tôi nhìn thấy lục căn, lục thức, ngũ uẩn, tất cả giống như là một hệ thống mạch riêng lẻ, nhỏ bé như một lỗ chân lông ở trên Pháp thân to lớn, tịch tĩnh của Đức Phật. Bị lầm lẫn bởi các giác quan là điều đáng thương. Đó là sự nhầm lẫn dây điện là ánh sáng, nhầm lẫn vòi nước ở bồn rửa là đại dương.

Tôi đã thấy rằng những giác quan như là những sợi tóc trong bóng đèn và Phật tánh giống như là nơi mà năng lượng trong những dây điện đến từ nơi nào ai biết được; nó luôn luôn đi vòng quanh, vòng quanh, chờ đợi để được khai thác và sử dụng để soi sáng cuộc đời. Những sợi tóc bóng đèn dễ gãy vỡ của chúng ta thì không đặc biệt, không quý giá. Chúng có thể làm cho có ánh sáng, nhưng rồi chúng cũng bị cháy rụi trong một thời gian ngắn. Chúng không phải là năng lượng Phật quang thường trụ và thanh tịnh.

Ánh sáng đó là tâm chân thật tụng chú và quán niệm Phật pháp, và nó sản sanh ra vạn vật. Cảm giác thật tốt đẹp khi ở nhà. Chẳng bao lâu, bóng đèn của tôi bắt đầu nói chuyện. Tôi đã lỡ hụt một nhát kiếm và mọi thứ đã đi rồi. Nắm bắt các tướng của nó đã đẩy những đám mây vào lối đi và vì vậy nó biến mất. Tuy nhiên, trong khi nó hiện hữu thì rất tuyệt vời. Đó gọi là “biết đủ”. Mọi thứ vốn đã viên mãn, tĩnh lặng và thường trụ bất động.

 

Buông bỏ các Pháp tướng

Tôi thấu hiểu được bài kệ của Pháp sư Thần Tú và tôi đang thực hành theo đó trong hiện tại:

Thân thị Bồ đề thọ,
Tâm như minh cảnh đài,
Thời thời cần phất thức,
Mạc sử nhạ trần ai. (1)

(Thân là cây Bồ Đề,
Tâm như đài gương sáng,
Giờ giờ cần phủi sạch,
Chớ để vướng bụi trần.)


Đó là những gì tôi có thể giải quyết hiện giờ. Tôi quan sát tâm trí và “tách rời khỏi mọi tâm niệm ngay giữa những tâm niệm”. Có những lúc, tôi đánh mất các ý niệm về tự ngã và hòa nhập vào mọi vật. Và ngay đó thì bế tắc ngay. Sự hiểu biết của Lục Tổ vượt trội Pháp sư Thần Tú. Ngài nói rằng:
 

Bồ Đề bổn vô thọ,
Minh cảnh diệc phi đài,
Bổn lai vô nhất vật,
Hà xứ nhạ trần ai? (2)

(Bồ đề vốn không cây,
Gương sáng cũng chẳng đài.
Xưa nay không một vật,
Chỗ nào vướng bụi trần?)


Pháp sư Thần Tú vẫn chưa buông bỏ và chưa nhìn thấu suốt các Pháp. Tam Giới (3) vẫn là nhà giam. Đá là đá và nước là nước. Ngài vẫn còn phân biệt các pháp.

Bước tiếp theo là thông qua thực hành. Thực hành và hiểu biết rõ ràng không phải là hai. Tôi có niềm tin và minh chứng rằng vạn vật xuất phát từ tâm, bao gồm cả đường xa lộ, xe vận tải, không khí, đại dương và những con kiến. Nhưng tôi lại không có đủ thần lực cần thiết để cắt xuyên qua ảo ảnh và nhận ra thật tướng. Điều đó cần tu hành chăm chỉ và kiên nhẫn đầy đủ như lúc mới bắt đầu. Nam mô thường trụ thập phương Tam Bảo. Con quy y và quy mạng lễ bây giờ và mãi mãi. Nguyện cầu cho con được thanh tịnh trong việc phụng sự tất cả chúng sanh.

 

Nóng.

Ba bước một lạy có nóng không? Chúng tôi phải nhớ đặt những cây đèn cầy nằm xuống nếu không lúc quay lại sẽ thấy chúng tan chảy như bánh quy xoắn (pretzels) vậy.

 

Nguyện chấm dứt ham muốn tình dục.

Ham muốn tình dục là nguồn gốc của vô minh. Khi quý vị tìm kiếm quan hệ tình dục, ngay cả trong những hình thức vi tế, quý vị có một cái ngã, có sự bám chấp, và tất cả rắc rối của quý vị bắt đầu. Quý vị không thể phản ứng một cách vẹn toàn với cuộc sống. Có một điểm dính mắc, nó bám và móc chặt vào cái bản ngã, cảm giác về bản thân và gây ra nỗi đau. Đây chính là cái tách rời quý vị ra khỏi đức Phật. Dục niệm không thật. Nó là hạt cát giữa các bánh xe răng cưa, là hạt bụi trên gương, là những gợn sóng trên mặt hồ.

Nếu quý vị không có ham muốn tình dục, không có dù chỉ một dấu vết cực nhỏ về nó, thì quý vị có gì cần phải che giấu? Còn chỗ nào mà quý vị cảm thấy sợ hãi, xấu hổ hay đau đớn? Quý vị sẽ chỉ là phản ứng thanh tịnh, ánh sáng thanh tịnh và hoan hỷ thanh tịnh.

Do có cái thấy về sự chân thật này trong buổi sáng nay, tôi mong muốn phát lời nguyện như sau, “Đối trước chư Phật và Bồ Tát trong mọi phương, mọi thời gian, đối trước Hòa Thượng trụ trì, đại chúng và chư vị Hộ pháp khắp nơi, con long trọng nguyện rằng con sẽ không bao giờ tìm kiếm tình dục, hay tán tỉnh hay sinh hoạt tình dục với bất kỳ một chúng sanh nào ở khắp Pháp giới, suốt khắp mọi thời gian không giới hạn. Con mong mỏi quay trở lại với bản nguyên thanh tịnh và phục vụ tất cả chúng sanh mà không có ham muốn tình dục ích kỷ. Con hoàn toàn từ bỏ mọi nhân duyên và những hành vi nhiễm ô giữa nam và nữ và sám hối tất cả tà hạnh trong quá khứ. Cầu mong rằng con sẽ không bao giờ liên hệ với nghiệp chướng của ái dục dưới bất cứ hình thức nào. Con nguyện phát lời nguyện này trong các kiếp tới và cầu nguyện Chư Phật, Bồ Tát sẽ từ bi nhiếp thọ con và chứng giám cho con lời nguyện này. Cầu mong rằng con sẽ đi cùng tất cả chúng sanh ra khỏi sự si mê và thể nhập vào sự Giác ngộ”.

 

Vị Thầy không có giới hạn.

Một trong những thứ hiểu ngầm mà tất cả chúng tôi ở chùa Kim Sơn Thánh Tự cùng chia sẻ đó là chúng tôi được học theo một vị thầy không có giới hạn. Cho dù quý vị có muốn đi xa đến đâu trong việc thực hành tâm linh của mình, Hòa Thượng đã đến đó và cũng có thể chỉ dẫn cho quý vị tới đó. Giới hạn duy nhất chính là tâm trí của quý vị. “Chư Phật chỉ chỉ ra con đường, còn chính chúng ta phải tự đi." (4).

 

Ghi chú:

(1) Nguyên văn Hoa ngữ:

身是菩提樹

心如明鏡台

時時勤拂拭

莫使惹塵埃

(2) Nguyên văn Hoa ngữ:

菩提本無樹

明鏡亦非台

本來無一物

何處惹塵埃

(3) Tam giới (The Triple World) - Dục giới, Sắc giới và Vô Sắc giới. Xin xem thêm http://vi.wikipedia.org/wiki/Tam_gi%E1%BB%9Bi

(4) Nguyên văn Hoa ngữ: 佛指引我們這一條道路,但是要我們自己邁向這大道 - Phật chỉ dẫn ngã môn giá nhất điều đạo lộ,đãn thị yếu ngã môn tự kỷ mại hướng giá đại đạo.

 

Hằng Triều 29 tháng 7 năm 1977

m một người buông bỏ đưa ta tiếp xúc gần hơn



Chúng tôi quyết định
lạy tại chỗ và cố gắng dụ đám kiến ra bằng đồ ăn. Không đi. Chúng thích “Chùa Xe Hơi Vàng” và đến giữa buổi sáng chúng đã thiết lập các đường xa lộ, trường học và cộng đồng kiến nhỏ đang phát triển mạnh ở phía dưới mấy cái thảm xe, trong hộp đựng đồ ăn, trên trần xe và khắp người chúng tôi. Chúng tôi vẫn cảm thấy ghê tởm với hành động của mình và hoàn toàn không khôi hài tí nào. Thật là một cảnh tượng!

Chúng tôi đã thực hiện một buổi lễ siêu độ vong linh cho những con kiến mà chúng tôi đã giết và người đàn ông chết trong vụ đụng xe. Tôi nghĩ đây là lần đầu tiên buổi lễ đó được thực hiện trên đại lộ Harbor (Bến Cảng), giữa những xe tải, hành khách và những người xem hoài nghi. Cảm giác thấy đúng đắn.

 

Mẹ của một vị ni cô ở Santa Barbara dừng lại cúng dường trên đường bà ấy đi làm. “Mỗi lần nhìn thấy các thầy, tôi cảm thấy những gì các thầy đang làm thật là tuyệt vời. Giống như vẫn còn có hy vọng vậy”, bà ấy nói. “Đôi khi, tôi băn khoăn tự hỏi liệu nó có đáng vậy không”, bà ấy nói tiếp, “ý tôi là, thỉnh thoảng người ta khiến chúng ta tự hỏi, “’Tại sao cố gắng?’”

“Đó là tất cả những gì chúng tôi có”, chúng tôi đáp lại. “Đó là gia đình của chúng tôi”.

 

Một người đàn ông lái xe tới và cúng dường, “Xin hãy cầu nguyện cho ba tôi. Tôi yêu ba tôi lắm và tôi lo lắng về ông”. Anh ta thật chân thành. Anh ta chẳng biết gì về đạo Phật hay về chúng tôi nhưng anh ta vừa bộc bạch rồi lái xe đi.

Có quá nhiều người đang đi tìm kiếm cái gì đó để đặt niềm tin vào – điều gì đó để tin tưởng mà trái tim ý thức được. Có quá nhiều những thứ giả dối hoặc rao bán. Nhưng hầu hết mọi người không quên điều gì là sự thật và họ háo hức ôm chầm lấy nó giống như tìm lại được đứa trẻ bị thất lạc.

 

Louis dừng lại để nói rằng anh ta sẽ nhớ chúng tôi khi chúng tôi tiến về phương bắc. Anh ta nói rằng anh ta cảm thấy tốt đẹp hơn và nhiệt tình hơn với công việc làm mục sư của anh ta.

“Có rất nhiều thay đổi trong cuộc đời tôi trong thời gian ngắn ngủi này, nhưng chủ yếu tôi vui mừng là vì tôi thực sự cảm thấy có hy vọng cho nhân loại”. Louis đã tách ra mục vụ tôn giáo truyền thống để mở một nhà thờ nhỏ trong khu vực nghèo nàn hơn. Anh ta từ bỏ ngôi nhà thờ quy mô tráng lệ và sự nghiệp thoải mái của mình để làm việc tại nơi mà anh ta cảm thấy cần phải làm để sống trung thực. “Các anh biết không”, anh ta nói khi đang rời đi, “làm một người buông bỏ đưa ta tiếp xúc gần hơn

 

Hằng Thật. Tháng 7, 1977

Sẽ phải lạy rất nhiều thì mới thấy được cái thấy đó

 

Cái Thấy Thanh Khiết.

Tôi đã có một cái thấy về bản thân mình như là một chúng sanh thanh khiết vượt lên trên sự ham muốn tình dục. Không có thậm chí một ý niệm nhỏ nhặt về ham muốn nào nảy sinh ra trong đầu tôi. Đó là cảnh giới thanh tịnh.

Thân thể đã “trở lại cội rễ và quay về với cội nguồn (phản bổn hoàn nguyên)”. Thanh kiếm trí tuệ đã vạch ra một không gian trong sạch, tách biệt khỏi những suy nghĩ ô uế thường lệ. Việc dụng công lao nhọc đã làm được việc này. Lòng quyết tâm và những lời nguyện, và lao nhọc trong thời gian dài để chuyển hóa phiền não trở thành sự hoàn hảo (viên mãn) (1). Thói quen thật có sức mãnh liệt, tuy nhiên, ngay khi tôi ngồi xuống để kiểm tra và chiêm nghiệm cảnh giới này, tôi đánh rơi mất thanh kiếm và các lớp vô minh che phủ cũ quay trở lại.

Sẽ cần phải lạy rất nhiều để có cái thấy đó. Đấy là công việc của tôi bên ngoài này, trên Xa lộ Hoa Nghiêm vi diệu đầy gió này.

 

Ghi chú:

(1) Nguyên văn Anh ngữ: Determination and vows and long-term labor transformed affliction into perfection - Lòng quyết tâm và những lời nguyện, và lao nhọc trong thời gian dài để chuyển hóa phiền não trở thành sự hoàn hảo (viên mãn). Ở đây là chuyển hóa Phiền não thành Bồ Đề. Trong bài thơ Mộ Trung Tăng http://www.dharmasite.net/sf/life/life7-3.html Hòa Thượng có giải thích:

Ngay cải các bậc Bồ Tát cao nhất vẫn còn có một chút "vô minh sanh tướng” mà vẫn chưa bị phá vỡ hẳn. Chính vì vậy, tất cả các hạng chúng sanh từ Bồ Tát trở xuống cjhín pháp giới còn lại bao gồm cả loài người chúng ta đều có vô minh. Chính vì vậy, đức Phật nói rằng: Vô minh chính là phiền não; mà phiền nào chính là Bồ đề. Nhưng để chuyển phiền não thành Bồ đề thì chúng phải có công phu—khả năng tâm linh.

 

Hằng Triều - 30 tháng 7, 1977

Hãy nói như thể đang ở giây phút cuối cùng của cuộc đời



Những lời nói, đặc biệt là những lời không giác ngộ không bao giờ thay đổi được tôi. Không lời nói huyên thuyên hay giảng đạo của ai có thể làm tôi cảm động để thay đổi những thói quen của tôi, và thử làm điều gì đó khác lạ. Hành động luôn luôn là điều mà chúng tôi thấy và phản ứng theo. Những lời nói thì rẻ tiền. Ai cũng có thể dùng chúng. Những thành tựu chân thực thì hiếm hoi và ít người đắc được.


“Chư Thiện tri thức! Kẻ mê miệng nói, người trí lòng làm.”
(1)

Kinh Lục Tổ Pháp Bảo Đàn


Tôi cần phải học cách đóng cái miệng lại và mở cái tâm ra.

Nói khi cần thiết. Khi không hữu ích, đừng nói”

Hòa thượng Tuyên Hóa

Vì thế, tôi cần làm việc chăm chỉ hơn, cần khiêm nhường, cung kính và kiên nhẫn.

Khi tôi nói, những lời nói cần phải xuất phát từ trái tim và chân thật, đó là những gì tôi biết được từ kinh nghiệm của mình. Không che đậy và giả tạo. Có quá ít thời gian cho điều đó. Đơn giản lời nói và thanh tịnh tâm ý.

Nói chuyện như thể đang nói với chư Phật, cô đơn giữa đồng cỏ tuyết mới rơi trong núi vắng lặng.

Hãy nói như thể đang ở giây phút cuối cùng của cuộc đời, và chẳng có gì quan trọng nữa cả.


“luôn gìn
giữ lời như thật….” (2)

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Địa

 

Ghi chú:

(1) http://www.dharmasite.net/KPBDLGP2.htm

(2) http://www.dharmasite.net/KinhHoaNghiem26-ThapDia.htm

Chư Phật tử ! Bồ Tát này lấy đại bi làm trước, chí nguyện rộng lớn không có gì trở hoại được. Lại thêm siêng tu tất cả thiện căn mà được thành tựu.

Những thiện căn đó như : lòng tin tăng thượng, nhiều lòng tin thanh tịnh, hiểu biết thanh tịnh, lòng quyết định, phát sanh lòng bi mẫn, thành tựu đức đại từ, không nhàm mỏi, lòng hổ thẹn trang nghiêm, thành tựu hạnh nhu hòa, kính thuận tôn trọng giáo pháp của Chư Phật, ngày đêm tu tập các căn lành không nhàm đủ, gần gũi thiện tri thức, luôn mến thích chánh pháp, cầu đa văn không nhàm đủ, chánh quan sát đúng với pháp đã được nghe, lòng không y tựa chấp trước, không tham muốn lợi danh cung kính, chẳng mong cầu tất cả vật dụng nuôi sống phát sanh tâm như thật không nhàm đủ, cầu bực Nhứt thiết trí, cầu Phật lực, vô úy, Phật pháp bất cộng, cầu các môn trợ đạo Ba la mật, lìa những dua dối, có thể thật hành đúng như lời nói, luôn gìn lời như thật, chẳng làm nhơ nhớp nhà Như Lai, chẳng bỏ giới Bồ Tát, sanh Nhứt thiết trí, lòng vững như Sơn Vương bất động, chẳng bỏ tất cả sự thế gian mà thành tựu tất cả đạo xuất thế, tu tập pháp trợ đạo Vô thượng Bồ đề không mỏi nhàm, thường cầu đạo Vô thượng.

Chư Phật tử ! Bồ Tát thành tựu pháp tu tập thanh tịnh tâm địa như vậy thời gọi là an trụ bực " Bồ Tát Hoan Hỷ Ðịa".

 

Hằng Thật. Ngày 31 tháng 7, 1977

Trong chiếc hồ đang dần cạn nước

 

Kiến: Lời dạy và sự trêu chọc đáng kể của Hòa thượng về việc những con kiến từ đâu mà đến. Khi chúng tôi gặp Hòa thượng ở chùa Kim Luân, Ngài đi tới, nhìn chúng tôi một lượt, rồi gõ mạnh trên đầu tôi một cái. “Từ con, chỗ này! Những con kiến đến từ những vọng tưởng của con”. Lúc nào cũng mỉm cười, và không ngừng cho tới khi tôi hiểu ra làm thế nào mà sự ham muốn và những bám chấp của tôi đã mời những con kiến vào trong xe. “Con có đủ kiến chưa?” Ngài tiếp tục hỏi. Thức ăn, bạn gái, và nói huyên thuyên – những vọng tưởng, tất cả đã khiến kiến đi vào. “Tất cả đều do tâm” (Nhất thiết duy tâm tạo). Sư phụ kết luận: “Có kẻ hộ pháp ra ngoài nghịch ngợm trong khi nên hộ trì Phật pháp!” Bốp! một cái trên đầu. Thật là một vị thầy tuyệt vời! Và thật là một đệ tử ngu ngốc!

 

Khi tôi phạm sai lầm ở ngoài này, giống như với những con kiến, sau đó, tôi cảm thấy như tôi mất đi tất cả những người bạn. Nỗi cô đơn và nỗi buồn bị bỏ rơi phủ trùm lên tất cả. Cái cảm giác tự do vô biên và hạnh phúc tan biến thành một sự cô lập hạn hẹp khép kín. Ở bên trong một cục nghẽn dơ bẩn nhất thời gây tắc nghẽn dòng chảy. Tôi nghĩ đó là cái gọi là “mất đi những vị Hộ pháp”.

Các giới luật thật là quan trọng! Chúng là những bước đầu tiên để đến sự thanh tịnh.

Khi trì giới nghiêm cẩn, giới luật tạo ra một “không gian bên trong” sạch sẽ, nó giống như một căn phòng tràn ngập đầy ánh nắng của căn nhà trên cây trong buổi sớm mai.

“Trụ trong biển hư không." (Kinh Hoa Nghiêm). Là kiểu tự do và ánh sáng đó!

 

Cúng dường:

Hwang Kuo Pan $20 và thức ăn.

Hoo Kuo Shiang $20 và thức ăn.

Jo Jo (Kuo Jing) Leo – thức ăn.

Tỳ kheo ni Heng Ju và Hằng Fu – thức ăn.

Một sự cúng dường: “Không nhiều lắm, nhưng nó xuất phát từ trái tim tôi”.

Sư: “Sao lại không nhiều nếu như nó thực sự xuất phát từ trái tim?”

Một người đàn ông quan sát chúng tôi lặng lẽ tiến tới và đi qua trong một tiếng rưỡi, rồi chỉ nói “Cảm ơn”.

Một cặp vợ chồng trẻ, “Chúng tôi ra ngoài đây để nói với các anh rằng điều các anh đang làm thực sự làm trái tim chúng tôi rung động và đã thay đổi cuộc sống của chúng tôi… Đó là một sự truyền cảm hứng khi nhìn thấy ai đó đặt thật nhiều năng lượng vào việc tích cực”.

 

Già, trẻ, giàu và nghèo, mạnh khỏe hay ốm yếu, tất cả đều cúng dường.

Mỗi người một cách riêng nhìn thấy điều gì đó tốt đẹp và đáng để hỗ trợ cho những gì mà Ba bước, một lạy thể hiện. Tất cả họ đều biểu lộ theo cách khác biệt, nhưng khuôn mặt và trái tim họ thì giống như nhau. Đó mới là cúng dường!

Một người mẹ trẻ cùng với đứa con trên chiếc xe đạp: “Tôi thực sự ngưỡng mộ những gì các anh đang làm. Việc đó cần đến rất nhiều… à… những can đảm tâm linh”.

 

“…từ vô thỉ đến nay, phàm ra làm việc gì, cũng đều không được vừa lòng, nên biết đều do ác nghiệp dư báo đã gây từ quá khứ đến nay." (2)

Sám Dược Sư


 

Chúng tôi đang dọn dẹp bên ngoài xe vào lúc cuối ngày trên một con đường nhỏ ở Ventura. Tiếng bánh xe rít lên. Chúng tôi quay đầu nhìn thấy hai người trên chiếc xe gắn máy va đụng với chiếc xe hơi. Mấy thân người bay qua nóc xe hơi cắm đầu xuống đất ở phía bên kia đường. Chúng tôi một lần nữa lại nhìn mà không giúp gì được từ cách xa hai mươi hay ba mươi thước.

Thầy Hằng Thật chạy tới cùng với mấy cái mền và tôi đi gọi giúp đỡ. Máu túa ra từ tai, miệng và mũi của họ. Họ bị thương nặng.

Cô gái 19 tuổi đang hấp hối. Chúng tôi phủ mền cho họ, giúp cho người thanh niên dịu lại và bình tĩnh, và niệm Chú Đại Bi.

“Công việc”luôn tiếp diễn. Gia đình tôi hiện tại đang hấp hối, mọi lúc. Vụ tai nạn không phải là một thảm kịch đơn lẻ. Nó diễn ra từng phút. Từng giây phút con người chết đi và sanh ra. Nếu họ là gia đình của chúng ta và chúng ta có thể thấy điều này trong từng phút – sống và chết, chết và sống – thì chúng ta nên làm gì? Đúng,, họ là gia đình của chúng ta, tất cả những người này. Và chúng ta cùng đều là cá “trong cái hồ đang dần cạn nước”. (3)

Khi quý vị biết rằng sự chết và sống, đau khổ và hạnh phúc bị trói buộc trong những gì quý vị làm – khi quý vị nhận ra rằng căn nguyên và gốc rễ của mọi thảm họa và sự giác ngộ đang được gieo trồng ở chung quanh, ngay lúc này – thì quý vị sẽ dụng công chăm chỉ để thay đổi mình cho tốt đẹp hơn và tác động tới những người khác để họ cũng làm như vậy.

Đó là cách để giúp gia đình quý vị theo cách tôi thấy. Kiểu tu hành này là First Aid (Sơ cứu) và là thuốc đầu tiên cho mọi nhu cầu. Dụng công trên tâm trí. Làm việc trên mảnh đất nơi mà hành động bắt đầu, ngay cội nguồn – tâm địa.

Tai nạn, thảm họa, những cái chết bi thảm cũng như sức khỏe, tuổi thọ và hạnh phúc là những hệ quả, kết quả của tâm trí và những cội rễ được trồng từ lâu xa trước đây. Làm cho điều đó được rõ ràng trong cuộc sống của chúng ta, trong toàn bộ gia đình của chúng ta trong mọi loài chúng sanh - là giá trị và là sự thúc đẩy “công việc của các nhà sư”

Quỳ xuống bên cạnh cô gái đang hấp hối trên đường, tôi cảm nhận một sự gần gũi bất ngờ. Cô ấy rất dễ có thể là em gái tôi, hay ai đó đang tới để nói vài lời khích lệ với chúng tôi. Việc tất cả chúng ta đều liên hệ với nhau thì thật sâu sắc và thường bị lãng quên đi. Sanh và tử dường như phơi bầy và hiển lộ mối quan hệ của tất cả chúng sanh.

Để cố gắng làm một nhà sư tốt nhất mà tôi có thể làm được - để cố gắng tu hành càng chăm chỉ càng tốt, để được giác ngộ và “hộ trì chúng sanh khắp mọi nơi” – tất cả những điều này được sự khẩn thiết và thực tế của ngày hôm nay tăng lực. Cần phải cố gắng chăm chỉ hơn trong mọi lúc. Gia đình tôi đang trông ngóng và đau khổ cùng cái chết thì đang lăn về phía tôi.

”… phát sanh lòng bi mẫn, thành tựu đức đại từ." (4)

Kinh Hoa Nghiêm

 

Một trong những lý do để cúng dường Tam Bảo và hỗ trợ Vạn Phật Thánh Thành là để khi quý vị muốn đối mặt với những vấn đề thực tế của sanh tử, đặc biệt với cái chết của chính mình, thì có một nơi sẵn sàng để làm việc đó.

Hơn thế nữa, ở đó sẽ có những người thiện tri thức để cho quý vị học tập và những phương thức có thể làm được để sử dụng. Sớm hay muộn, mỗi chúng ta sẽ đến nơi đó, với những câu hỏi ấy. Khi không có ai để nương vào và không có nơi nào để đi, khi thời điểm đó đến, nó có thể khá đen tối và đáng sợ.

Những gì tôi đáng lẽ nên nói:

Q: Các anh đang làm gì?

A: Cố gắng chấm dứt sanh tử.

Q: Như thế nào? Bằng cách này à?

A: Khai mở trí huệ và thanh lọc tâm ý.

Q: Các anh tin điều gì? Đạo Phật dạy gì về những vấn đề này?

A: Trí huệ được tìm thấy qua sự dụng công của chính quý vị, trong tâm trí của chính quý vị.

Q: Có vẻ điên rồ, ngu ngốc.

A: Tôi biết. Nhưng mọi thứ không luôn luôn như những gì mà người ta thấy lúc đầu – giống như đan đớn và vui vẻ; sanh và tử. Thường thì niềm vui gây ra rất nhiều đau đớn, và rất nhiều lần, trải qua điều gì đau đớn sẽ mang lại rất nhiều hạnh phúc và nhẹ nhàng.

 

Một chuỗi các hoạt động ngày Chủ nhật: ngồi bên lề đường. Hằng Thật thì ngồi thiền và Hằng Triều thì tụng 48 Bồ Tát giới. Art và Carol Yee cùng gia đình họ mang bữa trưa tới cúng dường. Khi Art lạy, một chiếc xe gắn máy áp sát anh ấy, cố làm anhte1 ngã. Carol cẩn thận bày bữa ăn trưa, các tấm mền và các món ăn dưới một gốc cây.

Một nhân viên kiểm lâm đi qua và nói với cô ấy rằng cần phải chuyển tới một khu vực khác.

Trong suốt buổi đọc kinh Hoa Nghiêm sau bữa ăn trưa, một chiếc xe chở đầy thanh niên trẻ tuổi rú ầm ngang và chúng hét lên “Các người hãy đi ra khỏi đây”. Hai phụ nữ trong trang phục áo tắm bikini tiến tới, “Này những người dễ thương, các anh đang làm gì vậy?” Vào cuối buổi đọc Kinh Hoa Nghiêm, một cậu bé và em gái cúng dường một hộp bánh quy giòn, “Các chú nhận cái này chứ? Cháu nhìn thấy các chú trên TV lâu rồi mà đến hôm nay cháu gặp các chú ở đây, chỉ nhìn thấy các chú thôi cũng đã khiến cháu rất hạnh phúc”.

Đôi khi, cần phải tưởng tượng và tập trung tâm trí để hành động như thể quý vị vẫn đang ở trong tu viện. – các xu nhỏ tộng cộng 3.41 đô la ở trên đường cao tốc và mấy dãy phố. Hằng Thật đá đụng thêm một xu; 3.42 đô la.


 

Ghi chú:

(1) Nguyên văn Hoa ngữ: 虛空海住 - Hư không hải trụ.

(2) http://www.dharmasite.net/samduocsu.htm Nguyên văn: Ðệ tử chúng con từ vô thỉ đến nay, phàm ra làm việc gì, cũng đều không được vừa lòng, nên biết đều do ác nghiệp dư báo đã gây từ quá khứ đến nay. Vậy nên chúng con cần cầu sám hối."

(3) Là câu trong bài Phổ Hiền Bồ Tát Cảnh Chúng Kệ trong Kinh Nhật Tụng tụng lúc Đại Hồi Hướng mỗi tối cuối ngày tại Vạn Phật Thánh Thành:

 

UNIVERSAL WORTHY BODHISATTVA’S VERSE OF EXHORTATION

Phổ Hiền Bồ Tát Cảnh Chúng Kệ

 

THIS DAY IS ALREADY DONE. OUR LIVES ARE THAT MUCH LESS.

Thị nhật dĩ quá, mệnh diệc tùy giảm.

是 日 已 過, 命 亦 隨 減 ,

shì rì yǐ guò mìng yì suí jiǎn

Một ngày đã qua mạng cũng giảm dần

 

WE’RE LIKE FISH IN A SHRINKING POND. WHAT JOY IS THERE IN THIS?

Như thiểu thủy ngư, tư hữu hà lạc?

如 少 水 魚, 斯 有 何 樂 ?

rú shǎo shuǐ yú sī yǒu hé lè

Như cá cạn nước, nào có gì vui?

 

GREAT ASSEMBLY!

Đại chúng!

大 眾!

dà zhòng!

 

WE SHOULD BE DILIGENT AND VIGOROUS, AS IF OUR OWN HEADS WERE AT STAKE.

Đương cần tinh tấn, như cứu đầu nhiên.

當 勤 精 進 , 如 救 頭 然,

dāng qín jīng jín rú jiù tóu rán

Cần nên tinh tấn, như cứu đầu cháy.

 

ONLY BE MINDFUL OF IMPERMANENCE AND BE CAREFUL NOT TO BE LAX.

Đãn niệm vô thường, thận vật phóng dật.

但 念 無 常, 慎 勿 放 逸

dàn niàn wú cháng shèn wù fàng yì

Nên nhớ vô thường, thận trọng chớ buông lung.

(4) http://www.dharmasite.net/KinhHoaNghiem26-ThapDia.htm

Chư Phật tử ! Bồ Tát này lấy đại bi làm trước, chí nguyện rộng lớn không có gì trở hoại được. Lại thêm siêng tu tất cả thiện căn mà được thành tựu.

Những thiện căn đó như : lòng tin tăng thượng, nhiều lòng tin thanh tịnh, hiểu biết thanh tịnh, lòng quyết định, phát sanh lòng bi mẫn, thành tựu đức đại từ, không nhàm mỏi, lòng hổ thẹn trang nghiêm, thành tựu hạnh nhu hòa, kính thuận tôn trọng giáo pháp của Chư Phật, ngày đêm tu tập các căn lành không nhàm đủ, gần gũi thiện tri thức, luôn mến thích chánh pháp, cầu đa văn không nhàm đủ, chánh quan sát đúng với pháp đã được nghe, lòng không y tựa chấp trước, không tham muốn lợi danh cung kính, chẳng mong cầu tất cả vật dụng nuôi sống phát sanh tâm như thật không nhàm đủ, cầu bực Nhứt thiết trí, cầu Phật lực, vô úy, Phật pháp bất cộng, cầu các môn trợ đạo Ba la mật, lìa những dua dối, có thể thật hành đúng như lời nói, luôn gìn lời như thật, chẳng làm nhơ nhớp nhà Như Lai, chẳng bỏ giới Bồ Tát, sanh Nhứt thiết trí, lòng vững như Sơn Vương bất động, chẳng bỏ tất cả sự thế gian mà thành tựu tất cả đạo xuất thế, tu tập pháp trợ đạo Vô thượng Bồ đề không mỏi nhàm, thường cầu đạo Vô thượng.

Chư Phật tử ! Bồ Tát thành tựu pháp tu tập thanh tịnh tâm địa như vậy thời gọi là an trụ bực " Bồ Tát Hoan Hỷ Ðịa".

 

Hằng Thật - Tháng Bảy, 1977

Thực hành ngay! Phật Pháp vi diệu!

 

Người đóng chai dưa chua vui vẻ.


Nếu quán niệm về chư Phật, Pháp và Tăng trong mọi lúc, ngày lẫn đêm, thì việc quý vị đang làm gì và đang ở đâu không thành vấn đề. Quý vị vẫn cảm thấy hạnh phúc và mãn nguyện, luôn ngập tràn trong ánh sáng và sự vi diệu. Một người giàu mà không có Phật Pháp thì nghèo hơn nhiều so với người đóng hộp dưa chua nhỏ nhất ở Brooklyn có Bồ Tát Quán Thế Âm là người bạn thân thiết nhất. Làm thế nào mà người đóng chai dưa chua làm được điều đó? Buổi sớm mai thức dậy, anh mang tới mỗi ngày nụ cười từ trái tim. Rửa tay và mặt, thắp một nén hướng và bắt đầu niệm danh hiệu Bồ Tát. Anh ấy niệm suốt buổi sáng, không bao giờ xa rời pháp thực hành của mình. Niệm suốt bữa trưa, trên đường xa lộ trở vế nhà mỗi đêm. Anh ta tiếp tục niệm danh hiệu Bồ Tát trong tâm trí mình. Anh ta mơ về người bạn tốt, ngủ mà không ưu phiền. Thức dậy trong buổi sáng tươi mới lại và biết ơn về một cơ hội khác để ngợi ca người dẫn đường từ bi của mình.

Anh ấy cảm thấy mình là người may mắn nhất trên thế giới. Anh ấy không thiếu bất cứ gì cả. Hạnh phúc. Không có một tình huống hay vấn đề gì mà anh ấy không thể tiếp cận và xử trí bằng trí huệ và sự kiểm soát. Khi có cơ hội, anh ấy giúp đỡ những người khác giải quyết vấn đề của họ, thường không để cho họ biết người giúp là ai và làm thế nào mà họ được giúp đỡ. Anh ấy thích cách làm ấy.

Đó là cách của vị thầy siêu việt của anh ấy, Quán Thế Âm Bồ Tát cũng thích như vậy.

Một số người có thể nghĩ rằng công việc của anh ấy không có tương lai, nhưng người đóng chai dưa chua lại chẳng quan tâm đến thành công thế gian. Anh ấy mãn nguyện và dành tâm trí với cuộc sống của mình. Bạn bè và hàng xóm nghĩ anh ấy thuộc kiểu người khá cổ xưa vì không cùng họ uống rượu, cờ bạc hay hút thuốc. Gì nữa, anh ấy còn không ăn thịt, không nói dối, không ăn cắp hay gian lận thuế. Khi những người đó gặp khó khăn trong cuộc sống, anh ấy là người luôn tới để cố vấn và an ủi. Anh ấy không nói nhiều, nhưng mỉm cười dễ dàng và giọng anh ấy có âm lượng nhẹ nhàng và mạnh mẽ khiến mọi người muốn nghe.

Ông chủ thích anh ấy vì anh ấy luôn đúng giờ, làm việc tốt với gương mặt vui vẻ và chú tâm vào công việc. Mỗi một chai dưa anh đóng hộp để đưa ra thị trường đều có Thánh hiệu của Bồ Tát Quán Thế Âm trì niệm vào đó và nguyện rằng bất kỳ ai khi ăn những miếng dưa chua này (không có tỏi) sẽ được bình an và hạnh phúc.

Là cùng một thể với tất cả thì gọi là đại bi. (Đồng thể tức Đại Bi)

Đại bi có khi quý vị chấm dứt việc gạn lọc và chọn lựa giữa những chúng sanh mà quý vị độ. Những chúng sanh này là gì? Làm thế nào quý vị độ họ? Kinh Lục Tổ Pháp Bảo Đàn giải thích rằng những chúng sanh mà quý vị độ chỉ là những niệm suy nghĩ ở trong tâm trí của quý vị, những suy nghĩ nảy sinh từ tự tánh của quý vị. Khi Bồ Tát thực sự làm công việc của mình, Ngài độ tất cả mọi niệm suy nghĩ mà không phân biệt. Ngài không thể nghỉ ngơi bất cứ lúc nào. Ngài lập nguyện đưa tất cả chúng sanh (niệm suy nghĩ) về sự không lặng. Bồ Tát tách biệt khỏi niệm suy nghĩ và rời bỏ ô trược.

Hữu tình giác ngộ

Nhảy thoát bụi trần

Lục độ vạn hạnh

Thường luôn vun trồng. (1)

Hòa Thượng Tuyên Hóa
Mười Pháp giới (Phá giới Bồ Tát)

 

Đại Bi có thể biểu lộ khi người ta nhận ra rằng tự tánh vốn không có bất kỳ sự khác biệt nào. Đại Bi là một và cùng một thể, mình là một phần của thể ấy; nó nằm ở bên trong tự tánh mà người ta kết nối với tất cả các chúng sanh. Đó là nơi người ta làm công việc độ chúng sanh, đưa tất cả mọi niệm suy nghĩ trở về cội nguồn của chúng.

Một niệm không sinh

Toàn thể hiển bày. (2)

Bồ tát thực hành Đại Bi, và khi thực hành, sự thấu hiểu của chư Bồ Tát tăng trưởng. Không có sự thấu hiểu mà không có thực hành, và được hướng dẫn bởi những lời nguyện. Khi lập nguyện để độ tất cả chúng sanh, lời nguyện của Bồ Tát là sự bắt đầu của lòng từ bi. Khi đưa tất cả mọi niệm tưởng quay trở về với tự tánh, đó là chân thực thực hành. Tại sao?

Bởi vì chúng sanh là những niệm tưởng suy nghĩ và tất cả mọi niệm tưởng suy nghĩ là chúng sanh.

Sư Phụ viết bài kệ này:

Chân thật nhận lỗi mình,

Không bàn luận lỗi người;

Lỗi người là lỗi mình.

Đồng thể tức Đại Bi. (3)

Những lỗi lầm của chính bản thân mình đến từ việc liên tục thất bại trong việc cứu độ chúng sanh. Lười biếng và không làm việc cần mẫn là một sai lầm lớn; đó không phải là sự thực hành của một vị Bồ Tát.

Không bàn luận về lỗi của người khác. “Những người khác” đơn giản là những niệm tưởng suy nghĩ ở trong chính đầu của mình. Điều mà quý vị nhìn thấy như là lỗi lầm của ai đó, nó đến từ tâm phân biệt của quý vị.

Những lỗi lầm của những người khác chính là lỗi lầm của bản thân mình. Quý vị nên luôn luôn xoay ánh sáng trở về bên trong.

Chiếu rọi ánh sáng lên trên sự phóng chiếu của tâm ý và thực hiện công việc độ chúng tới bờ kia.

Đồng thể tức Đại Bi. Mọi niệm suy nghĩ đều đến từ tự tánh. Khi niệm suy nghĩ qua sự lọc lưa của tâm trí, liền phân biệt thành tốt xấu, đúng sai.

 

Khi Bồ Tát thực hành trí huệ Bát nhã và quét sạch mọi niệm suy nghĩ khi chúng vừa sanh khởi, ngài quay trở về với tự tánh, về bản nguyên thanh tịnh mà Ngài cùng chia sẻ với tất cả chúng sanh. Đây là thực sự cứu độ chúng sanh.

“Mọi lúc trưởng dưỡng chúng”. Ngài cần phải làm liên lục để cho Đại Bi hiển lộ.

“Mọi lúc” trong Đạo Phật mang nghĩa là trong từng suy nghĩ, từng phút, từng giờ, từng ngày, từng tuần, từng tháng, năm này qua năm khác, đời này sang đời khác, kiếp này sang kiếp khác. Thời gian mất đi chính cái nghĩa của nó. Đối với vị Bồ Tát có lời nguyện cứu hết thảy chúng sanh, một niệm suy nghĩ thanh tịnh, một hành động của lòng Đại Bi trải rộng khắp mọi thời gian và không gian cho đến tận cùng Pháp giới. Điều gì có thể giải thoát hơn, tự tại hơn tầm vóc của lòng Đại Bi?

