English | Vietnamese

Con Đường Bên Trong

 

Các Bài Giảng Của Những Người Hướng Dẫn Thuộc Tổng Hội Phật Giáo Pháp Giới

 

HOÀ THƯỢNG HẰNG THẬT | TỲ KHEO HẰNG LAI

TỲ KHEO HẰNG LUẬT | TỲ KHEO NI HẰNG TRÌ

GIÁO SƯ MARTIN VERHOEVEN | GIÁO SƯ DOUG POWERS

 

Nguyên bản:

The Path Within

Published by Buddhist Text Translation Society,

Ukiah, California

The Path Within: Talks by Teachers of the Dharma Realm Buddhist Association

Copyright © 2024 Buddhist Text Translation Society,

Dharma Realm Buddhist University,

Dharma Realm Buddhist Association

Mục Lục:

Lời giới thiệu của Ban biên tập

Lời Tri Ân

Phát Bồ Đề Tâm - Hòa Thượng Hằng Thật

Tứ Diệu Đế: Phiền Não Là Bồ Đề - Tỳ Kheo Hằng Luật

Tâm Địa Thiền: Nghệ Thuật Cổ Xưa Của Việc Học Bằng Cách Trừ Bỏ - Martin Verhoeven

Mở Rộng Tâm Lượng: Sự Quán Chiếu Và Động Lực Của Bồ Tát - Hòa Thượng Hằng Thật

Cốt Tủy Của Công Phu: Nhiếp Tâm - Tỳ Kheo Hằng Lai

Những Gì Được Xem Là Tu Tập Tịnh Độ? - Tỳ Kheo Ni Hằng Trì

Tham Thiền Về “Tôi Là Ai?” - Tỳ Kheo Hằng Lai

 

 

(còn tiếp)

 

 

 

 

Lời giới thiệu của Ban biên tập

 

Sau khi kết thúc buổi học được đồng giảng bởi Pháp Sư Hằng Trì và Giáo sư Doug Powers vào lớp buổi tối, vài người trong chúng tôi quay trở lại ký túc xá của mình. Chúng tôi đã được truyền cảm hứng. Chúng tôi cảm thấy thật sự may mắn và nhiều phước lành khi có được cơ hội học hỏi từ những vị thầy cô như vậy. Vời những người mới thực hành Phật Pháp như chúng tôi, cơ hội để được học tập từ những vị tu hành lâu năm là có giá trị rất quý giá ngay từ chính việc này. Nhưng điều khiến cho những vị thầy cô này đặc biệt quý giá đối với chúng tôi chính là họ nói ngôn ngữ của chúng tôi và có cùng chung nền văn hoá với chúng tôi. Việc học hỏi từ họ mang Đạo Phật đến với đời trong mỗi cuộc đời của chính chúng tôi: đó không phải như một truyền thống xa lạ, từ một nơi khác. Mà đúng hơn là, những sự thực hành cũng như những đạo lý của Phật Giáo có thể dẫn dắt chúng tôi đến với đại từ bi và tự do chân thật ngay tại con đường bên trong của riêng mình.

Tuy vậy, cuộc thảo luận của chúng tôi trên đường trở về ký túc xá lại không phải là nói về nguồn cảm hứng này. Không. Chúng tôi đang suy ngẫm rằng làm sao mà số ít người trong chúng tôi lại có được cơ hội để học hỏi từ những vị thầy cô này. Pháp - theo tiếng Phạn có nghĩa là “sự thật” hoặc “chỉ dẫn” - đã tăng cường một giá trị cực lớn cho đời sống của chúng tôi và chúng tôi không thể thấy có bất kỳ niềm vui nào lớn hơn việc chia sẻ điều này với những người khác. Câu hỏi đặt ra vào buổi tối đó là: Nhưng bằng cách nào?

Buổi thảo luận lúc đêm khuya đó xảy ra vào vài năm trước và một nỗ lực cho câu trả lời này giờ đây nằm ngay trong tay bạn. Bạn tìm thấy trong tuyển tập này những trích đoạn từ những bài thuyết giảng bởi một số thầy cô lâu năm trong Tổng Hội Phật Giáo Pháp Giới, những người không bao giờ ngừng truyền cảm hứng cho chúng tôi. Chúng tôi hy vọng họ cũng truyền cảm hứng cho bạn như đối với chúng tôi vậy.

Chúng tôi đã lựa chọn những bài thuyết giảng dễ tiếp cận và thực tiễn. Hy vọng của chúng tôi là quyển sách này có thể là một lối vào cho những ai mới tiếp cận Đạo Phật và có thể đảm nhiệm vai trò như một người hướng dẫn trong việc thực hành Đạo Phật. Mặc dù vậy, chúng tôi không thể cam đoan với người hoàn toàn mới bắt đầu rằng mọi thứ sẽ rõ ràng dễ hiểu. Lời khuyên của chúng tôi là nếu có điều gì đó vượt quá suy nghĩ của quý vị, hãy chỉ tập trung vào những phần mà bạn hiểu. Qua thời gian, khi sự thực hành và sự hiểu biết của bạn đã phát triển, và rồi bạn quay lại khảo cứu những đoạn văn khó hiểu đó, bạn sẽ tìm thấy được mối liên hệ và các mảnh ghép sẽ khớp lại đúng chỗ với nhau một cách tự nhiên.

Theo một cách tương tự, chúng tôi hy vọng tuyển tập này cũng hữu dụng cho những người đã thực hành thâm sâu hơn. Những bài thuyết giảng trong tuyển tập này cung cấp nhiều mức độ thâm sâu mà không thể nào có thể thấu hiểu hết nếu chỉ đọc một lần. Chúng tôi khuyến khích bạn để ý xem xét xem cách nhìn của những người tu hành khác để có thể gia tăng kinh nghiệm của chính bản thân bạn. Có thể là một tư tưởng quen thuộc sẽ được khai sáng trong một phương thức mới; có thể một đạo lý mà trước đây không bao giờ hiểu nổi sẽ đột ngột bừng ngộ một cách không ngờ đến; hoặc cũng có thể bạn sẽ được đưa trở về sự đơn giản của việc thực hành.

Những bài thuyết giảng trong tuyển tập này thì khá đa dạng. Không có chủ đề bao quát nào cả - ngoại trừ việc áp dụng những lời dạy của Đức Phật, rõ ràng là như vậy. Tùy các bạn đọc tuyển tập này theo trình tự nào. Tuy nhiên, chúng tôi đã cân nhắc kỹ lưỡng cho phần trình bày các bài thuyết giảng và sắp xếp chúng theo trình tự bắt đầu với nhiều khái niệm và chuyển dần đến thực tiễn qua từng bài thuyết giảng, nhằm cung cấp cho người mới học một nền tảng vững chắc để bắt đầu cũng như cùng chia sẻ những nhận thức mà có thể những người thực hành lâu năm có thể cảm nhận được.

Chúng tôi hy vọng tuyển tập này sẽ trợ giúp bạn trên cuộc hành trình của chính mình; và sẽ nuôi dưỡng sự tăng trưởng trí huệ và lòng từ bi của bạn; và rằng cuối cùng nó sẽ đưa bạn trở về ngôi nhà thực sự của chính bạn.

 

 

Lời Tri Ân

 

Kể từ cuộc thảo luận đầu tiên, rất nhiều người đã tham gia vào việc thực hiện tuyển tập này. Thật là tuyệt vời khi được làm việc chung với nhau như những Đạo hữu. Danh sách những người đóng góp thì rất dài. Nhưng chúng tôi hy vọng nói ra rõ điều này là: Cám ơn tất cả mọi người! Chúng tôi đặc biệt gởi lời cảm ơn đến cô Meina Co vì sự xuất sắc của cô trong việc thiết kế các trang sách và bìa sách.

Chúng tôi không biết làm sao để bày tỏ được hết lòng biết ơn đối với Hòa Thượng Hằng Thật, Pháp Sư Hằng Lai, Pháp Sư Hằng Luật, Pháp Sư Hằng Trì, Giáo sư Doug Powers, và Giáo sư Martin Verhoeven – về việc thực hành Phật Pháp trong tất cả những năm qua, về việc chia sẻ trí huệ của các ngài, và về việc khuyến khích sự trưởng thành của chúng tôi. Và cùng với những thầy cô của mình, chúng tôi có cùng bày tỏ lòng biết ơn thâm sâu đến Hoà Thượng Tuyên Hoá, người quan trọng nhất trong việc mang Phật Pháp đến phương Tây.

 

Ban Biên Tập

 

 

Phát Bồ Đề Tâm

Hòa Thượng Hằng Thật

Một đoạn trích từ bài giảng giải Kinh Hoa Nghiêm mỗi tuần của Đại Đức Hằng Thật tại Chùa Berkeley, ngày 29 tháng 9 năm 2012.

