Chinese | English | Vietnamese

Ngưỡng Vọng Đại Đức – Tưởng Niệm Ân Sư

Quả Quân (Hector) Wong

Trích dịch từ Tuyển tập In Memory of the Venerable Master Hsuan Hua - Quyển 3 http://www.drbachinese.org/online_reading/drba_others/memory3/contents_english.htm

http://www.drbachinese.org/online_reading/drba_others/memory3/teaching_english32.htm

 

Nguyện lực, tinh thần và giáo pháp của Hòa Thượng sẽ vĩnh viễn không bao giờ mất.


Trong hàng đệ tử của Hòa Thượng Tuyên Hóa, có rất nhiều người từng cảm ứng đạo giao với Ngài bằng nhiều cách khác nhau. Riêng bản thân tôi, từ khi quy y với Hòa Thượng vào năm 1950, lúc mười một tuổi, cho đến nay, tôi chưa từng có những kinh nghiệm đặc biệt hay sự cảm ứng kỳ lạ nào cả. Nhưng theo chỗ tôi hiểu, không có cảm ứng chính là cảm ứng thù thắng nhất, bởi vì “cảm ứng vi diệu thường xảy ra trong chỗ vi tế, khó thể nhận ra”.

Cảm ứng không nhất thiết phải là những sự việc rõ ràng như tai nạn hóa thành phước lành, hay tai họa bỗng biến thành vận may. Tuy vậy, trong hơn bốn mươi năm qua, vẫn có một vài chuyện khiến tôi ghi nhớ sâu sắc.

Tôi nhớ rằng ngay sau khi quy y, Hòa Thượng đã viết một câu để nhận xét về tính cách của tôi: “Tánh tình bướng bỉnh, rất nóng nảy.” Lúc đó tôi biết rằng mình cần phải sửa đổi cái tánh nóng nảy ấy. Nếu bây giờ tánh khí của tôi đã dịu bớt đi phần nào, thì tất cả đều nhờ những lời giáo huấn thường xuyên của Hòa Thượng.

Ngày ấy, tôi từng nghĩ rằng tánh bướng bỉnh là một ưu điểm. Mãi cho đến khi đọc Kinh Địa Tạng, đến đoạn nói rằng: “Chúng sanh ở Nam Diêm Phù Đề, tánh tình cang cường khó điều phục, khó giáo hóa,” tôi mới chợt hiểu rằng chính cái tánh bướng bỉnh ấy là một trong những nguyên nhân khiến chúng ta khó thoát khỏi cõi Ta Bà. Nhờ vậy, tôi mới thật sự hiểu được ý chỉ của Hòa Thượng: Ngài mong tôi trở nên ôn hòa hơn, bớt chấp ngã, bớt cố chấp với ý kiến của mình. Chẳng phải Hòa Thượng thường nói: “Việc gì cũng tốt cả.” sao?

Ai cũng biết Hòa Thượng có khả năng biết trước sự việc. Vì vậy, khi khoảng mười lăm hay mười sáu tuổi, tôi cũng từng hỏi Ngài:

“Thưa Sư Phụ, tương lai của con sẽ như thế nào?”

Hòa Thượng nhìn tôi và chỉ nói một câu ngắn gọn:

“Chỉ cần giữ lòng từ bi.”

Ngài không nói thêm gì nữa, và tôi cũng không hỏi thêm. Nhưng chỉ vài lời ấy thôi đã trở thành lời nhắc nhở suốt cả đời tôi. Đối xử với người khác, chỉ cần giữ tâm hiền lành và lòng từ bi là đủ. Chính đó là ruộng phước, tự nhiên sẽ chiêu cảm thiện duyên và quả lành. Không cần phải đi hỏi quỷ thần hay xem quẻ bói toán làm gì.

Không lâu sau đó, giống như nhiều người khác, tôi cũng vẽ một bức chân dung Bồ Đề Đạt Ma Tổ Sư, lại còn tự ý viết thêm vài câu tán thán, thực ra là thừa thãi:

“Bạn thấy người này trông giống ai?
Người ta bảo là Tổ Đạt Ma.
Từ Tây Thiên sang Đông Độ một mình đến,
Quay mặt vào vách chín năm ròng.
Ngộ suốt chân tâm, thấy bản tánh,
Vốn chẳng có việc, lại tìm việc.”

Hòa Thượng xem xong rồi nói:

“Nghe cũng có chút giống lời nói nhà Thiền, nhưng vẫn còn là kẻ ngoài cửa. Vì ngộ tâm tức là kiến tánh, vốn không phải hai việc khác nhau.”

Sau khi nghe vậy, tôi không còn dám nói năng tùy tiện nữa.

Năm 1962, Hòa Thượng rời Hồng Kông sang Mỹ. Đến năm 1966, tôi lại sang châu Phi sinh sống. Thời gian trôi qua, hơn mười năm tôi không được gần gũi Hòa Thượng. Mãi đến năm 1986, tôi chuyển đến Mỹ. Năm 1988, Hòa Thượng chỉ định tôi giảng Kinh Kim Cang tại Kim Sơn Tự. Trước đó, tôi thường qua lại giữa châu Phi và Mỹ. Mỗi năm tôi đến Mỹ hai lần, mỗi lần ở lại hai ba tuần. Mỗi lần như vậy tôi đều đến Kim Sơn Tự đảnh lễ Hòa Thượng.