Thực hành là thước đo của chư Bồ Tát. Để ở trên con đường Trung Đạo, Bồ Tát phải duy trì các phương tiện Pháp môn của mình cho dù hoàn cảnh gì sanh khởi. Nếu một cảnh giới tốt xuất hiện, Bồ tát không thể chuyển đổi thực hành của mình. Nếu một cảnh không vừa ý phát triển, Bồ tát vẫn trưởng dưỡng thực hành nguyên như vậy, nhẹ nhàng chăm sóc cải bản hữu giá trị nhất của mình, chiếc thuyền Pháp báu của mình để nó có thể chuyên chở tất cả chúng sanh từ đau khổ sang tới bờ kia của sự phúc lạc.

 

Thực hành cần không chờ đợi.

Nếu quý vị chờ cho tất cả mọi công việc Phật Pháp rõ ràng ở trong tâm trước khi quý vị bắt đầu thực hành thì quý vị sẽ chẳng bao giờ có cơ hội thực hành được.

Sự hiểu biết rõ ràng về giáo pháp của Đức Phật chính là từ dụng công bên trong tâm trí của quý vị, chứ không đến từ những lời nói mà quý vị nghe hay suy nghĩ về. Phật pháp là một phương tiện mà bất cứ ai cũng có thể sử dụng để dẹp bỏ những thứ ngăn cản mình không hiểu rõ. Nó là chất giúp hòa tan mọi thứ: nó cắt xuyên qua mọi bám chấp và suy nghĩ giống như kim cương cắt xuyên thủy tinh. Nhưng cần phải nỗ lực và chỉ nỗ lực mới mang lại sự hiểu biết.

Đừng chờ cho sự hiểu biết lóe sáng lên trong quý vị khi ngồi và trầm tư suy nghĩ về sự giác ngộ. Hãy đứng dậy và thắp hương, lạy xuống sàn, đứng dậy và đọc câu chú, nhiều chừng nào tùy theo mình thấy cần. Mở quyển Kinh, lục tìm một đạo lý, ví dụ như là:

“Nếu muốn biết rốt ráo

Chư Phật trong ba đời,

Hãy quán tánh Pháp giới:

Tất cả do tâm tạo.” (4)

 

Rồi hãy ngồi xuống trong thế liên hoa tọa và đặt đầu lưỡi lên trên vòm miệng, đôi mắt nhìn xuống chóp mũi. Tập trung tâm trí. Đó! Quý vị vừa mới thực hành một loạt các Pháp môn tốt. Quý vị đang trên đường tới hiểu biết rồi đó.

Lấn kế tiếp quý vị muốn thực hành, ví dụ như cùng thời gian như vậy vào ngày mai hoặc tối nay sau khi làm việc chẳng hạn, quý vị có thể đến chùa Kim Sơn Thánh Tự ở San Francisco hoặc đến chùa Kim Luân ở Los Angeles, hay đến Vạn Phật Thánh Thành gần thành phố Ukiah. Ở đó, quý vị sẽ tìm thấy một nhóm những người tốt, tất cả đang cùng nhau làm những việc như nhau dưới sự hướng dẫn của chuyên gia. Không bao lâu quý vị có thể nhận thấy rằng có một số những thay đổi tuyệt vời xảy ra trong cuộc dời mình, những sự cải tiến nhỏ trong tâm trí của quý vị. Trước khi quý vị biết điều đó, tất cả những công việc Phật Pháp đó sẽ tạo ra rất nhiều ỹ nghĩa bởi vì quý vị thực sự thực hành nó. Hãy thực hành ngay! Phật Pháp vi diệu!

 

Ghi chú:

(1) Nguyên văn Hoa ngữ:

有情覺悟,

跳出塵埃;
六度萬行,

時刻培栽。

 

Hữu tình giác ngộ,

Khiêu xuất trần ai;
Lục độ vạn hạnh,

Thờiì khắc bồi tài。

(2) Nguyên văn Hoa ngữ từ câu:

一念不生全體現,
六根忽動被雲遮 .

 

Nhất niệm bất sanh toàn thể hiện,

Lục căn hốt động bị vân già.
 

(3) Nguyên văn Hoa ngữ:

真認自己錯,

莫論他人非.

他非即我非,

 同體名大悲 .

Chân nhận tự kỷ thác,
Mạc luận tha nhân phi.
Tha phi tức ngã phi,
Đồng thể danh đại bi.

(3) Nguyên văn Hoa ngữ:

若人欲了知,

三世一切佛,

應觀法界性,

一切惟心造.

Nhược nhân dục liễu tri,
Tam thế nhất thiết phật,
Ưng quán pháp giới tính,
Nhất thiết duy tâm tạo.

 

Hằng Thật - Tháng Bảy, 1977

Để quan sát, lắng nghe và noi gương một vị Thầy

 

Các món nợ hàng ngày.

Thật là một món nợ về lòng tốt mà tôi đang chất chồng lên mỗi ngày khi tiếp tục công việc. Mọi người rất tử tế cùng với sự ủng hộ về vật chất, công sức và sự khuyến khích của họ. Tôi nhận ra rằng cách duy nhất mà tôi có thể trả ơn là cả ngày làm việc chăm chỉ với tu hành chánh niệm.

Tôi không thể để mất mục tiêu của việc ngộ Đạo. Quay trở về chùa Kim Sơn Thánh Tự mà không mang theo những kết quả gặt hái được từ việc tu hành là điều không thể tưởng tượng được. Tôi không thể đối mặt với bất cứ ai trong hoàn cảnh như thế. Đây là một động lực tốt để tu tập chăm chỉ hơn. Điều duy nhất để sợ hãi chính là sự lười biếng. Tôi không thể lãng phí bất kỳ thứ gì, nhất là thời gian quý giá. Đừng đánh rơi thanh kiếm ấy lần nữa!

 

Chuyển bữa ăn trưa thành ánh sáng.

Một khi quý vị học được cách chuyển mọi suy nghĩ trở lại thành năng lượng và ánh sáng thì những hoàn cảnh sinh ra phiền não hay vọng tưởng lại tạo ra năng lượng tốt nhất cho việc tu hành. Bữa ăn trưa chẳng hạn: Có rất nhiều tham muốn cuồn cuộn đến trong thời gian thọ trai và nếu quý vị sẵn sàng đối phó với những tham muốn này bằng thanh kiếm đã được rút ra, xoay chuyển ánh sáng trở lại (hồi quang phản chiếu), quý vị có thể nhận thấy một lượng lớn năng lượng mạnh mẽ và thanh sạch.

Có chánh niệm, quý vị cũng ăn ít đi. Rất tốt! Tất cả đang là khảo nghiệm chăng?

Tốt! Mọi thứ là cơ hội để có thêm ánh sáng, bớt đi vô minh, và tiến bộ hơn. Quý vị không thực sự mong có được trí huệ hay lòng từ bi trong khi quý vị vẫn bị mắc kẹt vào chính mình và những tham muốn của mình, đúng vậy không? Vậy thì sẽ là loại trí huệ và lòng từ bi gì đây? Quý vị có được Đạo ngay khi quý vị vừa buông bỏ những tham muốn của mình, nhìn thấu suốt những tham muốn của mình, kết nối những lời nguyện của mình vào thành thói quen tu hành của mình. Không thể có được Đạo trước lúc đó. Vì thế đừng lãng phí thời gian và năng lượng để lo lắng về sự giác ngộ hay những cảnh giới hay tiến bộ. Một chút thực hành là một chút tiến bộ thực sự. Hãy nhanh lên! Hãy làm tiến bộ thực sự! Hãy thực hành!

 

Nhìn bên ngoài; chuyển vào trong: Hương đêm.

Tôi đang ngồi thiền phía sau xe, đang cố gắng làm tan chảy đi cái nhiệt của một ngày lễ lạy bằng liên hoa tọa và chú Đại Bi. Thầy Hằng Triều đang lái xe trên đường xa lộ số 1, đang tìm chỗ đất nông trại để có chỗ vào đậu xe đêm nay. Không tìm được và chúng tôi quay trở lại về đúng địa điểm mà chúng tôi đã sử dụng lúc trước. Đó là một con đường nhỏ ở giữa hai đồng cỏ cho bò và rừng cây sồi đứng ngang qua một khe nước khô hạn chảy về phía Tây. Nơi đậu xe nằm ngoài tầm mắt của con đường, được tráng nhựa và bằng phẳng. Nơi đây tốt cho việc tập Thái cực quyền vào buổi sáng và buổi tối. Chúng tôi nghỉ lạy khi mặt trời lặn. Lúc này là một thế giới màu xanh – xám và những chiếc xe đã bật đèn pha. Trước khi màn đêm buông xuống, tôi đi để rửa sạch bụi dầu trên đầu và bàn tay. Khi tôi bước ra khỏi xe, phản ứng đầu tiên của tôi là rút vào lại bên trong xe. Đó là cái lạnh tháng Mười! Gió thổi xuống dưới thung lũng và chuyển không khí bên dưới và xuyên qua các lớp quần áo. Lạnh run!

Không có cái tôi, thì còn có ai để cảm nhận cái lạnh đây? Thực sự thì là ai? Mặt trăng lưỡi liềm chiếu vào khiến các chòm sao Nhân Mã, Lạp Hộ, Kim Ngưu tỏa sáng trước nhất. Cái chậu rửa và khăn mặt đặt ở trên hộp đồ ăn phía đằng trước; bình đựng nước ở trên nóc xe. Không thể đứng để đi tắm rửa. Tôi sẽ đóng băng mất! Tôi ngồi xổm xuống, chậu rửa trên mặt đất và dùng chiếc xe làm bức chắn gió. Dọc theo hàng rào dây thép gai và đồng cỏ phía sau, điệp khúc điên cuồng của những con chó sói Bắc Mỹ đang sủa ăng ẳng và oang oang cãi lại. Nghe có vẻ như chúng tìm được một chú nai đang trốn chạy. Tôi hy vọng con nai sẽ thoát. Nam Mô A Di Đà Phật!

Một tiếng súng trường vang vọng qua thung lũng từ trang trại phía nam. Giờ thì là một bầy sói từ bên phía trang trại lân cận phía bên kia mấy ngọn đồi nghe sự ồn ào kích động và phụ họa theo. Nhìn và nghe quá nhiều rồi, Quả Chân! Kéo ánh sáng đó trở lại. Chặt bỏ những tên trộm của giác quan bằng thanh kiếm của ông. Đã xong. Đứng lên lạnh run rẩy. Một cái bóng lớn và lặng lẽ của một con cú đang săn mồi lướt qua chỉ cách trên đầu chừng hơn nửa thước, màu đen nổi rõ lên trên nền trời đêm sâu thăm thẳm. Con chim cú bật đầu cánh và chao liệng xuống không khí, kẹp một nạn nhân nhỏ mang xuống chỗ đất đồng cỏ khô hạn nứt nẻ. Nam Mô Hắc Ra Ðát Na Ða Ra Dạ Da … liên tục, liên tục lặp lại trong đầu tôi. Những con nuôi để ăn thịt khom mình cúi xuống ở khắp bốn phía của chiếc xe và từ đỉnh ngọn núi cao phía tây, một con diều hâu đuôi đỏ chào đón các ngôi sao với một tiếng rít ma quái. Hy vọng ở đây không có côn trùng trên mặt đất bởi vì trời quá tối để thấy được chỗ mình đang đi. Vào lúc ăn trưa hôm nay, tôi đã đi hái mấy bông hoa dại để trên bàn thờ cúng Phật.

Khi tôi vừa bước đi khỏi một nhánh bông cao, cái gì đó ở trên quần chỗ chân khiến tôi chú ý. Ồ! Một con nhện dài chừng năm inch (khoảng 13 cm) – màu đen và vàng. Tôi đã bước qua thế giới của nó và hất nó ra khỏi nhà của nó; làm hoảng hồn nó nữa, tôi cá chắc vậy. Con nhện lắc người lật trở lại trên mặt đất, nơi mà tôi lật nhào nó ra khỏi chân tôi. Nam Mô A Di Đà Phật. Xin cứu mọi chúng sinh.

Tôi leo trở lại vào trong chiếc xe, người chủ trang trại lái chiếc xe bán tải màu xanh cũ kỹ đi ngang qua, vẫy tay thân thiện, mở cổng và đóng cổng lại. Tất cả đám bò kêu lên tiếng chào. Yên lặng trở lại khi tiếng lạch cạch của chiếc xe tải ra đi, chỉ còn chiếc đồng hồ báo thức đã được lên giây cót vẫn chạy tích tắc. Còn nửa giờ nữa đến giờ đọc Kinh và công phu chiều. Mặt tôi vẫn nhưng nhức vì nước lạnh và gió. Trong ánh sáng của những chiếc đèn pha của chủ trang trại, tôi nhìn thấy một đám mây khổng lồ hình con rồng đang bay nhanh ngang qua đồng cỏ phía bắc xuyên qua một khoảng trống giữa những ngọn núi chạy ra đại dương.

Đạo tràng bốn bánh này, chật chội, thiếu không khí như thế, có thể đơn giản là sự hóa thân của một con rồng. Nó chắc chắn bảo vệ pháp của chúng tôi hết lần này tới lần khác. Thầy Hằng Triều đang ngồi, cao thẳng như một vị Phật, đã đến giờ để hành trì bốn mươi hai thủ nhãn ấn pháp, một Pháp môn tuyệt vời nhất.

Với ai đó lái xe đi ngang qua nơi đây, đây có thể trông giống như một cánh đồng trống rỗng giữa hai dãy núi. Còn đối với các vị sư trên chuyến hành hương này, nó lại là một khung cảnh có cái vị cay đắng và ngọt ngào của thế giới Ta Bà, nơi mà chúng ta đóng các vai diễn nghiệp của mình và tu hành chăm chỉ để chấm dứt đau khổ cho hết thảy chúng sinh.

Hôm nay tôi nhận ra cái bản ngã không bao giờ phá vỡ được cái tôi/tự ngã được. Cái bản ngã quá lớn. Lớn như núi Tu Di. Thứ duy nhất đủ lớn để phá vỡ được cái tôi/tự ngã là Phật Pháp. Pháp giới chứa trọn vô lượng núi Tu Di, không một vật có thể sót. Sử dụng phương pháp và và đập tan ngọn núi ra thành bụi. Rồi đập tan bụi thành hư không cho đến khi chỉ còn lại ánh sáng.

 

Có ba thứ mang tôi ngang qua vịnh: Tam Bảo.

Vấn đề sanh và tử là mối quan tâm lớn. Nó là câu hỏi quan trọng. Cái thu hút tôi tới tu viện Kim Sơn Thánh Tự chính là ba điều.

Thứ nhất, mọi người ở đó đều nhận ra cái gì là quan trọng, cái gì không quan trọng. Những người bạn tôi ở Berkeley sử dụng năng lượng và ánh sáng cũa họ để truy cầu những thứ không quan trọng và tôi không thể đi cùng với họ.

Những câu chuyện cười không còn buồn cười chút nào nữa, thức ăn thành vô vị, âm nhạc và phim ảnh, nói chuyện và chau chuối không ngừng cho cơ thể đều đã thành rỗng tuếch. Không có chút hương vị và không quan trọng nữa. Sanh và tử mới là quan trọng.

Thứ hai, cộng đồng ở chùa Kim Sơn Thánh Tự có một cách để giải quyết vấn đề sanh tử có nguồn gốc và truyền thống cùng hồ sơ thành công đã được ghi lại. Cách đó gọi là Phật pháp và cho dù các hoạt động ở chùa Kim Sơn Thánh Tự có biểu hiện bên ngoài khác thường như thế nào thì điều cốt tủy của việc đó là chân thật. Họ nghiên cứu và thực hành, bảo tồn và truyền bá Pháp vĩnh cửu này. Thật là một mùi vị kỳ lạ và sảng khoái. Tôi đã nguyện rằng không bao giờ sống ở trong hoặc gần một thành phố lớn. Trong ba năm của tôi ở đồi Berkerley, tôi đã đi vào thành phố San Francisco khoảng năm lần. Sau sáu tháng lái xe tới lui đến tu viện, tôi đã gom đồ vào va li, tìm nhà cho những chú mèo của tôi, cho đi hết những cái mũ và dời qua bên kia Vịnh để ở bên đó. Tất cả những thứ đó thứ thân yêu đối với tôi, nhưng so với việc tìm hiểu chuyện sanh tử thì chúng không quan trọng.

Thứ ba, ở cộng đồng Tu Viện Kim Sơn Thánh Tự, không có việc nghi ngờ và việc cạnh tranh. Không ai đi lệch lạc. Không ai lãng phí lăng lượng để chê cười ai đó hay là thách thức người thầy. Điều đó đã và vẫn hiển nhiên rõ ràng rằng Hòa Thượng trụ trì chùa Kim Sơn Thánh Tự là nguồn Chánh Pháp, những lời nói, mọi cử chỉ, giọng nói và đôi mắt của Ngài có thể làm tin cậy và noi theo. Quý vị tiến về phía trước theo sự chỉ dẫn của chính mình hoặc là quý vị tới một nơi hội tụ năng lượng và can đảm để tiến lên. Sự tôn kính Hòa Thượng trụ trì là tuyệt đối. Sự tôn kính Chánh Pháp là hoàn toàn và chân thành.

Những người lười biếng và tiêu cực không thể bám vào những sườn dốc đứng của Tu Viện Kim Sơn Thánh Tự. Họ tự rời ra khỏi cửa không có ngoại lệ. Thật là một sự đoàn kết nhóm cộng đồng nơi đây tao nên! Bằng nỗ lực, quý vị bước trên con đường rộng và bằng phẳng về nơi ánh sáng tụ hội. Những người đồng hành sẽ chỉ đường, giúp đỡ và thúc đẩy quý vị tiến bước, bởi vì tất cả họ đều hiểu rằng mối quan tâm trọng yếu nhất là việc giải quyết vấn đề sanh tử. Họ sẵn sàng làm những gì cần thiết để tháo gỡ nút thắt ca sự hiện hữu. Họ ăn, uống và ngủ Pháp, và họ tuân theo bằng một lòng kính ngưỡng và chân thành tột cùng đối tới vị thầy không thể nghĩ bàn, người tự gọi mình là “kẻ ngu ngốc nhất đang sống” và “thấp kém hơn cả một con ma”. Ngài nhận ra điểm trọng yếu cốt lõi của vấn đề sanh tử từ hồi còn nhỏ và đã đặt chân trên con đường Phật Pháp ngay lập tức. Thành tựu của Ngài trên con đường ấy vượt qua phạm trù tư duy và hoàn hảo. Nhưng Ngài có ở đó, trong Tu Viện Kim Sơn Thánh Tự, chờ đợi bất kỳ ai và tất cả mọi người muốn tìm thấy những lý do của họ khi dời qua bên kia Vịnh để dụng công nhằm tìm hiểu điều gì là thực sự quan trọng.

Có ba điều đã đưa tôi tới, đưa tôi vượt qua tới đây: Đức Phật, người đã chấm dứt vấn đề sanh tử của mình, Pháp mà Ngài thực hành cho tới khi Ngài thành tựu và lưu truyền lại nơi đây cho chúng ta vào thập niên 1970 tại nước Mỹ; và Tăng Đoàn, những người được sinh ra do sự chuyển hóa của Phật Pháp. Cuối cùng, còn một lý do khác nữa. Tôi đến chùa Kim Sơn Thánh Tự để xem, nghe và noi gương theo một vị Thầy của Phật Pháp, người giơ cao ngọn đuốc giữa cơn bão vần vũ, người che chở cho những đệ tử bằng chiếc dù kim cương trắng, người cho những vị trời, rồng, và người nơi nương tựa – một vị Thầy của Đạo.

 

Những thói quen tốt giúp tu hành. Chúng là dương và đầy ánh sáng. Chúng nuôi dưỡng trí huệ, lòng từ bi và sự tập trung của chúng ta. Những thói quen tốt giúp tĩnh tâm và lắng dịu cơ thể, giữ cho đôi mắt mở và sáng. Đó là những thứ tạo thành sự giác ngộ.

Vì thế, không ngủ ngày chút nào nữa.

 

Những câu hỏi về việc tôi là ai, điều gì xảy ra khi tôi chết, liệu có cuộc sống trước hoặc sau khi chết là những câu hỏi chính yếu căn bản đối với con người. Không có ai lại không băn khoăn về những điều đó. Một mặt, việc hỏi những câu hỏi này có thể là cách để được giải thoát và bình yên thoát khỏi những giá trị và rắc rối nhỏ nhặt và hư ảo. Mặt khác, nếu những câu trả lời mà quý vị có không đặt đúng ngay ở trong trái tim của quý vị thì chúng có thể là nguồn gốc của rất nhiều lo lắng, sự giận dữ và lầm lẫn.

Không dễ để tìm thấy những câu trả lời “đúng” và đi đến những quyết định vững vàng với những vấn đề này. Không dễ chút nào. Và sẽ khó khăn hơn cũng như cuối cùng là đau đớn hơn nếu không tìm.

Quý vị đang bước đi trên sợi dây căng từ lúc quý vị được sanh ra và có thể cả trước đó nữa. Thật quá sợ hãi để ở lại trên sợi dây căng và cũng đáng sợ tương tự để nhảy khỏi nó.

Việc tranh cãi với mọi người về những vấn đề này thực sự ngu ngốc và không có chút từ bi nào. Tức giận sẽ chẳng làm được gì cả. Tại sao lại phải tranh cãi? Chỉ trong một chớp mắt, mạng sống của chúng ta đã chấm dứt. Chúng ta có quá ít thời gian để tìm hiểu. Tại sao lại dùng thời gian đó để tranh cãi nhau bằng những lời nói và ý kiến? Hơn nữa, làm như vậy thì thành tựu được gì?

Cũng như người lính cứu hỏa sáng nay hừng hực lửa, anh ta muốn mang Kinh Thánh tranh luận với Phật Pháp và đã không gặp sự tranh luận nào. Về căn bản, thì những gì anh ta đang tìm và tôi đang kiếm là giống nhau, vì thế thực sự chẳng có sự khác biệt để mà tranh đấu lẫn nhau. Sự tranh chấp là một hành trình của bản ngã (cái tôi) và cuộc đối thoại kết thúc như thế này: “Tôi không nghĩ rằng có một cách cố định để được giác ngộ về mọi thứ. Có rất nhiều cách cũng như có rất nhiều người. Nếu như Kinh Thánh nghe thấy chân thật đối với anh, thì điều đó thật tuyệt vời. Còn việc này nghe chân thật đối với tôi. Chúng ta đều cố gắng hết sức để tìm ra con đường của mình, cứ bước từng bước chân thật và không làm tổn hại những chúng sanh khác trên cuộc hành trình ấy”.

Chúng tôi chia tay nhau với cái bắt tay và anh ta ngỏ ý chúng tôi hãy để lại tin nhắn tại văn phòng cứu hỏa của anh ta… để cho những người có thể ra ngoài và muốn tìm chúng tôi.

Nếu quý vị thực sự sáng suốt và rõ ràng, thì điều gì có thể khiến quý vị phiền muộn đây?

 

 

Hằng Thật - Tháng 7, 1977

Đạo Phật là lời dạy của chúng sanh

 

Nói chuyện với một người chú.

“Nói cho ta nghe, Christopher…”

“Tên tôi là Hằng Thật. Tôi là một tu sĩ Phật giáo thọ toàn giới”.

“Được rồi. Xin lỗi. Hằng Thật nói cho tôi biết. Tôi đã biết thầy và nhìn thầy lớn lên trong một thời gian dài. Thầy có rất nhiều tiềm năng để thành công trên thế giới này. Tại sao thầy lại lui về Đạo Phật?”

“Để tôi giải thích một vài điều với chú về cách tôi nhìn nhận chúng và tôi nghĩ rằng chú sẽ đồng ý rằng trước hết quyết định của tôi không phải là sự rút lui mà là một bước tiến lớn về phía trước; thứ hai, đó là điều khôn ngoan nhất mà tôi đã từng có thể làm được. Giờ, chú hãy nghe và xem chú có không nghĩ như vậy hay không.

Chú biết đấy, tôi có một sự dưỡng dục vững vàng, tốt đẹp và khi tôi rời nhà để đi học, tôi có thể đã đi theo rất nhiều hướng khác nhau. Tôi có thể làm khá giỏi ở một số thứ. Tôi đã để ý tất cả mọi nơi tôi đến và đã hỏi rất nhiều câu hỏi. Ở trường Đại học, rất nhiều lần tôi đã hết sức tìm hiểu về con người trên thế gian này, những người đã 'thành công', và họ đã đi tới đó như thế nào. Cùng lúc đó, tôi cũng thấy rất nhiều sự đau khổ và đau thương ở khắp mọi nơi, rất nhiều điều tàn độc ngu xuẩn và gây hại không cần thiết – như chú biết – giống như những người khác, tôi đã khám phá ra thế giới. Tôi đã phát hiện ra rằng, cách thật sự để đo lường sự thành công là bởi những gì đang diễn ra ở trong trái tim. Có rất nhiều người có đủ tất cả mọi thứ, nhưng họ lại khổ sở. Có những người lại nghèo, nhưng họ thỏa mãn và sống cuộc sống trọn vẹn. ‘Thành công’ đã không còn quan trọng khi đến lúc phải đối mặt với chính cuộc đời của mình mà không có một sự trau chuốt nào. Nếu trong trái tim thiếu sót một điều gì đó, thì người ấy sẽ thường không vui, và không tiền bạc hay tình yêu nào có thể mang đến hạnh phúc. Nói tóm lại, điều mà tôi đang tìm kiếm thì không liên hệ đến tiền của hay quyền lực, vì thế, ‘thành công’ theo những nghĩa này không thật hấp dẫn đối với tôi. Tôi đang tìm kiếm sự tự do, tự do thực sự.

Tôi đã nhận ra rằng không ai muốn nói chuyện về cái chết. Cái chết khiến mọi người sợ hãi nhiều đến nỗi họ tìm đủ mọi cách quái lạ để làm ngơ, giả vờ rằng nó không tồn tại. Cùng lúc đó, họ lại bị mê hoặc bởi chính cái chết và đùa cợt với nó. Đây quả là vấn đề rất thực tế! Mọi người sử dụng hết năng lượng khổng lồ để cố gắng nhảy múa quanh cái chết nhưng không ai dường như biết chút gì về nó cả. Nhìn chung, mọi người chỉ sợ nó, nhìn trộm nó, và gọi nó là điều không thể tránh khỏi. ‘Cái chết và thuế má’, chú biết đấy. Vậy thì điều gì đang diễn ra ở đây? Lợi ích gì khi chạy và đổ mồ hôi để xây dựng lên toàn bộ cấu trúc của cuộc đời nếu chú s mất nó đi trong vài mươi năm hoặc trong chốc lát? Không ai biết. Không ai dám hỏi. Các giáo sĩ, hoàng đế, bác sĩ, và những hành giả Du Già (yogis) – cho dù họ thuộc thành phần gì đi nữa, tất cả họ cũng phải chết khi thời điểm ấy đến. Không ai thoát khỏi cái chết, cái mắc xích đầu tiên và cuối cùng trong tất cả các kiếp sống của chúng ta. Điều này dường như là tuyệt vọng, nhưng cùng lúc đó, dường như có một thứ thực sự đáng để tìm hiểu."

“Phải rồi, Hằng Thật, tôi nhớ có nói chuyện với thầy về chuyện này và đã băn khoăn về sự sáng suốt này của thầy, đã nghĩ rằng, 'Tại sao nó lại rất khó chịu về cái chết?'. Điều này có vẻ vô dụng như việc la mắng nước vì bị ướt”.

“Vấn đề là sự sanh và tử là mối quan tâm trọng tâm của tất cả chúng sanh. Không ai tôi đã quen biết hoặc đã đọc đến đã có một tí hiểu biết gì đến nó. Và rồi, chú có biết không, khi tôi đang ngồi trong lớp học ở Michigan và đã nghe ông Henry Rosemont nói rằng, ‘… Ngài ngồi dưới gốc cây Bồ Đề trong 49 ngày và đã giác ngộ về việc mình từ đâu đến và sẽ đi về đâu. Điều đầu tiên Ngài nói rằng 'Lạ thay, lạ thay, lạ thay. Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh và tất cả đều có thể trở thành Phật. Chỉ vì vọng tưởng và s bám chấp mà họ không chứng nhận (được Phật tánh)’. Khi tôi nghe thấy như vậy, chân tóc tôi dựng đứng lên. Đây chính là câu trả lời! Ai đó đã đối mặt với nó và nhìn xuyên thấu cái chết và rồi đưa nó quay trở lại cuộc sống! Quá nhiều! Ôi, tôi đã vui mừng đến chừng nào. Rồi ông Rosemont nói đến bài thuyết pháp ở vườn nai tại Benares, khi ấy đức Phật nói rằng, ‘Tất cả cuộc sống là đau khổ, đó là do trải qua sự tích lũy ham muốn mà ra.' Có một con đường đưa đến sự diệt vong của sự ham muốn, đó gọi là Bát Chánh Đạo của Chư Phật. Khi tôi nghe thấy điều đó, tôi đã trở thành một Phật tử - ngồi trong một chiếc ghế bành nhựa tại trường đại học ở Rochester, Michigan. Từ lúc đó, tôi đã biết mình gặp được chân lý. Từ thời điểm đó đến nay, chỉ là một chuỗi dần bước dọc theo con đường ấy. Tất cả tiềm năng của tôi, như chú gọi như vậy, là một nền tảng tốt lành cho sự tìm kiếm để hiểu được điều mà Đức Phật thấu hiểu”.

“Thì ra là vậy. Vậy thì thầy tin vào Đạo Phật”.

“Phật là người thông minh và khôn ngoan nhất đã từng sống. Nhưng Ngài không phải là một nhà lý thuyết. Không có lý thuyết hay triết lý sống Phật Giáo. Tất cả là vấn đề thực hành. 'Ông hãy chỉ cho tôi thấy', một thanh niên ở Missouri nói, và tôi nói rằng, 'Hãy làm việc này và tự anh sẽ thấy'. Tại sao lại nương cậy vào tôi? Phật có được trí huệ là nhờ vào nỗ lực dụng công. Và đừng quên điều này – Ngài đã bắt đầu khi còn là một con người bình thường, chứ không phải là thần thánh hay bậc siêu nhân nào cả. Thực hành Phật Pháp là một tập hợp của các nguyên tắc mà chú áp dụng cho chính mình và có được kết quả cho riêng mình. Đó có phải là một khái niệm xa lạ không?”

“Gieo nhân nào thì sẽ hái quả nấy, phải không?”

“Chính xác! Nguyên tắc đó nói đúng sự thật. Tôi biết nó tận trong xương tủy của mình. Do đó, để tiếp tục câu chuyện, tôi nghiền ngẫm một chút và bắt đầu ngồi thiền, và rất thích. Tôi nhìn vào những người mà Đạo Phật cho rằng ‘thành công’ và đã phát hiện ra một loạt những vị thật tuyệt vời, những cá nhân xuất chúng có trí huệ sánh với Phật, đã đi suốt dòng lịch sử từ thời đức Phật cho đến ngày nay. Chú đã từng nghe những câu chuyện những vị thiền sư kỳ quặc họ chọn thời gian để chết, hoặc sống lại để mắng một vị đệ tử, hoặc chết nhưng thân thể không phân hủy. Có khi, cơ thể họ vẫn ngồi đó, thật thú vị. Đức Phật, một người bình thường, đã học cách chấm dứt việc sanh tử của mình và một nhóm những người nam và nữ ở mọi lứa tuổi và khắp nơi ở Châu Á cũng như vậy. Tôi có thể học gì từ những điều mà họ biết?”

“Phải, tôi nhận thấy sự hấp dẫn đối với thầy”.

“Rồi tôi bắt đầu gặp những người Phật tử và dù họ đến từ đâu, họ đều biểu lộ một phẩm chất của sự an lạc và hạnh phúc mà tôi thực sự ngưỡng mộ. Có điều gì đó về những nguyên tắc của nó khiến cho cuộc sống của những người này trở nên tốt đẹp. Một khi chú bắt đầu hành theo Đạo Phật thì chú sẽ thấy kết quả, và chú sẽ không phải nói chuyện về niềm tin trong quan điểm này hay vị thánh kia; đơn giản chỉ là thực hành và nhìn cuộc đời mình sáng rỡ dần lên. Không có ai ở bên trên chú để mà diễn dịch. Chú phải tự nhìn vào nó. Tất cả mọi thứ đều được thử nghiệm. Câu trả lời đến từ tâm trí của chú”.

“Phải rồi, tôi nhận thấy tất cả những điều này rất hấp dẫn và tôi khá choáng ngợp. Thầy có thể vắn tắt lại không?”

“Chắc chắn rồi. Đạo Phật là lời dạy của chúng sanh. Nó ứng dụng trên khắp tâm địa không cùng tận và tốt lành cho sức khỏe thể chất và tinh thần của chú. Nó vi tế, phù hợp và tốt lành cho tất cả sinh vật sống trong xã hội và tuyệt diệu không thể nghĩ bàn, vô cùng tận trong cõi giới tâm linh. Phật Pháp là một thứ ở trên thế giới mà --khi nó được sử dụng như được chỉ dẫn – thì nó sẽ là một sự đảm bảo vô điều kiện giúp cho chú được hoàn toàn tự do. Điều đó thế nào hả chú?”


 

Hằng Thật - Tháng Bảy, 1977

Người bảo vệ đức tin

 

“Như Lai biết rõ tất cả mọi ham muốn sâu xa nhất của chúng sanh và khiến cho mỗi chúng sanh được hạnh phúc tùy theo những mong ước của họ”.

Kinh Hoa Nghiêm.

 

Qua nhiều năm, có những lúc tôi nhớ lại tiếng của mình nói chuyện với những người bạn về điều mà tôi thực sự mong muốn trong cuộc đời này. Nó đến với tôi vào những dịp đặc biệt qua con đường gián tiếp này. Tôi là người cần một tấm gương hay ý kiến phản hồi thường xuyên để kiểm tra sự tiến bộ và phát triển của mình. Cuộc hành hương này chính là tấm thảm thêu tất cả những điều mà tôi đã từng hết lòng mong muốn làm, tất cả đan xen với nhau bằng một sợi dây Pháp, cứng cáp và không thể bị phá vỡ.

Tôi nhớ đã nói với một người bạn tên là Donnie vào một đêm nhiều sao sáng trong tháng mười năm nọ rằng tôi cảm thấy tiếng gọi lòng mình để trở thành “người bảo vệ đức tin”. Vấn đề duy nhất là tôi vẫn chưa tìm thấy niềm tin nào đáng để bảo vệ.

Sau đó, lúc học trung học, một câu hỏi trong bài tiểu luận về tôn giáo đã cho thấy rằng tôi đang tìm kiếm một vị thầy cho đời mình, một người biết và thực hành những nguyên tắc sống thích hợp để ngăn chặn những sự vô nghĩa, làm chậm quá trình phân hủy khi người ta ở tuổi trung niên và trôi dần tới cái chết. Tôi muốn theo đuổi câu hỏi chính yếu của cuộc đời và cái chết, nhưng tôi biết tìm ở đâu một người thầy biết được điều đó?

Chùa Kim Sơn Thánh Tự ở San Francisco chính là nơi tôi tìm kiếm. Làm sao tôi có thể tìm thấy được một cách sống để cho tôi thời gian và sự hỗ trợ để nghiên cứu toàn thời gian về việc chúng ta từ đâu tới và chúng ta sẽ đi về đâu? Cuộc sống của một tỳ kheo Phật giáo cống hiến cho việc tìm kiếm đó. Thay vì đi làm việc lãnh lương, một công việc mà đối với tôi dường như nó luôn luôn giống như giết chết thời gian, tôi muốn một công việc toàn thời gian, không kỳ nghỉ phép, một nghề nghiệp có thể mang tôi đi xa đến hết mức khả năng của tôi. Tu hành là công việc đó. Nó chỉ bị giới hạn bởi những ảo tưởng viển vông của tôi mà thôi. Tự do là mục tiêu duy nhất đáng để tìm kiếm và Phật quả chính là cảnh giới cao nhất của sự tự do. Trí huệ là điều mà tôi mong muốn. Khi ai đó làm điều tốt, chân thành, kiên định và không lay chuyển trong việc tu hành, thì trí huệ và sự tập trung (định) cuối cùng sẽ xuất hiện. Tôi cảm thấy sự thôi thúc muốn giúp đỡ người khác chấm dứt mọi đau khổ khủng khiếp của họ. Khi tôi khám phá ra rằng đau khổ do tâm tạo nên, bao gồm cả thiên đường và địa ngục, thì tôi biết rằng làm một bác sĩ chữa bệnh thì chỉ giúp chữa lành những bộ máy tồi tệ của con người thôi và rồi lại đặt họ sang một cái vòng đau khổ khác. Khi người ta học hiểu được Phật Pháp đầy đủ thì họ có thể giúp đỡ con người chữa lành bệnh tận gốc. Tôi muốn sống một cuộc đời khám phá ở ngay chính giữa dòng của sự thay đổi và bất ngờ. Những vòng hành hương kỳ diệu của Tây Du Ký của Ngài Huyền Trang, Chúa Tể Những Chiếc Nhẫn, và tất cả những tưởng tượng trên thế giới này. Tôi muốn sống và làm việc ở bên ngoài, ăn thức ăn ngoài trời, thường xuyên thực hành bài thể dục có hệ thống, học công việc của mình trong lúc làm việc, du hành, và quan trọng là làm tất cả những việc này cùng với một người bạn đồng hành mạnh mẽ, đáng tin cậy, một người có thể chia sẻ những sự hiểu biết giống nhau, và có cùng hoàn cảnh và mục tiêu.

Tôi muốn luôn luôn thuộc về một cộng đồng thuần khiết, với những người bạn đồng chí hướng tuân thủ kỷ luật chặt chẽ, hợp nhất trong mối quan hệ sâu sắc về niềm tin và công việc. Tôi luôn luôn không tin tưởng vào phương thức tiếp cận của thế giới lý luận về thực tế và tôi muốn tìm hiểu xem nó thực sự hoạt động như thế nào – quá khứ, hiện tại và tương lai. Tất cả những mong ước này đã ở trong tâm trí tôi trước khi tôi bước vào cảnh cổng tu viện Kim Sơn. Giờ đây, sau năm năm, tôi đang ở giữa cả một đại dương của sự an lạc và nước ngát hương thơm. Dần dần, từng điều mong ước dù đã nói ra hay không nói ra của tôi đang trở thành sự thật. Một số thì biểu hiện ra, một số thì thấp thoáng đâu đó trong những việc đang tới. Phật pháp khiến tôi xao xuyến xúc động. Trong khi tôi làm việc và sộ́ng cuộc đời mình như một kẻ mù đang bước về phía ánh sáng xa xa, tôi vui mừng đang được tiến bước.

Hãy nhìn vào những sự kỳ diệu của việc này: không điện thoại, không ông chủ, không hóa đơn, không trẻ em, không xe để lái, không tiền để tiêu, không hàng xóm, không quảng cáo, không tranh luận, không công việc nhàm chán, không máy móc, không nhiệm vụ, không lo lắng, không tiệc tùng, không chất độc.

 

Hằng Thật - Tháng Bảy, 1977

Có tâm niệm nào trong mười lạy đó không?

 

Các cột điện, các trụ hàng rào, và những bụi cây: Mượn Cái Giả Để Tu Cái Thật.

Nó dường như đang hoạt động thế này: Còn có những điều khác nữa chứ không phải chỉ có những tư tưởng ở trong tâm trí của quý vị. Có một hạt giống (chủng tử) của ánh sáng trí huệ, Phật tánh. Chúng ta không tìm ra nó bởi vì chúng ta để quá nhiều vật trên đường của nó – những tấm phủ do tâm niệm.

Một khi chúng ta khám phá ra rằng hạt giống Phật sống trong ta, rằng chư Phật đều do sự làm việc ở bên trong, song hành cùng với những hành vi có kiểm soát bên ngoài mà thành, thì lúc đó chúng ta có thể có tiến bộ. Những huấn thị ̣đầu tiên cho chúng tôi là: “Không tạo bất kỳ vọng tưởng nào!” Tại sao lại không?

Vọng tưởng phủ bóng tối lên ánh sáng đang chậm chạp lớn dần lên của quý vị và che khuất ánh sáng đó. Ham muốn đưa ánh sáng đó đi sai đường. Vô niệm làm ánh sáng đó tan chảy, chữa lành và biểu hiện đúng đắn. Cùng lúc đó, chúng tôi được hướng dẫn để lễ lạy. Việc lễ lạy tạo ra ánh sáng làm trưởng dưỡng hạt giống Phật tánh, khiến hạt giống Phật tánh bắt đầu tăng trưởng và lưu chuyển. Năng lượng đến từ sự quay ánh sáng trở lại (một cách tự nhiên) có được qua nhiều dạng thức: không nói chuyện, không nghĩ ngợi, không để mắt ra ngoài, không viết thư, không trở nên bực bội, không dễ duôi cẩu thả nào hết.