 

Các vị Bồ Tát là những chúng sanh đã giác ngộ. Họ là những người vị tha, họ là những người có tâm lương thiện, họ là những người từ bi và vô ngã. Họ thuộc loại người giúp đỡ cho người khác trước khi giúp cho chính bản thân họ. Trong tâm của họ, giúp đỡ người khác chính là giúp đỡ chính bản thân mình, chẳng có gì khác biệt.

Vị Bồ Tát trong đoạn kinh văn này của chúng ta, trong Kinh Hoa Nghiêm, là người đang trong quá trình huấn luyện trong giai đoạn thứ ba (đệ Tam Địa), tại giai đoạn thứ ba trong mười giai đoạn1 - là người nam hay người nữ không quan trọng. Tại giai đoạn này, người này đã đang nhìn thấy chúng sanh trải qua tất cả mọi loại đau khổ bất hạnh. Thêm nữa, người này đang giảm thiểu ranh giới giữa bản thân mình và những người khác. Người này không chỉ dừng lại ở mức độ bề ngoài. Người này rất cảm thông với những người khác và người này thấy những người khác có thể mê lầm như thế nào.

Kinh Hoa Nghiêm dẫn dắt chúng ta qua suốt quá trình giác ngộ dần dần của người này. Từng bước một người này nhận ra rằng mọi thứ đang chuyển dịch, mọi thứ đều là ngắn ngủi nhất thời, vạn vật trên thế gian cũng như trạng thái của tâm đều nằm trong dòng chảy biến động không ngừng, chúng không ngừng chuyển động và biến đổi. Người này cũng để ý rằng khi chúng ta bám chấp thứ gì đó, khi chúng ta nắm chặt chúng, đặc biệt là những thứ chúng ta yêu thích, và sau đó chúng đi vào trong dòng chảy - chúng chuyển dịch và thay đổi - thì đó chính là nỗi đau. Nó đau đớn khi mọi thứ tan vỡ, khi mọi thứ trở nên tồi tệ, khi mọi thứ trở nên lão hoá đi, khi mọi thứ tan biến. Vì thế người này muốn đánh thức mọi người giác ngộ với thực tại đó, đến với bản chất chân thật của tất cả vạn vật là đều do duyên hợp.

Vì thế người đó thiết lập cho chính mình một việc khó làm là học cách đánh thức mọi người đến với thực tại đó. Câu trả lời của người đó chính là Phật Pháp2. Người đó suy nghĩ, “Phật Pháp chính là con đường. Tôi muốn mọi người học Phật Pháp bởi vì khi đó họ sẽ không còn quá bế tắc khi mọi thứ thay đổi. Họ sẽ có khả năng ứng phó với nó. Họ sẽ có khả năng tiếp nhận những chướng ngại gồ ghề trên đường đi, họ thích ứng và phản hồi và rồi buông bỏ khi cần phải buông lúc mà mọi thứ biến chuyển.” Đó là đoạn (Kinh văn) chúng ta nghiên cứu bây giờ. Bồ Tát nói rằng, “Phải rồi… Phật Pháp! Đó là những gì tôi muốn. Làm sao tôi học được Phật Pháp đây? Ai có thể chỉ dạy cho tôi? Tôi thật sự cần phải học Phật Pháp. Người nào đó hãy làm ơn nói cho tôi biết thêm với?” Người đó muốn học, bởi vì chỉ duy nhất thông qua việc học các phương tiện thiện xảo (Tiếng Phạn: upāya; Tiếng Trung Hoa: 方便 phương tiện) và rồi chỉ dạy lại bằng những phương tiện thiện xảo mà người đó sẽ có khả năng đánh thức mọi người.

Vậy nên, đối với Bồ Tát mọi thứ đã thay đổi. Đây thật sự là một bước ngoặt đối với Bồ Tát. Người đó nhận ra rằng nhờ việc học Phật Pháp mà người đó sẽ có khả năng cứu giúp. Phật Pháp là cái sẽ giúp đánh thức mọi người. Vì vậy, người đó cần phải học Phật Pháp.

Việc này giống như một bác sĩ đã học được những điều căn bản của sinh học, hoá học, vật lý, và cơ chế vận hành của cơ thể và rồi bây giờ thì đang học những kỹ thuật chữa lành. Người đó đang học cách áp dụng y khoa. Bồ Tát đang học về y học nội khoa và y học ngoại khoa. Người đó đang học về các phương diện quan trọng của tinh thần và cảm xúc tác động đến việc chữa lành và việc gây bệnh. Người đó càng học được nhiều phương pháp thì càng giỏi hơn trong việc giúp đỡ mọi người chữa lành và hồi phục khỏi bệnh tật. Vậy nên Bồ Tát ngay bây giờ là một vị bác sĩ Phật Pháp đang thực tập. Người đó hiện vẫn còn trong “trường y khoa”, nhưng ít nhất bây giờ thì người đó biết người đó cần gì; người đó hiểu được những điều căn bản, người đó biết được người đó cần những gì để có thể đối phó với nhiều loại bệnh khác nhau sẽ gặp trên con đường của người đó.


Ghi chú:

1. Có Mười Giai Đoạn (Thập Địa) hay Mười Cảnh Giới trên con đường thực hành tiến đến Phật Quả của một vị Bồ Tát. Giai Đoạn (Địa) thứ ba chính là Phát Quang Địa.

2. Những lời dạy hoặc những phương pháp thực hành (Pháp) được dạy bởi Đức Phật.

 

 

Tứ Diệu Đế: Phiền Não Là Bồ Đề

 Tỳ Kheo Hằng Luật

 Một bài thuyết giảng của Tỳ Kheo Hằng Luật vào buổi tối ngay trước khoá trì niệm Quán Thế Âm thất tại Vạn Phật Thánh Thành, ngày 26 tháng 03 năm 2016.

 

Gần đây, có người để ý thấy chúng tôi hiếm khi nói về Tứ Diệu Đế ở ngay tại Vạn Phật Thánh Thành3 (CTTB) và hỏi rằng liệu có phải là vì nó chỉ liên quan đến việc giải thoát cho riêng bản thân thay vì cho con đường Đại Thừa. Thực tế thì, giáo lý này cũng áp dụng luôn cho con đường Đại Thừa4. Ở tại CTTB, chúng tôi cũng thực hành Tứ Diệu Đế thường nhật mỗi ngày. Tối nay, tôi mong muốn chia sẻ những hiểu biết khiêm tốn của mình về Tứ Diệu Đế.

Diệu Đế Đầu Tiên đó chính là khổ - Khổ Đế. Thì khổ nghĩa là gì? Nói một cách đơn giản, bất cứ khi nào có người nào hoặc điều gì đó trái ngược với mong muốn của quý vị, làm quý vị phiền toái hay khiến quý vị buồn phiền, thì quý vị khổ. Nói theo cách khác thì, khổ chính là có vấn đề hoặc có khó khăn. Vì vậy, nếu như mọi thứ đều theo đúng mong muốn của quý vị và nếu quý vị có thể có mọi thứ quý vị muốn, thì chắc chắn là quý vị sẽ không có khổ. Tuy nhiên, điều này là không thể có được. Tại sao?

Bởi vì không có gì là thường hằng bất biến. Ví dụ, quý vị muốn luôn khoẻ mạnh, nhưng quý vị thường hay bị bệnh và vào bệnh viện; hoặc quý vị muốn có những mối quan hệ tuyệt hảo, nhưng quý vị lại là một người nhàm chán khủng khiếp hoặc rất khó chịu phiền phức; hoặc quý vị muốn có thanh xuân vĩnh cửu, nhưng mà quý vị già đi theo từng năm tháng; hoặc quý vị muốn giàu có nhưng mà quý vị lại nghèo túng. Điều này sẽ khiến quý vị cảm thấy thất vọng và buồn chán. Điều này dẫn đến khổ.

Cái khổ của mỗi người là khác nhau và mỗi cá nhân cảm nhận một cách khác nhau với nỗi khổ. Có những cái khổ nho nhỏ và do đó có thể chịu đựng được, trong khi đó có những cái khổ rất lớn và khó mà chịu đựng nổi. Vì vậy mức độ đau khổ của chúng ta và sự thấu hiểu về nỗi đau khổ là rất chủ quan. Mặc dù chúng ta khác biệt về giới tính, tuổi tác, chủng tộc, trình độ học vấn, cách được nuôi dạy, và tình trạng tài chính, tất cả chúng ta đều nếm trải đau khổ mỗi ngày trong cuộc đời mình. Đây chính là Diệu Đế Đầu Tiên - Khổ Đế.