Có một lần tôi đến đúng lúc Ngài đang giảng kinh, Hòa Thượng liền bảo tôi phiên dịch sang tiếng Quảng Đông. Sau buổi giảng, Ngài nói:

“Trước khi con trở về châu Phi, con có thể đến đây giảng cho mọi người nghe.”

Vì thời gian ở Mỹ của tôi có hạn, nên lúc ấy tôi chỉ có thể trao đổi Phật pháp một cách đơn giản. Đến lần sau quay lại, Hòa Thượng bỗng nói với tôi:

“Con hãy giảng Kinh Kim Cang.”

Tôi nghĩ thầm: Giảng kinh là việc rất nghiêm túc, không thể giảng một thời gian rồi bỏ dở. Sau khi suy nghĩ kỹ, tôi quyết định nghỉ công việc ở châu Phi, chuyên tâm học giảng kinh.

Khi bắt đầu giảng Kinh Kim Cang, Hòa Thượng dạy tôi:

“Không cần phải cố trở thành một người giảng kinh thật xuất sắc.”

Ngài cũng nói:

“Nhưng cũng đừng giảng quá đơn giản.”

Khi tôi đang giảng, Hòa Thượng thường ngồi bên ngoài cửa giảng đường lắng nghe.

Có một lần tôi hỏi:

“Bạch Sư Phụ, đệ tử không biết mình có giảng sai chỗ nào không?”

Hòa Thượng đáp:

“Khi con nếm được hương vị của nghĩa lý trong kinh, thì giảng thế nào cũng đúng.”

Tôi nói:

“Trước khi giảng con nghĩ mình đúng, nhưng không biết cái đúng đó có thật sự đúng hay chỉ tưởng là đúng nhưng thật sự là sai.”

Hòa Thượng nói:

“Chẳng phải con đã vượt qua cửa ải rồi sao?”

Những lời dạy ấy của Hòa Thượng đã ảnh hưởng sâu sắc đến tôi.

Sau nhiều năm trải nghiệm, điều tôi hiểu được là:

- Giữ tâm từ bi là tu phước.
- Không nổi nóng, giảm bớt chấp ngã, và đọc tụng – nghiên cứu kinh điển là tu huệ.

Tu phước và tu huệ chính là hai đề mục căn bản chính yếu của việc học Phật. Ngoài ra, những thứ khác đều là thứ yếu.

Trong Kinh Nhị Dạ, Đức Phật dạy: “Từ đêm thành đạo cho đến đêm nhập Niết-bàn, Ta luôn luôn nói về Bát Nhã.” Bát Nhã chính là trí tuệ vi diệu. Đức Phật thuyết pháp suốt bốn mươi chín năm, nếu xét qua ngũ thời, bát giáo, tam tạng, thập nhị bộ kinh, thì tất cả đều đang chỉ bày pháp môn trí tuệ để đạt đến giải thoát. Trong các bài tán thán chư Phật và Bồ Tát, câu kết thường là: “Ma-ha Bát Nhã Ba-la-mật-đa.” Nghĩa là dùng trí tuệ để đến bờ giải thoát bên kia. Từ đó có thể thấy trí tuệ quan trọng đến mức nào trong Phật giáo.

Phật giáo là giáo pháp của sự giác ngộ. Tu phước là để nuôi dưỡng trí tuệ. Nếu phước đức không đủ, thì trên con đường tu hành sẽ gặp nhiều chướng ngại; khi hoằng pháp lợi sinh cũng khó có duyên với chúng sanh. Cho nên làm việc thiện, tích lũy phước đức không phải để cầu thần thông, cảm ứng, hay phước báo trong cõi người và cõi trời, mà chỉ vì mục đích tự giác và giác tha. Chúng ta phải nhận rõ mục tiêu khi tu phước và tu huệ, không nên lẫn lộn gốc với ngọn, nếu không sẽ tự lầm mình và làm lầm người khác. Khi phước huệ viên mãn, thì có thể thành tựu Phật quả.

“Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, đều có thể thành Phật. Chỉ vì vọng tưởng và chấp trước nên chưa thành mà thôi.” Chư Phật đều dạy rằng học Phật là để minh tâm kiến tánh. Hòa Thượng đã chỉ cho chúng ta phương pháp. Tuy mỗi người hiểu khác nhau đôi chút, nhưng dùng trí tuệ phá vô minh chấp trước, và tu phước để nuôi dưỡng trí tuệ, đó là con đường chân chánh mà ai cũng có thể bước đi.

Người xưa nói:

“Sư phụ dẫn vào cửa, tu hành do mỗi người.”

Tuy ngày nay Hòa Thượng không còn hiện diện bằng thân tướng vật chất giữa chúng ta, nhưng nguyện lực, tinh thần và giáo pháp của Ngài sẽ không bao giờ mất.

Nguyện rằng chúng ta có thể tinh tấn dũng mãnh trên con đường Bồ-đề, cùng nhau tiến bước, không phụ lời dạy của Ân Sư từ bi.