Mọi suy nghĩ được kiểm soát bởi thanh kiếm trí huệ, nó quan sát tâm trí từ cột trụ điện thoại này đến cột trụ điện thoại kia. “Có tâm niệm nào trong mười lạy đó không? Nếu có, hãy chém chúng! Hãy thêm ánh sáng và bớt bóng tối! Bây giờ, hãy lạy tới bụi cây đằng kia mà không để cho một vọng tưởng nào trỗi dậy. Sẵn sàng chưa? Đi nào!! Chém!! Nam mô Thường Trụ, chém!! Ta bà ha! Ba la mật! Giờ thì đi tiếp tới trụ hàng rào kế tiếp kia… chém!!". Bên trong trở nên nhẹ nhàng hơn sau mỗi cái lạy và sau mỗi lần chém. Dường như có một cái gì đó tồn tại ngoài chiếc kính suy nghĩ vạn hoa. Tôi cần phải đóng miệng lại để tìm hiểu. Thực sự chấm dứt nói chuyện ở bên trong và cả bên ngoài.

Không gian kế tiếp dành chuẩn bị cho chiến thắng tuyệt vời đối với những tấm phủ do tâm niệm. Kinh sáng. Thọ trai. Kinh tối. Ta bà ha! Ba la mật! (1). Sẽ có ngày thành tựu Bát nhã ba la mật! Nhưng bây giờ thì chưa có thể nghĩ về điều đó. Cần phải vung thanh kiếm cổ sắc bén này nhiều hơn. Chém! Chặt! Ngậm miệng lại! Thêm ánh sáng!!

 

Ghi chú:

(1) Paramita - Ba La Mật - là tiếng Phạn có nghĩa "đi đến bờ bên kia." Đó là, từ bờ bên này sanh tử, vượt qua dòng phiền não ở giữa, đến bờ bên kia Niết Bàn. Tiếng Phạn một ngôn ngữ Ấn Độ, và ở Ấn Độ, khi một cái gì đó đạt được hoàn toàn thì được mô tả là "Ba La Mật." Hoàn thành điều gì đó cũng được gọi là "Ba La Mật", đó là lý do tại sao tu hành thành tựu cũng được mô tả là "Ba La Mật." Nói rộng ra, nếu ban đầu quý vị phiền não, nhưng sau đó quý vị làm cho không phiền não, đó là "Ba La Mật". - Kinh Hoa Nghiêm Lược Giảng - Hòa Thượng Tuyên Hóa.

(Paramita is a Sanskrit word which means "gone to the other shore." That is, from this shore which is birth and death, one goes over the flow of afflictions in between, and reaches the other shore which is Nirvana. Sanskrit is an Indian language, and in India, when something had been achieved fully, it was described as "paramita." Completing something was also called "paramita." That's why for cultivation to be brought to accomplishment is also described as "paramita." By extension, if to start with you have afflictions, but later you manage not to have afflictions, that is "paramita." http://www.drbachinese.org/vbs/publish/267/vbs267p004.htm ).

 

 

Hằng Triều - 01 tháng 8, 1977

Tôi không thích những màn cửa mới này



Lạy qua khu thương mại ở Ventura. Hai người phụ nữ ở bên ngoài nhà hàng Warren:

“Các anh là người của nhà thờ à?”

“Chúng tôi là tu sĩ Phật giáo”

“Ồ, ra vậy. Tốt. Tu sĩ Phật giáo”.

Người phụ nữ thứ hai: “Hả? Họ là ai?”

Người phụ nữ thứ nhất: “Những tu sĩ Phật giáo”. (nói rất to)

Người phụ nữ thứ hai: “Ồ, ra vậy. Tốt đấy… tôi không thích những chiếc màn cửa mới này trong nhà hàng Warrens…”

 

Lạy suốt cả ngày như thế.

 

 

Hằng Triều - 02 tháng 8, 1977

Bà có muốn bản thông cáo của chúng tôi không?


Lạy qua trụ sở truyền giáo cũ của San Buenaventura trong buổi sáng sớm nay. Một người phụ nữ quỳ xuống, tay nắm chặt tràng hạt mân côi và bắt đầu khóc, sám hối ngay cạnh chúng tôi.

Phật giáo vẫn còn mới mẻ ở nước Mỹ. Nó đưa ra rất nhiều câu hỏi và ý kiến mà tôi không luôn luôn sẵn sàng cho những điều đó. Đôi khi chúng thật hài hước.

Có những lúc thấy rõ, nhưng đôi khi lại an toàn và nguy cấp. Trong mọi trường hợp, chúng tôi cố hết sức để làm cho rõ ràng. Và phần lớn chúng tôi đạt được là từ những gi mà chúng tôi đang làm chứ không nhiều lắm từ những gì mà chúng tôi nói.

Ví dụ, rất nhiều người ngạc nhiên khi thấy chúng tôi là “những người Mỹ bản xứ” nói tiếng Anh. Một hôm, một người phụ nữ tới và kinh ngạc khi tôi trả lời bà ấy bằng tiếng Anh. “Tôi muốn anh (chỉ về phía tôi) biết rằng, cái này (bà đưa túi trái cây ra) từ Chúa trời của tôi trên đó (chỉ tay lên trời), người ngự ở trong tôi (kéo ngón tay đang chỉ trên trời về phía tim bà ta) gửi tới các anh (chỉ vào tôi lần nữa)”. Bà ấy làm như thế ba lần trước khi tôi có thể nói, “Bà có muốn nhận bản thông cáo này giải thích về chuyến hành hương của chúng tôi không?” Bà ấy há hốc miệng.

Brad, một người trượt sóng tại địa phương xuất hiện để hướng dẫn chúng tôi tới một con đường cũ song song với đường xa lộ. “Khi các thầy tiến xa về phía bắc, tôi sẽ trông chừng cho các thầy. Tôi biết một vài con đường cũ mà các thầy có thể đi qua”. Anh ta dừng lại vì thấy chúng tôi đang bước đến gần đấu đường xa lộ và lo rằng chúng tôi sẽ quay trở lại hoặc từ bỏ vì chúng tôi không thể đi bộ trên đường xa lộ. Có rất nhiều người góp sức để giúp chúng tôi hoàn thành và thực hiện thành công lời nguyện của mình.

 

Lạy trong trạng thái mụ mị.

Trạng thái mơ màng, buồn ngủ này sẽ thỉnh thoảng được hình thành trong khi lạy – hôm nay, khi tôi bắt đầu chìm đắm và trôi ra xa, thì hai mươi mốt câu đầu của chú Lăng Nghiêm khởi động và tôi thấy mình đang niệm và tỉnh lại. Rồi, tôi nhớ lại buổi tối ở chùa Kim Sơn, khi lần đầu tiên chúng tôi bắt đầu niệm phần này của bài chú. Tôi lúc đó đang rơi vào trạng thái mụ mị cuốn hút giống như thế này, khi tôi đột nhiên cảm nhận thấy một sự hiện hữu ở ngay cạnh tôi. Tôi ngái ngủ xoay người để nhìn. Đó chính là Sư Phụ. Một tiếng gõ! Tôi nhận ra mình đang “chìm trong trạng thái Âm”. Ánh sáng của Sư Phụ và dương khí đã kéo tôi ra khỏi trạng thái mụ mị.
 
Một mình đào tuyết bằng giày trượt tuyết trên núi Sierra. Một trận bão lớn đột nhiên xuất hiện. Tôi đào một hang tuyết bằng đôi giày trượt tuyết và bò vào trong để chờ bão qua. Chậm chạp, gần như không thể cảm nhận được, trạng thái buồn ngủ thoải mái, bao trùm và rất lôi cuốn chiếm lấy tôi. Tôi kiệt sức và trạng thái mụ mị dễ dàng lấn vào. Làm thế nào đó mà tôi nhận ra rằng tôi có thể chết nếu cứ để mặc mình chìm đắm trong trạng thái mụ mị đó. Tôi đào tuyết nhào ra khỏi hang và bắt đầu bước đi cho đến khi tôi tìm thấy sự thoáng đãng của của đồng cỏ trên núi. Những đám mây tan và nắng ấm, ánh mặt trời đã làm tôi tỉnh lại. Mặt trời là sự sống, còn cái hang thì lạnh cóng và chết chóc.

Tôi không thể nhắm mắt khi lễ lạy được! Tôi phải xoay chuyển những cảnh giới này bằng năng lượng, nếu không, tôi sẽ bị xoay chuyển và bị thủy triều của cảnh giới lôi đi. Không tu hành ở chỗ đó. Phải lưu ý “mọi cảnh giới” – để mặc chúng đến và đi mà không bị lay động. Chắc chắn có một số người thắng, những cảnh giới do tâm tạo nên.
 

 

Hằng Thật. Tháng 8, 1977

Sự chú tâm của Thầy ấy thật hoàn toàn

 

Ra khỏi Santa Barara.

Một trong những hình ảnh ưa thích của tôi về cuộc hành trình này: Tôi đang đứng trên bãi cỏ khô của một cái cống bên ngoài xa lộ 101, nơi tôi vừa mới đi vệ sinh. Mặt trời lúc 5h chiều trong buổi chiều thu đầu tiên tạo ra những bóng vàng lấp lánh trên suốt hai hàng rào chắn đường bằng cây giọt băng (ice plant), những chiếc xe tải lao nhanh, những lùm cây chanh màu xanh thủy tinh lấm chấm trên những ngọn đồi phía trước. Thầy Hằng Triều đang đứng trên lề đường đất hẹp của xa lộc, vai đeo chiếc túi màu vàng đựng mọi thứ đang chờ tôi quay lại và bắt đầu lạy. Trong khi chờ đợi, thầy ấy lôi ra một bản cũ nguyệt san Bồ Đề Hải và hoàn toàn bị thu hút vào đó. Sự chú tâm của Thầy ấy thật hoàn toàn; thầy ấy hòa vào tiếng xe giao thông gầm rú vang như kim khí khi chúng vượt qua chỉ cách thầy vài inch (1 inch = 2.5 cm) và gương mặt thầy ấy bừng lên vẻ sung sướng giống như đứa trẻ cười toe toét khi thầy ấy đọc những lời dạy của Hòa thượng Trụ Trì trong buổi nói chuyện của khóa thiền mấy năm về trước:

“Nếu muốn thành Phật, quý vị cần phải giống như con hổ phóng chồm xuống sườn núi! Cắn xé những nghiệp chướng của mình cho đến chết!”

Thầy Hằng Triều nhận thức rất rõ về năng lượng dương và những lời nói của Hòa thượng là thuần dương.

Khung cảnh có phẩm chất của tấm hình chụp sáng rực mà tôi sẽ nhớ mãi.

 

 

Hằng Triều - Ngày 3 tháng 8, 1977

Thế giới trong thế giới, quốc gia trong quốc gia


 
Chúng tôi đang ở phía Nam cách thành phố Santa Barbara 25 dặm (khoảng 40km) trên một con đường cũ xưa dành cho xe đạp. Nơi đây bị thiếu nước. Chúng tôi chỉ đổ đầy được nửa bình cho các thùng nhỏ đụng nước của chúng tôi tại một công viên tiểu bang. Có một đám cháy lớn ở phía bắc. Hàng trăm gia đình không có chỗ ở.

“… Sám hối quả báo nước lửa đạo tặc, binh đao hiểm nguy khổ sở trong nhân gian."
Sám Dược Sư
 

“Có chúng sanh được sinh ra trong biển tâm niệm; trú ngụ tùy thuộc vào những gì mà tâm trí thấu hiểu. Giống như một phép mầu, ở một nơi mà không có nơi nào”.
Kinh Hoa Nghiêm


Có những thế giới trong những thế giới và những quốc gia ở trong những quốc gia. Tùy theo những gì mà người ta có thể hiểu và “nhìn thấy” chúng xuất hiện. Trong một hố nước thủy triều hay bên trong những cây nấm dưới gốc trái dưa đỏ là những thế giới, những quốc độ đang vận hành độc lập với chính bản thân chúng.
 
Có những quốc độ bên trong những quốc độ, “sinh ra ở trong biển tâm niệm”. Không nói chuyện là một trong số những quốc độ. Khi yên lặng, vô lượng vô biên thế giới va mối quan hệ mà tôi chưa từng mơ đến đã thị hiện. Kiên nhẫn và bố thí làm chấm dứt những thế giới của sự tức giận và keo kiệt, và trong từng hành động đơn giản, mọi thứ trông khác biệt – chúng xuất hiện “giống như một phép mầu”.
 
Chậm dần lại trong khóa thiền hay nhịn ăn vài tuần lễ làm chuyển các bánh răng trục quay của chúng tôi. Những thực tế quen thuộc thành trống rỗng và những thứ mới mẻ xuất hiện“ ở trong một nơi mà không thuộc về nơi nào cả”. Không phải là không giống việc tìm kiếm “những miếng hình ghép trốn mất” trong trò chơi hình ghép, tìm con sóc ở trong một cái giỏ cắm trại ngoài trời hay tìm những hình chim trong vân gỗ của một cái bàn.
 
Tương tự với khu cắm trại. Một nơi hoàn toàn trông có vẻ như không có hứa hẹn gì, rồi đột nhiên, “như một phép màu”, một nơi khác sẽ xuất hiện – giống như lô đất trống ở Marina Rick hay một con đường bị lãng quên. Tất cả đến từ tâm trí và chúng được sinh ra “tại một nơi mà không thuộc về đâu cả”.

Bên trong và bên ngoài, từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác và từ thế giới ở bên trong thế giới, tất cả hiển lộ “như một phép mầu”. Tất cả những thực tại riêng biệt này, ít nhất là một vạn: bồng bềnh trong một “biển tâm niệm”, tất cả vây xung quanh và xuyên suốt lẫn nhau (viên dung). Thật kinh ngạc.
 

 

Hằng Triều - Ngày 04 tháng 8 năm 1977

Một con người khác của thầy đang hé lộ ra ngoài



Thử nghiệm thiền định: không động tâm hay thân khi những con kiến bò lên chân chui xuống quần và khi chúng diễn hành ngang qua môi, chui vào trong mũi, hay khi ruồi đậu trên mi mắt. Tôi lại thất bại nữa rồi. Mỗi một ngày là một cơ hội để cố gắng làm lại.

Trong lúc đang gom các hạt dưa và làm sạch bên trong trái dưa trước bữa trưa thì tôi có suy nghĩ: “Này, tôi muốn dùng muỗng xúc bỏ bỏ đi và cạo sạch những vọng tưởng trong tâm trí tôi đi giống như thế này”.

 

Một mảnh giấy gởi thầy Hằng Thật từ Hằng Triều:

“Tôi đã không định nói, nhưng tôi sẽ nói vì tôi nghĩ thầy nên biết, vì đôi khi, có những điều chúng ta gần gũi nhất mà chúng ta lại thấy xa xôi nhất. Điều đó có nghĩa là, một con người khác của thầy đang hé lộ ra ngoài. Nó nhún nhường và khiêm tốn. Không cứng nhắc và che đậy bằng sự “bảo vệ”. Không chỉ thị và linh hoạt, nhưng chân thật và dễ tiếp nhận hơn. Mạnh mẽ ẩn trong sự mềm mại – tương phản với một con người khác của thầy mà tôi thường thấy bao phủ và phòng vệ theo kiểu ‘kiểm soát được mọi thứ’. Ngắn gọn và trọng điểm, nụ cười và vẻ duyên dáng thân thiện giả tạo. Tất cả các giai đoạn diễn xuất bên ngoài. Nhìn rất hay".
 
 

 

Hằng Triều - 05 tháng 8, 1977

Tôi không tìm cầu gì cả



Cao thì cần có thấp để mà cao. Bám chấp vào cái cao hay chìm đắm trong cái thấp đều là những sự phân biệt trống rỗng. Trước đây, tôi chưa bao giờ thực sự hiểu điều đó.

Bị xáo trộn bởi những tâm trạng và cảnh giới trong một thời gian dài, tôi vừa mới nhìn thấy chúng cứ như thể chúng đến từ tâm trí phân biệt của bản thân tôi. Tôi cảnh giác với những cái cao cũng như những cái thấp và nghi hoặc những “cảnh giới” bởi vì tôi phẳng lặng.

Có một cái chuông báo động ở bên trong đang vang lớn và hét lên “Cái tôi, cái tôi – báo động về cái tôi”. Vì thế, lúc này tôi chỉ cố hết sức mình trong từng phút và để mặc cái gì đến thì đến, cái gì đi thì đi. Tôi không tìm cầu gì cả – lúc này tôi chỉ đang cố gắng để thực hiện một bước đi vững chắc; bước đi trên Đạo.

Mọi thứ không bớt đi những kỳ diệu. Chúng chỉ hầu hết dường như giống nhau. Đó là một cuộc phiêu lưu rất tĩnh lặng, không ngôn từ hay suy nghĩ nào có thể diễn tả được. Tôi không biết đây là nơi nào, nếu đây là một nơi “nào đó”. Tôi thậm chí không biết nó trông như thế nào nếu nhìn từ bên ngoài. Thật khó để nói lên tất cả những phản ứng khác nhau, nhưng cảm giác nó rất thật và an ổn. Đó là một cuộc sống rất chân thật và không bao giờ nhàm chán.

Và với tất cả tình trạng thường xuyên không đổi của nó, không có một thứ gì dường như là giống nhau và mỗi một phút là một nơi mà tôi chưa bao giờ đặt chân tới.

 

Vì tôi đã chuyển và rời tất cả cảnh giới thế gian mà hoan hỷ.

Kinh Hoa Nghiêm (Phẩm Thập Địa) (1)

 

Riêng ta hỗn độn, như sóng biển nhấp nhô, như gió thổi trôi dạt không ngừng nghỉ.

Riêng ta khác người, mà quý mẹ muôn loài. (2)

Đạo Đức Kinh

 

Ghi chú:

(1) Kinh Hoa Nghiêm http://www.dharmasite.net/KinhHoaNghiem26-ThapDia.htm

(2) Nguyên văn:

我獨悶悶, 澹兮其若海, 飂兮若無止 ...

我獨異於人, 而貴食母.

ngã độc muộn muộn. đạm hề kỳ nhược hải. liêu hề nhược vô chỉ ...

ngã độc dị ư nhân, nhi quý thực mẫu.

Lão Tử - Đạo Đức Kinh (Chương 20)

 

Hằng Triều - Ngày 6 tháng 8, 1977

Làm thế nào mà có quá nhiều chuyện xảy ra như thế

 

Tối hôm qua một số cư sĩ đã đến vào thời khoá công phu chiều và đã đưa chúng tôi trở về chùa Kim Luân vì Hoà Thượng đã đến chùa Kim Luân vào cuối tuần. Cảm giác lạ lùng của chuyến lái xe trở về trong khoảng một giờ đồng hồ qua các đoạn đường mà chúng tôi đã mất hàng tháng để đi qua.

Mỗi một vùng đất hay ngọn đồi hay đường phụ bên cạnh xa lộ mà chúng tôi vượt qua nhanh như nháy mắt trên đường quay ngược trở lại thành phố Los Angeles chứa đầy những kinh nghiệm và sự lớn mạnh dường như trải dài qua nhiều năm đầy cảm xúc và tâm linh. Thời gian và không gian biến dạng hoàn toàn tận gốc: Làm sao mà có nhiều chuyện xảy ra trong một khoảng cách ngắn như vậy? Câu trả lời là tất cả duy tâm tạo và không có đo lường hay chiều kích không gian nào ở đây.

Nhưng rồi lại một lần nữa, luôn là như vậy, những ngày tháng, năm và giờ, các sự phân chia bời những ngày sanh nhật; những kỷ niệm hàng năm, hay trăm năm là ảo giác, ngụy tạo. Nó thực sự có thể làm chấn động cái trật tự an ninh về vũ trụ của quý vị khi chính mình trực tiếp kinh nghiệm được một chút “sự sụp đổ” đó thay vì đọc về nó qua tiểu thuyết khoa học giả tưởng hay nghe nói về nó trong buổi giảng kinh, để rồi trí năng quý vị sẽ dẹp nó vào một ngăn tủ với cái tên “những ý tưỡng xa vời” cho sau này.

Chư Thiện tri thức! Cái tâm lượng thiệt là rộng lớn, châu biến cả thảy Pháp giới, dùng nó liền hiểu rõ ràng. Cái tâm lượng khi ứng dụng ra, thì biết hết thảy cả sự vật. Cả thảy tức quy về một, một tức gồm hết cả thảy, tới lui thong thả, tâm thể suốt thông, không ngưng trệ, tức là Bát nhã vậy.”

Kinh Lục Tổ Pháp Bảo Đàn.

 

“Đó là nơi mà chúng ta trụ tâm, là nhà – là cái tâm "Ưng Vô Sở Trụ".

Kinh Kim Cang.

 

“Phật Pháp sinh trưởng từ trong gian khó”.

Kinh Lục Tổ.

Trong việc lễ lạy, khi quý vị đạt tới một điểm mà cơ thể quý vị không thể tiếp tục được nữa và cho dù vậy quý vị vẩn tiếp tục tại vì không có cái ngã và cũng không có sự “lạy” hay “thối lui”. Trong việc lễ lạy, khi quý vị đến một điểm mà tâm quý vị có cảm giác sẽ bùng nổ điên loạn và quý vị vẫn tiếp tục cho đến khi sự điên loạn đó không còn quan trọng hay có ý nghĩa gì nữa. Điều đó xảy ra trong thân tâm là nơi tôi chưa hề biết đến trước đây. Nó vừa đắng lại vừa ngọt. Đắng: tôi nắm hai tay đánh xuống đất và đập đầu lên mặt đất muốn hét lên và khóc nức nở. Ngọt: sau đó không có gì đáng quan tâm. Sự việc trôi qua. Cảm giác bình an giữa nơi giao thông và các luồng gió, không chút sợ hãi, không một mong muốn - chì là trống không, hoàn toàn không. Lúc này mọi ngôn từ, ý nghĩ ngừng bặt.

Cảm giác ấy như thế nào? Viết về nó ư? Vọng tưỡng và cái chấp trong tôi quá nặng nề, quét sạch nó thật là vất vả.

 

 

Hằng Thật - Tháng 8 năm 1977

Đó là một sự sắp xếp lý tưởng cho việc tu hành



Cay đắng
ư? Như thế thật hoàn hảo!

Đó là một sự sắp xếp lý tưởng cho việc tu hành. Chiếc xe mà chúng tôi ăn, ngủ, và tụng kinh trong đó luôn hơi thiếu không khí và quá nhỏ để được thoải mái.

Chúng tôi phải xoay chuyển điều đó lại vào trong tâm trí mình, đặc biệt khi chúng tôi đầy nhiệt sau một ngày lễ lạy. Lịch trình thì mãi mãi luôn quá khít khao. Chúng tôi luôn chạy tới điểm lạy, cố gắng chen vào lịch trình đó là việc cạo râu tóc hoặc may vá hay viết lách trong giờ giải lao. Nếu có những công việc vặt phải làm thì việc ngồi thiền của chúng tôi bị ảnh hưởng tệ hại.

Bữa ăn trưa luôn hết giờ trước khi chúng tôi thực sự ăn xong. Các buổi lễ công phu luôn luôn diễn tiến lâu quá cả những cơn mệt mỏi và đi vào giai đoạn mê man – ngủ gật.

Những con kiến thì điều khiển thế giới và có thể làm dừng bất kỳ hoạt động nào của chúng tôi bằng cách bò xuống cổ áo hoặc vào trong tai. Mọi nơi ở Bắc California đều là đất đai thuộc sở hữu tư nhân và chúng tôi làm công việc “canh chừng cảnh sát tuần tra Malibu” như một thói quen, sẵn sàng bị thử thách trong bất cứ lúc nào, bị người ta đuổi đi khỏi hay bị đánh thức bởi tiếng dùi cui nện liên tục trên cửa sổ. Mặt trời khuất bóng, cái lạnh len lỏi, cơn gió khiến Hằng Thật phát cáu khi mấy chiếc màn cửa và tấm giới y bay phần phật. Một chiếc xe dừng lại và chúng tôi không bao giờ biết chuyện gì tiếp theo: những lời lẽ tốt đẹp và ủng hộ hay những lời nguyền rủa và còn tồi tệ hơn nữa. Dù sao thì chúng tôi cũng phải luôn cảnh giác. Những hòn đá và kiến khiến cho mỗi bước lạy trở thành điệu nhảy bugi-wugi, rồi tiếp đến là giao thông. Quý vị có thể trừu tượng hóa dòng xe cộ lưu thông thành một dòng hơi nước, hay khói của dòng sông kim loại hay có thể thấy nó thật như mọi người ở trong một chiếc vỏ bằng kim loại và nhựa đang chạy với tốc độ cao, như hỏa tiễn bay chỉ cách những chiếc túi da mỏng manh của chúng tôi vài phân (inches).

Đó là một sự sắp xếp lý tưởng cho việc tu hành! Ai mà có thể bám chấp vào túi da mỏng manh được đây?

Vào mọi lúc, tâm trí bị chuyển trở lại với những khiếm khuyết của thân thể này. Sự thôi thúc xoay ánh sáng trở lại và tìm kiếm cái siêu việt trong cõi trần gian luôn hiện hữu. Đó là lý do tại sao điều đó thực sự rất tuyệt vời. Tất cả chỉ là sự thử nghiệm. Cho dù quý vị có ở nơi nào trên thế gian này, trực tâm chính là Đạo Tràng.

 

Hằng Triều - Ngày 7 tháng 8, 1977

Căn phòng sống động với những tiếng cười và sự hài hước

 

Bồ Đề Đạo tràng ở thành phố Los Angeles thật là thanh tịnh! Thật quen thuộc, đặc biệt là với bàn thờ mới, những bức tượng, bức tranh và Hòa Thượng! Giống như sau hàng tuần ở trong những hang dưới đất lại tìm được một lối thóat ra, nhìn lại được ánh sáng mặt trời, biển và bầu trời trãi rộng. Những nơi thiêng liêng gội ra tâm can và làm đầy tâm thức bằng những kho tàng báu vật gia tiếng cười, li trách mắng, những câu chuyện và sự tĩnh lặng của một gia đình thân thiết – những nơi như thế này không dễ tìm được, thật sự rất khó gặp!.

Cúng dường: Quả Trai 20$ thực phẩm: Quả Tướng, Quả Dan và Bà họ Hoàng, bà họ Tạ và quần áo, các vật dụng (đèn và dầu, áo thun, giày). \

Gặp gỡ với đức Hồng Y Vu Bình (gồm có Hòa thượng, thầy Hằng Thật, Quả Tướng, ông Hsiah và Larry Lee, và tôi).

Bồ tát trụ bực Hoan Hỷ Ðịa thời thành tựu nhiều hoan hỷ, nhiều tịnh tín, nhiều ái lạc, nhiều vui thích, nhiều vui mừng, nhiều hăng hái, nhiều dũng mãnh, nhiều không đấu tranh, nhiều không não hại, nhiều không sân hận.

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Địa

 

Phật Pháp thật tuyệt vời. Nó khiến cho người ta hạnh phúc và hoan hỷ vui thích lắng nghe. Trong suốt những buổi giảng tại chùa Kim Luân, căn phòng sống động với những tiếng cười và sự hài hước. Đó là một loại khôi hài khiến mọi người tr nên tinh tấn hơn thay vì khôi hài làm giảm sự phát tâm và chánh niệm. Đó là một loại cười đặc biệt, làm phát khởi niềm tin, sự phấn chấn khiến cho tất cả những ai nghe thấy liền phát tâm Bồ Đề. Quan trọng nhất là, sự hài hước và tiếng cười trong khi Hòa Thượng chuyển Pháp Luân thì không phải là chế giu ai đ. Không một ai trong toàn thể đại chúng phải bỏ đi vì bị phiền toái hay bị bực tức. Rất nhiều điều đđược thành tựu trong những Pháp Hội đầy hỷ lạc như thế này. Thật là vui sướng khi được tham dự trong đó.

 

Ghi chú:

(1) Kinh Hoa Nghiêm http://www.dharmasite.net/KinhHoaNghiem26-ThapDia.htm

Nguyên văn:

菩薩住歡喜地,成就多歡喜、多淨信、多愛樂、多適悅、多欣慶、多踊躍、多勇猛、多無鬪諍、多無惱害、多無瞋恨 http://tripitaka.cbeta.org/T10n0279_034

Bồ Tát trụ hoan hỉ địa, thành tựu đa hoan hỷ, đa tịnh tín, đa ái lạc, đa thích duyệt, đa hân khánh, đa dũng dược, đa dũng mãnh, đa đấu tránh, đa não hại, đa sân hận

 

 

Hằng Triều - Ngày 8 tháng 8, 1977

Rốt cuộc ta không phải là người Thầy tệ lắm

 

Anh Quả Trai lái xe đưa chúng tôi trở lại xe hơi của chúng tôi để ở cảng Hueneone. Chúng tôi dã dành thời gian, có lẽ là quá nhiều thòi gian, để xem lại và tổng hp lại tất cả những li dạy bảo và lời chỉ dẫn sửa đổi sai lầm mà chúng tôi nhận được ở chùa Kim Luân. Đúc kết lại là: “Ta mong các con sẽ giác ngộ. Ta hy vọng rằng các con sẽ khai sáng trí huệ và nhìn thấy chân tâm của mình. Nếu các con có thể làm như vậy, thì rốt cuộc ta không phải là người Thầy tệ lắm. Ta hy vọng các con có thể cắt bỏ lậu hoặc. Đừng nói chuyện quá nhiều. Nói những lời hữu ích. Nếu diều gì không có ích thì đừng nói. Hãy cố gắng hết sức mình!”

Thầy Hằng Thật có vẻ như bị bệnh – viêm họng, cảm lạnh.

 

Hằng Thật - Tháng 5, 1977

Họ không tìm kiếm tiền lương và tiện nghi

 

Tuyệt tận ngôn từ.


Cái mà chúng tôi đang thực hành là Pháp không lời. Điều mà tôi cảm nhận được khi đi trên
đường Đạo thì không thể diễn tả được bằng lời. Mười tám năm học ở trường học để lại một con người tôi hay nói nhiều và lầm lẫn sâu sắc. Cái bằng Cao Học (1) chứng nhận rằng quý vị có thể bơi trong vũng nước nông cạn của ngôn từ. Không một chữ nào tôi đọc được trong những quyển sách trong suốt thời gian đó giúp tôi vượt qua được vùng nước sâu hay cuộc sống.

Chúng ta có quá đầy ngôn từ đến mức chúng gây cản trở cuộc sống. Chúng ta không tin vào kinh nghiệm của chính mình. Chúng ta thích có cái kinh nghiệm đó từ kinh nghiệm của người khác, thông qua bộ lọc của những động từ, danh từ, tính từ. Nó phản tác dụng khi quý vị không mở quyển sách ghi chép của mình ra.

Thầy Hằng Triều đã chứng kiến đám đông lắng nghe Hòa Thượng giảng. Hầu hết mọi người chăm chú, hớn hở, đôi mắt linh động và tiếp thu hết tất cả. Thầy Hằng Triều, Thầy Hằng Chu và tôi cắm cúi vào vở ghi chép, chỉ có đôi tai là hướng ra, ra sức chép lại. Khi Thầy Hằng Triều nói cho tôi biết về kinh nghiệm của Thầy, tôi nhận ra rằng trong tất cả thời gian học vấn của mình, tôi chưa bao giờ đọc lại những điều mà tôi đã ghi lại. Tất cả là sự lãng phí thời gian, lãng phí giấy. Một thói quen vô dụng nhất. Tôi chẳng nhớ thứ gì từ những lớp học đó cả. Tại sao không nhớ? Đó là vì tôi đã không ở đó. Tôi để tâm trí mình vướng mắc vào trong quyển vở ghi chép. Tôi đã chưa bao giờ thực sự tiếp thu học vấn của mình. Nhưng quyển vở yên lặng của tôi thì đã làm điều đó. Tôi không bao giờ quay lại với những quyển vở ghi chép một lần nào nữa. Những ngôn từ ngu ngốc! Nếu để duy trì Phật Pháp cho những người khác thì được. Nhưng nếu để có những ngôn từ thay thế cho kinh nghiệm trực tiếp thì không được.

 

Chúng sanh thức tỉnh,

Vượt thoát trần ai,

Luôn luôn bồi đắp,

Lục Độ Vạn Hạnh.

Hòa thượng Tuyên Hóa, Mười Pháp giới

 

Bồ tát có nghĩa là “Hữu tình giác ngộ” (Chúng sanh thức tỉnh). Cũng có nghĩa là người giúp giác ngộ chúng sanh hữu tình. Bồ tát đạt được giác ngộ nhờ nỗ lực dụng công. Rồi Ngài chỉ cho những người khác được giác ngộ bởi vì Ngài biết cảnh giới ấy tốt đẹp đến nhường nào và muốn chia sẻ nó. Ngài vượt ra khỏi bụi trần khi tách biệt khỏi các niệm tưởng. Bồ tát sống theo sáu lục độ: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí huệ. Công việc của Bồ tát bao gồm tất cả các hành vi tốt đẹp được kiến tạo để giúp đỡ những người khác trên suốt con đường. Ngài thực hành những phương pháp trong mọi lúc và không bao giờ ngừng nghỉ. Đó là lý do tại sao Ngài được gọi là bậc giác ngộ. Vậy còn có việc gì khác để làm nữa?

 

Những đệ tử Phật ở Châu Mỹ.

Quý vị có biết được ai khác ngoài những chư tăng và ni Phật giáo, những người đang nỗ lực tột cùng với những công việc tình nguyện mệt nhọc và không nhận một chút phần thưởng vật chất nào cho những việc đó không? Họ không tìm kiếm tiền lương và tiện nghi, không sự cải thiện hay nâng cấp mức sống của mình. Những ngày mười tám tiếng của họ được dành cho việc tiến bộ tâm linh để họ có thể làm cho những người khác được tự do và hạnh phúc. Có ai khác làm công việc này không?

Họ có phải là những người kiêu mạn sẵn sàng chết vì đạo không? Họ trái ngược lại với điều đó. Họ tìm kiếm sự khiêm nhường và tránh sự nổi bật. Họ hạnh phúc nhất khi họ tương ưng với đạo lý trong suy nghĩ, lời nói và hành động. Nếu thấy mình có lỗi họ sẽ sửa. Họ là những đệ tử của đức Phật.
 

 

Ghi chú:

(1) Master of Arts: Bằng Cao Học hay Thạc Sĩ. Thầy Hằng Thật đã có bằng Cao Hoc về Ngôn Ngữ Đông Phương trước lúc xuất gia. Chữ Master còn có nghĩa là bậc thầy, người được xem là nắm vững lãnh vực mình theo học. Trong bài nhật ký này nhấn mạnh dù đã có bằng Cao Học về Ngôn Ngữ, Thầy cũng không có ngôn ngữ để diễn đạt được những kinh nghiệm trực tiếp vi diệu trên đường Đạo.

(2) Nguyên văn Hoa ngữ: http://www.drbachinese.org/online_reading/dharma_talks/TenDharmaRealm/Ten_Dharma_Realm_3.htm

有情覺悟,

跳出塵埃;

六度萬行,

時刻培栽。

“Hữu tình giác ngộ

Khiêu xuất trần ai

Lục độ vạn hạnh,

Thời khắc bồi tài..

http://www.dharmasite.net/bdh18/DanhTuPhatHoc.html

 

 

 

Hằng Triều - Ngày 9 tháng 8, 1977

Ít nhất 3.000 tuổi

 

Hai người đàn ông trong một chiếc xe tải nhỏ thắng két bánh dừng ở dọc đường và hỏi, “Đó không phải là sự tôn sùng đạo Phật ma quỷ sao? Các ông đừng tôn sùng ma quỷ đó!”

“Không thưa các ông, chúng tôi không có.”. Tôi trả lời. “Được rồi, được rồi!” và họ lái xe bỏ đi.

Một vài suy nghĩ bất chợt: Khi còn là đứa trẻ, tôi được dạy về những tôn giáo khác. Các tôn giáo đó là “ngoại đạo” và “tôn sùng tà thần”. Điều hết sức quan trọng là đừng gắn nhãn hiệu lên người khác là xấu hay tốt, và tránh nhìn vào mọi người, mọi vật như là những ma quỷ. Điều cũng rất quan trọng là không làm tắc nghẽn lòng từ bi vốn có của quý vị bằng sự kỳ thị và thù hận ...

Việc “Xoay ánh sáng trở lại” và tìm vào bên trong quý vị những điều tốt và xấu, thiên đường và địa ngục là rất quan trọng nếu chúng ta luôn muốn chấm dứt việc đấu tranh và mọi thảm họa. Nếu quý vị nhìn vào mọi thứ như như là ở bên ngoài tự tánh của chính mình thì sẽ chẳng bao giờ có hòa bình – quý vị không kiểm soát được mọi biến cố và sự việc xảy ra.

Điều đó sẽ đặt những việc xấu ác ra khỏi trách nhiệm của quý vị và hạnh phúc nằm ngoài tầm tay. Thật hết sức phi dân chủ.

 

Tại sao quý vị làm tất cả mọi thứ với tâm hồn và tâm trí của mình mà lại không làm thế với thân thể của mình hay gia đình, thực phẩm hay nhân quyền, nghĩa là trao chúng cho người nào đó. Quý vị sẽ không!

 

Biết người là trí;

Biết mình là sáng.

Thắng người cần sức;

Thắng mình là mạnh.

Biết đủ là giàu. (1)

Đạo Đức Kinh

 

Tôi nghĩ rằng, hành giả chân chánh có thể đi tới bất kỳ đâu trong vũ trụ này vào bất kỳ lúc nào, quá khứ, hiện tại và vị lai, và không cảm nhận cú sốc nào về văn hóa, và thấy tự tại như ở chính nhà mình.

Thường trụ Tam Bảo trở nên sống động trong vài phút hôm nay. Tôi có thể cảm nhận được trí huệ và sự chân thực vĩnh hằng của Kinh.

Mỗi ngày, Kinh trở nên có ý nghĩa hơn, hết sức chân thật ở bên trong. Tôi có thể cảm nhận một chút xíu về mười phương chư Phật bất biến, thường hằng “không sinh, không diệt”. Tuân theo cùng những nguyên tắc và những cách tu tập của tăng đoàn đã có ít nhất 3000 tuổi đưa tôi tiếp xúc với cảm giác của sự bắt rễ vào cách sống vượt ra khỏi nơi chốn, quốc gia và thậm chí bản ngã.

Tôi có cảm giác dường như tôi thực sự gần với nhịp mạch của vũ trụ - một tâm điểm mãi mãi thường hằng và vô tận.

Tôi bắt đầu nhận thức ra rằng việc lễ lạy và vọng tưởng đều giống nhau lúc ở chùa và khi trên đường đi – cũng giống như khi ở nông thôn hay trong thành thị. Cho dù tôi có đi đâu, về đâu, tôi cũng chỉ ở cùng một chỗ: trong tâm trí của mình. Việc đến và đi chẳng làm thay đổi được gì cả, Tâm trí mới là cái đến và đi. Bình tĩnh hay hối hả vội vã, sạch sẽ hay dơ bẩn, tinh khiết hay nhiễm ô có thể có ở bất cứ nơi đâu, bất cứ chỗ nào, bất cứ khi nào với chỉ một niệm. Một căn phòng trống rỗng, yên lặng có thể là một nơi ồn ào nhất trên thế giới; và nơi ồn ào nhất trên thế giới có thể giống như một căn phòng yên lặng, trống rỗng.



Ghi chú:

(1) Nguyên văn:

知 人 者 智,

自 知 者 明.

勝 人 者 有 力,

自 勝 者 強.

足 者 富,

Tri nhân gitrí;

Ttri giminh.

Thắng nhân gihu lc.

Tthng gicường.

Tri túc giphú.

Lão Tử - Đạo Đức Kinh (Chương 33)

 

 

Hằng Thật• Tháng 8, 1977

Thành thật mà nói, tôi hơi lo lắng

Lên đồi và tan chảy.

Trời quá nóng đến nỗi mặt đường trải nhựa sáng lấp lánh và gợn sóng. Bên phía tay trái là đường rầy xe lữa của công ty Southern Pacific, và xa xa, những vách đá dựng đứng đi xuống đến bờ biển lướt sóng. Bốn mươi tám inch (1.2 mét) về phía bên phải, những chiếc xe tải lớn chạy ập ngang, bắn cát sỏi  gió và những luồng gió như những cú đấm vào người từ một võ sĩ hạng trung. Chúng tôi đang lạy lên trên đồi trong làn đường dành cho xe đạp và hai trăm thước về phía trước là vòng cung quành sang trái. Tất cả những chiếc xe hơi xe tải và xe cắm trại chạy nhanh hơn cắt vòng cung theo kiểu đua xe và chúng chiếm một nửa làn đường xe đạp để làm thế. Thành thật mà nói, tôi hơi lo lắng. Có thể một trong số những tay lái này vừa mới uống rượu, hay đánh nhau và không nhìn thấy tôi ở đây, trên mép đường này. Ôi, nhưng mà không sao, đấy là việc của vị hộ pháp. Công việc của tôi là lạy và ngậm miệng lại. Vung thanh kiếm trí huệ lên, chém vào mọi ý niệm đang bất chợt khởi lên trong đầu, tôi đang hòa theo nhịp độ, bước từ bụi này tới bụi khác, canh chừng sự yên lặng ở bên trong, làm việc và toát mồ hôi. Khi khúc quanh lớn dần dần tới gần, đầu tôi tăng âm thanh và nhiều ý niệm sinh khởi. Những ý niệm này tiêu cực không tốt và rất khó chuyển đổi. Một giọng nói lạ cất lên qua tiếng rè trong tâm,  “Để làm được điều này cho đúngh, ông cần phải yên lặng”.