Bởi đau khổ là điều rất phổ biến trong cuộc đời của chúng ta, vậy tại sao Đức Phật lại nói về khổ? Đức Phật nói về khổ là để cho chúng ta đối diện nỗi khổ với một tâm thái cởi mở. Điều này có nghĩa là chúng ta cần phải đối diện với các vấn đề và các khó khăn bằng sự can đảm. Xin đừng kháng cự hay từ chối đau khổ bằng những cảm xúc tiêu cực. Thay vào đó, chúng ta cần phải bình thản và đối diện với nó một cách trực diện, có vậy chúng ta mới thực sự giải quyết được những vấn đề và các khó khăn. Nếu như, bằng nỗ lực cố gắng kháng cự hoặc từ chối đau khổ, quý vị trở nên giận dữ, than vãn, nguyền rủa, trở nên buồn chán, bực bội hoặc bi quan, điều này chỉ giống như là việc xát muối lên vết thương - chỉ càng làm đau thêm thôi.

Chẳng những chúng ta không nên kháng cự hay từ chối đau khổ, mà chúng ta còn không nên né tránh đau khổ nữa. Ví dụ, để trốn tránh vấn đề và khổ đau, người ta uống rượu, dùng ma tuý, đi hộp đêm, thoả mãn các cảm giác của họ, và thậm chí là tự tử. Chẳng những chúng không giải quyết được vấn đề của quý vị, mà rốt cuộc quý vị còn có thêm nhiều vấn đề hơn nữa và còn đau khổ hơn trước đó. Điều này giống như trong một trận đấu tay đôi: chỉ có khả năng để thắng nếu như quý vị can đảm đối mặt với đối thủ của mình.

Khi Đức Phật còn là một vị hoàng tử và nhìn thấy nỗi khổ đau từ sự già nua, bệnh tật, và cái chết, ngài đã không say sưa bí tỉ trong cung điện ngày này qua tháng nọ để trốn tránh những điều đó. Đức Phật cũng đã không nguyền rủa và than vãn, hoặc trở nên giận dữ, âu sầu, hay buồn chán, ngài cũng đã không kháng cự hay từ chối đau khổ. Mà ngược lại, ngài đối diện nỗi khổ với lòng can đảm để mà chấm dứt vấn đề sanh tử.

Tuy nhiên, những người không hiểu Đạo Phật thì cho rằng Đạo Phật là bi quan bởi vì Đạo Phật giảng dạy về khổ, như là tam khổ, bát khổ, và vô vàn khổ. Mà ngược lại thì, Đức Phật nói về khổ là để cho chúng ta biết làm sao để thấu hiểu thâm sâu về nỗi đau khổ và rồi giải quyết nó với một thái độ tích cực. Cho nên, Diệu Đế Đầu Tiên là rất tích cực và có ý nghĩa.

Do vì tất cả chúng ta đều nếm trải những mức độ khác nhau của đau khổ, vậy làm sao để chúng ta đối phó và chấm dứt được đau khổ? Đầu tiên, chúng ta cần phải hiểu được đau khổ hình thành ra như thế nào. Đau khổ không đến từ hư không, nó có cội gốc của nó - có nhân và duyên của đau khổ. Đây chính là Diệu Đế Thứ Hai - nguồn gốc của đau khổ - Tập Đế.

Diệu Đế Thứ Hai chính là phân tích và thấu hiểu nguồn gốc của đau khổ. Việc này giống như là một người bệnh đến gặp người thầy thuốc để tìm ra căn bệnh của mình và nguyên nhân gây bệnh. Nguyên nhân của đau khổ là gì? Đó chính là tâm trí của chúng ta, bởi vì khi mọi người, mọi thứ, hay những hoàn cảnh không đúng theo mong muốn của chúng ta, chúng ta trở nên buồn phiền, và đây là khổ rồi. Bởi vì nguồn gốc của khổ là tâm trí của chúng ta, vậy đó là dạng tâm gì đây?

Chúng ta dính chấp vào ý tưởng về mọi thứ nên như thế nào hoặc mọi người nên hành xử như thế nào, và nếu những điều này không phù hợp với ý tưởng của chúng ta, chúng ta trở nên buồn phiền. Ví dụ, quý vị có thể đến sòng bài với ý định kiếm được một khoản tiền lớn. Ý định như vậy chính là nhân của khổ. Rồi sau đó, khi quý vị thua sạch hết tiền của mình, đó chính là duyên của khổ. Kết quả là, quý vị buồn phiền và sầu não. Do đó, ngay khi có nhân khổ, thì sẽ có quả khổ khi duyên của khổ được hiển bày. Đây chính là đạo lý của nhân quả.

Thỉnh thoảng chúng ta mê lầm hoặc hồ đồ về việc phải đạt đến những dạng hoàn hảo - điều này cũng là nhân khổ. Việc này gợi lại cho tôi một câu chuyện. Có một doanh nhân giàu có đi chu du khắp nơi, làm ra được rất nhiều tiền, và sở hữu rất nhiều dinh thự rộng lớn. Một ngày nọ, trên chuyến đi vì công việc ông ta cảm thấy rất mệt. Ông ta nhìn thấy một người đàn ông ngồi dưới một tán cây lớn ở phía chân đồi. Ông ta đến đó để nghỉ chân và hỏi người kia, “Anh sống bằng nghề gì?” Người đàn ông trả lời, “Tôi là một tiều phu.” Người doanh nhân nói, “Đốn cây trong rừng rất là cực nhọc. Tốt hơn là anh làm kinh doanh để kiếm được nhiều tiền.” Người tiều phu hỏi lại, “Nếu như tôi có rất nhiều tiền, thì sẽ có chuyện gì?” Người doanh nhân trả lời, “Nếu anh có rất nhiều tiền, thì anh có thể sở hữu rất nhiều dinh thự lớn, và rồi anh có thể hưởng thụ cuộc đời của mình.” Người tiều phu nói, “Ông thấy đó, tôi làm việc trong những ngọn núi xinh đẹp và thanh bình này, tôi hưởng thụ cuộc đời của mình rồi đó.” Câu chuyện này rất là đơn giản nhưng đạo lý của nó thì lại thâm sâu.

Có những người nghĩ rằng họ phải xinh đẹp hoặc giàu có hoặc có những hình thức thành tựu nào đó để được người khác ưa thích. Rồi thì họ sẽ được hạnh phúc. Hoặc là, họ có thể nghĩ rằng những người khác sẽ phải tôn trọng và ngưỡng mộ họ. Nếu có ai đó không thích họ hoặc không thể hiện tôn trọng đối với họ, họ cảm thấy đau đớn hoặc bị sỉ nhục. Tất cả điều này đều là nhân của khổ. Theo Đạo Phật, họ có một bám chấp cực mạnh vào ý tưởng của một cái tôi, cái bản ngã và sự mê lầm của họ rất là nặng nề. Vậy nên Đức Phật dạy chúng ta về Diệu Đế Thứ Hai, nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta phải thâm hiểu nguồn gốc của khổ để đối phó nó một cách thích hợp.

Diệu Đế Thứ Ba chính là sự chấm dứt nỗi khổ - Diệt Đế. Dùng ví dụ tương quan với bệnh tật thì, điều này nghĩa là có phương pháp chữa trị! Ngoài việc cho người bệnh sự tự tin và hy vọng hồi phục, người thầy thuốc đặt ra mục tiêu rõ ràng và phác đồ điều trị. Tất cả những điều này cung cấp năng lượng tích cực để hoàn tất mục tiêu. Đây chính là ý nghĩa của Diệu Đế Thứ Ba.

Diệt Đế được lập thành dựa trên Tập Đế. Nếu chúng ta thất bại trong việc thấu hiểu nhân và duyên thật sự của khổ, thì chúng ta sẽ có những ý tưởng sai lầm về sự chấm dứt nỗi khổ và đi vào đường hướng sai lầm. Rồi cuối cùng, chúng ta rốt cuộc có thể lãng phí thời gian và năng lượng, hoặc thậm chí tệ hơn là, chúng ta có thể nhận về những gì chúng ta không thích. Quý vị có thể nghĩ rằng, Sự chấm dứt nỗi khổ của tôi chính là trúng giải độc đắc 150 triệu đô la. Với rất nhiều tiền, tôi có thể tận hưởng cuộc đời mình theo bất cứ cách nào tôi muốn, không phải lo lắng hay có giới hạn nào cả. Tôi có thể theo đuổi giấc mơ của mình và sống thoải mái. Đó sẽ là sự chấm dứt nỗi khổ của tôi.

Tuy nhiên, Đức Phật nói với chúng ta rằng chúng ta không thể tìm được hạnh phúc bền lâu ở mọi thứ bên ngoài, bởi vì bất kể có điều gì xảy ra, chúng ta sẽ dần dần học được cách thích nghi với chúng. Nếu quý vị trúng độc đắc 150 triệu đô la, quý vị có thể mua một ngôi nhà mới thật to lớn, một chiếc xe hơi mới, quý vị có thể bỏ công việc nhàm chán của mình, mặc những bộ đồ sang trọng, ăn những món ăn đắt tiền - tất cả phương diện về đời sống vật chất của quý vị sẽ nâng cao một cách đáng kể. Nhưng trong vòng vài tháng, sự tương phản dần dần mờ đi và khoái cảm của quý vị phai dần.

Chuyện này xảy ra như thế nào? Khoái cảm của quý vị đến từ một sự gia tăng khổng lồ về sự giàu có. Tuy nhiên sau một vài tháng, sự thoải mái mới mẻ này đã dần trở thành tiêu chuẩn bình thường mới của cuộc sống hằng ngày. Sau đó thì quý vị coi chúng là điều hiển nhiên; quý vị lại muốn thêm nhiều tiền nữa và rồi quý vị lại trồng thêm nhân khổ khác.

Thậm chí tệ hơn nữa là, tiền bạc có thể gây ra cảm giác bất an bởi vì quý vị sợ bị lừa gạt, bị tống tiền, hoặc bị bắt cóc. Tiền bạc có thể tổn hại mối quan hệ của quý vị với gia đình và bạn bè. Một số người trúng giải độc đắc đã bị sát hại bởi người thân của họ vì tiền. Những người trúng giải độc đắc thường bị quấy rối đến nỗi nhiều người phải thuê người bảo vệ hoặc vệ sĩ riêng hoặc phải chuyển đi nơi khác, lẩn trốn, và kết thúc tất cả mọi mối quan hệ của họ. Mặc dầu họ có tiền, họ vẫn rất khổ sở. Họ lo lắng rằng bây giờ khoản tiền mà họ đang dựa vào, liệu nó có được an toàn trong ngân hàng, được đầu tư, hoặc cất dấu ở đâu đó, có thể sẽ suy giảm hoặc mất hết vào một ngày nào đó. Sau đó thì sao?

Trong nhiều quốc gia công nghiệp hoá, sự giàu có đã tăng gấp đôi hoặc gấp ba trong 50 năm qua. Chỉ số G.D.P.S đã tăng rất mạnh, nâng cao tiêu chuẩn cuộc sống của họ. Người ta bây giờ sở hữu những căn nhà lớn hơn, nhiều xe hơi hơn, những cái TV, máy vi tính cá nhân, và điện thoại di động. Họ có đủ khả năng để đi ăn uống ở ngoài tiệm thường xuyên hơn. Sức khoẻ và tuổi thọ trung bình của họ cũng được nâng lên. Tuy nhiên, mức độ hạnh phúc và chất lượng cuộc sống lại thay đổi rất ít ỏi, và lo âu trầm cảm thì đang trên đà gia tăng.

Để dứt trừ tất cả mọi nỗi khổ chỉ qua một đêm là rất khó khăn, bởi vì chúng ta có quá nhiều tập khí và bám chấp. Nó giống như là khi một người có nhiều loại bệnh. Khó để mà chữa trị hết tất cả một lần. Sự chữa lành cần phải được thực hiện từng bước một. Điều này tương tự với việc dứt trừ đau khổ. Ví dụ, có bốn quả vị thành tựu của A La Hán. Trong quá trình thực hành Bồ Tát Đạo, có Sơ Địa, Nhị Địa, Tam Địa, và vân vân, cho đến tới Thập Địa, Đẳng Giác, và Diệu Giác. Những ví dụ này thể hiện những mức độ khác nhau của sự tự do tự tại. Điều này giống như bất kỳ dự án xây dựng nào. Có rất nhiều phân đoạn xây dựng khác nhau trong suốt quá trình, đưa đến mục tiêu cuối cùng hoàn thành dự án.

Sau khi chúng ta đã đặt ra mục tiêu cuối cùng rõ ràng và các phân đoạn mục tiêu phụ, làm sao để chúng ta có thể đạt đến những mục tiêu này? Làm sao chúng ta có thể diệt trừ nhân của khổ và dứt khổ? Chúng ta cần có kế hoạch và phương pháp. Đây cũng giống như một người bệnh cần phác đồ điều trị để hồi phục. Đây chính là Diệu Đế Thứ Tư - con đường dứt khổ - Đạo Đế.

Kế hoạch để dứt khổ là gì? Bên cạnh việc thực sự hiểu rõ nhân của khổ và con đường đúng đắn để dứt trừ nó, chúng ta cũng cần phải thực hiện từng bước một và theo đúng trình tự thực hành. Chỉ có như vậy chúng ta mới có thể đạt được mục tiêu của mình. Khi chúng ta quy y5 với Hoà Thượng Tuyên Hoá6, ngài yêu cầu chúng tôi lạy Phật mười ngàn lạy để giảm thiểu những nghiệp chướng của bản thân mình, ví dụ như là thói kiêu ngạo. Ngài cũng yêu cầu chúng ta thực hành Lục Đại Tông Chỉ để tu luyện đức hạnh của mình làm nền tảng để trở thành một người tốt7. Sau đó, chúng ta có thể chọn Pháp môn thực hành cho mình, dù là hành thiền, niệm Phật, trì chú, hoặc tụng Kinh. Thì ý tưởng là sau khi quý vị đã tự hoàn thiện bản thân mình thành một người tốt, quý vị đắc được Phật Quả. Đây là điều mà Hoà Thượng Tuyên Hoá đặc biệt thiết kế cho chúng ta và nó chính là trình tự thực hành tốt nhất.

Diệu Đế Thứ Tư chính là con đường dứt trừ đau khổ. Có một người Phật tử Trung Hoa nói rằng, “Chỉ có duy nhất một con đường trở về cội nguồn, nhưng có rất nhiều phương tiện để đi đến.” Nói vậy có nghĩa rằng, vô số phương pháp thực hành trong Đạo Phật tất cả đều có tác dụng giúp chúng ta dứt trừ đau khổ và đạt được hạnh phúc. Tuy nhiên, trước tiên chúng ta phải hiểu được điều kiện của mình, cái duyên của mình, vậy thì chúng ta mới có thể chọn được phương pháp phù hợp, giống như là chọn một phác đồ điều trị thích hợp với bệnh của một người.

Mặc dù Tứ Diệu Đế bao gồm khổ, nguồn gốc của khổ, sự chấm dứt khổ, và con đường diệt trừ khổ, nhưng những đạo lý cốt lõi được kết hợp lẫn nhau thành một hệ thống hoàn hảo mà có thể được áp dụng cả cho việc liệu mục đích của quý vị là tự do tự tại cá nhân hay hay mục đích của quý vị là giúp cho vô vàn chúng sanh. Về mặt giáo Pháp, chẳng có “đại” hay “tiểu” thừa - sự khác biệt nằm ở tâm trí của quý vị thôi. Nếu quý vị có một tâm hồn vĩ đại, quý vị có thể làm lợi ích cho vô lượng chúng sanh bất kể quý vị thực hành Pháp môn gì.

Có người sẽ nói: “Đối diện nỗi đau khổ của tôi với lòng can đảm và một tâm thái cởi mở thì quá đau đớn, quá khó khăn. Tôi không thể làm được.” Người khác lại nói: “Trải nghiệm chấn thương tâm lý của tôi trong quá khứ là quá đau đớn để tôi phải đối diện với nó. Vậy thì làm sao để tôi có thể áp dụng được Tứ Diệu Đế?” Khi quý vị khởi lên câu hỏi như vậy hoặc có suy nghĩ như vậy, là quý vị đang áp dụng Diệu Đế Đầu Tiên rồi đó. Quý vị đang sẵn sàng đối diện với nỗi đau khổ của quý vị thay vì chạy trốn khỏi nó. Khi quý vị không còn né tránh hay phớt lờ những vấn đề này, chính là quý vị đang áp dụng Diệu Đế Đầu Tiên.

Tiếp theo, cố gắng tìm một không gian thoải mái, thư giãn cơ thể, và điều chỉnh nhịp thở để quý vị có thể bình tĩnh. Khi quý vị bình tĩnh rồi, quý vị có thể tra xét nhân và duyên thật sự của lý do tại sao quý vị không muốn đối diện với những chấn thương và trải nghiệm đau thương này. Sau khi quán xét thâm sâu và cẩn thận, quý vị sẽ tìm thấy rằng nguyên nhân nỗi đau được gây ra bởi sự bám chấp trong tâm trí của quý vị mà quý vị không muốn từ bỏ. Nếu quý vị có thể áp dụng nỗ lực kiểu này và thấu hiểu sâu sắc cái nhân thật sự cho khổ đau của chính quý vị, là quý vị đang áp dụng Diệu Đế Thứ Hai.