“Tôi biết, tôi biết. Nhưng còn về…”

“Ông có thể làm được. Chỉ cần sử dụng phương pháp. Tu hành theo cách mà ông đang thực hành, ngay bây giờ!”

Thanh kiếm trí huệ vung lên, chém xuống những ý nghĩ đè nén, mọi nghi ngờ, và những nỗi sợ hãi đang che trùm ánh sáng của tôi. Đột nhiên tiếng nói lạ hỏi, “Ai là kẻ đang quá sợ hãi như vậy?”

Tôi tìm kiếm “ai” và mọi mối nghi biến mất, bị chém cho đến không còn gì hết. Một ý nghĩ vụt lóe lên, “Cứ để cho thân mình lạy lên trên đồi. Tại sao lại cản trở công việc bằng rất nhiều những nghi ngờ vô ích như thế? Chân tâm thì không khác con đường. Tôi không phải là chiếc xe tải. Cái nóng biến mất. Không còn nóng hay lạnh nữa. Tiếng sóng biển phía bên trái hòa lẫn cùng tiếng gió thổi bên phải. Cơ thể tôi hoàn toàn thư giãn. Hơi thở kéo về trung tâm của tôi và tâm vọng tưởng của tôi được một phút nghỉ ngơi. Thật là một thử nghiệm thâm thúy. Rồi sau đó nó lại khởi lên vọng tưởng kế đến. “Lạ thật, đó là cái gì vậy? Đó có phải là giác ngộ không? Ông vẫn đang ở đây chứ?”

“Chém!” kiếm vung lên. Trở lại làm việc. Dồn tất cả xuống trung tâm. Chém hết tất cả mấy thứ tạp nhạp này đi. Hãy tiến lên ngọn đồi đó!

 

 

Hằng Triều - Ngày 10 tháng 8 năm 1977

Thay bộ đồ hiệu Levis bằng áo tràng và y giới


Khi con đường quá hẹp hoặc không có vệ đường, chúng tôi lạy theo dấu đường rầy xe lửa. Dường như luôn luôn có một con đường.

 

Bỏ chạy khỏi nhà.

 

“Tất cả chúng sanh đều có trí huệ và đức tướng của Như Lai. Chỉ vì vọng tưởng và bám chấp khiến họ không thể chứng đắc được”.

Thích Ca Mâu Ni Phật.

 

Những giấc mơ gần đây của tôi, và vọng tưởng gây ra những lỗi lầm như những con kiến, tất cả cùng đang hét lên rất lớn rằng: “Nhà là ham muốn, là bám chấp. Ông phải xuất gia.”

“Xuất gia” là trụ tại nơi trụ rốt ráo - không nơi nào cả. Xuất gia là nỗ lực ngày này qua ngày khác, từ ý nghĩ này tới ý nghĩ khác buông bỏ cái vọng để cái chân thật hiển lộ. Quý vị cố gắng cắt bỏ mọi bám chấp, bởi vì thực tế, chẳng có gì để quý vị có thể bám vào, không có thậm chí chính bản thân của quý vị. Thân thể của quý vị, tất cả mọi thứ và mọi sự sắp đặt mà chúng ta cho là “thế giới có thật” đều là duyên hợp, ràng buộc để đến và đi, mang hình dáng rồi biến mất. “Như những giấc mơ, ảo tưởng, bong bóng và bóng ảnh - mộng, huyển, bào, ảnh” như trong kinh Kim Cang nói.

Vậy như thế cái gì sẽ xảy ra cho quý vị ? Quý vị được tự đo để thực sự về nhà. Từ bỏ “căn nhà vọng tưởng của mình, quý vị có thể khám phá ra thể tánh chân thực của mình”. Trí huê và đức hạnh của chư Phật chỉ là như vậy. Vũ trụ trở thành nhà của quý vị, và tất cả chúng sanh là gia đình. Làm sao có thể khác được?

Xuất gia không dễ như đơn giản cạo bỏ tóc và đổi bộ đồ hiệu Levis thành áo tràng và y giới. Xuất gia là thoát khỏi cách sống ràng buộc. Đạt được tới những đạo lý cao nhất đòi hỏi làm việc chăm chỉ hết sức. Để chấm dứt sự cuốn lôi của mọi vọng tưởng và bám chấp đang phủ lên bản tánh có nghĩa là phải lìa bỏ mọi tham muốn – lìa bỏ những mối quan tâm lớn về danh vọng, thức ăn, tình dục, giấc ngủ và sự giàu có. Không dễ để từ bỏ; lại càng khó để thủ giữ chúng. Nhưng lại rất tuyệt vời nếu cố gắng làm những gì khó khăn nhất cho mình – cố gắng từ bỏ những gì mà quý vị khó từ bỏ nhất. Tuyệt diệu không thể nghĩ bàn!

Khi những đứa trẻ hỏi, “Các ông đang làm gì thế?” Tôi luôn muốn nói rằng “đang bỏ chạy khỏi nhà – đang tìm gia đình của tôi”.

 

 

Hằng Thật. Tháng 8, 1977

Con khỉ trong tâm

 

Có lòng từ bi.

Những chữ quan trọng nhất chạy ngang qua mắt tôi trong khoảng khắc cuộc đời lúc này là kinh Lục Tổ Pháp Bảo Đàn. Những ngôn từ này đã thay đổi cuộc đời tôi. Ngày hôm qua, tôi trở về từ chùa Kim Luân với những câu hỏi lớn cần được trả lời. Làm thế nào mà những vọng tưởng lại gắn liền với ham muốn tình dục? Làm thế nào mà ngã kiến, ngã tướng, ngã chấp, pháp chấp kết nối với vọng tưởng và ham muốn tình dục?

Những câu hỏi này được trả lời trong buổi sáng nay khi thầy Hằng Triều đọc kinh Lục Tổ Pháp Bảo Đàn như chúng tôi vẫn làm hàng ngày. Câu trả lời là: Nó đến từ ý nghĩ (niệm). Không có "niệm" chính là không có lòng dâm dục! (1)

Không có nghĩ tưởng, thì cái núi tự ngã sẽ không đứng vững nữa. Không nghĩ tưởng, thì sẽ không có bám chấp vào Pháp và sẽ không bị chuyển bởi cảnh giới. Tại sao lại không? Bởi vì khi không nghĩ về cái lạnh trong khi vẫn ở giữa cái suy nghĩ ấy, khi quý vị vô tướng, vô niệm, vô trụ, thì sẽ chẳng có gì như là “cái khác” đang tồn tại ở bên trong quý vị, như thế, chính là huệ tánh viên mãn, quang minh, diệu chân như của quý vị. Tại sao quý vị không thấy nó? Vì các niệm, ngay cả một niệm cũng có thể che mờ chân như huệ tánh và dẫn quý vị đi lạc.

Con khỉ trong tâm trí đang chạy rầm tầm và đập thình thịch lên tường. Nó tung Pháp quá khứ, hiện tại và tương lai xoay tròn giống như những chiếc lá trong gió. Cứ mỗi khi nó tự do chơi, quý vị liền bị trói buộc bởi những suy nghĩ của mình, tạo nghiệp tội hồ đồ và quý vị không trở về nhà với đức Phật, người mà lúc này vẫn đang luôn luôn trông đợi quý vị. Hãy làm cho con khỉ ngừng lại bằng đại năng lực. Đừng giết nó. Hãy chế ngự sự mê mờ điên cuồng của nó rồi thì ham muốn tình dục, bản ngã và tất cả những đồng phạm ích kỷ của nó sẽ đi mất và tránh xa. Mọi bức tường sẽ tự đổ sập xuống và quý vị sẽ cho phép con khỉ được tự do chạy đến giải thoát, hoặc dạy nó cách ngồi yên lặng một cách hoàn hảo. Làm bằng cách nào? Thanh kiếm trí tuệ bao vây lấy con khỉ và khắc chế sự tự do của nó. Nó phải ngừng trò chơi và trò bịp bợm của nó. Tấm gương trí tuệ xoay lại chiếu ánh sáng bên trong. Con khỉ nhìn thấy gương mặt thật của mình và sau đó - bổn lai vô nhất vật. Không có dù chỉ một thứ. Con khỉ đột nhiên được hoàn toàn tự do chơi và chạy nhảy đến vô tận. Cái cũi được mở. Mọi rào chắn bị phá vỡ. Giải thoát.

Nói lại lần nữa. Tất cả mọi thứ mà quý vị biết đều là niệm. Đều do tâm tạo. Thanh kiếm bát nhã chém đứt mọi niệm – tất cả niệm.

Khi quý vị làm việc cực nhọc đến mức nào đó, thì dũng khí của quý vị sẽ tăng trưởng. Khi quý vị thành tâm đến tột độ, thanh kiếm bát nhã sẽ cắt xuyên qua ngay cả những niệm lớn, như niệm vế ngã, nhân, chúng sanh, và sự sống. Phật Pháp thì bình đẳng. Chẳng có gì cao hay thấp. “Trong tự tánh, không có một Pháp có thể tìm đặng” (2). Số không.

 

Ghi chú:

(1) Kinh Pháp Bảo Đàn Lược Giảng - Phẩm Định Huệ - HT Tuyên Hóa giảng thuật http://dharmasite.net/KPBDLGP4.htm

Chư Thiện tri thức! Vô là vô việc gì? Niệm là niệm vật chi? Vô, nghĩa là không chấp hai tướng, không có lòng phiền não. Niệm, nghĩa là niệm cái Chơn như Bổn tánh. Chơn như tức là cái thể của niệm, niệm tức là cái dụng của Chơn như. Tánh Chơn như của mình khởi niệm, chớ chẳng phải con mắt, lỗ tai, lỗ mũi, cái lưỡi mà niệm được. Cái Chơn như có tánh, sở dĩ mới sanh ra niệm tưởng. Nếu cái Chơn như không có, thì mắt, tai, màu, tiếng, đương lúc ấy liền hư hoại.

 

Giảng:

Nay tôi lại muốn, vì quý vị, mà giảng vô niệm, vô tướng, vô trụ. Nếu quý vị có thể vô niệm chính là vô tướng, có thể vô tướng chính là vô trụ. Vô niệm cũng chính là vô sanh, vô tướng là vô diệt, vô trụ – bổn lai không có sanh diệt, không có đúng không có sai. Vô niệm, vô tướng, vô trụ cũng chính là không đúng, không sai, không thiện, không ác, không nam, không nữ. Niệm chính là tà niệm, lúc tà niệm không còn thì làm sao có nam nữ, pháp này thật là diệu! Nếu vô tướng, căn bổn không có ngã tướng, vậy ai lại sanh ra cái tâm dâm dục? Tâm dâm dục chính là niệm, không có "niệm" chính là không có lòng dâm dục, không có lòng dâm dục thì không có ngã tướng, không còn chỗ chấp trước. Lúc không còn chỗ chấp trước, quý vị xem đây có phải là sự tự do chân chánh không, có phải là đã được giải thoát không? Cho nên vô tướng, vô niệm, vô trụ, cũng chính là không động không tịnh, không đúng không sai, không nam không nữ, không thiện không ác. Ðây thật là tuyệt diệu vô cùng! Quý vị nếu nghiên cứu sâu sắc thì có thể thọ dụng vô cùng.

Lục Tổ Ðại sư lại nói:

–Quý vị Thiện tri thức! Tôi giảng chữ này, thì vô cái gì? Chữ niệm này, thì niệm thứ gì? chính là không có hai tướng, không những không có hai tướng, ngay một tướng cũng không có, không có tâm trần lao. Tâm trần lao chính là chỉ cái tâm không chính, cũng chính là tâm tà, tâm tà cũng chính là dục tâm.

Cái gì gọi là niệm? Niệm có nghĩa là nhớ, tức là cần phải nhớ Chân như tự tánh? Nhưng cái gì là Chân như tự tánh? Tức cái tánh mà bổn lai đã có, cũng chính là Như Lai Tạng tánh, cũng chính là Phật tánh. Chân như chính là bổn thể của niệm, mà niệm chính là vận dụng của Chân như.

Có người nói: "Vô niệm cũng chính là không có Chân như."

Quý vị phải biết vô niệm chính là không có hai tướng, chính là bảo quý vị chớ quên mà phải nhớ Chân như. Chân như là bổn tánh của chính quý vị, mà bổn tánh của quý vị là thanh tịnh sáng suốt, không có chỗ nhiễm trước.

Niệm tự tánh Chân như, là chân niệm, không phải là niệm do mắt, tai, mũi, lưỡi sanh ra. Chân như có tánh cho nên khởi niệm. Chân như cũng chính là tánh vương, cũng chính là điều đã giảng ở trên (phẩm Nghi Vấn): "tánh còn vua còn, tánh đi vua mất," cho nên nói Chân như nếu không có, thì mắt, tai, sắc, thanh lập tức hoại.

 

(2) Kinh Pháp Bảo Đàn Lược Giảng - Phẩm Bát Nhã - HT Tuyên Hóa giảng thuật http://dharmasite.net/KPBDLGP2.htm

Sao gọi là Ma ha? Ma ha nghĩa là lớn, tâm lượng rộng lớn cũng như hư không, không có bờ mé, cũng chẳng phải vuông tròn lớn nhỏ, cũng chẳng phải xanh vàng đỏ trắng, cũng không trên dưới dài ngắn, cũng không giận không mừng, không phải không quấy, không lành không dữ, không có đầu đuôi. Các cõi Phật thảy đều như hư không. Cái diệu tánh của người thế gian vốn là trống không, chẳng có một pháp gì trong đó mà tìm đặng. Cái tự tánh Chơn không cũng giống như thế.

Chư Thiện tri thức! Chớ nghe ta nói "không" mà liền chấp "không." Nếu để tâm trống không mà ngồi yên lặng, tức là chấp cái "vô ký không."

 

Hằng Thật - Tháng 8, 1977

Cái nào thực sự là quý vị?


Tập ảnh: "Đừng bám chấp vào cảnh giới"


Đừng là cái máy chụp hình chỉ nhìn ra bên ngoài mà không thể chụp ảnh cho chính nó.

Đừng nhìn ra bên ngoài và bám chấp vào hình tướng.

Có một lối chơi chữ trong tiếng Trung Hoa: chữ chau hsiang (1). Tùy thuộc vào cách viết sẽ có nghĩa là “chụp ảnh” hoặc là “bám chấp vào hình tướng”. Điều kỳ diệu của nó là chức năng của hai từ ngữ này như nhau. Cả hai hành động này đều nói Pháp cho chúng ta nghe.

Nhìn vào những bức ảnh trong tập ảnh của gia đình quý vị. Có ảnh của quý vị ở Công viên Quốc Gia Yellowstone, mới sáu tuổi. Kia là mừng sinh nhật tròn mười tuổi – một bữa tiệc đầy bất ngờ. Rồi lễ tốt nghiệp trung học: Đứng cao thẳng. Nhưng có một điều rằng: không có bức ảnh nào trong đó giống như quý vị vào lúc bây giờ. Ai là người trong những bức ảnh đó? Cái nào thực sự là quý vị? Rõ ràng, mọi thứ biến đổi. Cái máy chụp hình nhìn ra bên ngoài thế giới và bắt lấy một hình ảnh, và dừng hình ảnh đó lại, lưu giữ sự dối trá của sự bất biến.

Khi quý vị tu Đạo, quý vị không thể giống như cái máy chụp hình. Nếu quý vị dính mắc vào bất kỳ cảnh giới nào, hay hoàn cảnh nào hoặc cảm thọ nào và cho đó là thật, khi ấy quý vị đã tách biệt mình ra khỏi bản tánh chân thực (chân như) của Phật tánh của quý vị rồi.

Phật tánh của quý vị không động chuyển, luôn cố định, thường hằng tĩnh lặng. Phật tánh này không dung chứa các pháp hay cảnh giới nào mà có thể nắm bắt hay đạt được. Tất cả các Kinh đều nói như vậy. Nếu quý vị chọn ra vài Pháp nào đó và cố gắng giữ cho nó đứng lại, thì quý vị chỉ giống như một cái máy chụp hình, đang cho thấy một cảnh giới chứ không nói lên được sự thật của sự biến dịch. Máy chụp hình không thể tự chụp hình của nó giữa sự biến dịch. Quý vị không thể nhìn thấy Phật tánh ở bên trong bằng cách bám chấp vào hình tướng hay cảnh giới.

Chỉ bằng cách tu hành một pháp môn với sự quyết tâm vững chắc và với sự tinh tấn thường xuyên thì quý vị có thể thành công. Giữ một niềm tin thanh tịnh vào sự không sinh, không nhiễm, bất biến và bản tính rỗng lặng của bản lai chân thật (chân như). “Phật Pháp như biển lớn, chỉ có lòng tin mới có thể vào được”.

“Niềm tin là nguồn của Đạo, là mẹ của tất cả công đức”.

“Niềm tin sẽ chắc chắn đưa ta tới Như Lai địa”.

(Phẩm Hiền thủ thứ mười hai – Kinh Hoa Nghiêm)
 


Ghi chú:

(1) Hai từ ngữ 照 相 chiếu tướng (chụp hình) và 着相 trước tướng ( bám chấp hình tướng) đều phát âm là chau hsiang tương tự nhau.
 

 

Hằng Triều. Ngày 12 tháng 8, 1977

Ngay lúc tôi động niệm

 

Ngồi thiền vào lúc tờ mờ sáng, tôi nhận ra rằng đúng ngay lúci động niệm, tôi bắt đầu tạo ra mọi thứ để gây ra và tạo thành nghiệp chướng. Bằng thân, khẩu, ý các hình tướng được tạo nên: giết sâu bọ, cầu nguyện trong chánh niệm, nói chuyện thị phi, một lời tử tế, vọng tưởng về thức ăn, tâm niệm từ bi, những ký ức cả thanh tịnh lẫn ô trược.

Tất cả chúng đều sanh khởi tăng dần lên giống như giao thông dồn lại và đông nghẹt thành kẹt xe trong giờ cao điểm, hay giống như sân trường học ồn ào và tấp nập hơn với mỗi chiếc xe buýt vàng chở đầy học sinh đến sân trường. Từ sự tĩnh lặng trở thành sự một rạp xiếc với những hành động và các hậu quả.

Một ngày nào đó, cả ngày sẽ trôi qua với tâm trí và thân thể thanh tịnh, tĩnh lặng giống như hồ nước nhỏ trên núi, nơi không có gió thậm chí không có cả đến một con bọ nhỏ bé nhất để tạo ra bất kỳ một gợn sóng nào. Và tuy thế những việc cần làm thì sẽ được làm.

Làm mà không làm, việc mà không việc (1)

Đạo Đức Kinh - Lão Tử

 

Như khát tưởng nước mát

Như đói mơ món ngon

Như bịnh cầu thuốc hay

Như ong tham mật tốt.

Chúng tôi cũng như vậy.

Mong nghe pháp cam lồ. (2)

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Địa thứ 26

Là những người xuất gia tu hành, Kinh thay thế cho lửa trại ấm áp và bữa tối ấm cúng khi cắm trại. Phật pháp làm thỏa mãn như nước mát và đồ ăn ngon, Phật pháp thanh lọc tâm ý và cơ thể đầy bụi bặm của chúng tôi vào cuối ngày.

Lửa trại và bữa ăn gợi cảm giác về mái gia đình, một cảm giác an toàntrở về tâm điểm vì khi màn đêm buông xuống làm ta thấy bơ vơ, nguy hiểm – cô đơn và tách biệt.

Sau khi thiền và đọc kinh, thì bất kỳ nơi đâu chúng tôi dường như đều cảm thấy an ổn và quen thuộc. Các Pháp cam lồ này là ngôi nhà xuất thế gian của chúng tôi, làm rực lên ánh sáng bên trong sáng hơn, ấm hơn bất kỳ ánh lửa trại nào, và chẳng có khói để phải phiền lòng.

 

Ghi chú:

(1) Nguyên văn Hoa ngữ:

爲無爲, 事無事

Vi vô vi, sự vô sự

Đao Đức Kinh, Chương 63.

(2) Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Địa thứ 26 http://www.dharmasite.net/KinhHoaNghiem26-ThapDia.htm
 

 

Hằng Thật. Tháng 8, 1977

Mặc kệ gió

 

Chuyển ruồi, chuyển gió.

Côn trùng là một thứ rắc rối. Tôi nhận ra cái “rắc rối” là đều ở trong tâm tôi. Phân biệt giữa các Pháp và bị gặp rắc rối. Tại sao tôi lại phóng ra năng lượng tiêu cực lên côn trùng? Thật là một sự lãng phí ánh sáng ngu ngốc. Hãy xem chúng bình đẳng, tự nhiên, thuộc về Pháp giới, thì sẽ chẳng có sự khác biệt giữa những con chim đại bàng và con người. Hãy lấy lại ánh sáng mà ông đã lãng phí. Hãy buông xả sự căng thẳng. Hãy buông xả sự cau có. Thôi không đập ruồi nữa và đột nhiên thế gian sẽ bừng sáng lên một chút, rộng lớn thêm rất nhiều, và ông đã giải phóng rộng lớn thêm nhiều không gian bằng như thế. Ông được tự do di chuyển giữa các côn trùng mà không sợ hãi hay phiền toái.

Gió là một thứ rắc rối. Khi gió thổi, thế giới xoay cuộn trong không khí. Các y áo bị hất lên và xộc xệch, đột nhiên mọi thứ cảm thấy lạnh. Mũi chảy nước. Những tiếng ồn gầm rú rít lên; áp lực đến phỏng da. Bắp thịt đông cứng trong căng thẳng. Thật phiền toái. Nhưng hãy chờ đã. Làm thế nào để không có gió? Nó thực sự hiện hữu trong thế giới. Nó sẽ chẳng đi đâu cả. Tại sao lại phân biệt gió và không gió, dễ chịu và không dễ chịu? Ông tự làm cho mình không vui vẻ và căng thẳng khi có gió. Hãy nhớ những con ruồi. Mặc kệ gió. Thế thì gió làm gì với ông? Ông cần phải làm việc của mình, hãy thanh tịnh ý mình và đừng bao giờ để ý tới những cảnh giới gì đang diễn ra chung quanh mình.

Thật kinh ngạc! Thế giới đột nhiên rộng lớn hơn và đôi bàn tay tôi trở nên ấm áp hơn, định lực quay trở lại. Lửa đột nhiên tàn lụi. Nhưng cũng đừng để cảnh giới lay chuyển. Cứ tiếp tục lạy. Đừng bám chấp vào các Pháp. Đừng quá bị vướng mắc như thế. Gió không còn là một thứ rắc rối nữa. Tại sao ta không nhìn tham dục cũng theo cách như vậy?

Sự khác biệt lớn là gì?

 

Hằng Triều. Ngày 22 tháng 8, 1977

Chẳng có gì giới hạn

 

Sau bữa trưa, khi chúng tôi lạy chầm chậm xuyên qua ánh nắng chiều như mù sương khói trên con đường ở Carpentina, tôi hỏi chính mình, “Ai đang ở trong thế gian đầy khói nóng bỏng mắt này đây?” Tập trung lạy để loại trừ những suy nghĩ khác, tôi ở trong một thế giới khác. Vào buổi trưa vẫn là một thế giới khác. Khi chúng tôi đọc kinh quanh chiếc đèn dầu nhỏ tối nay, một hay nhiều thế giới nào mà chúng tôi sẽ đến vào đi, trú ngụ trong đó và du hành tới? Những thế giới bên trong thế giới, “Các thế giới nhiều như những hạt bụi ở Phật địa” (Kinh Hoa Nghiêm). Suy nghĩ của quý vị là gì? Quý vị đang ở trong thế giới nào? Có bao nhiêu thế giới khác nhau mà quý vị có thể đồng thời ở trong đó? Trong từng suy nghĩ, chúng ta dời chỗ và đổi tới các thế giới. Chuyển tâm trí mình một chút theo cách này hay cách khác, về phía ánh sáng hay về phía hỗn loạn, thì mọi thứ chuyển dịch và tái sắp xếp, và được nhìn thấy khác đi. Tất cả đều do tâm tạo, giống như trò ảo thuật chúng tôi vẫn thường làm. Thế giới nào là thật?

Học cách hiểu và kiểm soát năng lực “kỳ lạ” mà tất cả chúng ta đều sở hữu này là tu hành. Quý vị có thể đi xa đến chừng nào? Chẳng có gì giới hạn.

Tâm là:

Rộng lớn như Pháp giới

Tột cùng như hư không

Đến vị lai tột cùng,

Suốt tất cả kiếp số không ngừng nghỉ.

Kinh Hoa Nghiêm (Phẩm Thập Địa)

 

 

Hằng Thật. Ngày 23 tháng 8, 1977

Chúng tôi tán thán danh hiệu Chúa mỗi ngày

 

Phẩm chất thực sự là vô vi

Thế giới thương mại hiện đại đầy dẫy thông tin – thương mại phụ thuộc vào việc quảng cáo. Quảng cáo phụ thuộc vào thông tin về sản phẩm để lôi kéo sự chú ý của quý vị và kiếm tiền từ quý vị. Rất nhiều phương tiện khéo léo ùa đến với quý vị trong mọi lúc: âm nhạc, màu sắc, thông điệp về tình dục, về sợ hãi, về hạnh phúc và nhu cầu. Không khí đầy ngập với những lưỡi câu gạt gẫm và thật khó mà cưỡng lại được những thứ đó. Những lời mà những người quảng cáo dùng để thu hút sự chú ý của quý vị dường như mang lấy sự sống của của riêng chúng, những từ ngữ như: Phẩm chất! Giá trị! Tốt hơn! Tiết kiệm! (bằng cách chi tiêu).

Khi xem xét lạ tất cả thì tất cả sản phẩm cũng đều cùng một loại vật liệu “hữu vi” mà sẽ hư hỏng và bị bỏ đi không lâu sau khi dùng. Quý vị không phải tìm kiếm, chỉ ngóng tai nghe, mở to mắt và những trò câu khách sẽ cho quý vị ngập đầy thông tin mà quý vị cần.

Thế giới tự nhiên không có những mánh lới và không hứa hẹn. Nếu quý vị muốn tìm một chỗ ngồi “phẩm chất” hoặc một điểm cắm trại với “giá trị” đích thực thì quý vị cần phải tự đi tìm kiếm cho mình. Có những thông tin để đọc, quý vị phải biết cần tìm kiếm những gì và tìm ở đâu: những thực vật không độc, không gai, không nhện, không kiến, ít đá, bằng phẳng, không có bùn, không có những tấm bảng tài sản tư nhân, không tàu lửa, không xe hơi, không hàng xóm, không chó, không khí thải, không có những thanh niên cỡi xe mô tô, không người yêu hay những tay chạy xe cải tiến để chạy nhanh. Có bóng mát nào để xe không? Có nhà vệ sinh không? Có chỗ đất phẳng để tập thái cực quyền không? Yên tĩnh? Chắn gió? Gần chỗ lạy? Ngoài con đường? Những cảm xúc tốt đẹp?

Chúng tôi sẽ đón nhận. Tất cả đều như nhau. Nó sẽ hủy hoại hoàn toàn và biến mất không quá lâu sau đó.

 

Và lúc này, một lời về Chúa trời.

Thiên chúa toàn năng , theo cách người theo đạo Cơ Đốc giáo gọi vị thần này, là Đế Thích, cũng còn được biết đến là Nhân Đà La (Indra), vị thần này là chủ của tầng trời thứ hai trong các tầng trời, tầng trời của cõi trời thứ ba mươi ba. Đế Thích không phải toàn năng. Các vị Bồ Tát, đại Bồ Tát, những người tu hành, vây quanh cung điện của thần Đế Thích trên trời và đức Phật giao cho thần Đế Thích một nhiệm vụ trong chúng hội của các bậc thánh hiền – đó không phải là một địa vị cao, mà tương tự như quyền lực của một công chứng viên. Vị trí của thần Đế Thích không phải là chuyên quyền – vị trí này luân chuyển và quý vị có thể làm thần Đế Thích trong một kiếp tương lai của mình nếu quý vị thật sự mong muốn điều đó. Khi còn ở trên thế gian, Đế Thích là một người phụ nữ đã làm nhiều việc thiện và đã trùng tu lại một ngôi chùa thờ Phật cùng với sự giúp đỡ của 32 người nữa. Bằng hành động chân thành đó, người phụ nữ ấy đã được tái sanh làm vua Đế Thích ở trên cõi trời của mình, tái sinh làm người nam.

Vị chúa trời Đế Thích hiện nay có rất nhiều quyền lực, có rất nhiều vợ và con trai, có tuổi thọ rất dài. Chúng tôi tán thán tên của vị Chúa trời hàng ngày trong những lời cầu nguyện: Nam mô Nhân Đà La Da. (1)

Vì vậy, Phật tử chấp nhận Chúa trời và cầu nguyện tới Ngài, trân trọng thành quả của vị ấy và một trong những kiếp sống trên con đường chúng ta đạt tới giác hành viên mãn, có thể sẽ đến lượt chúng ta trong vòng quay luân hồi trở lại làm Chúa trời toàn năng. Đạo Phật bao gồm tất cả. Đó là bài dạy về toàn thể vũ trụ. Đọc bộ kinh đó! Sống với Kinh đó!

Một số rất ít người phương Tây đã đọc Kinh Phật – sự giàu có của trí huệ tinh thần trong Kinh sẽ mang lại hòa bình, sức khỏe và hạnh phúc cho rất nhiều gia đình ngay hiện thời. Giờ đây, các cuốn Kinh này đang hiện hữu.

Khi mọi người tu Đạo, Kinh sẽ đi vào đời sống – chúng sẽ như là những bản đồ chỉ đường và sách hướng dẫn. Hành giả đọc Kinh không phải như là một bổn phận, nhưng giống như kẻ khát uống nước, như người lạc trong rừng rậm đi theo con đường lớn tới nơi an toàn.

Chúng tôi nói, “Thật là một tạng Kinh vĩ đại làm sao! Giờ thì mình có nó rồi! Cái đoạn đó đã làm tôi khó hiểu trong nhiều năm!” Tại sao giờ đây nó lại đầy ý nghĩa như thế? Bời vì các nguyên tắc mà Kinh mô tả đến đang bắt đầu hiển hiện rõ bên trong như thể công việc của sự tu hành đang dọn sạch cỏ dại ra khỏi ra khỏi bản tánh.

 

Thành phố Carpenteria.

Trong khi đang lạy, tôi nhìn thấy một thoáng cha tôi nằm trên giường bệnh ở bệnh viện Ann Arbor – ánh sáng của ông đi mất, miệng mở ra, lạnh ngắt.

Một đôi diều hâu to lớn, duyên dáng đứng trên cao, bên trên cánh đồng đã cày xong. Chúng sải cánh, quạt mạnh và quan sát vùng đất phía dưới. Đôi cánh đen có sọc của chúng vẽ thành một bản kinh không lời trên nền trời xanh thẳm. Bám vào một cơn gió, chúng chuyển độ cao và liệng xuống cơn gió, dễ dàng, không đau khổ, tự do khỏi thế gian.

 

Ghi chú:

(1) Nam mô Nhân Đà La Da: Câu trong bài chú Lăng Nghiêm chư Tăng Ni thường tụng mỗi ngày. Trong bài giảng: Giải Thích Sơ Lược Về Bài Tựa Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm http://www.dharmasite.net/KinhHoaNghiem_GiaiThichSoLuocBaiTua.htm , Hòa Thượng Tuyên Hóa có đề cập:

Pháp Giới chư thiên: Người bình thường không biết Phật Pháp cho rằng sanh thiên là cực điểm. “A! sanh về thiên đường, được gần gũi với Chúa Trời.” Thật ra vị chúa trời này cũng chỉ là một vị thần bảo hộ của Phật Pháp (hộ Pháp). Đừng nói ông không lớn lao gì, mà ngay cả chỗ ngồi cũng không có, thậm chí còn phải đứng nữa. Có người nói: “tôi không tin Chúa Trời lại đứng bên chỗ Đức Phật.” Quý vị không tin ư! Vậy quý vị cứ thử xem. Quý vị tin Chúa Trời của quý vị đi, đừng tin Phật làm gì, điều đó cũng chẳng sao đâu.

Vì lẽ, người không hiểu Phật Pháp họ luôn quan niệm Chúa Trời là đấng tối cao. Thật ra trong Phật Giáo, vị Chúa Trời này là một vị quan cai quản dưới đất. Ông được phái trông coi thần dân trăm họ. Ông nói ta là cao nhất, trên thế giới này không ai lớn hơn ta. Ta cai quản các ngươi, các ngươi phải tuân theo mệnh lệnh của ta. Bởi vì ông ta là viên quan trông coi đất đai ở nhà quê, nên những người dân quê này không biết văn hóa là gì, cũng không biết Phật Pháp là gì, lại còn mù chữ, cho nên khi nghe sự điều khiển của viên quan bảo hộ này bèn bảo nhau rằng “Ông ta là chúa của mình, chúng ta nên thường xuyên gần gũi vị chủ quản này.”

Vị quan bảo hộ này có khi một mình đi thăm Thị Trưởng, gặp Thị Trưởng ông phải nghiêng mình cúi đầu chào hỏi. Vì không ai thấy cảnh tượng này nên bà con dân chúng cũng không biết còn có Thị Trưởng quản lý cả ông nữa. Giả như ông đi thăm Tổng Thống, thế thì ông càng phải lịch sự hơn, Tổng Thống bảo: “Ông ngồi đi!”.

“Dạ, không cần đâu! Tôi đứng ở đây cũng được, tôi đứng đã cảm thấy vinh hạnh lắm rồi”. Ông ta là như vậy.

Trong chú Lăng Nghiêm có câu thế này “ Nam mô nhân đà la da”. Nhân đà la da chính là vị chúa trời này vậy. Cho nên quý vị phải nhận rõ diện mạo của ông ta. Sau này nếu có gặp Nhân-đà-la (Indra), nếu ông ấy nói tôi là Vua Nhân-đà-la, quý vị hỏi thử xem:

“Ngài chính là Chúa Trời phải không?”

Chắc chắn nét mặt ông sẽ đỏ lên và nói: “Đúng vậy, đúng vậy!”

Pháp Giới của chư thiên cũng có vô lượng vô biên, không phải chỉ có một chúa trời mà là rất nhiều. Vị chúa trời này đời trước vốn là thân người nữ, vì nhờ có ba mươi hai người nữ giúp cô tạo tượng Phật, đắp vàng lên tượng, thếp vàng vào thân tượng, sau đó được phước báo sanh làm chúa trời. Đó là một câu chuyện lâu xa về trước truyền cho đến ngày nay, cô vẫn được làm chúa trời. Vậy lâu là lâu bao nhiêu? Có mấy ngàn vạn năm về trước, không tính xuể. Quý vị đừng giống như một nhà sử học, nhất định phải truy cứu, nghiên cứu xem coi có bằng chứng nào? Chẳng có chứng cứ nào! Đây chẳng qua là bây giờ tôi giảng cho quý vị nghe vậy thôi. Quý vị không tin ư? Không tin cũng chẳng sao, tôi cũng không vì thế mà buồn phiền gì. Vì sao? Vì quý vị tin, thì chúa trời cũng là chúa trời; quý vị không tin, Phật cũng là Phật, chẳng thêm bớt gì đâu!

Pháp Giới chư thiên có rất nhiều, không thể đếm xiết.

Trong quyển Hư Vân Hòa Thượng Họa Truyện bai http://www.dharmasite.net/HuVanHoaThuongHoaTruyen/109.htm Hòa Thượng Tuyên Hóa cũng đề cập: Ngọc Hoàng Thượng Đế, tức vua Nhân Đà La (Indra hay vua Đế Thích).

 

 

Hằng Triều - Ngày 24 tháng 8, 1977

Những thói quen xấu có thể cho cảm giác khá thoải mái

 

Một vị thầy tốt lành giống như một tấm gương hoàn hảo mà quý vị sử dụng cho tới khi quý vị khám phá và tự làm sạch tấm gương của chính mình. Giống như thầy Hằng Thật sửa thế ngồi của tôi. Tôi cảm thấy được nhưng thực tế nó lại sai. Tôi không thể nhận thấy điều đó. Bây giờ thì tôi biết điều đó cần nên cảm thấy như thế nào, tôi có thể sử dụng tấm gương của chính mình.

Ở một cấp độ sâu hơn là Sư Phụ đang chỉ cho tôi thấy những lỗi và sai lầm trên tâm địa của mình. Những thói quen xấu có thể cho cảm giác khá thoải mái và “đúng đắn”, nghĩa là tự nhiên. Vì thế, với lòng từ bi vô biên và trí tuệ vô biên, Hòa Thượng chiếu ánh sáng lên khắp chúng ta cho tới khi chúng ta có thể nhận thấy “Đại Viên Cảnh Trí (Tấm kính trí huệ to lớn viên mãn)" của chính mình.

Khóa tu học đầu tiên tôi tham dự tại chùa Kim Sơn Thánh Tự vào tháng 4 năm 1976 là khóa tu Chú Đại Bi. Đến cuối tuần thì thân và tâm tôi cảm giác chưa từng thấy trước đó. Rất mát mẻ và trong sáng. Thân tôi cảm giác giống như chưa bao giờ bị động chạm đến – thanh tịnh và trinh nguyên. Không bị ô nhiễm và các khó chịu bồn chồn đều biến mất, tôi nhu hòa và nhẹ nhàng giống như đang sống và bước đi trong một thứ chất lỏng mềm mượt như lụa, một loại vải lụa rất vi tế. Cả thế giới trông thanh tịnh và trong suốt như thủy tinh giống như sau một cơn mưa có gió đã rửa sạch toàn bộ bụi bẩn và lớp màng nhơ bẩn bên ngoài.

Tối hôm qua thầy Hằng Thật đọc vài dòng trong cuốn kinh Hoa Nghiêm và tôi liên tưởng lại khóa tu học đó: “Có một thế giới gọi là ‘Ly Trần (Xa khỏi bụi bẩn)'… thuần thanh tịnh” (1).

 

Ghi chú:

(1) Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Hoa Tạng Thế Giới http://www.dharmasite.net/KinhHoaNghiem5.htm

Trên đó, quá phật-sát vi-trần-số thế-giới, có thế-giới tên Ly-Trần, dùng Diệu-Tướng Trang-Nghiêm làm tế, nương biển chúng-diệu-hoa-sư-tử-tòa mà trụ, hình như chuỗi ngọc, dùng mây ma-ni-vương viên-quang giăng che, mười tám phật-sát vi-trần-số thế-giới bao quanh, thuần thanh-tịnh, Phật hiệu Vô-Lượng-Phương-Tiện-Tối-Thắng-Tràng.

 

Hằng Thật - Ngày 26 tháng 8, 1977

 

Mười thứ tâm
 
“Nên biết các thứ tâm này đều là tướng mạo của môn Đà La Ni này. Vậy, ông nên y theo đó mà tu hành”

Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni


Mười thứ tâm hay còn gọi là các tâm trạng (hoặc trạng thái) phát xuất từ Đại Bi Tâm Đà La Ni hoặc thần chú có sức mạnh hơn tất cả các loại vũ khí trên thế gian. Mạnh như thế nào? Vũ khí thì dùng sức mạnh bên ngoài để thay đổi con người, còn 10 thứ tâm phát xuất từ Đà La Ni thì dùng đức hạnh để chuyển hóa tự tánh bên trong và hành vi bên ngoài của tất cả chúng sanh hành theo pháp này. Đây là một sự chuyển hóađích thực, không cần hay mong cầu bất cứ tác động nào. .
 
Giống như một công thức để làm nên món ăn hoàn hảo, như một công thức hóa học cho một cuộc sống lý tưởng, mười thứ tâm này là các khái niệm được đưa vào thực hành. Điều quan trọng chính là chỗ này. Về mặt tư tưởng, mười thứ tâm này rất tốt đẹp và cao quý. Khi một người dùng năng lượng và sự kiên trì chấp trì thực hành, mười thứ tâm này là những bậc trên chiếc thang dẫn đến trí tuệ viên mãn, để giác ngộ hoàn toàn. Mười thứ tâm này là gì?
 
1. Tâm đại bi. Quý vị sống và hành động trong tinh thần tỉnh thức hoàn toàn, thấy rằng mình và mọi chúng sanh đều phát xuất từ cùng một chất và các yếu tố như nhau. Chỉ vì một ý niệm vẩn vơ về tâm phân biệt mà có thể thấy những sự sai khác cơ bản giữa các chúng sanh. Taất cả chúng ta đều là một thân, chúng ta nên trân quý nhau như bảo vệ con mắt mình.

2. Tâm bình đẳng. Người trí thấy thiện và bất thiện đều chẳng khác. Hành vi của người đó được kiểm soát tốt đẹp, vô hại và ngay thẳng. Thế thì sao người đó còn phải lo lắng chuyện phá giới luật? Vị ấy giữ tất cả các giới một cách tự nhiên, vị ấy là một người không có giới. Vị ấy coi mọi chúng sanh chính là mình, vậy sao còn có thể phân biệt các chúng sanh?
 
3. Tâm vô vi. Trong thế gian vạn biến, vị ấy giữ cho tâm mình nơi Tam Bảo được bất biến, thường trụ và không bao giờ hoại diệt.
 
4. Tâm vô nhiễm vô chấp (không nhiễm ô, không bám chấp). Vì thấy mình và mọi chúng sanh như nhau – đồng một thể, với lòng đại bi dành cho mọi chúng sanh – vị ấy không cảm thấy mình là một cá nhân riêng rẽ. Vị ấy không làm gì cho bản thân. Vị ấy không có lòng ham muốn ích kỷ về sự luyến ái; vị ấy quan tâm đến tất cả mọi người. Vị ấy không cần bám lấy một người đặc biệt hay một phong cách đặc biệt nào khác với những người khác. Điều đó quá ích kỷ, dẫn đến sự ô trược, và bám chấp. Nó sẽ không hòa hợp với tâm Đại Bi.
 
5. Tâm quán tính không. Vạn vật được tạo thành từ tứ đại thì sẽ trở về tứ đại, kể cả sắc thân. Cuối cùng, không có gì tồn tại lâu dài, tất cả đều rỗng không. Quán sát như vậy, Bồ Tát khởi tâm đại bi tới mọi chúng sanh, những kẻ đang bám chấp vào danh và sắc vì Ngài thấy được họ thọ khổ khi nhận ra những gì họ thấy như thật hóa ra thực chất lại rỗng không.

6. Tâm cung kính.
Đối với kẻ khác, vị ấy thể hiện sự tôn trọng thực sự, vị ấy cảm thấy điều đó. Đó là cách tốt nhất để chuyển người khác về Vô thượng Bồ Đề.
 
7. Tâm khiêm nhường. Đối với bản thân, vị ấy không có những ảo tưởng về mình, không có tự ngã, không có cái “Tôi to lớn” và không bám chấp hay có kế hoạch gì cho giây phút tiếp theo, cho năm tiếp theo. Vị ấy khiêm nhường và biểu lộ điều đó. Vị ấy tìm kiếm Bồ đề cho mình và cho người.
 
8. Tâm bất loạn. Đạo lý nào hôm qua đúng thì hôm nay cũng đúng. Bồ Tát không quên áp dụng đạo lý này vào trong mọi hoàn cảnh bất kể chúng có dễ chịu hay khó chịu vì vị ấy thấy mọi cảnh giới đều trống rỗng như nhau. Vị ấy không mê mờ (vô minh) hay bị cảnh chuyển và vị ấy phản ứng như một tấm gương. Tấm gương phản ánh các cảnh vật một cách hoàn toàn và không lẫn lộn. Khi không có gì diễn ra, Bồ Tát tịch tịnh và sáng suốt (quang minh) như tấm gương.
 
9. Tâm không vọng, không chấp. Vị ấy không bản ngã, không có tôi, vì thế không có “của tôi”. Không có “của tôi” thì không có ưa thích. Không có ưa thích thì không có phân biệt. Không có phân biệt nên tâm Bồ Tát không có vọng niệm, không nhiễm ô, không có “phải” hay “nên”. Do vậy, vị ấy không dễ bị lay chuyển cũng không chấp chặt vào bất kỳ pháp đặc biệt nào. Đạo của vị ấy là đạo thông suốt vô ngại, đạo hoàn toàn nhận ra tự tính thanh tịnh quang minh.
 
10. Tâm Bồ đề Vô thượng. Vì mười thứ tâm này đều xuất phát từ lòng Đại Bi nên chúng cũng nhắm điến sự giác ngộ viên mãn cho tất cả chúng sanh. Đó là mục tiêu, là chỗ nương náu, là con đường an toàn dẫn tới chấm dứt khổ đau, đạt được an lạc. Đó là cái an lạc vĩnh cửu, và tự do thật sự. Nó tối thượng và vĩnh cửu. Trong thế giới của bóng tối, tà ác, và vô minh, nó là ánh sáng, sự lương thiện và quang minh.


Mười thứ tâm này có sức mạnh hơn tất cả các loại vũ khí trên thế gian vì chúng khiến cho người ta không còn sợ hãi, vậy ai còn cần đến vũ khí đây? Sự chuyển hóa thực sự từ Đại Bi sang Vô thượng Bồ đề là một sự thay đổi bên trong, một sự trưởng thành không thể đảo ngược từ hạt giống thành bông hoa viên mãn. Thế gian này chỉ có thể được hưởng lợi nhờ vào sự tu tập Đại Bi Tâm Đà La Ni này, bắt đầu từ chính điều này!

 

 

Hằng Triều - ngày 26 tháng 8 năm 1977 – trang 156

Tránh sự chặn đứng và phiền nhiễu

 

Chúng tôi bắt đầu lạy vào ban đêm trong khoảng giờ từ 10 giờ tối đến 6 giờ sáng để tránh sự chặn đứng và phiền nhiễu. Thời gian bái lạy tăng lên, thời gian ngủ giảm xuống. Chúng tôi vẫn lạy vào ban ngày ngoại trừ vào lúc này, sau thời công phu tối, chúng tối bái lạy cho đến 2 hoặc 3 giờ sáng, sau đó lặng lẽ chui vào một nơi kín đáo nào đó để chợp mắt trong vài giờ. Đang thí nghiệm. Việc lạy ban đêm này cũng có thiếu sót và thuận lợi của nó.

Điểm tích cực: lạnh và yên tĩnh; sự tĩnh lặng bên ngoài cho phép chúng tôi nghe âm thanh bên trong rõ ràng hơn. Không bị quấy nhiễu bởi giao thông và những câu hỏi. Thêm thúc đẩy và áp lực.

Điểm tiêu cực: bị vấp phải rãnh, hay ổ gà, căng thẳng với những âm thanh của buổi đêm không thể nhìn thấy: “Cái gì vừa bò qua tay tôi vậy?” Không thể nhìn thấy phân chó, phân ngựa hoặc miểng chai. Kiệt sức.

Chúng tôi đi đến khu chợ ở Santa Barbara để mua một vài vật dụng. Những con phố nồng nặc mùi và đầy màu sắc, cảnh đẹp và sự khoái lạc dành cho tất cả giác quan. Tôi nghĩ đến một đoạn trong Đạo Đức Kinh khi chúng tôi tập trung công việc và lặng lẽ bái lạy bên trong.

Người giữ Đạo lớn,
Đi khắp thiên hạ,
Đến đâu cũng không hại,
Khắp chốn yên ổn thái bình.
Âm nhạc và mỹ vị,
Làm khách qua đường dừng lại.

Đạo nói ra lời thì lạt lẽo vô vị.
Đạo nhìn không thấy hết,
Lắng nghe không nghe hết.
Nhưng dùng Đạo thì vô tận.

Đạo Đức Kinh – chương 35

Đêm là thời điểm hoàn hảo cho sự bám chấp vào sự tồn tại. Màn đêm, cái lạnh đã khiến chúng tôi đối mặt với điều gì đó thú vị và đáng sợ. Chúng tôi nhìn thấy sự bao la của vũ trụ và những thế giới khác khi chúng tôi nhìn lên, và cả sự nhỏ bé và dễ tổn thương của bản thân. Ban đêm, chúng ta tìm kiếm tình cảm, đồ uống nóng, lò sưởi, một chỗ ấm cúng, đồ ăn nóng, và trò tiêu khiển. Cùng lúc đó, chúng ta dạo chơi với bóng ma đêm này; đi cắm trại, độc bộ khuya, những câu chuyện ma chung quanh đống lửa, và những thứ tương tự như thế. Sợ hãi và thách thức, kinh ngạc và trốn thoát – đêm là một tấm gương phản chiếu vào phần sâu thẳm nhất của con người ta và là cửa sổ mở ra điều gì đó ở phía trước. Vì thế, đêm cũng là một thời điểm tốt để nhìn vào gương, qua cửa sổ, và đi xuyên qua để đến địa điểm mới.

Tôi đang bắt đầu hiểu lời giảng giải của Hòa Thượng: “Đuổi ma, tìm Phật”. Và “Hãy chuyển cảnh chứ đừng để cảnh chuyển”. Sẽ đến lúc mọi thứ trở nên rối tung và không có gì chắc chắn, quen thuộc hay có thể dự đoán được nữa. Đó là lúc chúng ta thắp lên ngọn lửa bên trong, thắp sáng tâm trí hết sức mình , nhìn thẳng sự việc và nói “La la la! Hãy để mọi thứ đến tự nhiên!”

 

Ghi chú:

(1) Đạo Đức Kinh – chương 35

 

執大象,

天下往。

往而不害,

安平太。

樂與餌,

過客止。


道之出口,

淡乎其無味。

視之不足見,

聽之不足聞,

用之不足既。

 

Chấp đại tượng,
Thiên hạ vãng。
Vãng nhi bất hại,
An bình thái。
Nhạc dữ nhị,
Quá khách chỉ。

Đạo chi xuất khẩu,
Đạm hồ kì vô vị。
Thị chi bất túc kiến,
Thính chi bất túc văn,
Dụng chi bất túc ký。

 

 

Hằng Thật – Tháng 8 năm 1977

Đào xới lên những phần xấu xa

Ghi chép của thầy HằngTriều:

Giờ tôi đã bắt đầu hiểu về tu hành một chút và tu hành chính xác là việc đào xới lên những phần xấu xa của bản thân và đối diện với những phần xấu xa đó – làm tan rã và tái tạo lại. Chỗ quan trọng nhất là bất kể quý vị là ai, đang cùng với ai, hay thậm chí thầy của quý vị là ai – nếu quý vị đủ may mắn để tìm thấy một người thầy, tất cả những điều đó không quan trọng. Tu hành là nhìn trơ trọi hoàn toàn không tô vẽ và chủ yếu là nhìn vào chính mình. Tại sao lại là chính tự ngã mình? Bởi vì tự ngã là thứ giúp quý vị thực hiện công việc tu hành, và tự ngã là thứ duy nhất ngăn cản quý vị thực hiện công việc tu hành. Phá xuyên thủng nghịch lý này là một công việc hôi thối, khó khăn vất vả, cả về thể chất lẫn tinh thần. Đôi khi, mọi lời nói thì hời hợt, và tất cả là khảo nghiệm để xem quý vị có nhụt chí hay từ bỏ không. Nếu đối mặt với khảo nghiệm thì quý vị đang làm tốt đẹp. Nếu giấu giếm che lấp đi, là chúng ta đang lãng phí cuộc đời mình.

 

Hằng Triều – 29 tháng 8 năm 1977

Bị nghi ngờ về “trụ”

 

Cố gắng hạ xuống khí hỏa trong người do việc ngủ ít, lạy nhiều hơn. Vấn đề là, chúng tôi không dừng lại đủ lâu để ngồi thiền mà không bị nghi ngờ về “trụ”.

 

Hằng Thật – tháng 8, 1977

Chúng tôi nhìn thấy các hình dạng giống nhau trong những đám mây và trong bóng tối



Mọi duyên đều không nên ràng buộc

Mọi người có những sợi dây ràng buộc nhau gọi là những nhân duyên hay hoàn cảnh tương quan. Với từng lời nói, hành vi, và suy nghĩ, chúng ta đẩy hoặc kéo sợi dây nhân duyên về phía có lợi hoặc phía có hại. Điều này đúng đối với tất cả mọi thứ, và mọi nơi, chứ không chỉ đúng với con người, nhưng “con người” là chủ đề ở đây. Chúng ta sẽ bàn luận về những thành phần còn lại sau.

Tại sao có người lại kết hôn? Tại sao một người cha lại giết con trai của ông ta? Tại sao một người được mọi người ưa thích trong khi em trai người đó thì bị mọi người ghét bỏ? Tại sao quý vị bị thu hút mạnh mẽ bởi người bạn này, và tại sao các bạn của anh ta lại lạnh lùng chẳng thu hút quý vị? Đó đều là do nhân duyên mà quý vị đã gieo trồng trong quá khứ (và đang tạo ra nhân duyên ngay trong phút giây này).

Thầy Hằng Triều và tôi có nhân duyên sâu nặng về mặt tích cực. Chúng tôi rất giống nhau đến nỗi chúng tôi hợp nhau ngay cả trong trực giác của chúng tôi, chúng tôi thấy những hình dạng giống nhau trong những đám mây và trong bóng tối.Chúng tôi cùng hòa một âm khi hát trong các buổi công phu sáng và tối. Tôi dần tin tưởng vào sự tương hợp của chúng tôi. Khi chúng tôi lễ lạy, nếu tôi phải tạm dừng để uống nước hoặc đi vệ sinh thì tôi biết rằng mình chỉ cần chờ đợi thầy Hằng Triều lạy thêm vài lạy nữa để cũng có sự thôi thúc như mình, và thầy Hằng Triều sẽ xuất hiện bên phải tôi và nói “Tôi phải dừng ở đây” hoặc “thầy có muốn uống nước không?”. Mọi thứ diễn ra như thế này vào mọi lúc và các chặng đường trên hành trình của chúng tôi. Chúng tôi chia sẻ với nhau các ý tưởng và lịch trình hằng ngày giống nhau,. Cuộc sống lúc còn là cư sĩ của chúng tôi cũng quá tương tự nhau khiến cảm thấy hơi kỳ lạ - tỉ lệ cơ may do trùng hợp như không có. Tóm lại, chúng tôi có mối nhân duyên rất mạnh mẽ.

Mối quan hệ của chúng tôi trong cuộc đời này, trên hành tinh này chỉ mới bắt đầu vài tháng trước khi chúng tôi bắt đầu hành trình bái lạy. Áp lực dồn lên tâm và trí chúng tôi có thể trở nên khá nặng nề – hai người va chạm nảy lửa thì sẽ không tồn tại – họ sẽ sử dụng năng lượng của mình để chống nhau và phòng thủ trước các đòn tấn công của đối phương. Đó sẽ là một công việc đơn độc và đau đớn.

Chúng tôi hòa hợp với nhau trên mọi mức độ đến nỗi chúng tôi có loại vấn đề ngược lại. Hẳn là dễ dàng khi cùng nhau làm việc , cùng có những khoảng thời gian tốt đẹp nhất, thực hiện công việc khá khó khăn nhưng luôn nương tựa vào hình thức trao đổi cũ để trút bỏ đi hơi nóng do áp lực một cách an toàn và vô ích khi việc tiếp tục hành trình trở nên khó khăn. Như thế thì bảo đảm rằng chúng tôi sẽ về đến Vạn Phật Thánh Thành mà chẳng khôn ngoan hơn chút nào so với khi chúng tôi bắt đầu hành trình. Thật là điều cám dỗ để thích thú có người đồng hành tốt, và trở nên xã giao và nói nhiều. Một lần nữa, điều này sẽ bảo đảm là không có thành tựu và sẽ đi ngược với lời huấn thị cuối cùng tốt đẹp nhất dành cho chúng tôi: “Đừng nói chuyện, chỉ nói khi lời nói có ích. Đừng làm mất năng lượng của các con”.

Quan điểm của thầy Hằng Triều về mối quan hệ của chúng tôi làm thấy xuyên suốt mối liên kết hiện tại này. Thầy nói “Đây là mối liên kết của chúng ta, nhân duyên của chúng ta. Khi chúng ta đến điểm này, chúng ta phải hết sức thận trọng để hoàn thành lời nguyện với nhau bằng lòng từ bi, để độ chính mình và độ lẫn nhau. Chúng ta có thể và đã làm mất cơ hội với nhau và với bản thân (biết bao nhiêu lần?). Đây là cơ hội để thực hiện thật sự, để quay vào bên trong và đừng làm gì để giúp dễ dàng cho nhau vì chúng ta không thể buông bỏ ‘cái tôi’”.

Chúng tôi luôn đến điểm này – đây là nơi chúng tôi biết nhau – những nhân duyên trần tục chỉ là những ký ức tăm tối về những sự thoát lậu. Nghe có vẻ không được tự nhiên – tại sao hai người hòa thuận với nhau, vui vẻ với nhau và không tranh giành nhau lại quyết định ngừng việc cho và nhận của họ?

Câu trả lời là: điều mà chúng tôi đang làm không tự nhiên; nó không bình thường. Chúng tôi đang cố chấm dứt dòng chảy phàm phu – cố đảo ngược tiến trình sanh tử. Nó đòi hỏi nỗ lực tập trung để chặt đứt các chu trình trong cuộc sống và không dành năng lượng để có thời gian giải trí hay chơi đùa hay thư giãn. Nó giống như nấu chảy quặng kim loại để lấy vàng – nếu tắt lò lửa không đúng thời điểm hoặc để nóng quá, dù cách nào thì quý vị cũng làm hư hỏng kim loại.

Bây giờ chúng tôi đang làm những điều quan trọng hơn, nghiêm túc hơn và sẽ không có gì bị mất đi nếu chúng tôi để cho người kia yên dù khi chúng tôi cảm thấy cần trêu đùa hay nói luôn miệng hoặc xả bớt áp lực.
 



 

Có những lúc các cư sĩ và tu sĩ đi những đoạn đường dài bằng xe buýt để gặp những vị sư đang lễ lạy

Hằng Triều viết: "Hòa Thượng, Tăng chúng và cư sĩ từ Kim Sơn Thánh Tự lái xe đi 350 dặm và ... trở lại để làm chúng tôi ngạc nhiên với thức ăn cúng dường và Pháp quang! Tâm trí bay bổng! Suốt buổi còn lại chúng tôi lạy như đang ở trên mây."

 

Hằng Triều. Ngày 2 tháng 9, 1977

Có hơn 84.000 tấm cạc tông Phật Pháp

 

Lạy quanh khu vực thương mại, xuyên qua các khu dân cư vùng ngoại ô. “Cho đến bây giờ, các thầy học được điều gì trong cuộc hành trình của mình rồi?” một cặp đôi trẻ tuổi hỏi khi họ tới cúng dường.

“Nói ít, làm việc chăm chỉ, và kiên nhẫn”.

“Chuyện gì sẽ xảy ra khi các thầy đi về phía bắc của nơi này. Chẳng có gì cả. Chỉ là một vùng quê hoang tàn trải dài liên tục. Có lẽ chẳng có lương thực và nước trong nhiều dặm”.

“Chúng tôi sẽ làm gì?” Tôi nghĩ. Nhưng bằng cách nào đó tôi biết rằng dù chuyện gì xảy ra cũng không sao – cho dù đó là chuyện gì đi nữa. “Chúng tôi sẽ cố gắng chân thành ngừng lại từng lúc. Nếu chúng tôi có thể làm như thế và làm việc chăm chỉ thì chúng tôi sẽ có được bất cứ những gì cần thiết”. Nếu chúng tôi có thể bước đúng từng bước một thì chỉ có những điều đúng đắn ở phía sau và phía trước chẳng có gì phải lo sợ cả. Chúng tôi cũng học được một điều khác nữa: đơn giản hãy làm việc chăm chỉ và không vọng tưởng, đừng lên kế hoạch trước.

Một con ong đang bay vo vo điên cuồng trong xe, nó đâm và đập thân vào tấm kính phía trước xe với hy vọng để được bay qua. Cửa xe và cửa sổ xe chung quanh đều đang mở. Chỉ cần một cú xoay chuyển đơn giản và trong chớp mắt con ong có thể thoát ra ngoài qua bất kỳ một cái cửa nào. Nhưng con ong tội nghiệp vẫn luôn theo lối cũ, cho nên nó liên tục nỗ lực vô ích.

Tất cả những gì ở giữa chúng ta và sự giác ngộ chính là sự bám chấp và vọng tưởng. Đây chính là những gì mà Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã tuyên nói sau khi Ngài giác ngộ. Giống như tấm kính xe chắn gió, chúng ta thường có thể nhìn xuyên qua nhưng không thể cắn thủng xuyên qua nó được. Chúng ta mong mỏi sự tự do và trí huệ chân thật, thế nhưng dường như lại không thể thực hiện bước đầu tiên: “S đảo ngược vĩ đại” xoay lưng lại với bụi trần và phát Bồ Đề tâm. Cũng giống như con ong, chúng ta ngớ ngẩn liên tục vỗ cánh bám vào những thói quen ngu ngốc của chúng ta và đồng thời khao khát sự tự do. “ Vù vù, ầm, vù vù, ầm. Ôi, đau quá. Tại sao lại là tôi? Tội nghiệp tôi quá” Con ong nói. Đây chính là ý nghĩa, tôi nghĩ, trong Kinh Pháp Hoa, “Lấy khổ muốn bỏ khổ" (1).

Tôi lót một tấm cạc tông lên cửa sổ. Con ong lao vào, ngưng lại trong giây lát. “Mất rồi. Tôi không thể nhìn thấy bầu trời và những hàng cây nữa. Mất hết rồi. Trống rỗng. Chẳng còn gì nữa”. Rồi nó xoay vòng lại và bay qua chiếc cửa đang mở. Tự do!

Đối với tôi và nhiều người khác, Kim Sơn Thánh T và Thiền Sư Tuyên Hóa đã đưa lên một tấm cạc tông – có hơn 84.000 tấm cạc tông Phật Pháp ấy – để chấm dứt hết thảy cái sự vo ve và va đập của tôi,và cho phép tôi nhìn thấy tất cả các cửa và cửa sổ khác đang ở chung quanh tôi. Tất cả đang mở rộng, chờ khám phá.

Tiền cúng dường:

Pat và Bill Chiang: 10 USD

Chen Lee và gia đình: 20 USD.

Nguyễn Thị Gái: 20 USD.

Thân Hiếu: 50 USD.

Huỳnh Thị Kim Ngân 10USD, cúng dường bữa ăn trưa và các vật dụng khác.

 

Là một sa di, tiến trình xuất gia tiến triển chậm chạp và đầy ắp nỗ lực để “về nhà”, nghĩa là đi ngược lại những thói quen và bám chấp cũ.

Điều cơ bản và “tự nhiên” nhất là s ham muốn. Người ta nói rằng ham muốn tình dục là nguồn gốc của sanh tử; Kinh Lăng Nghiêm nói rằng, “Lòng dâm không dứt, Trần gian chẳng thoát ".

Một khi quý vị phát cái tâm hiểu biết điều này, và “ra khỏi nhà - xuất gia”, thì công việc lúc đó là tiếp nhận quyết tâm này và làm cho việc “xa lìa mọi ham muốn và nhiễm ô” trở nên tự nhiên. Các luật nghi (oai nghi) và giới luật được thiết lập chỉ vì mục đích đó và cũng như “chim thì cần đôi cánh”, còn “người tìm kiếm sự tĩnh lặng” (sa di) thì cần những luật nghi này.

Khi các tình huống nảy sinh và nếu chỉ có chút ít định lực và trí huệ, thì rất dễ dàng bị “ đối cảnh lầm không biết” và rớt sự khảo nghiệm.

Một trong những quy tắc hướng dẫn là “không nói chuyện với phụ nữ, đặc biệt là chỉ có hai người hoặc chỗ riêng tư”. Hôm nay, trong khi chúng tôi đậu xe ở dưới lùm cây bên ngoài đường xa lộ để dùng bữa ăn trưa, thì một viên cảnh sát tới và kiểm tra chúng tôi. “ Được rồi, ra khỏi xe – nhanh lên, đi nào!” Vói tay lấy “hộp giấy tờ pháp luật” gồm có danh thiếp, thơ di chuyển, các thứ giấy tờ chính thức khác, tôi đi ra khỏi xe cố gắng kiểm soát và làm dịu tình hình. Nhưng sau một cuộc đàm thoại dài với người cảnh sát, đột nhiên các quy tắc đó chợt lóe lên trong tôi vì tôi đã thậm chí không vượt qua nổi cái phù hiệu và bộ đồng phục màu xanh.

Thầy Hằng Thật ngồi lặng người trong xe nghe và xem, trong khi cả phần ăn trưa và năng lượng của tôi trở nên lạnh cóng. “Thầy không phải nói chuyện với viên cảnh sát, mà thầy nói chuyện với một phụ nữ”, thầy ấy viết thế. Tôi đã cảm thấy thế nào? Con chim cảm thấy thế nào nếu nó thiếu mất đôi cánh?

Đạo Phật là giáo lý của vũ trụ. Nó bao gồm tất cả mọi vật và chẳng loại trừ cái gì cả. Rộng lớn và vĩ đại như đại dương và hư không, không thể bị phân cách bởi hàng rào hay chia chẻ. Đôi khi điều đó quá lớn lao đối với chúng ta. Tâm trí của chúng ta bị bám chấp và mê mờ. Vì thế, thay vì mở rộng sự giới hạn của chúng ta, chúng ta lại giới hạn sự mở rộng của mình. Với những con dao mổ và con dao cắt, chúng ta cắt đôi và mổ xẻ. Từng phần, từng phần, nhiều phần! Chúng ta đẽo gọt và cắt tỉa cho tới khi tìm được cái mẩu phù hợp với mình. “Ồ, đúng rồi, cái miếng đó đẹp đấy, tôi sẽ lấy nó!” chúng ta nói một cách hạnh phúc. “Đó đúng là cái mà tôi đang tìm kiếm”. “Giáo phái của các anh là gì?” một người đàn ông ở Santa Barbara hỏi. “Tôi không thể theo dõi được hết, chắc hẳn phải là 80,000 hoặc hơn chứ hả?” anh ta nói thêm.

Có cùng một thể tánh với tất cả chúng sanh và vạn vật thì gọi là đại bi (Đồng thể tức đại bi). Đại bi là chất keo dính cần thiết để gắn tất cả những miếng nhỏ đó trở lại với nhau – “để quay trở lại cội nguồn” (phản bổn hoàn nguyên). Hoặc như một người phụ nữ nói khi cô ấy với tay qua hàng rào để đưa cho chúng tôi mấy trái cà chua hái từ vườn nhà mình, “Dù các anh là ai thì điều đó cũng không thành vấn đề gì lắm. Tất cả chúng ta đều cùng đến và cùng đi từ cùng một nơi thôi, tất cả mọi vấn đề khác không quan trọng, đúng không?”

Thật khó để tìm được một chỗ cắm trại ở trong thành phố. Cảnh sát dừng lại và hỏi chúng tôi ngay khi trời bắt đầu chạng vạng tối.

Ghi chú lại cho bản thân tôi: Mấy đêm tuần vừa rồi lạy đêm và ngủ ít, ngươi bị đẩy tới những điều thật sự căn bản–như là bám chấp vào sự hiện hữu và “gia đình”. Nếu ngươi có thể từ bỏ, thì hãy từ bỏ và tiến bước. Nhưng nếu ngươi từ bỏ mà tâm trí không thực sự từ bỏ thì chỉ lãng phí thời gian và công sức và không chân thật. Mình phải lựa chọn và xác định tư tưởng: đi hay ở. Điều mấu chốt là phải vượt qua khỏi chỗ cả hai đều có th được, nghĩa là nửa ở và nửa đi. Ngươi đã làm điều đó quá nhiều lần rồi và điều này đã gây ra vô vàn nỗi đau và rắc rối cho những người khác.

Còn nhớ điều nhận định của ngươi về việc xuất gia không? Khi ngươi bước vào cửa chùa Kim Sơn, buổi giảng vừa mới bắt đầu. Nếu như ngươi đã chuẩn bị quyết tâm, thì ngươi cần phải làm điều đó ngay lập tức – không có thời gian để suy nghĩ. Trong thâm tâm, ngươi biết rằng ngươi chỉ có thể đi. Ngươi biết mình không thể ở lại và cũng không thể có được cả hai. Vì thế, tận trong thâm tâm hãy từ bỏ hết mọi thứ. Đừng nhầm lẫn sham muốn ở lại cùng với những lợi ích gia đình của ngươi.

Lợi ích cho họ về việc ngươi tu hành theo Đạo hết khả năng của mình thì to lớn hơn gấp nhiều lần so với bất kỳ sự việc trần tục nào mà ngươi có thể làm hoặc đáp ứng được cho họ. Mối nghi này đang là “sai một ly” ở lúc khởi đầu. Và đến lúc cuối thì ngươi đã cách xa cả nghìn dặm rồi. Hãy buông nó ra đi. Thực hành theo Đạo bằng cả trái tim mình. Đừng đuổi theo cái nhỏ bé và dễ dàng, được không? Được.

Mọi thứ thay đổi, không có gì dừng lại. Bạn bè, gia đình, chồng, vợ, con cái, tất cả dịch chuyển và biến mất. Ngươi cần phải từ bỏ khi có cơ hội và thực sự có thể làm một vài điều tốt đẹp nào đó. Hãy tu hành liền bây giờ! Đừng ngồi chờ chết và chờ đến lúc tách rời mình và những người khác. Cuối cùng thì ai cũng phải tự mình đối mặt với điều đó, một mình. Cha mẹ của ngươi sẽ như vậy và họ đều biết điều đó. Cha mẹ của họ đã như thế và họ cũng đã biết điều đó; Rằng không đối mặt với nó một cách chân thật, điều này thật lãng phí và ngốc nghếch; và cuối cùng là sự ích kỷ nhất trong mọi hành động. Nếu ngươi thành thật muốn trả ơn lòng tốt của cha mẹ, thì đừng ngu ngốc và lãng phí cuộc đời mình như thế. Hãy hoàn toàn rõ ràng về sự thật của những vấn đề này.

Chúng không chỉ là những lời nói và ý tưởng. Cần phải rất rõ ràng về điều này rồi tận lực làm việc chăm chỉ hết sức mình để làm những điều gì đó thực sự có ý nghĩa. Hãy cố gắng hết sức mình.

 

Cuộc đàm thoại với Dan, một thợ máy xe hơi tại trạm xăng ở Santa Barbara.

Dan: “Các thầy có chuyện gì vậy?”

Tôi: “Chúng tôi có hai chỗ rỉ lớn, cần xăng, nước và vài lời chỉ dẫn nếu anh có thời gian”.

Dan: “Đó là chiếc xe cổ điển đời 56 phải không?”

Tôi: “Đúng thế. Đoán hay lắm”.

Dan: “Anh trai tôi có một chiếc. Để tôi xem có thể làm gì được nào. Thế các thầy đang làm gì ở ngoài đó thế?”

Tôi giải thích cuộc hành hương.

Dan: “Trông có vẻ kỳ quặc”.

Tôi: “Mọi thứ không phải lúc nào cũng như mình thấy”.

Dan: “Điều đó chắc chắn rồi. Này, hai con ốc lớn bị lỏng. Bởi vậy mới bị rỉ. Tony, lấy cho tôi một cây nối mở ốc 5/16”.

Tôi: “Vậy sao?”

Dan: “Các thầy sẽ là chiếc xe chậm chạp nhất ở San Francisco”.

Tôi: “Không sao. Chúng tôi cần chậm lại”.

Dan: “Tôi cũng vậy, nhưng không phải chậm đến như thế. Nếu tôi phải làm việc đó, thì tôi sẽ đem theo xe mô tô của tôi”.

Tôi: “À, chúng tôi sắp lạy dọc theo đường rầy xe lửa, vì thế…”

Dan: “ Sẽ được thôi! Vẫn kỳ quặc, tôi nghĩ”.

Tôi: “Nhìn bề ngoài trông nó có vẻ kỳ lạ, nhưng bên trong nó là việc tốt nhất mà tôi đã từng làm qua”.

Dan: “Thật sao? Máy xe bị nứt. Tôi nhìn thấy khói trắng phả ra phía sau khi anh đề máy xe. Nghĩa là có nước ở trong động cơ”.

Tôi: “Thật chứ?”

Dan: “Nó sẽ là một vấn đề.”

Tôi: “Máy xe bị nứt?”

Dan: “Không, đường rầy kìa. Anh đã từng đi bộ theo đường rầy bao giờ chưa ? Đường rầy không bằng phẳng. Anh không bao giờ có nhịp điệu hoặc bước đi đều đặn”.

Tôi: “Có lẽ anh nên đi theo chúng tôi. Chúng tôi không có đầu óc hoạch định. Anh có thể hiểu ra được các vấn đề đó ”.

Dan: “Tôi sẽ dùng xe đạp – nhanh hơn. Chiếc xe Plymouth cũ kỹ đó có thể đi tới nơi. Hmmm. Có thể lắm. Cho dù như vậy, nó vẫn trông hơi kỳ quặc”.

Tôi: “Khi chúng tôi di chuyển và thay đổi đó là ở bên trong, nó chẳng có vấn đề gì cho dù chúng tôi chạy nhanh như thế nào và dù trông nó ra sao”.

Dan: “Không tính tiền. Rất dễ sửa. Anh biết không”. Lần đầu tiên anh ta nói chậm rãi và nghiêm túc trong suốt cuộc đàm thoại: “Tôi đã ở yên một chỗ trong suốt hơn năm năm qua rồi”, anh ta chỉ tay về phía trạm xăng. “Năm năm ở yên một chỗ và tôi vẫn chẳng ở đâu cả”.

Tôi: (yên lặng).

Dan: “Chúc may mắn. Dù sao thì trông nó cứ kỳ quặc thế nào ấy”.

 

Tiếng vang của lòng từ bi

Một chiếc xe tải thắng két bánh trượt vào lối đậu xe phía trước trong khi người lái xe hét lên với chúng tôi. Một người đàn ông vẻ dữ tợn, vạm vỡ bước ra khỏi xe và đứng trong tư thế tấn công ở phía đằng trước chúng tôi. “Đây là nhà của tôi, chỗ này – ra khỏi đây!” Thầy Hằng Thật vẫn yên lặng lạy tiến về phía trước. Khi thầy ấy đi qua phía sau của chiếc xe thì một người đàn ông khác liền tăng ga đe dọa, định cán qua thầy Hằng Thật. Thầy Hằng Thật liền nhẹ nhàng tụng, “Hoa Nghiêm Hải Hội Phật Bồ Tát” và bước ba bước đều đặn. Chiếc xe tải di chuyển và tắt máy. “Biến ngay ra khỏi sân nhà tôi hoặc là…” Không phản ứng. Cuối cùng, khi chúng tôi đi qua, “Các anh đang làm gì thế?” Chúng tôi đưa cho anh ta một bản thông cáo và trả lời vài câu hỏi. “ Đi qua khỏi San Francisco luôn sao?” anh ta nói tiếp và rồi thì: “Các anh bảo trọng nhé”.

Suốt thời gian lúc đó tôi đã liên tục niệm “Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát” và nghĩ về anh ta như là cha hoặc là chú của mình. Nhưng sự kiên nhẫn, động thái di chuyển chậm rãi và sự yên lặng thực sự đã làm cho người ta dừng lại và suy xét lại về những gì mình đang nói. Sự yên lặng của thầy Hằng Thật giống như là một tiếng vang t bi – tất cả những gì người ta nghe thấy đều là âm thanh từ trái tim mình. Tôi đã chứng kiến rất nhiều người đã chuyển lại suy xét trong thâm tâm mình khi sự yên lặng của thầy ấy khiến cho họ tự hỏi. “Nếu giữ im lặng trong vòng một năm sẽ như thế nào? Tôi sẽ tìm thấy gì ở trong mình?” Và vào đúng lúc yên lặng đó, nếu người ta tự hỏi mình câu hỏi ấy, thì chắc hẳn họ sẽ tìm thấy điều gì đó.

Phật Pháp thật là vi tế, tuyệt vời và khó mà đo lường được. Tất cả mọi ngôn từ và lời nói đều không thể diễn tả được…

 

Thực hành không sợ hãi

Xa lìa mọi ngôn từ (3)

 

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Quang Minh Giác

 

Ghi chú:

 

(1) Kinh Pháp Hoa, Phẩm Phương Tiện http://www.dharmasite.net/KinhPhapHoa1.htm#4 :

Do tham-ái tự che

Ðui mù không thấy biết

Chẳng cầu Phật thế lớn

Cùng pháp dứt sự khổ

Sâu vào các tà-kiến

Lấy khổ muốn bỏ khổ

Phật vì chúng-sanh này

Mà sinh lòng đại-bi.

(2) Kinh Lăng Nghiêm: 淫心不除、塵不可出 - Dâm tâm bất trừ, trần bất khả xuất.

(3) Nguyên văn: Sở hành vô úy ly ngôn thuyết. http://www.dharmasite.net/KinhHoaNghiem9.htm Phẩm Quang Minh Giác.

 

 

Hằng Triều - Ngày 03 Tháng 9, 1977

Giống như viên đá bị đánh xuống bằng tay

Cuối tuần của lễ Lao Động – tắc nghẽn giao thông nặng nề và bất cẩn.

Một chiếc xe chạy vụt qua. Một chai bia chưa mở nắp bay từ cửa sổ xe về phía chúng tôi. Vào giây cuối cùng, giống như bay vòng cong chậm vào trong, chai bia quẹo lách giữa hai chúng tôi và bể tung tóe vào đám bụi cây khô gần đó với tốc độ 50 dặm/giờ (1). Tôi nghe thấy tiếng kêu gầm của động cơ chiếc xe đã được cải tiến (động cơ) giảm dần, vào số và đạp thắng lại ở phía đằng sau chúng tôi. “Ồ! Không xong rồi!”, tôi nghĩ, “Họ đang quay trở lại”.

Chiếc xe tấp ra khỏi con đường đối diện chúng tôi. Hai người đàn ông bước ra. Họ lắc lắc nắm đấm về phía chúng tôi – nửa cười chế nhạo, nửa tức giận. Người thứ nhất, rồi người kia, bắt đầu ném vòng và ném thẳng những hòn đá to bằng nắm tay về phía thầy Hằng Thật. Nhưng những hòn đá dường như không thể chạm vào thầy ấy. Tôi quan sát không thể tin được và chẳng làm gì được (“Một vị Hộ pháp nào đó”, tôi nghĩ). Từng hòn đá chuyển hướng hoặc trượt. Một viên đá ném mạnh vào chỗ cao chừng ngang ngực và vào giây cuối cùng thì viên đá rớt xuống và lăn khỏi xa lộ – giống như viên đá bị đánh xuống bằng tay vậy. Thầy Hằng Thật vẫn tiếp tục lạy. Sau bẩy hoặc tám cú ném, tôi lấy ra tập giấy và cây viết, giả vờ như ghi lại bảng số xe của họ. Họ liền nhảy vào xe và rú mạnh xe chạy mất.

Bà Hsiao và con gái, cùng Pat Chiang mang tới cho chúng tôi bữa ăn trưa đầy bất ngờ, một ít hương, đồ dùng và một cái bình thủy (thermos) để đựng nước nóng. Họ lái xe từ tận thành phố Los Angeles. Bà Hsiao thức dậy trước lúc bình minh để chuẩn bị thức ăn.

Khi tôi đang lạy, tôi “thấy” những người ở chùa Kim Sơn. Khuôn mặt họ lấp lánh và tỏa sáng, mỗi người trong số họ đều có cơ hội để thực hiện “cuộc hành hương” tương tự khi họ tu hành tâm địa của mình để tìm bản tính chân thật của họ. Khuôn mặt của họ đều hạnh phúc, đầy hoan hỷ và thanh tịnh. Tất cả những vết hằn và nếp nhăn của sự phiền não đều biến mất. Linh ảnh này đã thực sự làm tôi xúc động.


Ghi chú:

(1) Khoảng 80 km/giờ.

 

Hằng Thật. Tháng 9, 1977

Một lý tưởng được hiểu một cách rất tệ

 

Có câu rằng, “Trong tất cả sự bố thí, bố thí Phật Pháp cao cả nhất”. Đây là một ví dụ khác về gương mẩu hạnh Bồ Tát của Hòa thượng trụ trì. Tại chùa Kim Sơn Thánh T, mọi ngày trong năm, hai lần trong những ngày cuối tuần, có một Pháp hội được tổ chức và có cơ hội để được nghe những lời của Đức Phật và lời diễn dịch chú giải. Không nơi nào trên thế gian này có được sự bố thí Pháp lớn lao như thế diễn ra với một quy mô đến nhường ấy. Tất cả những người tu hành chân thành đều có thể tham gia.

Để làm một vị Bồ Tát, cần thực hành hạnh bố thí. Bồ Tát bố thí tất cả của mình cho những người khác.

 

Mạnh MHơn CTình Thương Yêu: Cứu Một Vong Linh.