Khi quý vị hiểu rõ nguyên nhân thật sự cho khổ đau của mình là sự thiếu khả năng của quý vị để từ bỏ những bám chấp của chính quý vị, hãy cố gắng nghĩ về ai đó trên thế giới có trải nghiệm khổ đau tương tự mình và cuối cùng họ vượt lên khỏi chuyện đó và nay giải thoát khỏi nỗi khổ đau đó. Quý vị sẽ thấy rằng có rất nhiều người có cùng trải nghiệm tương tự hoặc những trải nghiệm còn tồi tệ hơn nhưng đã đối diện những bất hạnh của họ với lòng can đảm và bây giờ sống an bình. Quý vị cũng có thể cố gắng từ bỏ những bám chấp của mình và diệt trừ cái nhân cho nỗi khổ của chính quý vị.

Việc này không thể xong chỉ qua một đêm, vậy nên quý vị có thể sẽ muốn đặt ra các phân đoạn mục tiêu phụ theo từng bước một để dễ dàng đạt được hơn. Đây chính là sự áp dụng của Diệu Đế Thứ Ba, sự chấm dứt nỗi khổ. Khi quý vị có những mục tiêu và phương hướng, quý vị có thể lập kế hoạch ngắn hạn, trung hạn, và dài hạn. Nếu quý vị đạt được các phân đoạn mục tiêu phụ của mình theo đúng trình tự bằng cách dùng những phương pháp phù hợp, rốt cuộc quý vị sẽ đạt được mục tiêu cuối cùng. Đây chính là đang áp dụng Diệu Đế Thứ Tư.

Đạo lý của Tứ Diệu Đế là tương tự trong Thiền Tông8 dạy rằng “phiền não là Bồ Đề9.” Chúng ta bắt đầu bằng việc đối diện với phiền não của mình bằng tâm thái cởi mở, không tránh né hoặc từ chối chúng. Sau đó chúng ta quán xét và thấu hiểu cái nhân và cái duyên của những phiền não đó. Tiếp theo, chúng ta thiếp lập mục tiêu đúng đắn, tầm nhìn, và những phân đoạn mục tiêu phụ cho những giai đoạn khác nhau để dứt đoạn phiền não. Cuối cùng, chúng ta thực hành theo trình tự đúng đắn để kết thúc phiền não và quay trở về lại bản tánh trong sáng và tinh khiết của chúng ta. Theo cách này, chẳng phải phiền não đã được chuyển hoá thành Bồ Đề hay sao?

 

Ghi chú:

3. Vạn Phật Thánh Thành là một trung tâm Phật Giáo lớn và là trụ sở của Tổng Hội Phật Giáo Pháp Giới toạ lạc tại Ukiah, California.

4. Hành giả của Đại Thừa (Mahāyāna) thực hành theo Bồ Tát Đạo, đưa đến Phật Quả, nhằm mục đích giúp cho những người khác cũng được giác ngộ.

5. Quy y chính là một nghi thức trang trọng, mà ở đó một người quy y với “Tam Bảo”: Phật, Pháp, Tăng. Tăng chính là Tăng Đoàn của chư tăng ni.

6. Xem trong “Sơ Lược Tiểu Sử Của Hoà Thượng Tuyên Hoá”

7. Lục Đại Tông Chỉ là: 1) không tranh; 2) không tham; 3) không cầu; 4) không ích kỷ; 5) không tự lợi; 6) không nói dối.

8. Thiền là viết tắt của chữ Thiền-na, một phiên âm tiếng Phạn của chữ dhyāna, ý nghĩa chính của dhyāna có thể được xem như là thiền. Trong Thiền Tông của Phật Giáo, hành thiền là quan trọng nhất. Thiền Zen Nhật Bản khởi nguồn ban đầu từ dòng Thiền Tông với ký tự Nhật Bản cho chữ Thiền được phát âm là “Zen”.

9. “Bồ Đề” là một chữ tiếng Phạn có nghĩa là “giác ngộ”.

 

 

Tâm Địa Thiền: Nghệ Thuật Cổ Xưa Của Việc Học Bằng Cách Trừ Bỏ

 Martin Verhoeven

 Một đoạn trích từ bài giảng Kinh Lục Tổ Pháp Bảo Đàn mỗi tuần của Giáo Sư Martin Verhoeven tại Chùa Berkeley, ngày 19 tháng 09 năm 2008.

 

Cách thực hành toạ thiền mà chúng ta đang thực hành đây, đúng hơn có thể được gọi là một môn khoa học truy vấn, và đã có rất lâu đời rồi, nó có cội nguồn sâu xa từ thời thượng cổ. Chúng ta biết điều này là hiển nhiên bởi vì chúng ta đã tìm thấy những bức tượng và các hình tượng được miêu tả trong tư thế này có niên đại từ một hoặc hai ngàn năm trước thời Đức Phật.

Tượng kim cang toạ, tư thế kim cang, có trước thời của Đức Phật một ngàn năm hoặc hơn. Không ai thực sự biết được tư thế này bắt đầu từ khi nào. Nó lâu đời đến như vậy! Tuy nhiên, chúng ta có một ý niệm khá rõ ràng về môn thực hành này là bởi vì nó đã được kế truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Tôi muốn nói rằng về căn bản thì nó là nền tảng tối trọng yếu và là hình thức truy vấn uyên thâm mà nhân loại chúng ta có thể nắm bắt. Nó là cấp độ tư duy cao nhất mà chúng ta có khả năng. Thế nhưng, nó đồng thời cũng giản dị đáng kinh ngạc và trực chỉ. Quý vị không cần phải mua sắm bất cứ cái gì và nó cũng không yêu cầu bất cứ khí cụ đặc biệt nào. Quý vị có thể tập luyện nó bằng việc chỉ dùng cái cùng với bạn đến thế giới này - à, quý vị cũng sẽ cần quần áo đó, vì mặc dù quý vị đến với thế giới này mà không có mảnh y phục nào cả, thì ở đây chúng tôi không thực hành thiền loã thể! Nhưng mà quý vị đã đến đây với cái mà người xưa gọi là “bản lai diện mục của mình”, và tìm thấy, hoặc khám phá ra được “bản lai diện mục” của quý vị chính là mục đích của thiền.

Khi lần đầu tôi đến tu viện, tôi đã hỏi Sư Phụ của mình, “Thầy thiền như thế nào? Thầy làm ra sao?” Tất nhiên là, lúc đó tôi nói Tiếng Trung Hoa rất bập bẹ còn ngài thì không nói Tiếng Anh, nhưng tôi không cho rằng đó là lý do cho câu trả lời mà tôi nhận được lúc đó. Ngài nói một cách đơn giản, “Làm như vậy đó!” và chỉ tay vào bức tượng. Nhưng tôi đã cố ngồi với hai chân xếp lại như của bức tượng và tôi đã không thể làm được như vậy. Tôi thậm chí còn không thể ngồi vào tư thế bán liên hoa toạ cho đúng, huống chi là tư thế liên hoa toạ (kiết già). Vì vậy việc bắt chước tư thế của bức tượng, ban đầu tưởng rất là đơn giản, hoá ra lại khá là khó khăn. Nhưng trong chính bức tượng đó, trong chính hình thức được bức tượng truyền đạt, bao hàm được những kỹ thuật và phương pháp thật sự của cách thực hành này. Những đoạn kinh văn có giúp giải thích cho điều này, nhưng chỉ duy nhất bằng việc thông qua thực hành thật sự thì chúng ta mới chứng nghiệm được nó. Tôi đã nhìn ngắm bức tượng thật kỹ, bắt đầu chăm chú nghiên cứu bức tượng; và tôi nhìn sư phụ của mình, và dần dần thông qua việc nhìn ngắm và cố gắng bắt chước thì tôi đã bắt đầu kết nối được với nó, cả bên trong lẫn bên ngoài. Kết nối với bức tượng về mặt mỹ quan, về mặt cảm xúc, và về mặt tinh thần, rồi quý vị sẽ có khả năng cảm nhận được những điều căn bản của cách thực hành này này. Đó chính là điều rất phi thường. Kinh văn có thể bị thất lạc, có thể bị thiêu rụi, nhưng tượng thì vẫn còn, và tượng thực hiện chức năng như một gương mẫu, một hiện thân không lời, cho ba phương diện thiết yếu của công phu hành thiền đó là: giới, định, huệ.10

Tôi không có ý đề xuất rằng việc nghiên cứu kinh văn là không quan trọng, hoặc có thể bỏ qua được. Chuyện đó là không thể. Kinh văn chính là một vị thầy thiện tri thức, nhưng bản thân việc thực hành công phu cũng là một vị thầy. Quý vị cần có cả hai vị thầy; như đôi cánh của chim. Tri thức của công phu này truyền hạ đến chúng ta theo hai phương cách. Một cái mà chúng ta có thể gọi là “truyền thống hiện thân truyền thừa”, trong đó có một sự trao truyền tri thức từ người sư phụ đến người đệ tử. Người đệ tử thông thạo công phu thực hành, trở thành một vị sư phụ, và rồi truyền trao tri thức đến cho người khác, và người khác nữa, qua suốt quá trình hàng ngàn năm. Và cái truyền thống hiện thân truyền thừa đó nối tiếp đến hiện tại, và hy vọng là sẽ nối tiếp đến tương lai. Rồi có một cái được gọi là truyền thống tiếp thọ. Chính là những lời chỉ dạy được ghi chép lại, hoặc được bảo tồn bởi quá trình ghi nhớ trong một dạng truyền miệng (truyền khẩu). Một ví dụ cho điều này chính là đoạn kinh văn mà bây giờ chúng ta đang nghiên cứu, Lục Tổ Pháp Bảo Đàn Kinh.11 Vậy nên, việc chúng ta đang làm ở đây mỗi Thứ Sáu chính là hoà quyện hai truyền thống này lại với nhau. Chúng ta đang tham gia vào truyền thống hiện thân truyền thừa mà tôi được học từ sư phụ của tôi, mà ngài đã được học từ sư phụ của ngài (và cứ thế tiếp tục, xa xăm tới thời cổ xưa), và, đồng thời thì chúng ta cũng đang liên kết nó với truyền thống tiếp thọ văn tự, bằng cách này đưa chúng vào mối liên quan đúng đắn: việc học dẫn lối cho việc thực hành; việc thực hành khai sáng cho việc học.

Tôi phải nói ngay đây rằng thiền không chỉ là một tư thế ngồi; mà là một lối sống. Kinh văn đã thuyết rõ ràng rằng quý vị không cần phải ngồi mới là thiền, mới giác ngộ được. Lời kinh cũng cảnh báo rằng quý vị sẽ đi lạc lối nếu quý vị quá bám chấp vào công phu ngồi thiền của mình, chỉ xem riêng việc ngồi mới là thiền, thay vì xem thiền như một lối sống, và đời sống hằng ngày trong đời quý vị đều là thiền. Đó là lý do tại sao chúng ta luôn cố gắng nhớ hai phương diện này. Công phu thực hành việc ngồi thiền không phải là định (tam muội). Nó không phải là thiền định. Nó không phải là sự giác ngộ. Nó là một bài tập thiện xảo mà với nó chúng ta tự kỷ luật bản thân và nó giúp chúng ta có một chỗ dựa trong một tiến trình lớn hơn của sự tự chuyển hoá bản thân. Ngồi chỉ thực sự cần thiết là bởi chúng ta đã mất đi bản tâm của mình, và không biết làm sao để tìm lại được nó.

Tri thức của công phu thực hành này đã được truyền miệng mà chưa từng được ghi chép lại trong suốt hàng trăm năm - coi như tính từ thời của Đức Phật. Mọi người tìm đến một vị sư phụ, họ học hỏi dưới sự chỉ dạy của vị thầy cô đó, họ học tập trực tiếp từ người hướng dẫn, và họ hỏi vị thầy cô đó những nghi vấn. Và cứ như vậy trong khoảng bốn hoặc năm trăm năm, không có bản ghi chép nào về công phu thực hành này. Bản ghi chép văn tự đầu tiên về thiền tông Phật Giáo chỉ bắt đầu xuất hiện vào thế kỷ trước Công Nguyên.

Còn điều nữa cần phải cẩn thận đó là nghĩ rằng môn học thuật tâm trí cổ xưa này là để huấn luyện bộ não, hoặc những hình thức đời mới của việc tăng cường trí nhớ, tăng khả năng lưu trữ thông tin, chức năng thần kinh, hoặc thậm chí là giảm căng thẳng. Theo Phật Giáo thì, tâm không phải là bộ não, mặc dù nó bao gồm luôn bộ não. Vậy nên chúng ta phải cẩn thận chỗ này. Một trong những công án thiền chính là câu hỏi: Tâm ở đâu? À! Nó ở đâu vậy? Tôi không biết!

Những ai trong các quý vị đã nghiên cứu Kinh Lăng Nghiêm hẳn là nhận biết được đây là cách khởi sự của toàn bộ cuộc trao đổi giữa Đức Phật và Tôn Giả Anan: Tâm của ông ở đâu vậy, Anan? Tâm ở bên trong chúng ta. Được, chúng ta hãy cùng nhìn xem. Không thực sự hoàn toàn ở đó sao? À! Thì như thế có lẽ là nó ở bên ngoài chúng ta. Không thực sự ở bên ngoài luôn sao? Hoặc có lẽ là nó ở bên trong bên ngoài chúng ta? Theo cách nói đương đại thì, tâm dường như là một “đặc tính phổ quát.” Đây là một cuộc truy vấn vào trong thứ gì đó rất là cơ bản, ấy vậy mà chúng ta lại thực sự biết rất ít về nó mặc cho tất cả những tiến bộ về tri thức của chúng ta. Nó tập trung vào những câu hỏi tối căn bản, những kiểu câu nghi vấn mà một đứa trẻ có thể hỏi: “Tôi là ai? Tôi đến từ đâu? Tôi sẽ đi về đâu? Tất cả mọi thứ này là gì? Có gì đó trước khi tôi được sinh ra không, có gì đó sau khi tôi chết đi không, và chúng ta nhận định gì về khoảng thời gian thoáng chốc ở giữa đó?”

Một lần nữa, hướng truy vấn này tiếp cận một môn khoa học, có lẽ là một môn “nội quán” khoa học, trong đó nó quan tâm không chỉ với những gì được quán sát, mà còn cả với người quán sát, và “phạm vi” của người đó. Nó có lẽ được định danh chính xác hơn là một môn khoa học của sự giác ngộ, hoặc như Kinh Hoa Nghiêm gọi nó là “sự mở rộng và thấu hiểu về tâm cùng mọi cảnh giới của tâm.” Và cả truyền thống truyền thừa và truyền thống tiếp thọ đều nói rằng có những câu trả lời có thể khám phá ra được đối với những câu hỏi đó. Những cái này thật sự là có khả năng biết được, nhưng chúng chỉ có thể được biết một cách trực tiếp bởi chính quý vị, hoặc như Lục Tổ nói rằng, “bởi chính quý vị, cho chính quý vị, trong chính quý vị.” Tri thức hiểu biết này không thể được trao cho quý vị bởi người khác. Nó cũng không chỉ đơn giản là được chấp nhận như một loại đức tin. Câu trả lời có thể - mà thực sự là phải được kinh nghiệm trực tiếp và biết được ngay lập tức.

Bài tập quán chiếu về thân, hơi thở, và kỷ luật tâm trí mà chúng ta gọi là thiền giúp sự tập trung rõ ràng hơn cho việc truy vấn đó. Nó kích hoạt một công cụ truy vấn tinh vi hơn, nhạy cảm hơn bên trong chúng ta vượt ra khỏi ngôn từ và suy nghĩ. Vậy nên trong loại khoa học này, quý vị vừa là nhà khoa học mà cũng vừa là đối tượng được nghiên cứu; vừa là nhà thí nghiệm mà cũng vừa là cuộc thí nghiệm. Tâm của chính quý vị là phòng thí nghiệm của quý vị. Tiến hành loại khoa học này thì rất rẻ, nhưng lại rất mực nghiêm ngặt. Quý vị không cần phải nộp đơn xin bất kỳ khoản tài trợ hoặc nguồn vốn nào cả. Quý vị đã có tất cả mọi thứ quý vị cần rồi. Tuy nhiên, phần nghiêm ngặt yêu cầu sự áp dụng nghiêm túc và cẩn thận của phương pháp đúng đắn. Chỉ đơn thuần học mà thôi thì khô cằn, nhưng thực hành mà không có học thì lại là mù quáng.