Tu hành đòi hỏi năng lượng để tạo sức mạnh cho tư tưởng giác ngộ. Tư tưởng này mạnh mẽ hơn cả tình thương yêu. Mặc dù quý vị không thể thấy được quyết tâm của Bồ Tát để có được cực lạc và chấm dứt đau khổ cho chính mình và tất cả chúng sanh, đó là một nguồn lực mạnh mẽ nhất: đủ mạnh để đưa ngài ra khỏi những thói quen của vô lượng kiếp; đủ mạnh để đánh bại sự lôi kéo của mọi ham muốn, sự dính như keo của mọi phiền não, sự nương tựa tự nhiên vào gia đình, vào sự thoải mái tiện nghi, và sự đảm bảo vật chất. Trước khi vị Bồ Tát đủ tiêu chuẩn để có được lòng Đại Bi, vị đó cần phải cắt bỏ ham muốn và từ bỏ s yêu thương (đoạn dục khử ái). Đối với những người phương Tây chúng ta, khái niệm này nghe có vẻ khắc nghiệt và không tự nhiên. Đầu tiên, chúng ta đã được nuôi nấng dạy dỗ rằng yêu thương điều tối quan trọng của cuộc đời. Nếu quý vị không cảm giác được yêu thương, thì quý vị đang sống không đúng rồi. Đó là điều mà chúng ta được dạy. Nhưng yêu thương thì chỉ là một từ ngữ, một ý tưởng được hiểu một cách rất tệ, và các tổn hại bị gây ra nhân danh yêu thương còn nhiều hơn chúng ta muốn tin tưởng. Yêu thương thường xuyên nhất là một ước muốn vô thức được ném tới người khác. Yêu thương thường xuyên được thúc đẩy bởi sự ham muốn ích kỷ để được trở nên lớn hơn hoặc hạnh phúc hơn bằng cách “sở hữu” một người yêu, hoặc tham gia một nhóm tuyên bố thương yêu những nhóm khác làm cái dấu hiệu đặc trưng của họ. Tình yêu thanh tịnh rất khó tìm được và càng khó để mà giữ được.

Khi tình thương yêu thanh tịnh, thì tình thương yêu đã trở thành lòng từ bi. Lòng từ bi thì rộng lớn, vô ngã và hoàn toàn không phân biệt. Bồ Tát, vì từ bi nên nguyện cứu tất cả chúng sanh, bao gồm cả côn trùng, gấu và ma quỷ. Không một ai đã từng tuyên bố là yêu thương ma quỷ cả, nhưng Bồ Tát phát nguyện cứu độ thậm chí cả ma quỷ. Đây là việc làm của lòng từ bi và nó lớn mạnh hơn cả tình thương yêu.

 

Pháp Môn Tịnh Khẩu.

Ai có thể tưởng tượng được rằng để tịnh khẩu đòi hỏi phải có sức mạnh và nỗ lực? Ngậm miệng lại phải tự nhiên và không cần nỗ lực. Đối với một số người, việc không chuyển dẫn năng lượng ra khỏi đầu qua mắt hoặc miệng thì khó khăn như việc không được cử động chân khi bị đau trong khi ngồi thiền. Nếu quý vị cảm thấy mệt mỏi hay yếu đuối, thì việc nói chuyện khởi ra, không đủ nội lực để giữ cho cái miệng ngậm lại.

Vì thế, không nói chuyện trở thành một pháp môn đích thực, là cách để xoay chuyển chiếc xe trâu trắng lớn (1) và đảo ngược dòng chảy tự nhiên của sự tồn tại (hữu) xuống sanh và tử (2).

 

Họ Hoàn Hảo THuệ Bình Đẳng Của Tất CCác Pháp

Vị Bồ Tát này sống trong khu rác thành phố. Ông ấy làm nhà trong một cái đống rác ấm, ẩm ướt. Chiếc ghế của ông được làm từ chiếc lốp xe bị bỏ đi, bàn ăn của ông cái tủ lạnh bị hư hỏng, giường nằm của ông là chiếc bồn tắm cũ kỹ. Ông ấy ngồi thiền ở dưới một đống xe hơi rỉ sét phế thải, ông ấy lạy Phật và trì chú phía dưới tàng cây khuynh diệp trong khu rừng nhỏ bên cạnh bãi rác xe hơi phế thải.

Ông ấy không cảm thấy bất hạnh hay bị tước đoạt. Ông ấy cảm thấy tự do và giàu có. Hoa nở khắp mọi nơi giữa những đống rác; ông ấy có chuột, mèo, dơi và côn trùng làm hàng xóm. Chúng không sợ ông và ông cũng không sợ chúng. Thức ăn của ông không bao giờ giống nhau, và ông cũng không bao giờ lãng phí một mẩu nhỏ đồ ăn ông có. Ông tắm rữa khi trời mưa trong chiếc nắp đậy bánh xe Cadillac; tâm trí và trái tim ông không một vết bẩn – hoàn toàn thanh tịnh . Vị Bồ Tát này đã tìm được sự giác ngộ không nằm ngoài thế gian.

Vị Bồ Tát này không mất tinh thần vì rác và bụi bẩn tồn tại trên thế gian. Bị “mất tinh thần” thì sẽ phải nỗ lực và điều này chỉ mang lại sự lầm lẫn và đau khổ. Thay vào đó, đôi mắt của ông thanh tịnh và chiếu xuyên qua các tướng bên ngoài.

Ông ấy biết được những sự thay đổi mà tất cả mọi thứ trải qua: sinh, trụ, hoại, rồi quay trở lại không. Ông ấy không lựa chọn hay ưa thích một giai đoạn nào hơn giai đoạn khác cả. Ông ấy vui lòng sống tự do và hạnh phúc trong gai góc hay là trong hoa hồng (thuận cảnh hay nghịch cảnh).

Sự tồn tại của bụi bẩn và xấu ác kia chẳng là vấn đề gì cả. Phiền muộn về điều xấu ác là bám chấp và những tướng trạng bên ngoài mà quên đi công việc làm thanh lọc tâm trí ở bên trong. Vấn đề là, quý vị phân biệt thiện và ác hay không? Cái gì lựa chọn? Đó không phải là tự ngã, những thói quen của nó và những bám chấp do ham muốn hay sao? Chỉ những cái đó thôi là những chuỗi phiền não che mắt người khiến họ không thấy được sự bình đẳng thực sự của tất cả các Pháp.

Nhìn vào điều này theo cách khác thì Bồ Tát không lựa chọn sống với vật chất khi nó đang ở giai đoạn thành hay trụ. Các thứ vật chất đang hoại diệt hoặc đã trở về với tứ đại thì cũng đều phù hợp tốt đẹp với ông ấy. Khi ông ấy quán niệm về sự chuyển hóa và thay đổi của mọi thứ khắp các phương, tâm ông ấy tìm được sự an bình. Ông ấy vượt qua nỗi sợ hãi về cái chết của chính mình và không bám chấp vào sự tồn tại của chính mình hay vào các pháp. Người ấy biết được sự đại giải thoát và an lạc.

 

Hòa thượng có viết bài kệ trong “Mười Pháp giới” rằng,

Hữu tình giác ngộ,nhảy thoát bụi trần;
Lục độ vạn hạnh, thường luôn bồi đắp. (3)
 

Vị Bồ Tát sống trong khu rác đã học được cách làm thế nào thoát khỏi phiền não, Giống như hoa sen ở trong bùn lầy mà vẫn trổ hoa thanh tịnh, tâm trí của Bồ Tát không bị nhiễm ô bởi rác bẩn bên ngoài hoặc bởi những vọng tưởng ở trong. Ánh sáng trí huệ của người ấy lúc nào cũng trong sạch, không bị những “bụi bẩn” che phủ, bởi vì người ấy sử dụng thanh kiếm trí huệ đúng cách trong một thời gian dài. Chém đứt tất cả mọi ý nghĩ, thanh kiếm trí huệ cho phép Phật tánh của người ấy được hiển lộ, phát triển lòng đại từ bi và người ấy nhận ra được sự hợp nhất của tất cả mọi vật.

 

Đồng Thể Tức Đại Bi.

Người ấy không còn phân biệt tốt hay xấu, sạch hay , ta hay người.

Những điều này giúp gì cho người ấy? Bình an, hạnh phúc và tự do. Còn có gì đáng giá nữa không?

 

Vọng tưởng ham muốn khởi sinh; tôi trở nên căng thẳng. Rồi tôi lại nghĩ, “Thật ngu ngốc. Đó chỉ là suy nghĩ giống như mọi suy nghĩ khác. Cắt bỏ nó đi! Chém!” Biến mất. Thanh tịnh trở lại. Vượt ra khỏi phiền não đơn giản là như vậy. Đó là tích cực, là dụng công, nó đòi hỏi công phu và kiên nhẫn từng bước một. Pháp môn vô tướng.

Người ấy luôn luôn trưởng dưỡng sự thực hành của mình.

 

 

Ghi chú:

(1) Xe Trâu Trắng: Hòa Thượng Tuyên Hóa giảng về Xe Trấu Trắng trong Kinh Pháp Bảo Đàn Lược Giảng - Phẩm Cơ Duyên:

Phẩm Thí Dụ Kinh Pháp Hoa nói xe trâu trắng, là xe báu trang nghiêm. Xe trâu này chạy rất nhanh, chạy rất vững rất thoải mái, người đời không biết mình đang ngồi trên xe trâu trắng, ngược lại hướng bên ngoài tìm kiếm xe dê, xe nai, xe trâu, đó là vì người đời không có trí huệ! Kinh văn đã rõ ràng nói với ông, chỉ có nhất Phật thừa là xe trâu trắng lớn, không có các thừa khác. Hoặc nói nhị thừa – Thinh văn, Duyên giác; hoặc nói tam thừa – Thinh văn, Duyên giác, Bồ Tát, hoặc là vô số thừa – đây là pháp phương tiện, đủ mọi thứ nhân duyên, ví dụ và ngôn từ mà thôi. Tất cả Phật pháp đều vì nhất Phật thừa này mà nói, tại sao ông không hiểu ba xe này là giả lập mà thôi! Thinh văn, Duyên giác, Bồ Tát, duyên pháp của ba thừa này, là vì xưa kia nói. Nhất thừa Phật thừa (xe trâu trắng lớn), mới là thực pháp vì nay mà nói! Ðạo lý của Kinh Pháp Hoa là dạy mọi người bỏ đi quyền giáo tam thừa mà quy về chân thực, nhưng sau khi quy về chân thực, thực pháp này cũng không có một cái tên, thực pháp cũng không còn tồn tại. Vì thế, ông cần biết tất cả Phật pháp, đều thuộc về gia tài vốn có của ông, tự mình có sẵn, không do bên ngoài được, tùy ông sử dụng như thế nào cũng được. Ông không cần phải nghĩ rằng: Ðây là tài sản của cha tôi dành cho tôi; cũng không cần nghĩ rằng, tôi là con, cần phải kế thừa gia nghiệp của cha. Căn bổn không cần phải nghĩ gì hết, thọ dụng liền được. Ðó chính là trì Kinh Pháp Hoa. Nếu được như vậy, thì từ đại kiếp thứ nhất đến đại kiếp sau cùng, tay không rời quyển Kinh, từ sáng đến tối không có lúc nào không tụng Kinh Pháp Hoa. http://www.dharmasite.net/KPBDLGP7.htm

(2) Đảo ngược dòng chảy tự nhiên của sự tồn tại (hữu) xuống sanh và tử: Hòa Thượng Tuyên Hóa giảng về “Mười Hai Nhân Duyên”:

Khi tất cả mười hai nhân duyên liên hệ lẫn nhau nầy ngưng hiện hữu thì giống như bầu trời trong vắt xa thắm vạn dậm, giống như ánh trăng vằng vặc phản chiếu trên mặt nước trong. Nếu quý vị thật sự hiểu thấu đáo “Mười Hai Nhân Duyên” thì sẽ thấy giống như uống nước, khi quý vị khát nước và uống nước vào, thì quý vị sẽ tự mình biết được là nước đó nóng hay lạnh. Nếu quý vì không thật sự dụng công để tu hành và tỉnh ngộ hiểu được đạo lý “Mười Hai Nhân Duyên” thì thật vô dụng dù cho quý vị có nói rằng “Ồ, Mười hai nhân duyên là tất cả đều không, không, không!". http://www.dharmasite.net/NhungVongLinhThaiNhiVoToi.htm#6

(3) Nguyên văn bài kê bằng Hoa ngữ của Hòa Thượng Tuyên Hóa trong phần Pháp Giới Bồ Tát của quyển Mười Pháp Giới Không Lìa Một Tâm Niệm (十法界不離一念心 - Thập Pháp Giới Bất Ly Nhất Niệm Tâm http://www.drbachinese.org/online_reading/dharma_talks/TenDharmaRealm/contents.htm ) :

有情覺悟,跳出塵埃;
六度萬行,時刻培栽。

Hữu tình giác ngộ, khiêu xuất trần ai
Lục độ vạn hạnh, thời khắc bồi tài.

http://www.drbachinese.org/online_reading/dharma_talks/TenDharmaRealm/Ten_Dharma_Realm_3.htm

 

 

Hằng Triều - Ngày 5 tháng 9, 1977

Dạ, cháu không sợ!

 

Một người đàn ông và một phụ nữ trong chiếc xe tải quân đội dư thừa bán lại nói: “Cảm ơn. Cảm ơn các thầy đã tới nước Mỹ này! Bình yên, xin cảm ơn các thầy đã tới đây”.
 

Hướng dẫn của Hòa Thượng:

“Con muốn quay trở lại và trở thành hoàng đế lại không?” Sư phụ hỏi.

“Không”, tôi đáp lại.

Sư phụ:

“Việc tốt chẳng ra khỏi nhà,

việc xấu lan ra vạn dặm.” (1)



Im lặng làm việc, ở hậu trường. Tránh mọi lời tán thán hoặc nhận biết đến.

Thực hành! Đừng bàn luận về điều đó. Thực hành hạnh bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí huệ. Nhìn bằng chân tâm. Thực hành lòng từ bi, hỷ, xả.

Đại lộ Modoe ở thành phố Santa Barbara: một nhóm thiếu niên túm tụm lại, nhạo báng và chế giễu chúng tôi. “Ăn đất, thật dị hợm”. “Này, có thể họ đang cầu nguyện cho chúng ta đấy”. “Không bao giờ, họ chỉ đang hôn đất mà thôi”. “Vui không? Ha ha ha!”. Chúng quay chung quanh thành vòng tròn và ngồi trên xe đạp hét lên. Chúng tôi đưa cho chúng một tờ thông cáo, nhưng họ không đến gần. “Ý tôi là, tôi muốn biết, nhưng chính vẻ bên ngoài của các ông làm chúng tôi sợ!” một đứa trả lời. “Ha ha!”

Chúng tôi mỉm cười và tiếp tục lạy. Một đứa kiên trì thích thú và cuối cùng nó nói, “Dạ, cháu không sợ. Cháu sẽ lấy một tờ”. Rồi nó mạnh dạn nhưng thận trọng bước đến. Chúng lại xúm vào nhau và cùng đọc bản thông cáo trong yên lặng. Sau vài phút, chúng từ từ trèo lên xe rồi đạp xe đi mất.

Một đứa quay trở lại và vẫy tay chào, nói: “Các chú, cháu xin lỗi vì những gì cháu đã nói”. Mấy nhà sư mỉm cười, đứa trẻ cũng cười.

Chúng tôi đang ở trong một quả bong bóng: Phía bên ngoài là kim cang, nhưng bên trong lại mong manh dễ vỡ. Nếu chúng tôi phạm một sai lầm, thì “pop”, bong bóng vỡ và mọi thứ mất đi hết. Nếu chúng tôi làm đúng, thì không gì có thể xoay chuyển hoặc làm chúng tôi dính mắc.

Tự mình có đủ khả năng hành xử trong mọi hoàn cảnh đó không phải là tự tại khỏi nỗi sợ hãi. Không sợ hãi thực sự là không còn có cái “tôi” khi hành xử trong bất kỳ hoàn cảnh nào.

 

Ghi chú:

(1) Nguyên văn:

好事不出門,惡事傳千里 Hảo sự bất xuất môn, ác sự truyền thiên lý.

Truyện Thủy Hử, tác giả Thị Nại Am, hồi thứ 24. (施耐庵「水滸傳」第24). Hòa Thượng Tuyên Hóa có đề cập về quả báo ba đời của tác giả Thị Nại Am về việc viết văn chương tuy đề xướng ái quốc nhưng xúi người làm điều phi pháp, hại thân tâm thanh niên. Qua đó Hòa Thượng lưu ý những người viết văn chương lãng mạn: http://www.drbachinese.org/online_reading/sf_others/WaterMirror3/ch19.htm

寄語作家,莫作艷詩淫詞。應知淫書對人有三害:一者妨正業,二者耗精神,三者亂心志。謹之!慎之!否則悔之晚矣。

Ký ngữ tác giamạc tác diễm thi dâm từ,ứng tri dâm thư đối nhân hữu tam hại,nhất giả phương chánh nghiệp,nhị giả hao tinh thần,tam giả loạn tâm chí。 Cẩn chi!Thận chi!Phủ tắc hạo lâm nan đào,hối chi vãn hĩ !

Tạm dịch: Đây là một thông điệp cho những người viết văn: Đừng sáng tác những bài thơ văn diễm tình say đắm. Cần biết sách diễm tình (dâm thư) có ba điều tai hại cho con người: Thứ nhất là làm cản trở người đọc làm việc chánh trực. Thứ hai là làm người đọc hao tổn tinh thần, thứ ba là làm người đọc loạn tâm chí. Phải lưu ý ! Phải thận trọng ! Nếu không họa đến khó thoát, hối hận thì đã quá muộn! http://www.dharmasite.net/ThuyKinhHoiThienLuc_ThiNaiAm.htm

 

Hằng Thật - tháng 9 năm 1977

Bắt đầu từ lúc này và không bao giờ ngừng nghỉ


Lời cầu nguyện và sự khích lệ tinh thần để làm việc.

Cầu cho con thành thật trong mọi việc con làm. Cầu cho mọi lời nói của con là chân thật và cầu cho mọi hành động là chân chánh. Cầu cho con hồi quang vào sự chánh niệm để làm sáng tỏ mọi ý niệm.

Cầu cho con tránh khỏi mọi việc ác dù là nhỏ đến đâu, và thực hành mọi việc tốt giống như con đang phụng sự thầy của mình.

Cầu cho con can đảm và không sợ hãi, và không mỏi mệt trong việc tu hành. Trong việc làm vì tha nhân, con sẽ dùng hết sức mình và không mong được nghỉ ngơi, không kỳ nghỉ, biết rằng cuộc sống là làm việc và nghỉ ngơi không phải là một phần thưởng.

Con sẽ dâng hiến cuộc đời của mình vì Tam Bảo để phụng sự mọi chúng sanh.

Con sẽ bắt đầu ngay bây giờ và không bao giờ ngừng nghỉ.

 

Hằng Triều, ngày 8 tháng 9 năm 1977

Cố gắng hết sức để không tạo thêm nữa


Lão khờ mặc áo vá,
Cơm lạt bụng no nê,
Vá áo để che lạnh,
Muôn sự để tùy duyên.
Có người mắng lão khờ,
Lão khờ chỉ nói tốt.
Có người đánh lão khờ,
Lão khờ nằm xuống ngủ.
Khạc nhổ trên mặt lão,
Cứ để nó tự khô.
Lão cũng không phí sức,
Mà người cũng không phiền.
Ba La Mật như vậy,
Là vật báu huyền diệu.
Nếu ai biết lẽ nầy,
Lo gì không đạt đạo.


Bồ-tát Di Lặc


Chúng tôi đang lạy ngang qua trường trung học Goleta. Tấm biển treo trước cổng trường “Chào mừng các tân học sinh”. Một chiếc xe hơi phóng nhanh qua và 6 quả trứng bay vút ra. Thầy Hằng Thật đang lạy 5 vóc gieo xuống thấp. Hai quả trứng bắn tung tóe lên khăn choàng cổ và lưng thầy ấy. (Mấy quả trứng không trúng thầy, nhưng văng tung tóe lên khi rơi xuống mặt đất phía sau thầy). Thầy chầm chậm đứng dậy, tụng niệm và tiếp tục.

Ngồi thiền trên một cánh đồng hoang, chúng tôi hứng chịu những cơn mưa đá từ một chiếc xe hơi đến gần. Chúng tôi tiếp tục ngồi.

“Tu hành tự tánh đơn giản là không nóng giận”
Hòa Thượng Tuyên Hóa

Một điều trở nên rõ ràng với chúng tôi, đó là nhừng gì chúng tôi đưa ra thì đều quay trở lại. Và nó cũng có tác dụng tương tự theo cách ngược lại – cái gì quay trở lại thì do đã đưa ra. Tại sao chúng ta lại nóng giận? Chúng ta không thể tránh né quả báo. Tất cả những gì chúng ta có thể làm là để cho quả báo đến và không tạo thêm nữa. Khi không có tham, sân, si đi ra, thì sẽ đến lúc xuất hiện một nơi thanh tịnh dành cho “viên ngọc bên trong”. Không tạo sóng thì mặt hồ sớm tĩnh lặng, phản chiếu như một tấm gương hoàn hảo.

Chúng tôi tắt máy xe và tắt đèn pha và trượt vào một nơi tối tăm tĩnh mịch trong một khu dân cư thuộc của thành phố Santa Barbara. Khoảng nửa đêm, chúng tôi giật mình tỉnh giấc bởi những tiếng la hét và cười đùa. Có những chiếc xe hơi chung quanh chúng tôi. Một vài thiếu niên đang trên đường đến và trở về từ những bữa tiệc trở về trường đêm thứ Sáu đã dừng lại để uống bia và hút cần sa chung quanh xe của chúng tôi. Một bữa tiệc lưu động lớn!

Khoảng một giờ rưỡi sáng, chúng tôi lại tỉnh giấc khi thấy mình bị ngập trong đèn pha của xe cảnh sát. Chúng tôi đợi và họ đợi. Việc này kéo dài khoảng 5 phút, và rồi họ lái xe đi.
 

 

Hằng Thật, tháng 9 năm 1977

Khi một người chân thật tu hành


Tu hành xuyên qua thời Mạt Pháp

Trong phẩm Tỳ-lô-giá-na thuộc Kinh Hoa nghiêm, thái tử Đại Oai Quang, làm thượng thủ trong 500 vương tử trong thành Diệm Quang Minh, nhìn thấy đức Phật xuất hiện trên đài sen ngay trước mặt và một số điều bất ngờ xảy ra. Thái tử liền chứng được 10 pháp môn. Ngài đạt được một tam muội, một đà-la-ni, các cảnh giới từ, bi, hỷ, xả và những điều không thể nghĩ bàn khác. (1)

Vì sao? Bởi vì trong quá khứ, ngài đã “tu căn lành”. Điều này có nghĩa là ngài thực hành việc thiện, tránh việc ác và thanh tịnh tâm. Ngài đã hành hạnh đó khi nào? Ngài đã hành trì trong mỗi kiếp từ muôn ức kiếp không ngừng nghỉ.

Thậm chí trong suốt thời kỳ được biết là "Tượng Pháp" và "Mạt Pháp, ngài cũng tiếp tục tu hành – ngài không bao giờ bỏ cuộc hay đi nghỉ mát, chờ vị Phật tiếp t

heo xuất hiện, nhưng ngài vẫn tiếp tục làm việc và đổ mồ hôi công sức. Chuyện gì đã xảy đến? Khi vị Phật tiếp theo xuất hiện ngay trong thành của thái tử và ngay trước mặt thái tử. Thiện căn mà thái tử gieo trồng trong quá khứ đã chín muồi, và ngài liền chứng được 10 diệu cảnh giới ngay tại chỗ.

Hiển nhiên, nếu thái tử không tu hành từ quá khứ, khi đức Phật đến khu rừng của thành Thắng Âm, ngài sẽ không ở một vị trí để chứng kiến sự việc hoặc sẽ chuẩn bị để nhận quả pháp hỷ. Như vị Hòa thượng trụ trì ở Kim Sơn Thánh Tự nói “Khi một người chân chính tu hành, thì thời Mạt Pháp không tồn tại. Tôi không cho phép thời Mạt Pháp tồn tại ở nơi nào có tôi – chân thật tu hành chính là thời Chánh Pháp”.

Nếu chúng ta nỗ lực và theo đuổi bất kỳ một pháp môn nào trong 84.000 pháp môn cho đến giác ngộ, tất cả đều bình đẳng, tất cả đều hiệu dụng, thì trong tương lai, giống như thái tử Đại Oai Quang, ở một thế giới tốt đẹp nào đó, chúng ta sẽ gặp đức Phật ngay trong thị trấn của mình và nhìn thấy sự quang minh rực rỡ của ngài, chúng ta cũng sẽ kinh nghiệm được đại hỷ.
 

Ghi chú:

(1) Kinh Hoa Nghiêm Phẩm Tỳ Lô Giá Na http://www.dharmasite.net/KinhHoaNghiem6.htm

Chư Phật-tử ! Trong đại thành Diệm-Quang-Minh, Quốc-Vương-Hỷ-Kiến-Thiện-Huệ thống lãnh cả trăm vạn ức na-do-tha thành. Phu-Nhơn Phước-Kiết-Tường làm thượng-thủ bất-khả-thuyết vạn bảy ngàn Phu-Nhơn thể nữ. Thái-Tử Ðại-Oai-Quang làm thượng-thủ trong năm trăm Vương-tử. Thái-Tử có một vạn Phu-Nhơn và Diệu-Kiến phu-nhơn là thượng-thủ.

Khi đã được thấy quang-minh của Phật, nhờ sức tu căn lành từ trước, Thái-Tử Ðại-Oai-Quang liền chứng được mười pháp-môn :

Một là môn Chư-Phật-công-đức-luân-tam-muội. Hai là môn Chư-Phật-pháp-phổ-môn-đà-la-ni. Ba là môn Quảng-đại-phương-tiện-tạng-bát-nhã-ba-la-mật. Bốn là môn Ðiều-phục-chúng-sanh-đại-trang-nghiêm đại từ. Năm là môn Phổ-vân-âm-đại-bình-đẳng. Sáu là môn Sanh-vô-biên-công-đức-tối-thắng-tâm-đại-hỉ. Bảy là môn Như-thật-giác-ngộ-nhứt-thiết-pháp-đại-xả. Tám là môn Quảng-đại-phương-tiện-bình-đẳng-tạng-đại-thần-thông. Chín là môn Tăng-trưởng-tín-giải-lực-đại-nguyện. Mười là môn Phổ-nhập-nhứt-thiết-trí-quang-minh-biện-tài.

 

Hằng Thật – Tháng 9 năm 1977

Một sức mạnh lớn hơn cả tình yêu thương

 

Bồ Tát Mạnh-Hơn-Tình-Yêu-Thương

Ngài là người giỏi nhất của một giống nòi mới. Ngài rời bản xứ và đi khắp các thế giới. Đi qua những đỉnh núi, cống rãnh, ngài tìm kiếm một thứ để thỏa mãn thứ ngài cần để tin tưởng, để thuộc về, để trở thành mơ ước của ngài. Cuộc đời ngài rất khổ cực, và ngài thích như vậy. Kẻ khác thì tìm cầu tiện nghi, dễ dàng. Các đồng nghiệp của ngài nói về giàu sang, tình dục và danh vọng; họ ngủ và ăn, ngủ và mua sách dạy nấu ăn, kết hôn, sinh con, và xây những cái tổ để chuẩn bị cho quá trình trượt dần xuống mồ.

Ngài lang thang và tìm kiếm, không để ý đến giàu sang phú quý, từ bỏ tình dục, quay lưng lại với danh vọng, làm cứng chắc thân thể với sự thực tập và kỷ luật. Ngủ ít và ăn ít. Không ai hiểu ngài, đặc biệt là cha mẹ ngài. Là một người con hiếu thảo hết lòng, phản ánh những phẩm chất tốt đẹp trong việc dạy dỗ lành mạnh của cha mẹ ngài, ngài thấy điều khó khăn nhất là bỏ lại sau lưng những thói quen ở cùng họ. Ngài thấy rõ ràng sự giải thoát chờ đợi mình ở bên kia sự bám chấp của ngài, mà chỉ sau khi cắt đi những sợi dây ràng buộc của cuộc đời, ngài mới thật sự vượt qua cái chết.

Ngài tìm thấy trong một tu viện con đường dẫn đến tự do mà ngài đang tìm kiếm. Đó là một con đường đứng dốc và việc trèo lên đỉnh đòi hỏi cả thể chất lẫn sự chân thật tuyệt đối. Đây là cuộc sống mà ngài hằng chờ đợi trong bao nhiêu năm. Không một chút do dự, ngài sẵn sàng lên đường. Trực giác sâu thẳm của Ngài nhận ra cuộc hành trình này như thể ngài đã từng đi qua trước kia lâu rồi. Nhưng hãy chờ đã, trái tim ngài còn có nhiều hơn một ngăn phòng – thế còn về những năm tháng hạnh phúc và khỏe mạnh mà cha mẹ ngài đã cho thì sao? Thế còn món quà mạnh mẽ nhất –tình thương vô hình không giới hạn mà họ dành cho ta thì sao? Làm sao ngài có thể đối diện được với nỗi đau mà ngài gây ra cho họ bằng việc cắt đứt những cách cho nhận yêu thương quen thuộc của họ? Thậm chí sâu hơn: thế còn những phần của cha, của mẹ trong chính nhân cách của ngài đã phụ thuộc vào sự tồn tại của họ trong việc cho và nhận trong mối liên hệ với gia đình thì sao? Bằng việc từ bỏ thói quen bắt rễ sâu xa đó, liệu ngài có đánh mất một thứ gì đó quý giá không? Ngài có thể đi và trở thành người mà ngài muốn mà không có những phần đó trong phần đời ban đầu của mình không?

Đây là những vấn đề đè nặng tâm trí ngài – ngài cảm thấy mình đang ngồi dang chân phân vân trên hàng rào. Một bên cảm thấy tự nhiên, quen thuộc, và thoải mái. Còn bên kia cảm thấy ly kỳ, hấp dẫn. Tim ngài đau đớn, cố gắng quyết định phải làm gì.

Một quyển sách lảm ngài chú ý và trong sách, ngài tìm thấy một bức thư có từ mười hai thế kỷ trước, được một người trong cùng cảnh ngộ giống hệt như ngài viết ra. Bức thư nói thẳng vào vấn đề “Làm sao ta có thể rời bỏ gia đình để làm điều mà ta biết là tốt nhất cho ta mà vẫn là một người con hiếu thảo? Trong khi xem qua kinh điển, tôi tìm thấy một quyển Kinh, trong đó đức Phật vì người đệ tử xuất gia của ngài đã giảng về căn nguyên thật sự của sự hiếu thảo. Các đạo lý của ngài đã cắt đứt các nghi ngờ cuối cùng của tôi và dẫn tôi đến quyết định tiến lên tu hành trên con đường giải thoát, bất chấp sự xáo trộn trong gia đình tôi. Đức Phật nói rằng tất cả chúng sanh đều từng là quyến thuộc của tôi, hoặc là cha hay là con, là anh em hay chị em của tôi. Cha mẹ trong kiếp này của tôi cũng có thể kiếp trước là con tôi. Vì tôi đã đối xử tốt với họ, nên tôi được yêu thương và bảo vệ trong kiếp này. Nhân duyên của tôi và họ rất tốt đẹp và mạnh mẽ. Tôi muốn đền đáp lòng tốt và tình thương yêu của họ. Ở đây, đức Phật giảng giải sự từ bi, năng lực vĩ đại vượt qua cả tình thương yêu. Đại Bi có thể đưa những chúng sanh khác vượt qua bể khổ đến bến bờ hạnh phúc vĩnh hằng phía bên kia. Người đó học được lòng đại bi nhờ đi theo con đường của Phật (Phật Đạo). Đầu tiên là phải cắt đứt quan hệ gia đình, rời bỏ tất cả sự bám chấp trói buộc người đó với cuộc đời như keo dính. Sau đó, sau khi trải qua quá trình tu tập vững chắc, chân thật và không ngừng nghỉ, người đó có thể chứng đắc được sự giải thoát chính mình, đó là chìa khóa để đưa những kẻ khác vượt qua bể khổ. Có câu, “khi một người tu đắc đạo, cửu huyền thất tổ sanh thiên.”

Bức thư tiếp tục “Khi tôi đọc những đạo lý này, tôi lập tức nhận ra chân lý. Theo sự trình bày tích cực của đức Phật, phía bên kia của lòng hiếu thảo là sự vô vọng: chỉ ở nhà và chứng kiến cha mẹ già, bệnh, và chết, sau đó thờ cúng họ như tổ tiên, mù quáng cúng đồ cho bóng tối, hy vọng cứu rỗi họ, nhưng trở nên bất lực trong việc cứu rỗi ấy. Đây không phải là điều tốt thứ hai hay sao? Bằng việc tránh cho họ nỗi đau ngắn ngủi của sự hoài nghi và sự lo lắng khi tôi xuất gia và thiết lập lại các quy tắc hành vi tách xa hơn, hình thức hơn, và bằng việc cho thấy sự yêu mến ít bày tỏ hơn, tôi cũng từ chối họ niềm đại hoan hỷ trong tương lai, thứ mà tôi, là một người xuất gia, có thể mang lại cho họ. Tất nhiên sự thay đổi ngoại hình của tôi sẽ khiến cha mẹ sốc và lần này họ sẽ không có cháu nội, nhưng tôi đã là một người con tốt và sẽ là một vị tăng tốt vì lòng tốt mà họ dành cho tôi. Để cứu lấy cái thân mạng, vị bác sĩ cắt đi cái chân hay cái tay – gọn gàng và tốt đẹp. Để cây trổ quả to, chín mùi, người trồng cây phải tỉa lại các nhánh cây chỉa ra. Để lộ ra vẻ đẹp bên trong của đá hoa cương (granite), người thợ điêu khắc phải đục bỏ bớt một phần của đá. Để học đạo giác ngộ cho bản thân và sau đó cho tất cả chúng sanh, trong đó có cha mẹ tôi – đây là con đường dẫn tới trí tuệ và từ bi. Đây là mảnh đất mới, nơi ta sẽ đứng vững đôi chân và thiết lập sự tu hành và thệ nguyện của những bậc đại anh hùng trong quá khứ.

“Đây là bước đầu tiên, quan trọng nhất để thật sự đền ơn lòng tốt của cha mẹ và giúp những người con hiếu thảo khác làm điều tương tự. Cha mẹ tôi là cha mẹ đời hiện tại, nhưng nhân duyên của chúng tôi còn vượt ngoài phạm vi quan hệ này. Đây là cơ hội duy nhất để đóng lại vòng luẫn quẩn và mang đến sự an lạc vĩnh cửu mà tôi mong ước họ nhận được. Mục tiêu này chắc chắn đáng giá để đổi lấy sự chịu đựng nhỏ nhoi trong việc “mất đi” một người con trai đi vào Tăng đoàn. Họ không hề mất con, họ có được một tấm vé lên cõi thiên đàng, chỉ cần tôi tu hành tốt đẹp và không bao giờ quên đi những gì ta nợ họ. Tôi phải đoạn dục khử ái!

“Đây được gọi là Đại Bi và đó là một sức mạnh còn lớn hơn cả tình thương yêu. Khi đối diện với cha mẹ một lần nữa, tôi không được quên mất mục tiêu: giúp cha mẹ học cách tin vào đức Phật và sự biến đổi huy hoàng của Phật pháp. Trước tiên, họ phải tin vào tôi – nhìn thấy tôi đã thật sự xuất gia và thay đổi tốt đẹp hơn – họ sẽ hiểu rằng sự trầm tĩnh là một phần quan trọng trong cái nhìn và cái hạnh của Bồ Tát. Tôi sẽ đối xử với họ thật ân cần tử tế, từ tốn giới thiệu họ đến những căn phòng mới trong tim tôi và pháp bảo mà chúng chứa đựng. Khi nhìn thấy Phật pháp có ý nghĩa như thế nào đối với tôi, họ sẽ nhanh chóng tìm thấy một nơi chốn tương tự trong tim họ và lời nguyện của tôi là đưa họ qua bể khổ sẽ nhanh chóng được thực hiện. Những mối quan hệ cũ biến mất càng nhanh, thì cha mẹ ta càng sớm biết đạo lý chắc thật ẩn sau hành vi mới của tôi. Niềm vui và tự hào sinh ra một người con tốt lành của họ sớm muộn cũng lớn như niềm đại hoan hỷ của tôi có được những bậc cha mẹ tốt lành như vậy, thậm chí cách để biểu đạt điều đó là nỗ lực nhiều hơn và chuyên tâm vào sự tu hành của tôi. Sự lười biếng thì nói ngược lại: Tôi chẳng quan tâm tôi có giải thoát họ hay không. Lòng tốt mà họ dành cho tôi không đáng để được đền ơn bằng việc giác ngộ. Tôi sẽ khác đi khi họ gặp lại tôi lần nữa.

Bức thư khép lại.: “Câu hỏi đã được giải đáp, những hoài nghi của tôi đã được giải quyết, và con đường phía trước đang mở ra và chờ đợi”. Giống như chú tiểu đời Đường, ngài cảm thấy bùng lên một nguồn năng lượng và sự công hiến vào lựa chọn mới này trong cuộc đời. Quyết định trở thành một tăng sĩ là sự lựa chọn quan trọng nhất của ngài và nó hứa hẹn phần thưởng cao nhất của mọi con đường hiện hữu. Ngài cảm thấy may mắn biết bao khi có thể trao tặng món quà này cho thân bằng quyến thuộc của mình. Thật là một cơ hội hiếm có khi kết lại các mối nhân duyên và giải quyết chúng một lần nữa trong sự thể hiện cao cả nhất của lòng biết ơn với cuộc sống: lòng từ bi của một vị Bồ-tát

Tình thương yêu cha mẹ là quan trọng, nhưng lòng từ bi dành cho họ vượt xa tình thương yêu. Tôi nguyện dùng lòng từ bi là mục tiêu và dùng nó để đưa cha mẹ tôi tới bờ giác ngộ - tôi sẽ trở thành Bồ Tát Mạnh Hơn Tình Thương Yêu và tôi sẽ truyền dạy phương pháp của tôi tới tất cả những ai thỉnh cầu, kể cả những người có hay không có nhân duyên với tôi, tới tận cùng hư không, khắp pháp giới.
Ngài là người giỏi nhất của một giống nòi mới và những kẻ khác đều noi theo gương ngài.

 

Ghi chú:

(1) Nguyên văn Hoa ngữ: 一子得道,九祖升天 - Nhất tử đắc Đạo, cửu Tổ thăng Thiên.

 

 

Hằng Triều - ngày 10 tháng 9 năm 1977

Lễ siêu độ tổ tiên

 

Thức dậy do tiếng bảng gõ đánh thức tụng công phu khuya. Trong khi tụng, tôi hoàn toàn ra khỏi chính mình. Căn phòng tràn ngập ánh sáng nhưng tôi không có nhận biết gì về thân thể mình. Chỉ có ánh sáng và hư không.

Trong ngày chúng tôi niệm danh hiệu Phật A Di Đà, luân phiên ngồi niệm (tọa niệm) và đi niệm (nhiễu niệm). Lần ngồi cuối cùng trong ngày: rỗng không trong vài giây, mọi dặm ở mọi phương đều cùng một thể tánh. Ngay khi tôi mở miệng, cảnh giới này liền biến mất.

 

Nghi Lễ Siêu Độ Tổ Tiên: Một số ấn tượng và cảm xúc.

Hòa thượng trụ trì, với đạo hạnh của ngài, đã mở ra và trải đường cho những tổ tiên và thân bằng quyến thuộc này. Một con đường ánh sáng xuyên qua màn đen sâu thẳm. Hòa thượng giữ cho cánh cửa mở ra ở cuối con đường trong khi chúng tôi ào vào tụ tập với cô dì, chú bác, cha mẹ, ông bà, anh chị em họ, anh em trai, chị em gái, bạn bè và giải thoát cho họ.

Tôi đổ mồ hôi đầm đìa. Tôi liếc nhìn sang bên phải mình và thấy thầy Hằng Thật cũng như vậy. Tất cả chúng tôi đi vào một nơi nào đó cùng Hòa thượng, mở giữ một cánh cửa và lối đi trong khi đang tụng kinh – không để lãng phí thời gian. Tôi rùng mình khi tôi gọi “Ông Frank, dì Leone!” và họ đến! (Sau này tôi mới biết lúc đó bà chưa chết mà đang hấp hối).

Không phải “mọi người” đều biết Đạo Phật, đặc biệt trong kiếp gần đây nhất của họ, nhưng hàng trăm người đang chạy qua lối đi. Họ đều nhận ra sự giải thoát và chuyện gì đang diễn ra. Họ đều sẵn sàng.

Hòa thượng trụ trì đang chú tâm đứng trang nghiêm phía đằng sau mọi người trong căn phòng nhỏ này tại Chùa Kim Luân khi họ tụng kinh chân thành và nhất tâm – một nhóm rất gần gũi sau một ngày tụng kinh và thiền. Công phu của Hòa Thượng đang vận hành mạnh mẽ và uy nghi nhưng không phô trương.