Điều thậm chí còn thú vị hơn nữa đó là: quý vị không cần phải ghi chú hoặc biên soạn dữ liệu. Quý vị cũng không cần phải công bố những phát kiến của mình để rồi chứng minh những phát kiến đó. Theo cách này, bộ môn khoa học của việc “thấy tánh”, là hoàn toàn ngược lại với tất cả mọi môn khoa học khác. Trong tất cả mọi ngành khoa học khác thì quý vị tích luỹ dữ liệu, cho chạy các thử nghiệm, và xây dựng một khối kiến thức. Nhưng với khoa học của việc hành thiền thì nó là một sự trái ngược hoàn toàn. Thay vì cộng thêm và tích luỹ, thì quý vị trừ bỏ. Trừ bỏ rồi lại trừ bỏ cho đến khi trống rỗng. Một bản văn có nói rằng:

Theo học, càng ngày càng thêm,

Theo Đạo, càng ngày càng bớt.

Bớt rồi lại bớt,

Đến mức vô vi.

Không làm mà không gì là không làm.

...

(Đạo Đức Kinh, chương 48)

 

Đó là cách mà chúng ta khai hoạt công năng (tâm thức) cao hơn. Sự cảm nhận tinh vi đó thực ra bị chướng ngại bởi sự tăng động, làm quá nhiều thứ. Sự thái quá làm trì độn và ru ngủ nó cho đến mức ngập chìm. Chỉ có cách duy nhất để kích hoạt nó là thông qua sự tịch tĩnh và buông xả. Chúng ta trừ bỏ, hoặc buông bỏ mọi thứ đang che lấp sự vận hành thông suốt của chân tánh chúng ta. Quý vị tháo mở đi những gì có ở đó thay vì chồng chất thêm nhiều lớp vào. Đó là lý do tại sao tư thế ngồi mà chúng ta thấy ở bức tượng là một tư thế biểu thị sự tịch tĩnh, tĩnh lặng, bình tĩnh, tối thiểu hoá dục vọng và tối đa hoá công năng cảm nhận.

Hầu hết thời gian chúng ta đang phóng chiếu những mộng tưởng, những lo sợ, và những khát vọng lên mọi thứ. Kiểu nó giống như là tâm của chúng ta đang chiếu một bộ phim mà tại đó các hình ảnh được phóng lên màn hình theo cái cách mà khiến cho nó có vẻ như thật. Nhưng công phu quán chiếu thì ngược lại. Nó đòi hỏi sự cảm nhận hơn là sự phóng chiếu. Tức là quý vị đang tắt công năng phóng chiếu. Bộ não, mắt, tai, mũi, lưỡi, và tâm quý vị lui về công năng tĩnh lặng cảm nhận. Và trong quá trình công phu thực hành của mình mà tới lúc quý vị đạt đến điểm viên mãn, tịch tĩnh thâm sâu, thì “vạn vật tự hiển lộ ra.” Do đó có câu: “Tâm tĩnh vạn vật tự yên.” Rồi đó là lúc quý vị nhận được câu trả lời cho những câu hỏi căn bản: “Tôi là ai? Tôi đến từ đâu? Tôi sẽ đi về đâu?” Quý vị không nghĩ ra câu trả lời; quý vị thấy câu trả lời. Hoặc như một câu kệ Thiền đã diễn đạt: “bất ngờ tin vui đến!”

Tất cả nghe như quá đỗi đơn giản, đúng không? Nhưng với hầu hết chúng ta thì nó sẽ tốn nhiều năm và có thể là nhiều đời thực hành để thành tựu viên mãn. Thứ nhất, là bởi vì chúng ta đã tích luỹ quá nhiều tạp niệm; và thứ hai là, không có chỗ cho sai lầm trong việc thành tựu viên mãn phương pháp này. Biên độ sai sót ở đây là bằng không; hành giả không thể để bị sai trật thậm chí là chỉ với một niệm. Sự thực hành của quý vị phải rất là chính xác để có được chánh quả, là rằng nếu quý vị chỉ trật đi một chút xíu thôi, thì rốt cuộc quý vị sẽ chệch xa cả ngàn dặm. Và đây là những điều thực sự làm nản chí: nếu quý vị ham muốn đạt được kết quả, quý vị trật. Nếu quý vị nghĩ rằng quý vị đã và đang có được nó, quý vị trật. Nếu quý vị sợ quý vị sẽ không có được nó, quý vị trật. Và thậm chí nếu quý vị nghĩ có thứ gì đó để có được, quý vị cũng trật. Đó là lý do tại sao nói rằng, “Đến được chỗ không tìm cầu bất cứ thứ gì, thì chẳng có lo lắng gì cả. Trừ bỏ, và rồi lại trừ bỏ nữa, bất chợt quý vị tới nơi.” Vậy nên, như quý vị thấy đó, tất cả điều này có phần nào đó phản trực giác so với quan điểm của nhận thức bình thường hằng ngày, tuy vậy nhưng mà, nó có thể thực hiện được. Thực sự, còn cách nào khác đâu? Như lời đồng Đạo sư tỷ của tôi, một Sư Cô, đã từng nói: “không có việc gì khác để làm, thì thôi tu luyện đi.”

 

Ghi chú:

10. Giới (giới luật), định (thiền định), và huệ (trí huệ) là ba phương diện tạo nên Phật Đạo.

11. Một kinh văn quan trọng của Thiền Tông Phật Giáo, kinh văn này mô tả cuộc đời và những lời dạy của vị Tổ Sư thời nhà Đường, Đại Sư Huệ Năng.

 

 

Mở Rộng Tâm Lượng: Sự Quán Chiếu Và Động Lực Của Bồ Tát

Hòa Thượng Hằng Thật 

Một đoạn trích từ bài giảng giải Kinh Hoa Nghiêm mỗi tuần của Hòa Thượng Hằng Thật tại Chùa Berkeley, ngày 15 tháng 06 năm 2013.

 

Trong đoạn kinh văn hôm nay, Bồ Tát quán chiếu nhiều cõi giới khác nhau. Khi làm như vậy, vị nam nhân hoặc vị nữ nhân đó dùng một loại nội quán khác nữa để soi chiếu các cõi giới. Vậy bây giờ, cõi giới là gì? Chúng ta có thể dành toàn bộ bài giảng tối nay để nói về các cõi giới bởi vì nó là một chủ đề rất rộng lớn. Nó là một vũ trụ chăng? Nó là một thiên hà chăng? Tuần trước kính viễn vọng Hubble đã chụp được ảnh một vùng màu đen trong không gian và đã phát hiện ra trăm triệu tỷ vô tận thiên hà ở trong chỗ này, nơi mà trước đây họ chẳng nghĩ rằng là có bất cứ thứ gì tồn tại ở đó. Đó là một cõi giới chăng?

Chúng ta hãy xem kinh văn: những cõi giới mà Bồ Tát quán chiếu là gì? Vị ấy có tâm thái gì? Vị ấy “quán chiếu các cõi giới của chúng sanh”: người, gấu bắc cực, sâu bướm, chim, chim bói cá, chim khướu, vi khuẩn, tổ tiên - tất cả mọi cõi giới này của chúng sanh, những cõi giới của loài hữu tình. Vị ấy “quán chiếu cõi giới của các pháp” - đó là ở đâu? Bất cứ nơi đâu mà tâm đi tới là có các pháp.

“Quán chiếu cõi của các thế giới”. Được rồi, vậy bây giờ chúng ta đang tiến vào tam thiên đại thiên thế giới. Quý vị định nghĩa như thế nào là một thế giới? Theo truyền thống từ xưa đến nay, một thế giới được định nghĩa là có một mặt trời và một mặt trăng, một diệu cao sơn - núi Tu Di – bốn biển lớn, bốn châu lục, và vân vân. “Các cõi của không gian”. Bỗng nhiên, chúng ta đang nói đến những chuyện to tát. Các cõi của không gian tồn tại ở nơi mọi thứ không tồn tại. Nó tồn tại trong lỗ chân lông trên da quý vị, trong tế bào máu của quý vị. Vô hạn không gian: sự vắng mặt của mọi thứ. Vậy quý vị nắm được ý rồi phải không?

Bồ Tát hành động với những sự quán chiếu này; đây là tâm thái mà vị ấy đang soi vào hầu chuẩn bị để tâm vị ấy tiếp thu Tứ Địa, giáo lý của Tứ Địa. Vậy chuyện gì đang diễn ra? Vị ấy mở rộng tâm của mình ra. Vị ấy càng trở nên rộng lớn hầu cho những thông tin được mã hóa trong Tứ Địa này sẽ thâm nhập vào và bắt rễ. Khi chúng ta nhìn vào thực đơn tráng miệng, chúng ta đang quán chiếu cõi của món tráng miệng. Hoặc có thể là chúng ta đang quán chiếu cõi của cà phê - liệu nên lấy một ly cà phê sữa đậu nành với lượng cà phê espresso gấp đôi hay là lấy cà phê pha sẵn của quán. Đó là những cõi với quy mô khác nhau, quý vị nói phải không? Đó là cõi của lưỡi. Vậy nên, Bồ Tát nói rằng, “Ừm, có một thời gian cho cõi của lưỡi rồi nhưng tôi lại đang mở rộng tâm của mình để soi nhìn vào các chúng sanh mà, để nhìn vào các pháp, nhìn vào các thế giới, nhìn vào không gian, nhìn cho tới cõi ý thức. Điều đó sẽ làm cho tâm tôi đủ rộng lớn để hấp thụ được những gì tôi cần phải học về Tứ Địa.”