Chúng tôi chạy vào và tháo gỡ họ đang bị “treo lộn ngược” như Hòa thượng miêu tả về tình trạng của họ. Tôi lạnh cột sống khi nhìn thấy từng khuôn mặt vui mừng trả lời và chạy về phía ánh sáng.

Thầy Hằng Quán và tôi đã đốt những bài vị bằng giấy trên có tên của những người họ hàng và bạn bè đã mất. Tất cả đã xong. Tôi không cố gắng tìm hiểu kinh nghiệm này thêm nữa. Có một số điều và sự việc xảy ra mà khoa học và “lý lẽ” không thể giải thích được. Tôi mới chỉ bắt đầu học hỏi.
 

 

Hằng Thật - tháng 9 năm 1977

Mô hình của một người hoàn hảo

 

Chuyến viếng thăm Chùa Kim Luân là một sự bất ngờ lớn. Như thường lệ, nó làm tôi sững sờ. Tôi có cơ duyên trong việc cầu siêu độ cha và ông nội tôi – đại pháp lực của Hòa thượng giữ cho cánh cửa mở đến địa ngục đủ lâu để những người được có tên xướng lên chen lấn ra ngoài an toàn. Trong suốt buổi lễ diễn ra trước giờ thọ trai, tôi có thể nhìn thấy khuôn mặt của cha mình ở trong hoa sen – mờ nhưng có ở đó và hoan hỷ.

Ngay khi chúng tôi đến vào sáng thứ Bảy, tôi bắt đầu thấy những hành động ích kỷ thiếu suy nghĩ của tôi xuất hiện. Tấm gương là sự hiện diện của thầy Hằng Quán. Tôi có thể đo lường sự tiến bộ của tôi đối với mối quan hệ tập khí xưa kia của chúng tôi. Tấm gương khác là sự biểu lộ thường hằng của lòng từ bi vô ngã của Hòa thượng. Ở trong những hoàn cảnh như thế này thì sự ích kỷ của tôi biểu lộ ra: một ly nước cam xuất hiện; tôi cầm lấy và không chuyển ly nước cam đó đi. Đã đến lúc thiền định; tôi vồ lấy vị trí trung tâm. Thầy Hằng Triều ngồi ở vị trí đầu, và thầy Hằng Quán xuất hiện sau đó và ngồi ở vị trí số 3. Lẽ ra tôi phải thông báo cho thầy Hằng Triều về vị trí thứ tự và tự mình dời đi. Mọi người xông vào buổi lễ, ồn ào huyên náo; tôi cảm thấy nóng về chuyện này. Hòa thượng mỉm cười và tiếp nhận họ.

Nếu quý vị cẩn thận theo dõi ngài và hành động của ngài, quý vị có thể ghép các mảnh với nhau để tạo thành mô hình của một con người hoàn hảo, một người cao cả (quân tử), và soi chiếu vào cách ứng xử của mình, quý vị có thể nhận ra nền tảng, sự ích kỷ, nhỏ nhen của cảnh giới của chính quý vị. Thật là một sự giáo dục. Sự giáo dục đó thật vô giá và khó đền đáp.
 

 

Hằng Triều, ngày 11 tháng 9 năm 1977

Bồ đề đạo tràng của chính mình ở trên đường

 

Vào sáng sớm, Pat Chiang chở chúng tôi quay lại vị trí lạy ở Goleta. đi càng xa chùa Kim Luân tôi có thể cảm nhận được cái lọng bảo vệ phi thường và ánh sáng mà Hòa thượng tạo ra – một nơi nương tựa và chốn an ổn –mờ dần đi. Đã đến lúc chúng tôi tự cố gắng hết sức để thắp ánh sáng của chính mình, và tạo nên Bồ đề đạo tràng của chính mình trên đường. Ánh sáng và hào quang của sự tôn nghiêm mà Bồ đề đạo tràng của chính mình tạo ra là một chức năng (dụng) của Đạo đức người tu hành.

 

 

Hằng Thật, tháng 9 năm 1977

Đừng lay chuyển vì bất kỳ thứ gì


Hôm nay sao vậy? Tại sao dùng bữa trưa cùng với nữ cư sĩ này lại lay chuyển ngươi? Tại sao ngươi lại viết thư, vọng tưởng, và bị động tâm?
1) ngươi tham khoái lạc từ thức ăn.
Lạ lùng...
2) ngươi không dùng phương pháp ấy.

Giờ ngươi đã là một người khác. Ngươi có những phương pháp, các phương pháp Phật pháp đã thay đổi tập khí cũ của ngươi. Khi thử thách đến vào bữa trai ngọ, ngươi chỉ ngồi yên đó để cho đầu óc chìm vào những phản ứng cũ – không có sự kiểm soát. Không tu hành. Không có công phu.

Nếu ngươi không sử dụng những phương pháp của ngươi, ngươi sẽ không có được công phu. Hãy rút gươm trí huệ ra. Giữ vị trí ở trung tâm và vung gươm. Đừng lay chuyển vì bất kỳ thứ gì – ngay cả phụ nữ Trung Hoa, trò chuyện bằng tiếng Trung Hoa, hay là những buổi ăn uống vui chơi ngoài trời (picnics)!

Hãy coi chừng cảnh xã giao và tánh ưa thích xã giao tiệc tùng cũ khởi lên. Hãy chết đi!
 

* * * * *

Gởi Hằng Thật:

Ngươi biết đấy, nếu ngươi ăn ít và dừng lại khi ngươi nghe thấy giọng nói mới mẻ khe khẽ nói “đủ rồi” sau khoảng 15 phút, người có thể dịch kinh hoặc tập Thái cực quyền hoặc thiền định hoặc bái lạy – đó là những việc người nên làm lúc này hơn là ngồi và nhai ăn trong một giờ đồng hồ và rồi mất hai giờ để bái lạy để cố gắng hồi phục từ việc ăn quá nhiều. Rõ ràng là phí thời gian và không có lợi gì đối với việc tu hành. Thử làm đi.

 

Hằng Thật - tháng 9 năm 1977

Việc đập búa và kéo cưa bắt đầu

 

Đã hai năm kể từ khi tôi ngồi thiền tốt đẹp mà không ngủ gật. Lúc này khi ngồi thiền, tôi cảm thấy như có vài đội kỹ sư, công nhân và xe tải chở vật liệu tiến vào đầu tôi – một nhà vòm chứa máy bay khổng lồ. Họ đóng cửa lại và việc đập búa, kéo cưa bắt đầu. Phía trong nhà vòm là tất cả các ống dẫn, nhiên liệu và các bản vẻ thiết kế của tôi. Họ đang xây dựng lại công việc của tôi thành thứ gì đó mạnh mẽ lại thêm một lần nữa. Tôi gần như bị sụp đổ từ độ tuổi 17-24, làm rò rỉ và lãng phí kho báu của mình.

Bây giờ có một tấm biển trên cánh cửa, viết rằng “Đừng Quấy Rầy!”. Không bao lâu, nhà vòm máy bay sẽ mở cửa và chúng ta sẽ thấy chúng ta đã chế tạo ra loại máy bay gì . Trong khi đó, khi tôi ngồi thiền, không có gì ngoài việc đập búa, khói và sắt vụn.

 

Hằng Triều - ngày 14 tháng 9 năm 1977

Việc tốt không rời cửa trước


Xe trục trặc – thắng xe bị hư và máy xe bị nứt. Chúng tôi quyết định tiếp tục lạy và xem chuyện gì sẽ xảy ra. Dù sao đi nữa cũng không có tiền.

Chúng tôi tìm thấy một khu cắm trại tốt “ẩn” ngay cạnh đường xe lửa ở phía cuối một con đường vùng nhà dân cư. Thật khó mà ẩn lánh trong một thị trấn nhỏ, bái lạy với tốc độ 1/8 dặm mỗi giờ và lái một chiếc xe gần như cổ xưa.
Chúng tôi thọ trai trong bóng mát của một cây đơn độc phía trước một khu chiếu phim ngoài trời ngồi xem từ trong xe hơi . Thầy Hằng Thật cạo đầu, trong khi tôi tập Thái cực quyền bên dưới cây. Viên cảnh sát của hạt Santa Barbara dừng lại trò chuyện về tiến trình của chúng tôi và nói rằng họ nhận được nhiều cú gọi về hành trình Tam Bộ Nhất Bái.

Các vị cánh sát luôn hỏi chúng tôi nghỉ đêm ở đâu, vì mặc dù hầu hết họ lơ đi việc “cắm trại bất hợp pháp của chúng tôi”, họ là những người chuyên nghiệp. Không thể tìm thấy chúng tôi khi họ biết chúng tôi ở ngay trước mắt họ đã đâm chọc vào niềm kiêu hãnh trinh thám và tò mò của họ.

Chúng tôi luôn bí ẩn. Nếu chúng tôi cho họ biết, thì có nghĩa là thừa nhận việc vi phạm pháp luật mà họ phải thực thi. Nếu chúng tôi chối việc cắm trại thì sẽ là phá luật mà họ biết chúng tôi đang giử nghiêm ngặt (giới không nói dối). Họ thích điều đó!

Ca đêm của bất kỳ công việc nào cũng có thể buồn chán và cô đơn. Thường thì mối liên hệ giữa chúng tôi và cảnh sát xuất phát từ mối quan tâm về công việc của chúng tôi và bởi vì thật vui khi nói chuyện với những người bình thường vui vẻ và thích việc họ làm, thay vì giải quyết những thứ phức tạp vô tận và sự căng thẳng vốn có trong công việc của cảnh sát.

Trong bất kỳ trường hợp nào, cảnh sát lặng lẽ theo dõi chúng tôi để bảo đảm an toàn cho chúng tôi và giúp đỡ chuyến hành hương. Sau đây là một vài thí dụ: vào một ngày nọ, có vài người dừng xe lại, nhìn chằm chằm và cười nhạo chúng tôi. Ngay lập tức, John, vị cảnh sát, có mặt ở đó nghiêm khắc thông báo với họ “Nếu quý vị không có trục trặc về xe cộ thì hãy tiếp tục lái đi đi”.

Một giọng nói tuân phục vang lên “Được thưa ông” và họ nhanh chóng lái xe đi.

Một cảnh sát khác dừng lại vì ông đã đọc một trong những bản thông cáo của chúng tôi được lưu hành chung quanh trạm cảnh sát. Ông thích thú về cuộc sống xuất gia và các nguyên tắc không tranh chấp và không bạo lực. Đây là một phần trong công việc của ông mà ông lo ngại và không thích nhất. Ông đã ngạc nhiên và rất ấn tượng rằng chúng tôi không đánh nhau hay cãi lộn với bất cứ ai.

Foster, viên cảnh sát của sở cảnh sát Santa Barbara nói “Tôi sẽ để mắt đến mọi thứ cho các thầy. Xin đừng lo lắng. Bất kỳ ai gây rắc rối cho các thầy, tôi sẽ ngăn chặn lại ngay lập tức. Nếu tôi nghỉ giải lao, tôi sẽ dừng lại và mang đến cho các thầy ít hột đậu và trái cây. Tôi thật sự hy vọng công việc của quý thầy sẽ thành công”.

Những cảnh sát và phụ nữ này chính là trường hợp.

"Việc tốt không rời cửa trước,

việc xấu lan xa hàng nghìn dặm."

Ít người biết việc tốt mà họ làm; nhưng ai cũng biết cái xấu. Những vị hộ pháp thầm lặng, không ai thấy của Tam bộ nhất bái – đó là cảnh sát.

Chôn vùi trong lớp bụi đất mềm trên lề đường là gai nhọn và “vật nhọn”. Nếu chúng tôi chạm xuống quá mạnh hay nhanh, bàn tay và đầu gối của chúng tôi, và có lúc là trán của chúng tôi sẽ bị 7 hoặc 8 cái gai đâm cùng một lúc. Ngay cả khi chúng tôi thật cẩn thận, cũng không tránh được. Đây quả là thử thách về sự nhẫn nại và buông xả, đặc biệt trong những giờ cuối cùng của một ngày nặng nhọc và nóng nực.

Chúng tôi tìm thấy một vùng đất trống và giấu xe hơi ở góc phía sau nó. Một trong mười hai khổ hạnh mà đức Phật dạy là “ở nơi thanh vắng” (A lan nhã). Vì thế, không vấn đề gì hết. Trời sẽ sớm lạnh hơn và tối hơn.

Đừng dính líu đến “các gia chủ”! Trong cả hai trường hợp chúng tôi nới rộng lời nguyện đó (một lời mời tắm bên ngoài và một lời mời đậu xe bên trong), lạ thay, khi chúng tôi đến đó, đều bị thất bại. Ngay cả khi những người đề nghị nói rằng họ sẽ có ở đó, nhưng rồi họ lại vắng mặt. Rời đi để tìm a lan nhã của chúng tôi luôn mang đến cảm giác tốt lành hơn. Tôi nghĩ bị thất bại thì lại tốt hơn.

Chúng tôi bắt đầu hiểu “ma quỷ” và Phật đến từ đâu – đó là tâm của chính chúng tôi. Chúng tôi có thể nhìn thấy sự biến đổi, cả điều tốt và những phiền hà đã gợi lên trong tâm chúng tôi trong cuộc hành trình Tam bộ nhất bái. Giới luật và lời nguyện của chúng tôi cung cấp một nơi thanh tịnh (bồ đề đạo tràng) để tu hành bên trong. Khi chúng tôi rời khu vực này (tâm địa thanh tịnh) và chạy ra ngoài nghịch ngợm, tấm khiên chắn của chúng tôi nứt ra và không bao giờ biết điều gì sẽ xảy đến: kiến, xe hư, kẻ trộm, và cám dỗ. “Gà về nghỉ”.
 

Toàn bộ hành trình này là một sự thức tỉnh không bao giờ kết thúc đối với sự vận hành của tâm trí chúng tôi. Nó giống như tiếng vang và sự quay lại của sai lầm của chúng tôi và đấu tranh cố gắng làm thanh tịnh trái tim của chúng tôi trong khi kiên nhẫn chịu đựng nghiệp chướng của mình.

Vô lượng thế giới chủng
Tùy tâm chúng sanh khởi
Chúng sanh nghiệp sai khác
Thế giới nhiều vô lượng
Trong đó sanh thủ trước
Thọ khổ vui chẳng đồng.

Kinh Hoa Nghiêm
Phẩm Hoa Tạng Thế Giới

 

Hằng Triều - ngày 15 tháng 9 năm 1977

Chúng ta sẽ đi đâu?


Một cô gái, chạy ra khỏi nhà, muốn tham gia cùng chúng tôi. Rửa chén dĩa sau bữa ngọ trai dưới vài cây bạch đàn ở góc của một cánh đồng chưa phát triển nằm gần đường rầy xe lửa, tôi nghe có tiếng nói “Có chỗ dành cho tôi không?”. Cô bé mang theo tất cả đồ sở hữu của chứa trong một cái bao gối và túi xách tay. Tôi đoán cô bé khoảng 14 tuổi. Nếu tôi có chút trí huệ nào, tôi đã có thể làm cho bản văn sách nho giáo về lòng hiếu thảo trở nên sống động với cô bé, giống như bản văn này đã làm đối với tôi khi thầy Hằng Thật đọc bản văn này lên vào bữa thọ trai. Nó rất căn bản và trực chỉ. Khi đó, tất cả những gì tôi có thể làm là giữ cho cô bé khỏi ném đồ đạc của cô vào phần chứa đồ ở phía sau của chiếc Plymouth và "đi theo" như lời cô nói. “Chúng ta sẽ đi đâu?”

Chúng tôi đáng lẽ nên nói với nhà báo khi người này hỏi “Thầy cần muốn nói thêm gì không?” là “Có chứ! Có quá nhiều thù hận và khổ đau trên thế giới này. Có quá nhiều tai nạn và thiên tai. Để chấm dứt điều này, trước hết chúng ta cần chấm dứt những điều này từ trong trái tim và trong suy nghĩ của chúng ta. Đó là lý do vì sao chúng tôi đang bái lạy”.

Thay vào đó, tôi nói “À.. không, tôi không thể nghĩ ra bất kỳ điều gì”.

Ngay sau đó, tôi nghĩ “Ai là kẻ bị thiên tai và thảm họa tấn công? Chúng xuất hiện ở khắp mọi nơi. Có điều gì đó về việc nhìn thấy đau khổ cận kề làm thức tỉnh và phá xuyên thủng các bức tường và rào chắn bao quanh trái tim chúng ta. “Này, đó là cha tôi, đó là mẹ tôi” là một sự nhận rõ. Cũng giống như bạn được chăm sóc khi đau ốm và chưa tự lo được khi còn là một đứa trẻ, bạn báo đáp lòng tốt này cho tất cả những người đang đau khổ và cần đến. Sao người ta lại có thể không làm điều này?”.

Những cơn gió mạnh xuất hiện sau bữa thọ trai. Có một đám cháy lớn, phía tây bắc. Chúng tôi có thể nhìn thấy những cột khói và nghe tiếng còi báo động. Một máy bay cứu hỏa khẩn cấp đang cất cánh từ sân bay ngay cạnh nơi chúng tôi đang bái lạy .

Những đám mây rồng đến và bay xuống từ đại dương để trải ra và ngủ dọc theo những đỉnh núi và rặng núi vào ban đêm. Khi mặt trời lên, chúng cũng lthức dậy. Lần lượt từng đám mây phủ đầy bầu trời và làm những gì mà các con rồng làm cả ngày cho đến tận hoàng hôn, từng đám mây một trở về. Một vài đám mây còn lưu lại để bắt các tia màu sắc cuối cùng của mặt trời, và sau đó bầu trời lạnh và trong, đấy ắp vô lượng mặt trời (1). Toàn thể này cách xa đến tận đâu, vĩ đại đến thế nào?

Tôi chỉ mới bắt đầu có được một cảm giác về những điều mạnh mẽ và phi thường mà chúng ta có thể làm được khi đặt tâm trí chúng ta vào việc đó. Đây là nguyện lực. Chúng ta không biết nhiều đến cỡ nào hay xa rộng đến đâu, hay bao nhiêu thiện lực hoặc trí huệ chúng ta có thể mang lại cho đến khi chúng ta đặt tâm vào để thực hiện nó. Mỗi lần thầy Hằng Thật và tôi đạt đến một điểm mà chúng tôi nghĩ không thể tiếp tục được nữa, thì chúng tôi lại tiếp tục được. Đây là yếu tố huyền diệu và chưa biết rõ của cuộc hành hương này và của việc tu đạo. Bạn không bao giờ biết bạn có thể đi bao xa, hay có giới hạn nào không. “Không có pháp cố định”. Tu hành chăm chỉ và thệ nguyện rộng lớn, ai thực sự biết?

Ví như đại long-vương
Nổi mây khắp hư-không
Như vậy Phật nguyện-lực
Xuất sanh các quốc-độ.

Kinh Hoa Nghiêm
Phẩm Hoa tạng thế giới

 

Ghi chú:

(1) Là những vì sao. Các ngôi sao là những mặt trời trong vũ trụ.

 

Hằng Thật - Tháng 9 năm 1977

Thời tiết là một chúng sanh



Tiểu bang California không bao giờ biết được bốn giai đoạn thay đổi do thời tiết mang lại. Có những thay đổi dữ dội như động đất và bão nhiệt đới, nhưng hiếm khi có những chuyển động nhẹ nhàng, mênh mông của nước, không khí, ánh nắng và côn trùng làm giới hạn rõ ràng lên hoạt động của con người. Mùa hè bất tận của California cho phép bạn đi đến những thái cực quanh năm. Còn nơi nào khác mà gánh xiếc này đi qua vào một buổi sáng thứ năm như nơi này: gió lạnh thổi qua hai tu sĩ mặc đồ dày cộm đội mũ len và quấn khăn quàng cổ - hàng chục em học sinh đi xe đạp xuống đồi, tất cả đều mặc áo thun và tay nổi da gà, khịt mũi trong trời lạnh nhưng đạp xe nhanh như gió. Một số cậu bé lớn hơn áo hở ngực đạp xe ngang qua, và một em, thật phi thường, vừa đánh đàn tây ban cầm (guitar) trong khi xe đạp phóng lao xuống dốc. Tôi cảm thấy mình thận trọng quá mức và không có khổ hạnh chút nào trong chiếc áo len và áo che gió của tôi.

Ở nhà khi thời tiết thay đổi, thì cứ thế. Bạn thuận theo thời tiết hay bạn dừng lại. Và cảm nhận hương vị khác nhau khi sống trong bốn mùa. Thời tiết là một chúng sanh, bạn tương tác với thời tiết và tuân theo nó bất cứ khi nào bạn ở ngoài trời. Những thay đổi chậm chạp theo mùa cũng tuần tự thay đổi tính cách. Mùa đông là thời gian ngủ đông. Co vào và ngủ sâu. Mùa xuân bùng nổ khắp nơi và các dòng nhựa chảy. Mùa hè thụ phấn và bày tỏ, mùa thu thì góp nhặt, suy ngẫm, và chuẩn bị.

 

Hằng Triều - Ngày 17 tháng 9 năm 1977

Cầu chúc các thầy bình an!


Ở cuối con đường Hollister. Một chiếc xe cải biến động cơ với đuôi xe cao ngưng lại ở bên đường và một người đàn ông hét lên một điều gì đó. Chiếc xe quá ồn ào khiến tôi không thể nghe thấy ông ta nói gì. Rùm rùm, púp púp, rầm rầm. Ông ta hét to lên "Tôi nói là cầu cho các thầy bình an!" Ông ta nở một nụ cười thật tươi cho thấy ý ông ta là như vậy. Sau đó, ông ta rú máy xe lái đi, bánh xe quay nhanh bốc khói, rít lên và chạy xuống con đường Hollister. Chúng tôi thêm vài cái lạy yên tĩnh kết thúc trong lúc mặt trời lặn xuống. Ngày mai chúng tôi sẽ trở lại xa lộ.
 

 

Hằng Thật - Tháng 9 năm 1977

Chỉ bằng cách cố gắng

 

Về cơ bản tôi chẳng ở đâu cả nhưng đó là một nơi vô xứ sạch hơn và tĩnh lặng hơn so với những nơi mà tôi đã từng đến.

Làm thế nào tôi lại đến được đây? Không phải từ bất cứ điều gì tôi đã đọc, không từ bất cứ điều gì tôi đã nói hay nghĩ đến. Chỉ bằng cách lắng nghe những lời chỉ dạy, mắc sai lầm và trở về những lời chỉ dạy. Chỉ bằng cách cố gắng, thất bại, hỏi han, và cố gắng một lần nữa, tôi đã bắt đầu tiến tới.

 

 

Hằng Triều - Ngày 18 và 19 tháng 9, 1977

Một ngôi sao băng giải mê

 

Cúng dường: Duk Khai và các con cô cùng ông bà Chin Lee và con cái của họ, tất cả đi đến cúng dường bữa ăn. Rất nhiều thực phẩm, rất nhiều người, và nhiều năng lượng tốt lành.

Chúng tôi trở lại xa lộ. Những tối thật trong và lạnh. Tối hôm qua, khi chúng tôi đang ngồi thiền bên ngoài, tôi để ý một ngôi sao lớn lấp lánh trên bầu trời phía tây. Tầm vóc và những hoạt động khó giải thích của vũ trụ làm tôi kinh ngạc. Vũ trụ đi khắp mọi hướng bao xa? Và vũ trụ đều di chuyển và thay đổi khi tôi đang quan sát vào lúc này, cũng như ngay nơi tôi đang quan sát, trái đất, đang chuyển động và thay đổi, và cơ thể của tôi đang thay đổi.

Đó là một sự kinh ngạc không thốt lên lời, khiến cho mọi vấn đề và mối quan tâm nhỏ nhặt của tôi thu nhỏ và tan biến. Một ngôi sao băng đã giải mê. Từ góc độ khác, toàn bộ thiên hà của chúng ta có thể trông giống như một ngôi sao băng - đến và đi trong chớp mắt.

Lần đầu tiên kể từ khi bắt đầu chuyến đi, sự bao la không giới hạn của toàn bộ không gian đó cho tôi cảm giác ấm áp, không phải là lạnh. Các ngôi sao sáng trôi nổi trong màn đêm không có điểm dừng khiến tôi có cảm giác giống như căn nhà ấm cúng hơn là những ánh đèn lấp lánh của các thị trấn và các trại chăn nuôi gần đó.
 

 

Hằng Triều, ngày 20 tháng 9 năm 1977

Tôi chắc chắn đã nói chuyện với Hòa Thượng


Lớp lễ lạy 101. Chiếc xe tải chạy bằng dầu chạy vụt qua bên tai chúng tôi với vận tốc 70 dặm/giờ, chỉ cách đầu chúng tôi 3 bước. Chúng tôi cân nhắc việc lạy theo hoặc nghịch lại giao thông. Cân nhắc: chói nắng, tầm nhìn, gió.


Giấc Mơ.


Tôi đã đến nói chuyện với Sư phụ ở một thành phố cổ xưa nào đó. Tôi có một loạt câu hỏi. Nhưng, trước khi tôi có thể hỏi, ngài đã làm tôi bất ngờ và đã trả lời những câu hỏi thực sự nằm trong tâm trí tôi. Ngài đã nhấn mạnh một số điểm và đưa ra lời khuyên cho hành trình Tam bộ nhất bái. Từ ngữ then chốt là "kiên nhẫn". Hòa thượng nhấn mạnh tầm quan trọng của cuộc hành hương là cho rất nhiều người khác và vì những lý do ngay chính chúng tôi cũng vẫn chưa thể hiểu được.

Khi thức dậy, tôi chắc chắn rằng mình đã thực sự có nói chuyện với Hòa thượng. Tôi cảm thấy được gột rửa, được quan tâm, điều phục và chân thật, giống như khi có sự hiện diện thật sự của Hòa thượng vậy.

Còn có một chuyện khác. Tôi nhận ra mình đã “gặp” Phật A Di Đà. Tôi liên tục nói “A Di Đà Phật. A Di Đà Phật.” Đó không hẳn là một nhân vật quá đặc biệt nào, mà là một toàn cảnh đầy ánh sáng và sự thanh tịnh. Khi bước vào căn hầm lạnh giá, tối tăm khiến bạn nhận thức mình trước đó vừa ở trong ánh nắng ấm áp sáng lạn. Trong khi chìm đắm vào sự gặp gỡ này và trong hội chúng chung quanh Sư phụ, dường như không có gì phi thường. Năng lực và điều kỳ diệu của sự việc này không được để ý cho đến khi tôi tỉnh dậy và quay trở về mà vẫn còn đang niệm “A Di Đà Phật. A Di Đà Phật”.

Những hiểu biết quan trọng nhất của chúng tôi cho đến nay:

1. “Tất cả đều do tâm tạo (Nhất thiết duy tâm tạo)”. Những gì bạn thấy là những gì bạn có. Tâm là nơi để tu hành và hiểu biết. Nhìn ra bên ngoài là ngõ cụt và không tạo ánh sáng, và có nhiều rắc rối.

2. Tuân theo quy củ ( nguyện, giới, hướng dẫn đặc biệt cho hành trình).

3. Tu hành chăm chỉ.

4. Không vọng tưởng. Niệm thiện mang lại sự cúng dường; niệm xấu mang lại rắc rối. Thiện hay ác, đều là vọng tưởng và lậu hoặc.

5. “Hồi quang”. Soi chiếu vào bên trong ở mọi tình huống là chìa khóa để tỉnh thức. Điều đó có nghĩa đóng lại các cổng của mắt, tai, lưỡi, thân và tâm. Ngưng nói chuyện, tránh xa các chủ gia đình – “chim chết” không hát, nhưng chúng thực sự bay (1).

6. Không tham dục – đây là chìa khóa dẫn tới giải thoát và trí tuệ.

7. Đừng dễ duôi và ngưng nghỉ một giây phút nào cả . Hãy “chân thật” mọi lúc, ngay cả khi một mình hoặc lúc ngủ. Không che đậy hay lấy kỳ nghỉ.

8. Tu tập. Tự mình tu tập là điều quan trọng nhất. Sự hướng dẫn của sư phụ và Kinh điển trở nên sống động khi thực tập.

Tụng rỗng chỉ theo tiếng,
Minh tâm mới Bồ Tát.
...
Hễ tin Phật vô ngôn.
Liên Hoa miệng ngươi phát (2)

Lục Tổ Đàn Kinh - Phẩm Cơ Duyên

Buông bỏ mọi thứ và tu hành. Với sự tu tập, Kinh không nói điều gì mà chúng ta không biết. Với sự không tu tập, Kinh nói những điều mà chúng ta sẽ không bao giờ biết.

9. “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”. Đừng bám chấp vào cái không.

10. Thiền rất quan trọng trong việc làm tan chảy và phản ánh chánh niệm hoặc thiếu chánh niệm của chúng tôi trong việc bái lạy: bái lạy tốt hơn thì ngồi thiền cũng tốt đẹp hơn.

11. Coi tất cả người nữ là mẹ ta, tất cả người nam là cha ta, kết hợp với lòng từ, bi, hỉ, xả, có thể giúp chúng tôi qua được mọi tình huống. Nỗi sợ hãi chỉ là cái nhìn của bản ngã (ngã kiến), quá tự tin cũng vậy.

Vẫn vội vã với cảnh sát và việc cắm trại. Chúng tôi vẫn phải ẩn dấu nhưng không kỹ càng. Các chủ trang trại rất sợ lửa, cho nên những người cắm trại bị xem là mối nguy hiểm. Những ngọn đồi chập chùng đầy cây lá khô kêu tanh tách. Một khi ngọn lửa bén vào, thì gần như không thể kềm chế được. Đây được gọi là những khu vực “lửa hoang dã” trọng yếu.

Chúng tôi tìm thấy tờ giấy viết tay này cùng với ít tiền kẹp dưới cần quạt gạt nước kiếng xe khi chúng tôi quay trở lại vào cuối ngày lạy:

“Công việc của các thầy là một lời chứng của sự quyết tâm. Cầu cho các thầy bền lòng trên hành trình vì hòa bình”. Ned, Người đàn ông đến từ Ventura, nơi đã diễn ra vụ tai nạn thảm khốc.
 

Ghi chú:

(1) Cau chuyện Tổ Bồ Đề Đạt Ma và chim Anh Vũ http://www.dharmasite.net/KinhPhapBaoDanLuocGiang_PhanLuocTu.htm

Ðạt Ma đến Trung Hoa chưa gặp được tri âm, nay Anh Vũ này lại là tri âm của Ngài. Nghe chim thỉnh giáo mình như vậy, Ðạt Ma rất vui vẻ dạy cho nó một bí quyết: "Muốn thoát khỏi lồng, hai chân duỗi thẳng, đôi mắt nhắm nghiền, đây là diệu kế, giúp con thoát lồng."

Anh Vũ sau khi hiểu được phương pháp thoát lồng, bèn thưa: "Nay con đã hiểu rồi, cám ơn Ngài chỉ dạy." Anh Vũ nhìn thấy người chủ từ xa trở về, đợi người chủ đến gần, nó liền sử dụng phương pháp đó. Mỗi ngày người chủ trở về đều đến chơi với con chim yêu quý để tiêu sầu giải muộn, nay nhìn thấy Anh Vũ yêu quý nằm bất động trong lồng liền rất lo lắng, bèn mở cửa lồng đem Anh Vũ để nơi lòng bàn tay: "Ồ! thân chim vẫn còn nóng." Vì chim giả chết nên khí nóng vẫn còn. Người chủ vừa mở nắm tay ra Anh Vũ liền bay đi! Kế thoát lồng thật hiệu nghiệm.

Chúng ta hiện nay vẫn còn ở trong lồng, đừng nên cho rằng mình đang tự do. Muốn ăn thì ăn, muốn uống thì uống, không giữ gìn quy củ cho là tự do. Ðiều này thật là mê muội vì đã hiểu một cách sai lầm về tự do. Tự do chân chánh là sanh tử tự do, muốn bay lên trời thì lên trời, muốn độn thổ xuống đất thì độn thổ; có được những bản lãnh như thế mới gọi là tự do chân chánh.

 

(2) Nguyên văn Hoa ngữ:

汝今名法達 勤誦未休歇
空誦但循聲 明心號菩薩
汝今有緣故 吾今為汝說
但信佛無言 蓮華從口發

Nhữ kim danh Pháp Đạt

Cần tụng vị hưu hiết
Không tụng đãn tuần thanh

Minh tâm hiệu Bồ Tát
Nhữ kim hữu duyên cố

Ngô kim vi nhữ thuyết
Đãn tín Phật vô ngôn

Liên Hoa tòng khẩu phát.
 

 

Hằng Thật – tháng 9, 1977

Những người trẻ tiếp thu như phép mầu


Tại chùa Kim Luân, rất thú vị khi xem những người nam nữ trẻ tuổi khám phá Phật pháp qua lòng tôn kính của cha mẹ họ đối với Hòa thượng. Chúng ta học bằng việc bắt chước và vì các Phật tử tại gia ở Los Angeles rất hết lòng với vị thầy của họ, nên những người trẻ tuổi tiếp thu như một phép mầu. Khi Phật pháp dần đi vào thế hệ kế tiếp tiếp ở phương Tây, thì những người trẻ tuổi này là những vị hộ pháp, những người sẽ giúp cho Phật pháp hưng thịnh trong các cộng đồng Phật tử tại gia. Được học niềm tin vững chắc từ cha mẹ và người lớn tuổi, họ sẽ tiếp tục tiến bộ trong việc tu hành khi họ lớn lên. Công việc của người xuất gia là hoàn toàn điều phục tất cả tham dục để chúng ta có thể giáo hóa người khác và giúp họ trồng phước báu và tạo lập thiện căn sâu dày trong Phật pháp.

Bạn có thể thấy điều đó đang đến.

 

 

Hằng Thật - Tháng 9 năm 1977

Dừng nó lại tại những cánh cửa và quay nó lại


Sau khi bạn học một bài học, sự thử thách sẽ xuất hiện để khẳng định sự tiến bộ của bạn. Tôi nhận thấy sự nhận thức, kiểm soát, khả năng điều phục tâm đến từ từ. Những tập khí cũ, cái tâm không tu hành đi ra ngoài qua khỏi cánh cữa của các căn để tiếp xúc với mọi cảnh giới. Sau khi bạn biết kềm chế điều phục, bạn có thể kiểm soát năng lượng muốn lậu thoát ra ngoài. Hãy dừng nó lại tại những cánh cửa và quay nó lại. Tôi tin rằng khi việc tu hành đủ lâu, bạn sẽ tích tụ khả năng điều phục giúp kềm chế bạn vào mọi lúc. Nếu bạn có thể quay ngược những tập khí cũ lại.

 

Hằng Triều - Ngày 22 tháng 9 năm 1977

Bệnh tan biến
 

Bill và Pat Chiang lái xe đến, cúng dường một bữa ăn, thực phẩm, vật dụng và 10 đô la tiền xăng. Bill kể với chúng tôi về bệnh tim mãn tính ngày càng tệ hơn, nhưng sau khi quy y Tam Bảo tại tu viện Kim Sơn Thánh Tự thì căn bệnh "biến mất". Ông đã gặp rất nhiều chuyên gia khắp thế giới, nhưng không ai có thể giúp được. Bill kể lại “Khi quy y, con muốn hỏi Hòa Thượng về chuyện tim của con, nhưng con sợ, vì vậy con đã không nói bất cứ điều gì. Nhưng, lạ lùng thay, sau ngày hôm đó, căn bệnh biến mất. Con đã không gặp chút khó khăn nào về tim kể từ lúc đó!”.

Chúng tôi hiểu được rất ít bằng cách nào và tại sao những điều này xảy ra. Và tuy nhiên tất cả đều đến từ chân tâm, là cội nguồn của tất cả chư Phật. Làm thế nào những cảnh giới này có thể đo lường hay "đạt được?”

Như-Lai cảnh-giới sâu
Lượng đó khắp hư-không
Tất cả chúng-sanh vào
Mà thật không chỗ nhập.
Như-Lai cảnh-giới sâu
Bao nhiêu nhơn thắng diệu
Ức kiếp thường tuyên nói
Cũng lại chẳng thể hết.

Kinh Hoa Nghiêm


Một chủ trại địa phương dừng lại để cảnh báo cho chúng tôi về những mối nguy hiểm cháy rừng to lớn và nói, "Ờ, đúng rồi, và các thầy hãy coi chừng những rắn chuông!". Xe lửa, xe tải, xe hơi, nhện độc, những mảnh vụn bay rơi xuống, giết người, cướp, trộm, những con đường nguy hiểm, và bây giờ là rắn chuông! Tiếp đến là gì? Tôi sẽ hỏi một ai đó vào một ngày khác: "Điều này hẳn là hết sức nhàm chán, phải không?"

Cảnh sát kiểm tra; Kết quả: "Các thầy có thể bái lạy ở bất kỳ phía lề đường nào mà thầy muốn - không thành vấn đề; chúc các thầy may mắn."

 

Hằng Thật - Tháng 9 năm 1977

Đừng tìm kiếm kết quả

 

Đôi khi tôi cảm thấy điên cuồng. Tôi không thể ngừng cái tâm niệm - quá dày đặc và thô kệch. "Bạn sẽ làm hỏng tất cả các công việc này và bạn sẽ thua canh bạc." Nỗ lực lãng phí, tiêu tan hy vọng. Và bên trong nội tâm, tôi chiến đấu, đập phá và la hét. Sau đó một cái gì đó sẽ thay đổi tất cả cùng một lúc; hơi nước làm mở bật van tràn hơi hoặc việc làm tan chảy được bảo đảm an toàn và tất cả sẽ thư giãn. Đầu tôi sẽ báo cáo, "Hãy thư giãn, bạn à, Phật tử thì cũng từ bi đối với chính họ nữa, bạn biết đấy . Bạn nên hạnh phúc và thoải mái. Nếu không bạn sẽ căng thẳng và buồn bả, và Sư Phụ không muốn bạn như thế. Bên cạnh đó bạn còn có một chặng đường dài để đi, còn có rất nhiều thời gian. Cứ đi từng bước một vững chắc và sau đó hãy đi bước kế tiếp. Chỉ cần đánh bại những ham muốn và kiểm tra tâm niệm. Làm điều đó cho đủ lâu dài, đừng tìm kiếm kết quả và như thế bạn đang làm việc đúng."

Sau đó, tôi nghĩ rằng, "Bạn không dám quy y vào tương lai, bạn không biết khi nào chuyến đi này sẽ kết thúc. Ngày mai có thể là hết và nếu bạn cứ tiếp tục lãi nhãi bên trong thì việc đó có thể chấm dứt đối với những người khác ngay bây giờ. Hãy làm việc ngay bây giờ, không suy nghĩ, và mỗi lần hãy chỉ làm việc thực hành một cách đúng đắn và đầy đủ. Chỉ dựa vào các hướng dẫn. Nếu bạn được giác ngộ, thì điều đó sẽ xảy ra. Tất cả các tư tưởng xuất hiện để nói về điều này thật ra là để ngăn chặn nó. Vì vậy, hãy đóng miệng lưỡi lại. Hãy dừng cái đầu của bạn . "

 

Hằng Triều - 23 tháng 9 năm 1977

Phạm quy củ, bể kiếng
 

“Chiếc xe đang thuyết pháp cho con nghe”, đó là sự nhận xét của Hòa Thượng sau khi chúng tôi kể về những sự việc sau đây tại chùa Kim Luân vào cuối tuần:

Beverly Hills: Phá quy củ về trễ nãi, lãng phí thời gian tại một trạm xăng. Một chiếc xe tải rít qua và đập vỡ kiếng chiếu hậu bên hông xe chúng tôi. Phạm quy củ, bể kiếng.

Bên ngoài Malibu: thực hiện một chuyến đi không cần thiết đến chợ thực phẩm – vì sợ rằng chúng tôi không có đủ thực phẩm để ăn. Ra khỏi chợ và chiếc xe không khởi động. Chết máy.

Santa Barbara: Chúng tôi quyết định tăng thêm thời gian lễ lạy và bỏ qua giờ nghỉ ngơi. Ngay sau đó, một thợ sửa xe thấy chúng tôi và sửa chỗ rỉ dầu của xe chúng tôi. Không tính tiền.

Santa Barbara: Trong một chuyến đi vào thị trấn, chúng tôi quyết định nới lỏng quy củ của chúng tôi một chút và lái xe qua khu vực lịch sử Mission cổ xưa (xem cảnh). Ngay khi chúng tôi quẹo góc đường về phía Mission, hệ thống thắng xe ngưng hoạt động. Khi chúng tôi quay vòng trở lại và tiếp tục công việc của chúng tôi, hệ thống thắng xe bắt đầu hoạt động trở lại.

Isla Vista: Khi đối mặt với việc sửa chữa lớn và đắt tiền, chúng tôi quyết định bái lạy thay vì cố gắng tìm tiền và nơi sửa xe để làm việc đó. Ngay sau đó, một thợ sửa xe thân thiện đã chăm sóc "vấn đề lớn" này với giá không quá $20!

Các lời nguyện là tương lai của bạn. Chúng là những hạt giống phát ra ánh sáng và âm thanh hướng dẫn bạn về nhà. Ở đâu đó, một nơi nào đó tất cả chúng ta đã gieo hạt giống của Phật quả. Chúng ta cắn, nhai và chịu đựng các nghiệp chướng che phủ những hạt giống này cho đến khi chúng ta quay trở lại. Đức tin và lời nguyện ám ảnh và thì thầm, "Bạn chưa đến nhà đâu. Đây không phải là nhà. Tiếp tục đi, tiếp tục đi! "Lời nguyện được thực hiện trên đức tin.

Tin quyết-định được bực Như-Lai.
Tin khiến lục-căn sạch, sáng, lẹ
Tin hay sanh trưởng cây bồ-đề

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Hiền Thủ

 

Hằng Thật - Tháng 9 năm 1977

Và bạn sẽ không tái sinh
 

Cần Cái Ai Sao?

Phải, đây là Thiền của Quả Chân và đã đến lúc phải mở rộng công việc bái lạy ra thành cả ngày lẫn đêm. Hãy mang theo kiếm trí huệ. Thần chú là một cây cầu quan trọng, làm sạch hư không, chiếu rọi chúng. Nhưng tôi cần một thứ gì đó trên cả thần chú để sử dụng trong các nghi lễ, trong khi ngủ, khi bái lạy – mở con mắt bên trong để thấy cái gì là vọng tưởng, cái gì là không phải là vọng tưởng. Đoạn trừ hết thảy và đặt tôi vào mọi cảnh – tịch tĩnh và trống rỗng. Nó có tác dụng khi bái lạy; tiếp đến sẽ là trong lúc không bái lại. Giống như thiền vậy:

Tôi tham thoại đầu của tôi
Cả ngày sống dài
Tôi tham thoại đầu của tôi
Mọi phiền não đều tan rã
Ai là người niệm Phật?
Sắc tức là không, sử dụng kiếm trí huệ.
Dừng các niệm khi chúng khởi lên
Và bạn sẽ không tái sanh

 

 

Hằng Triều - 24 tháng 9 năm 1977

Miệng và môi chúng tôi lại khô nữa


Bạn sẽ làm gì khi một chiếc xe tải chạy bằng dầu cặn lách ra khỏi đường và tiến thẳng về phía bạn? Nhường đường một cách nhẹ nhàng và nhanh chóng. Có câu rằng “Đôi khi lùi là tiến”.


Như đất chỉ một tánh
Mọi loài ở riêng chỗ
Ðất không nghĩ đồng khác
Pháp chư Phật như vậy
Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Bồ Tát Vấn Minh

 

Về nước.

Thật khô khan. Mọi thứ nứt nẻ. Không có những âm thanh sột soạt mềm mại, chỉ có tiếng cọ xát và trầy xước. Giòn và mất cân bằng. Hơi ẩm đã ra khỏi mặt đất. Khi chúng tôi đi bộ dọc theo con đường, mặt đất vỡ vụn và bị lún xuống như vỏ ốc rỗng. Những chiếc xe tải cùng các nhóm tài xế lái nhanh băng qua cạnh chúng tôi, hướng đến những ngọn đồi màu nâu đầy bụi.

Khi gió ngừng thổi, vùng nông thôn hạn hán này thật sự là một địa ngục trần gian. Các gia súc và thú hoang được nuôi dưỡng bằng đám cỏ chết khô, không có một bóng râm che mặt trời thiêu đốt và không có nước để hạ nhiệt. Vài phút sau khi uống nước từ bi-đông, môi và miệng chúng tôi lại khô tiếp.

Các nhà khoa học gọi đây là một "khuynh hướng lượng mưa thấp theo chu kỳ". Họ" không thể suy đoán" cái gì gây ra nó hoặc làm thế nào để kết thúc nó. "Những người không phải là khoa học gia" cũng gọi nó là một chu kỳ, một chu trình nhân quả, của hành vi và quả báo. Đó là nghiệp. Sau khi lạm dụng và lãng phí nước, đặc biệt trong “sự tiến bộ” về hóa học và nguyên tử, chúng ta đánh mất nó. Chúng ta cùng chung một bản thể, và tất cả chúng ta cùng chia sẻ bốn yếu tố đất, nước, gió, lửa. Chúng ta đều là một thân, một tâm. Nếu bốn yếu tố này không hài hòa, đó là bởi vì tâm trí của chúng ta quanh co và không hài hòa. Khi nào nước sẽ trở lại? Khi chúng ta sám hối những sai lầm trong quá khứ và sửa đổi. Khi nào chúng ta sẽ tịnh hóa trái tim của chúng ta.

Không có nước uống ở trạm xăng nhỏ này, do ô nhiễm tràn ra từ bãi chứa rác. Bãi chứa rác được tạo nên do không có chỗ để chứa tất cả rác thải của thành phố lớn gần nhất. Người thợ máy nói “Nơi đây từng là một nơi trong sạch”. Lòng tham lớn, mong cầu lớn, những bãi chứa rác lớn, và nước ô nhiễm. Nước tinh khiết hay ô nhiễm là “không rời khỏi một niệm” (1).

 

Ghi chú:

(1) “Không rời khỏi một niệm” ý nói do tâm tạo. Xuất xứ tứ bài giảng của Hòa Thượng "The Ten Dharma Realms Are Not Beyond a Single Thought" (十法界不离一念心 - Thập Pháp Giới Bất Ly Nhất Niệm Tâm) http://www.drbachinese.org/online_reading_simplified/dharma_talks/kaishrlu-2/volume2-ce-17.htm

 

Hằng Thật - Tháng 9 năm 1977

Trong một khoảnh khắc tôi có thể thấy suốt con đường
 

Những người trình diễn.

Vừa khi chủ đề về âm nhạc, ca hát, hoặc trình diễn được bàn đến, một điều khôi hài xuất hiện. Thầy Hằng Triều đeo vào một chiếc mặt nạ tối tăm và cứng nhắc. Đôi mắt và miệng của thầy thay đổi và vào vị trí đặc biệt, và đầu thầy cử động không tự nhiên theo một điệu bộ đã tập qua. Mỗi lần như vậy, tôi cảm nhận ngay lập tức - Tôi cảm thấy sức nóng và xung đột gia tăng. Tôi đeo cùng một mặt nạ đó và không muốn nhìn thấy nó trong thầy ấy hoặc trong tôi. Tôi tưởng tôi đã hoà tan phần quá khứ này của tôi nhưng thực ra là chưa. Nó chưa ra đi, nó chỉ bước ra khỏi sân khấu. Nó thật là xấu xa.

Không biết việc trình diễn có cái gì mà lại tạo ra một ấn tượng sâu sắc và tiêu cực đến như vậy cho cả hai chúng tôi? Có phải chúng tôi vẫn còn tham muốn những tiếng vỗ tay? Có phải nó nuôi dưỡng một nơi chốn trong cái ngã to như núi Tu Di vẫn còn háu đói? Đó là một phản ứng mạnh mẽ và đã bám rễ sâu. Đó không phải là một nơi để cho đi hoặc là một nơi để vui vẻ chia sẻ. Đó là “Tôi đã từng thật sự rất giỏi và tôi biết điều đó, và tôi đã bị buộc phải từ giả. Thật là xấu hổ cho ông”. Xấu xa quá.

Khám phá lớn nhất trong tháng này là năng lượng và ánh sáng và sự thấu rõ sáng suốt đến từ việc thật sự xoay chuyển dục vọng, chặt đứt nó và xoay nó trở vào lại bên trong. Thì ra là thế! Sức mạnh! Trong một khoảnh khắc tôi có thể nhìn thấy suốt con đường đến sự giác ngộ. Câ chuyện như thế này.

Chúng tôi không có cuộc phỏng vấn từ báo chí hay truyền hình nào kể từ lúc ở thành phố Carpentina cách đây một tháng. Tôi cảm thấy không thoải mái, giống như mình không giữ được trách nhiệm đối với Chùa Kim Sơn Thánh Tự hoặc đối với Phật pháp. Cùng lúc, tôi nhận ra rằng có một điều gì đó đang xảy ra – đó không phải là một tình trạng bình thường. Báo chí đang bị giữ tránh xa vì một lý do nào đó.

Sau đó khi chúng tôi xong việc lễ lạy trễ vào một buổi tối, tôi đã tự vấn bản thân về những vọng tưởng của mình: chẳng phải đó là một trường hợp về sự háo danh hay sao? Có thứ gì đó ở bên trong được hiểu ra, và tôi nhận ra tất cả các niệm tưởng về vấn đề này chính là năng lượng tiềm năng để lễ lạy. Đó là thay vì hướng ra ngoài tìm sự quan tâm của báo chí thì tôi nên quay ngược năng lượng đó lại và giữ nó ở bên trong. Ngay khi nhận ra sự thật đó, tôi như có một được cục kẹo ZOTZ! khổng lồ của năng lượng tinh khiết và những nỗi lo lắng của tâm trí trở nên yên lặng. Đúng là nó rồi! Xoay chuyển ánh sáng vào trong (hồi quang) khi làm đúng và kỹ càng hoàn tất mang đến cho bạn những thứ của riêng bạn – nó không bị rỉ (lậu thoát). Ham muốn lớn nhất - về sự hiện hữu tồn tại thông qua sự bám chấp vào tình dục – khi nó bị đoạn diệt và quay ngược vào trong – Tuyệt vời làm sao! Hẳn đó phải là một bước lớn đến trí tuệ và từ bi. Việc tu hành chính là như vậy.
 

 

Hằng Triều - 25 tháng 9 năm 1977

Việc lạy đã khiến cơn đau biến mất, tôi đoán thế!


Tôi bị đau nhức nhiều phần lưng dưới và thấy khó lạy. Tôi quên đồng hồ đeo tay, và chúng tôi đã lạy vào cả giờ thọ trai. Chúng tôi quên tất cả mọi thứ khác và chỉ bái lạy. Duk Khai và 2 người con trai của cô cùng Nguyen Thi Grey và Gao Reig Snider đến cúng dường bữa ăn. Họ đều khóc khi đến gặp chúng tôi trên xa lộ. Khi chúng tôi ngồi xuống để ăn, tôi nhận ra cơn đau lưng biến mất – tôi đoán việc lạy đã khiến cơn đau biến mất.

 

Hằng Thật - Tháng 9 năm 1977

Hiệp Hội Bảo Vệ Nhẫn


Một trong những cuốn sách hay nhất, Chúa tể Của Những Chiếc Nhẫn của tác giả Tolkein, đã thuật lại cuộc hành hương của Frodo và Samwise để cứu tất cả những tốt đẹp thiện lành trên thế giới của họ và tiêu diệt cái ác. Chuyến đi của họ được Gadalf giám sát, đó là phù thủy tối cao của cõi giới đó, một người trường sinh, khôn ngoan, canh giữ năng lượng tốt và trắng, một người có mối liên hệ với trí tuệ cổ xưa.

Cuối cùng, điều duy nhất khiến hai người Hobbit chiến thắng là sự ngây thơ, vô ngã và lời nguyện của họ. Hành trình của họ xảy ra cả bên trong lẫn bên ngoài. Khi tâm họ ngay thẳng thì họ không gặp khó khăn gì, hoặc họ gặp được những người bạn mạnh mẽ và trí tuệ giúp đỡ họ. Khi tâm họ suy nghỉ vớ vẩn hoặc không chân thật với nhiệm vụ của mình thì rắc rối xảy đến.

Hoàn thành nhiệm vụ, các Hobbit và những người bạn đồng hành của họ trở về vùng Shire. Samwise đã học được lòng can đảm, tự trọng, và một chút trí tuệ. Frodo bị một con nhện gớm ghiếc làm bị thương nặng và bị mất một ngón tay trên rìa ngọn núi Doom, và anh ta không còn bám víu những thú vui của thế gian này nữa. Thay vào đó, anh ta đi tìm vùng Gray Havens, một loại như Phật địa thanh tịnh. Frodo chứng tỏ lòng từ bi trong cuộc chiến vì vùng Shire. Anh ta tha cho một kẻ thù và tha thứ cho hành động độc ác của hắn. Frodo đã nhìn quá đủ sự giết chóc và đã kinh nghiệm được sự đồng nhất của tất cả những sinh vật sống và sự tử vong mong manh của sinh vật.

Tuy các nhân vật trong Bộ ba tiểu thuyết của Tolkein không gặp được Chánh Pháp và tất cả họ đều tìm kiếm chân lý bên ngoài nhưng điều tốt nhất là sách Chúa Tể Của Những Chiếc Nhẫn nhắc nhở chúng ta về đại nguyện của Bồ Tát trong việc chế ngự tất cả điều ác và làm tất cả điều thiện. Cuốn sách thật tinh khiết và trữ tình. Có sự giết chóc nhưng nó nói nhiều về sự hàng phục ma quỷ và chuyển hóa chúng sanh hơn là việc giết chóc.

Có một sự chia sẻ tuyệt vời của lòng chính trực và điều thiện giữa nhiều chủng tộc khác nhau và các loài chúng sanh. Nó giống như lý tưởng của “đại đồng” của Trung Hoa. Thầy Hằng Triều và tôi hơn một lần đã cảm nhận được lời kêu gọi thực hiện cuộc hành trình của chúng tôi từ câu chuyện hay này. Kinh nghiệm chúng tôi chia sẻ đôi khi phản ảnh sự cố gắng và niềm vui của Hiệp hội bảo vệ Nhẫn. Đôi khi nó hơi kỳ lạ và chúng tôi tự hỏi làm thế nào tác giả Tolkein có thể gần với Phật Pháp như thế và có phải ông ấy rút ra từ Bồ đề tự tính của chính ông ấy khi viết lên bộ ba tác phẩm này không. Chúng tôi mong ước bộ sách này được gần hơn nữa.

Thật là tốt đẹp quyển sách này tồn tại trên thế giới và nó sẽ thu hút nhiều người tốt đến với Chánh pháp.
 

 

Hằng Triều - 26 tháng 9 năm 1977

Thành công phụ thuộc vào sự thành tâm


Lễ lạy trên một con đường nhỏ cô lập, song song với xa lộ. Tĩnh lặng, u ám.

Một thầy dạy Thái cực quyền tại địa phương có mái tóc dài và bộ râu dài đi cùng với các tín đồ tiến hành một nghi lễ tháo mở các bó đồ đầy màu sắc ra. Bên trong bó đồ là một tấm áo choàng dài mềm, khăn quàng cổ và những thứ đội trên đầu rồi ông ta mặc vào. Sau khi tụng niệm nhảy múa, và múa kiếm trước mặt chúng tôi khi chúng tôi bái lạy, ông ta hỏi liệu chúng tôi có thể cùng cầu nguyện “hiệp thông” trên đường và quay phim cảnh ông ta đang tặng chúng tôi một số trái bắp và đồ vật linh thiêng không.

Thầy Hằng Thật giải thích viết xuống trong một tờ giấy rằng sự thành công trong công việc của chúng tôi phụ thuộc vào sự chân thành của chúng tôi và chúng tôi tiếp tục lễ lạy, dù họ có hiểu hay không.
Họ để lại thực phẩm để cúng dường và nói họ sẽ gặp chúng tôi tại Vạn Phật Thành trong vòng một năm. Họ đang làm việc vì hòa bình thế giới.

 

Hằng Thật - Tháng 9 năm 1977

Vị khổ vui là những gì ngươi nhận được


Nhiều hơn không phải là tốt hơn: Khó lĩnh hội ngôn từ.

Đây là một thói quen cũ mà ngươi nên nhận diện và cắt đứt. Ngươi bị phân tâm và vẫn tìm vui trong những thứ ngươi đọc. Ví dụ: trong bữa ăn trưa, ngươi đọc Phật pháp. Tốt thôi, nhưng chỉ một phần. Tất cả chỉ có tiêu hoá được phân nữa vì ngươi không bao giờ xem xét lại.

“Chẳng phải thật hạnh phúc khi học hỏi và thường xem lại những gì đã học được sao?”

Ngươi đã làm gì? Đọc Đà La Ni; sao chép một số dòng. Sau đó, ngươi đặt nó xuống và làm tương tự với Lục Tổ Đàn Kinh. Ngươi nhận ra giá trị và bắt đầu học hỏi nó, nhưng ngươi từ bỏ trước khi ngươi được nó trưởng dưỡng. Hiếu Kinh, Thập Pháp Giới, Bồ Đề Hải, Thủy Kính Hồi Thiên Lục, và bây giờ ngươi chuẩn bị bắt đầu Kinh Kim Cang và Kinh A Di Đà. Ngươi có nhận ra một khuôn mẫu ở đây không?

Ngươi muốn đi vòng vo ở vòng ngoài đó mãi và không bao giờ bước vào cổng chính sao? Vị khổ vui là những gì ngươi nhận được. Ngươi phải từ bỏ việc bám víu vào quan điểm cũ. Những làn sóng mới của cuộc đời tôi, quá mạnh và thanh tịnh, không thể nào từ chối được, cuốn sạch những thứ cũ ra biển, hòa tan những thứ vô dụng và thanh tịnh hóa thứ có ích.

Thầy Hằng Triều nói “ Trong Đạo tràng cạnh một người có đạo đức thực sự, bạn buông rơi những tấm lá chắn của mình. Ra đây trên con đường này, tôi cảm thấy tấm áo giáp mượn của Hòa Thượng trở nên ngày càng mỏng hơn. Giờ đây chúng ta đã đến và chúng ta phải chuyển sang tấm áo giáp của chính chúng ta”.

 

Hằng Triều - 17 tháng 9 năm 1977

Những điều căn bản đơn giản vẫn giá trị nhất


Trăng lại tròn đầy. Nó đến và đi và như là một trong các đồng hồ cho chúng tôi. Bình minh và hoàng hôn, những vì tinh tú vào ban đêm, những con sóng đại dương đều lặp lại sự thay đổi, thay đổi nhưng lặp đi lặp lại.
Trạng thái thoải mái hoặc đau đớn, nhiễm ô và thanh tịnh, tức giận hoặc hiền từ của chúng tôi cũng đến và đi. Cho dù điều gì đến trên con đường của chúng tôi hoặc điều gì xảy ra, “chúng tôi” sẽ vượt qua được và “nó” trôi qua. Nguy hiểm và thoải mái, bệnh tật và những con kiến đến và đi. Sự bình đẳng của vạn vật (các pháp) đang thật sự trở nên rõ ràng với chúng tôi.

Một ai đó hoặc một thứ gì đó luôn đi qua, và chúng tôi có thể nhìn lại và nói “Ồ, đó chẳng phải là gì cả. Bây giờ nó như là một giấc mơ đối với tôi vậy”. Có cái gì không phải như thế ? Và ai là người vẫn tồn tại sau mọi cảnh giới của sự việc, nhưng không biến mất hoặc lu mờ, không đến hoặc đi, không tăng trưởng hay thu nhỏ lại?

Sau năm tháng trên đường, những điều căn bản đơn giản vẫn sâu sắc và giá trị nhất: “tu hành chăm chỉ, kiên nhẫn. Không được xoay chuyển bởi các cảnh giới”. Phương pháp tốt nhất là thực hành nhiều và nói ít.


Người trí hay quan sát
Có tướng đều vô thường
Các pháp, không, vô ngã
Lìa hẳn tất cả tướng.
Những ngôn luận trong đời
Ðều do phân biệt cả
Chưa từng có một pháp
Sanh ra những pháp tướng
Chóng diệt, chẳng tạm dừng
Niệm niệm đều như vậy.

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Bồ Tát Vấn Minh


Đôi khi trên những đoạn đường dài của xa lộ 101 này, việc lạy bắt đầu có cảm giác như lạc vào một cơn bão tuyết ở những vùng núi cao. Sau một lúc, “không còn tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả” (Bốn Tướng). Mặt trời làm vỡ nút thắt và keo dính, và gió thổi làm sạch tâm trí như dòng nước chảy. Trong sạch và trống rỗng, sự bao la của biển cả và các ngôi sao giống như không gian yên tĩnh bên trong của chính bạn. Cảnh giới chư Phật phải giống như thế nào, nơi mà:


Thời thân đầy khắp như hư không
An trụ bất động khắp mười phương.

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Hiền Thủ


Đêm qua tôi có một giấc mơ, trong giấc mơ đó có vài người đàn ông tìm cách đột nhập vào xe hơi của chúng tôi và ăn cắp đồ của chúng tôi. Lúc đó chúng tôi đang bái lạy và đang làm những việc đều đúng đắn. Tôi nhìn thấy họ và đi về phía họ, và bằng cách nào đó, thuyết phục được họ không trộm đồ của chúng tôi.

Chiều nay, khi chúng tôi bái lạy dọc theo con đường bị cô lập này, tôi nghĩ rằng mình đã thấy từ khóe mắt có bóng dáng hai người – giống như ai đó đang nhảy qua hàng rào xa lộ và hướng về phía xe hơi của chúng tôi đang đậu. Chiếc xe ở phía bên kia của một ngọn đồi và bên ngoài tầm nhìn của chúng tôi. Kỳ lạ thay, cùng lúc đó, thầy Hằng Thật, vì lý do gì đó thầy không thể giải thích được, bắt đầu lạy nhanh hơn. Cảm nhận được có gì đó xảy ra, tôi đã đi bộ lên phía trước đến đỉnh đồi và nhìn thấy có hai người đàn ông đang kéo cửa ra vào và tìm cách mở cửa sổ của chiếc Plymouth. Khi họ nhìn thấy tôi đến, họ chạy trở lại băng qua đường xa lộ. Cái làm cho tôi sửng sốt kinh ngạc là họ cũng là những người xuất hiện trong giấc mơ của tôi – quần áo, đầu tóc, và tất cả mọi thứ.

Lúc còn cạnh các mỏ dầu, phía bắc thành phố Ventura, cũng có những giấc mơ tương tự về việc những chiếc túi ngủ của chúng tôi bị đánh cắp. Trong những giấc mơ ấy, chúng tôi đã phá vỡ quy củ và đưa các thiết bị cho những tên trộm như thể họ là những người bạn cũ. Hóa ra, vài ngày sau, chúng tôi đã thật sự phá vỡ quy củ (chậm trễ và nhiều chuyện) và ngày hôm đó, túi ngủ của chúng tôi bị đánh cắp.

Trong giấc mơ đêm qua, chúng tôi đã tuân thủ quy củ và đã ngăn chặn hành vi trộm cắp. Vào buổi chiều hôm sau, chúng tôi quyết định đi ra và bái lạy “đúng giờ”, thay vì bỏ mất thời gian để cạo râu tóc và tắm rửa. Chúng tôi đã không nói chuyện và đúng giờ hành lễ và bái lạy. Không có trộm cắp.

Có phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên? Có lẽ vậy. Tuy nhiên, sự việc không cho cảm thấy như vậy. Sự việc cho cảm thấy dường như chúng tôi đã kiểm soát và có trách nhiệm về những gì xảy đến với chúng tôi. Đó là một bài học thực tiễn về nghiệp và đạo lý “Tất cả do tâm tạo (Nhất thiết duy tâm tạo)”. Nhận quả không sai chạy mảy may hay sai trật nhỏ như sợi tóc. Đêm đó chúng tôi đọc câu kệ trong Kinh Hoa Nghiêm:


Các báo, tùy nghiệp sanh
Giả dối như giấc mơ
Luôn luôn thường diệt hoại
Như trước, sau cũng vậy.

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Bồ Tát Vấn Minh

 

 

Hằng Thật - Tháng 9 năm 1977

Tâm gặp tập khí


(Những dòng sau đây được viết ngay sau chuyến viếng thăm chùa Kim Luân vừa qua của chúng tôi – dịp cuối tuần đầu tiên của tháng 9. Phần lớn đã thay đổi kể từ lúc đó. Chúng tôi đang ở phía trên thành phố Ventura trong chiếc xe của một cư sĩ đang lái quay trở lại thành phố Los Ageles để gặp Hòa Thượng thêm một lần nữa. Dưới đây là suy tư của tôi từ chuyến thăm vừa qua).

Khi chuyến đi bắt đầu, sự phòng thủ của chúng tôi với thế giới của thành phố Los Ageles rất cao. Lần đầu tiên trở lại Kim Luân sau một tháng ở bên ngoài đã cho thấy sự căng thẳng của chúng tôi. Quay trở ra ngoài lại và chúng tôi cảm thấy bớt căng thẳng hơn, và thật hơn. Cả hai chúng tôi đã có một dung tích lớn hơn để bao trùm “thực tế”. Lần thứ hai quay trở lại Kim Luân còn rõ ràng hơn. Chúng tôi phản ảnh về việc chuyển từ công việc đơn độc căng thẳng đến một môi trường hoàn toàn xã hội. “Người tu hành không bị cảnh chuyển”. Bắt đầu cảm thấy uyển chuyển hơn, thực tế hơn trong cả hai thế giới. Quay trở lại các mỏ dầu và chúng tôi bị thổi bay và lãng phí kim quang (ánh sáng vàng). Bị bệnh, hồi phục và tiếp tục. Bỗng nhiên, có một chuyến thăm bất ngờ của Sư Phụ và chùa Kim Sơn Thánh Tự đến thành phố Santa Barbara. Chúng tôi thực sự khao khát muốn cho những người bạn cũ thấy chúng tôi đang làm gì, cảm thấy như thế nào khi ở ngoài. Một món quà năng lượng đến từ Sư Phụ cùng với chuyến thăm. Tiếp theo là một chuyến đi bất ngờ trở lại chùa Kim Luân, sáng suốt hơn, quá trình chuyển đổi bớt gập ghềnh hơn. Nhận thức về việc không muốn phóng đi năng lượng. Đấu tranh với những dục niệm, sử dụng phương pháp đó, một liều lượng khác của năng lượng kim quang.

Lái xe trở lại đường Hollister, sự căng thẳng gia tăng khi chúng tôi vượt qua thành phố Ventura. Cảm thấy trần trụi khi chúng tôi đến nơi. Buông tất cả những tấm khiên phòng thủ xuống. Cái nào thực tế hơn? Mọi cảnh giới đều là tâm gặp tập khí. Hãy ở giữa với ánh sáng; hãy từ từ, cẩn thận và im lặng và mọi chuyện sẽ ổn. Bạn sẽ chiến đấu với tham dục ngay khi nó đến.

Cảm thấy lạ lẫm trong tấm y áo khi ở bên ngoài trạm xăng sau khi cảm thấy hoàn toàn như ở nhà trong tu viện với cùng tấm áo ấy. “Khoan đã. Mình đang làm gì ở đây vậy?” Không nhà. Nhìn chiếc xe hơi và nó giống như ngôi nhà thân thương không nơi chốn. Chúng tôi quay trở lại trung tâm. Ở giữa và đi về phía Sự thật và không ai có thể làm hại bạn. Sử dụng kiếm trí tuệ để hàng phục các niệm của bạn và đừng để cho âm thanh của bánh xe của chính bạn khiến bạn nổi điên lên. Hãy nỗ lực. Tất cả đều ở đó, hãy làm đi.

 

Hằng Triều - 28 tháng 9 năm 1977

Trẻ em từ nhận thức có sẵn nhận ra sự thật này


Khi sự nghi ngờ và vọng tưởng bu đầy, tôi hình dung ra cha mẹ, và sau đó là tất cả chúng sanh mà tôi đã từng gặp hoặc biết. Tôi nhớ đến lòng tốt của họ và cảm nhận sự sợ hãi và đau khổ của họ như chính của tôi. Tôi nghĩ về cái nợ của tôi và cơ hội tôi có để trả nợ cho tất cả .

Tôi hình dung Hòa Thượng và đánh giá về sự thiếu tinh tấn, thiếu thành tựu và thiếu trí tuệ từ bi của tôi. Hòa Thượng trụ trì cho tôi sự kiên nhẫn và thắp sáng Đạo. Cha mẹ tôi gây dựng vững chắc cho tôi gốc rễ và sự may mắn. Cả hai đều “giúp hồi lực” cho thệ nguyện của tôi để “giúp đỡ và hỗ trợ chúng sanh ở khắp nơi”, và để tôi “cố hết sức mình”.

Cha mẹ và Sư Phụ đã cho đi và hy sinh quá nhiều với tinh thần vô ngã! Làm sao tôi có thể lãng phí thời gian mắc vào các tư tưởng nhỏ nhen và ô uế? Hãy đi tiếp, Hằng Triều, chỉ làm việc thiện, đừng làm sai. Hãy cúng dường bằng hành vi của mình và thanh lọc tâm ý. Trong mỗi cử động “đi, đứng, nằm ngồi”, thanh lọc tâm ý.

Tôi có thể nhớ đến “thiền” lúc còn là một đứa bé. Cái "thiền" đó bao gồm việc nhìn chằm chằm vào một chỗ hoặc nhắm mặt lại, cố gắng không để cho bất kỳ suy nghĩ hay hình ảnh nào khởi lên. Tôi cố gắng làm tất cả mọi thứ bên trong tôi “hành xử có ý thức và yên tĩnh”, giống như bùn ở đáy ao nước trong. Nó thật vui, là một trò chơi. Mỗi khi một ý nghĩ hay lời nói hay hình ảnh khởi lên, tôi sẽ phải bắt đầu lại. Đi xe hoặc ngồi trong nhà thờ, vào ban đêm hay buổi sáng khi mọi thứ đều yên tĩnh và vẫn còn ngủ là những thời điểm tuyệt vời nhất.

Tôi biết những đứa trẻ tạo ra những thần chú của riêng chúng. Chúng “giữ tâm” bằng những âm thanh và âm tiết lặp đi lặp lại nghe có vẻ như “vô nghĩa” với người lớn. Bất cứ khi nào chúng cảm thấy căng thẳng hoặc cần sự định tâm, những âm thanh tự động hiện lên. Những đứa trẻ khác tạo ra những động tác bàn tay và ngón tay dường như vô nghĩa, lặp đi lặp lại kiểu mẫu và quá trình này. Chúng sử dụng những kiểu mẫu này khi cảm thấy sợ hãi hoặc một mình. Vài đứa trẻ chỉ đếm 2-4-6-8, 1-3-5-7, v.v... theo chiều nghịch hoặc chiều thuận và đôi khi đồng bộ với bước đi của chúng.

Tất cả các kỹ thuật này chỉ là phương pháp tập trung và tĩnh tâm. Chúng tự nhiên và chỉ vào một kiến thức không thể học mà mọi thứ được tạo ra từ tâm, nghĩa là bên trong và bên ngoài, hoặc chủ thể và đối tượng, ta và người – những sự phân biệt – đều là giả.

Làm thế nào mà trẻ em từ nhận thức có sẵn nhận ra sự thật này và tìm mọi cách thật tự nhiên để tịnh hóa và sử dụng sức mạnh của tâm chúng? Làm thế nào mà chúng ta quên đi?

Tính theo nhóm, nhóm trẻ em là những người nhạy cảm nhất và đồng cảm nhất với Tam Bộ Nhất Bái. Tại sao? Người ta nói rằng trẻ em nhanh chóng tiến tu và phát triển sự thâm nhập về tâm linh (thần thông) vì chúng không bị ô uế bởi ham muốn tình dục như người lớn. Không bị ràng buộc bởi cảm xúc tình dục và nỗi sợ, chúng bớt đi một sự bám chấp to lớn cản trở tự tánh của chúng, che mờ tâm thanh tịnh của chúng.

Điều này có vẻ thật sự đúng. Hầu hết mọi người mô tả sự thay đổi của tuổi dậy thì rất khủng khiếp và khó khăn, được đánh dấu bởi sự “mất mát” và đau đớn. Khi ham muốn tình dục thống trị tư tưởng và tinh thần, thì sự mê mờ và sự mất điều hòa sẽ đi tiếp theo sau. Nếu một người có thể xoay ngược quá trình này - “hồi quang phản chiếu”, tức là, không bị ham muốn tình dục điều khiển, thì người đó sẽ sớm bắt đầu “nhìn thấy” lại, và là đang trên con đường giác ngộ. Trong Đạo Đức Kinh có nói rằng:

“Cho nên, thường không ham muốn mới thấy được chỗ vi diệu; kẻ thường ham muốn chỉ nhìn thấy phía ngoài” (1).

Nếu bạn không thể xoay chuyển ham muốn tình dục, bạn sẽ ở trong bụi trấn và chìm đắm, phải chịu khổ trong vòng luân hồi. Không có bí mật lớn hay món quà đặc biệt về điều này. Đó chỉ là dụng công chăm chỉ và hành trì. Nó không dễ dàng, như thầy Hằng Thật và tôi đang khám phá ra như vậy. Nhưng nó không phải là điều không thể, và bạn càng tu hành, nó càng dễ hơn. Học cách ngăn chặn cái rò rỉ đó giống như trở thành đứa trẻ lần nữa. Điều này thực sự thú vị và ngày nào cũng đầy những điều bất ngờ thú vị.

 

Ghi chú:

(1) Nguyên văn Hoa ngữ trong Đạo Đức Kinh:

故 常 無 欲 以 觀 其 妙; 常 有 欲 以 觀 其 徼.

Cố thường vô dục dĩ quan kỳ diệu; thường hữu dục dĩ quan kì kiếu.

 

Hằng Triều - 30 tháng 9 năm 1977

Con đường thế gian không đi đến đâu


Những cơn gió lạnh, giật từng cơn – những cơn gió giật mạnh thổi cả ngày lẫn đêm.

Thầy Hằng Thật và tôi ngồi xổm trên một sườn đồi lạnh giá trước khi bình minh lên, nhìn ra phía đại dương và bờ biển gồ ghề. Một ánh sáng mờ màu đỏ phía chân trời hướng đông chầm chậm xuyên qua bầu trời đen. Sau đó, trong khi khâu vá dưới ánh đèn dầu sau thời công phu khuya, một ý nghỉ đã xảy đến với tôi “Ta từng luôn muốn sống như thế này. Và bây giờ ta đang như vậy! Thật không thể tin được!”

Cơn gió bắc lạnh xé da này đã giúp không khí và cảnh vật hiện ra rõ hàng dặm. Mọi thứ đều sạch và rõ nét. Không có sự ẩm ướt dinh dính hay khói sương. Được tẩy rửa và tịnh hóa bởi một cơn gió rét buốt, chúng tôi lạy xuyên qua, cảm thấy nhẹ nhàng và rõ ràng.

Hạnh đầu đà lợi ích, “các khổ hạnh”, cũng tác dụng giống như vậy. Các khổ hạnh giúp tránh xa những dính mắc âm tính và bụi “khách” (khách trần) do tham dục mang đến. Trong Đạo Đức Kinh có nói:

Sắc năm màu làm ta choáng mắt,
Thanh năm cung ngây ngất lỗ tai.
Năm mùi tê lưỡi mềm sai,
Ruổi rong săn bắn, lòng người hóa điên.
Của hiếm có ngả nghiêng nhân đức

(Chương 12 - Kiểm Dục)


Cái gì là “khổ hạnh”? Tổng cộng có 12 khổ hạnh mà Đức Phật đã khuyên dạy, chẳng hạn: mặc áo choàng làm bằng mảnh vải rách khâu lại, khất thực, ngày ăn một bữa vào giờ ngọ, ăn vừa đủ hoặc ăn ít, ở ngoài trời, không ngủ nằm, ở nơi thanh vắng (a lan nhã). Tại sao gọi là “khổ”? Vì nó giống như khi bạn bị bệnh, thường việc chữa bệnh lúc đầu đau đớn, thuốc giải bệnh rất đắng. Trong Kinh Pháp Bảo Đàn có nói: “Thuốc đắng hay trừ được bệnh khổ”.

Trước khi xuất gia, tôi thực sự rất sợ những khổ hạnh này. Tôi sợ việc từ bỏ thức ăn ngon và quần áo tốt đẹp của tôi, sợ ăn một bữa mỗi ngày, và sợ ngủ ngồi. Tôi đã có những giấc mơ không bao giờ có thể ăn dâu tây hoặc bánh ngọt chiên (donuts) nữa. (Sao tôi có thể sống thiếu bánh ngọt chiên được chứ?). Nhưng nước cho ta bài học khi bị ướt và lửa thì cho bài học khi bị cháy phỏng, “lợi ích” của khổ hạnh nằm ở việc thực hành khổ hạnh. Làm sao tôi từ lâu nay cứ nghĩ rằng sự hiểu biết chân thật là một “hành trình tri thức” tách biệt kinh nghiệm trực tiếp và nỗ lực dụng công? Thật đơn giản làm sao! Trong Phật giáo, có vô vàn cách để kinh nghiệm trí tuệ vô tận. Một trong bốn thệ nguyện của Bồ Tát là, “pháp môn vô lượng thệ nguyện học”.

Những phương pháp tương tự, “pháp môn”, mà Quan Âm Bồ Tát sử dụng để “thâm nhập trí tuệ thậm thâm” có sẵn cho bất kỳ ai muốn thử. Đó thực sự là một cái gì đó! Sự hiểu biết không nằm ngoài việc làm - "Thực hành và cảm ứng quyện lẫn vào nhau," và bất nhị nguyên (không hai). Đây là viên mãn, vô hạn và vô thượng. Đây là Phật giáo. "Tuy có những tên gọi khác nhau, nhưng đều có một bản thể."

 

Hằng Triều - Ngày 1-3 tháng 10 năm 1977

Nếu có thể đoạn diệt dục niệm, con có thể tiến lên


Những ghi nhận và suy nghĩ ngẫu nhiên.

Ngay khi đến nơi (muộn) chúng tôi vào trong một chiếc xe với Sư Phụ, Kuo Jing, và Kuo Hsiang và viếng một ngôi chùa Phật giáo khác ở nơi nào đó ở Los Angeles. Thầy Hằng Thật, Hòa Thượng, và tôi ngồi ở hàng ghế sau. Tôi vụng về với lời nói và cảm xúc, cố bày tỏ sự bực bội và căng thẳng của tôi vào tháng vừa qua bằng rất nhiều cảm xúc và ít sáng suốt. Bàn tay của Sư Phụ đặt trên đầu gối tôi, và với bàn tay kia, ngày khiến tôi ngạc nhiên khi giơ lên xoa đầu tôi. Một lát sau Hòa Thượng lại làm lần nữa, nhẹ nhàng kéo những sợi tóc dài khoảng một phân và xoa đầu. Tôi chối không có bất kỳ suy nghĩ gì về bạn gái tôi. Sư Phụ mỉm cười. Tất cả mọi thứ đều dịu mát và bị chế phục, ngọn lửa lắng xuống. Sau đó Hòa Thượng đưa tay xoa đầu thầy Hằng Thật và nói “Nó đang chín dần”.

Hỏi: Sư Phụ, khi ở bên ngoài Bồ đề đạo tràng, chúng con nên nương tựa vào cái gì?

Hòa Thượng: Quy củ, giới luật. Ngay khi con bắt đầu tu hành, nếu con sai một ly, con sẽ đi xa một dặm.

 

Tình dục và Tu hành.

Hỏi: Lậu thoát là gì?

Hòa Thượng: Chúng còn hơn cả tập khí bất thiện. Chúng là dâm dục. Nếu mọi lúc đều không có niệm dâm dục, thì đây là “đoạn diệt lậu thoát”... "Công phu" thực sự là kiểm soát thứ này, điều phục nó, thực sự buông bỏ nó... Điều tồi tệ nhất trên thế giới này là dục niệm. Nếu có thể đoạn diệt dục niệm, con có thể tiến lên. Nhưng không ai muốn làm điều đó.

“Ôi tôi cô đơn lắm” Nếu con có thể chịu cô đơn, ,đơn độc được, thì đó là điều tốt nhất.

“Nhưng người ta nói ‘Ôi thế này thì là một mất mát quá lớn lao, nếu tôi đoạn trừ nó (tham dục)..’ Đây là cách duy nhất để giải thích nó (lậu thoát). Mọi thứ khác đều chỉ là bề ngoài. Tất cả cá Kinh đều giảng về điều này, nhưng nó chỉ tạm thời; không ai biết được... Phiền não là gì? Phiền não đến từ lậu thoát. Khi con có ham muốn, nó dẫn đến tánh ích kỷ, và sau đó sự ích kỷ đưa đến sự tức giận ... Đây là điều cơ bản. Nếu con đáng lẽ nên đoạn trừ nó mà con không đoạn trừ, thì con sẽ gặp rắc rối. Người xuất gia nam và nữ không nên cọ xát đụng chạm nhau. Hãy giữ quy củ, nếu không con sẽ bị đọa”

Trong bữa thọ trai.

Hằng Triều: À! Con đã khởi một vọng tưởng nhỏ ...

Sư Phụ: A, giờ thì anh ta thừa nhận! Trước kia, khi ta hỏi anh ta ở trong xe, anh ta nói là không có, nhưng bây giờ anh ta nói có. Chỉ chút sai khác đó thôi cũng khiến mọi thứ khác đi.

Hằng Triều: Con bị những quả chanh liệng trúng, bạch Sư Phụ ." (qua Thầy Hằng Thật.)