Tại sao? Mấu chốt là, vị Bồ Tát này đã nhìn thấy nỗi đau khổ; vị ấy đã đối diện với nỗi đau khổ. Cùng với nỗi đau khổ, vị ấy cũng đã đối diện với mối liên kết sâu hơn giữa mình và mọi người - không chỉ là tất cả mọi người mà còn là tất cả chúng sanh. Ngay lúc thấy mối liên kết với tất cả chúng sanh cũng như thấy nỗi đau khổ mà chúng sanh nếm trải, Bồ Tát nói rằng, “Tôi không thể để điều đó thành kiểu chuyện hiển nhiên là như vậy được. Tôi không thể để điều đó trở thành chuyện như thường lệ được. Tôi phải làm gì đó đối với chuyện này. Tôi không thể cứ thế phớt lờ đi. Tôi cần phải dấn thân vào để giải toả sự đau khổ.” Và thế là với suy nghĩ đó, điều trở nên cần thiết là bước ra và học cách làm vơi đi nỗi đau cho những chúng sanh mà Bồ Tát nhìn thấy có liên kết với mình. Không giúp đỡ sẽ là quá tàn nhẫn. Chỉ việc nhìn vào những chúng sanh kia hứng chịu đau khổ thế nào mà không giúp đỡ gì cả, người ta phải thực sự tâm can sắt đá. Quý vị phải rất vô cảm để mà nhìn tất cả nỗi đau khổ đó giáng xuống và rồi chỉ nói, “Ừ, chuyện nó là vậy đấy.” Hoặc tệ hơn là, còn châm thêm khổ đau vào nữa. Vậy nên với điều đó trong tâm, như là chìa khoá mấu chốt hoặc khuôn khổ để hiểu được toàn bộ việc này, bất thình lình nhiều hành vi của Bồ Tát trở nên hợp lý.

Đây là những gì mà Bồ Tát đã tỉnh giác thấy: rằng những người mà vị ấy quan tâm sâu sắc đang bị đau khổ. Bồ Tát muốn làm gì đó trong chuyện này và do đó đã bắt đầu học các phương thức của Phật cho việc chấm dứt nỗi đau khổ, mà có rất nhiều loại. Bản thân Đức Phật đã thông thạo những phương thức này và đang sẵn lòng chia sẻ chúng với bất kỳ ai. Chúng ta chỉ cần đưa bản thân mình vào một vị trí để có thể học được chúng. Quý vị làm điều đó bằng cách nào? Bằng việc quán chiếu các cõi giới của vạn vật để mà mở rộng tâm lượng của mình. Mở rộng như là gì? Như hư không. Như bản thể ý thức.

 

 

Cốt Tủy Của Công Phu: Nhiếp Tâm

Tỳ Kheo Hằng Lai

 Thuyết giảng bởi Tỳ Kheo Hằng Lai tại Tuyết Sơn Thánh Tự trong Khóa Tu Ba Ngày Niệm Phật A Di Đà vào tháng 07 năm 2015.

 

Rất nhiều người, đặc biệt là người phương Tây, những ai muốn tìm hiểu Đạo Phật đều thật sự thích cái ý tưởng về thiền bởi vì không có sự ràng buộc tôn giáo. Quý vị không phải lễ lạy gì cả. Quý vị không phải tụng niệm gì cả. Chỉ cần ngồi xuống và thiền thế rồi quý vị đạt được giác ngộ. Nó thật là đơn giản. Nhưng đến khi thật sự hành Thiền, ngồi thiền, họ nhận thấy rằng việc thiền chẳng dễ dàng gì. Hoà Thượng Tuyên Hoá thường nói, “Người có thể ngồi Thiền và thực hành đúng cách để đắc Đạo có lẽ chỉ là một trong số một trăm người.” Thiền là tông phái trực chỉ và do đó thiền trông đơn giản và dễ dàng. Nhưng bởi vì thiền đơn giản theo cách đánh lừa nên thực sự thì thiền là thứ khó nhất.

Tôi biết được điều này là bởi vì tôi đã từng làm giống y như vậy. Khi tôi còn ở tại tu viện đầu tiên của chúng ta, Kim Sơn Thánh Tự, tôi đã chỉ muốn ngồi và khai ngộ. Tại Kim Sơn Thánh Tự, chúng tôi thường có một khoá tu niệm Phật trước khoá tu Thiền thất miên mật.12 Một khoá tu Thiền thường kéo dài từ một đến ba tuần - có khi còn lâu hơn nữa. Trong những khóa tu Thiền đó, quý vị chỉ việc ngồi hai mươi mốt tiếng một ngày; quý vị ngồi trong một tiếng rồi đi lại trong hai mươi phút. Nó có vẻ bất khả thi - sao mà chúng ta có thể làm được chuyện đó? Nó thật là khó nhọc nhưng thực sự thì nó hoàn toàn có thể thực hiện được. Tôi đã nghĩ, Đây chính là cơ hội của mình. Giờ đây tôi thật sự sắp khai ngộ rồi!

Vì thế, tôi vào khoá tu được một hoặc hai tuần, nghiến răng chịu đựng, cố gắng thức tỉnh, và rồi Sư Phụ của tôi bước vào Thiền Đường, nghiêng người xuống và hỏi tôi: “Con đang làm gì đó?”

“Sư Phụ13, con đang cố gắng khai ngộ,” tôi nói như vậy.

Ngài đã mỉm cười và nói, “Ngu ngốc! Đây không phải là cách để con khai ngộ, con không hiểu đúng. Hãy kiên nhẫn. Đừng tham lam sự khai ngộ. Khi tới giờ ngồi, thì ngồi. Khi tới giờ đi, thì đi. Đừng có lo lắng về việc khai ngộ. Khai ngộ sẽ xảy đến khi duyên chín muồi. Con càng nắm chặt chấp vào việc khai ngộ nhiều chừng nào, thì khai ngộ sẽ càng ít xảy đến được chừng đó.”

Tôi nghĩ đối với người phương Tây thì, điều tốt nhất đó chính là tụng niệm, bởi vì mặc dù chúng ta cố gắng hoàn toàn chỉ thiền mà thôi, nhưng chúng ta lại chẳng giỏi lắm về việc đó. Quý vị sẽ trở nên giỏi về việc thiền nếu trước tiên quý vị chịu học cách tụng niệm và lễ lạy, bởi vì đó là những hình thức hoạt động của thiền. Rắc rối đối với mọi người đó chính là họ nghĩ rằng tất cả những phương pháp tu hành này là khác nhau nhưng thực ra thì chúng lại là giống nhau. Tụng niệm chính là Thiền. Lạy Phật chính là Thiền. Thiền là lạy Phật, và cũng là tụng niệm. Đó đều là tu hành. Khi Đức Phật còn tại thế, chỉ có một tông phái: Phật Pháp.

Vậy nên, bây giờ chúng ta đang thực hành khoá tu A Di Đà trong đây chúng ta niệm danh hiệu Phật mỗi ngày. Theo như Sư Phụ là chúng ta đang thực sự tu Thiền. Tại sao? Chúng ta đang xây dựng sự nhiếp tâm của mình khi chúng ta niệm, để mà tâm của chúng ta ở ngay tại đây ngay bây giờ, không phải ngày ở hôm qua hoặc ngày mai. Chúng ta chỉ muốn niệm. Nếu quý vị làm đúng như vậy, toàn thể tâm quý vị sẽ trở thành A Di Đà. Có vậy thôi, không còn chuyện gì khác diễn ra nữa. Nhưng mà quý vị vẫn nhận thức hoàn toàn đầy đủ; quý vị có thể nghe thấy tiếng chim hót - nhưng tất cả chỉ đều là A Di Đà. Có một câu nói nổi tiếng trong Đạo Phật đó là, chỉ ngay tại đây và ngay bây giờ chính là Tịnh Độ. Đây chính là Tịnh Độ. Tất cả chúng ta đều coi Cõi Tịnh Độ như là những nơi chốn tuyệt đẹp ở trên mây trời nơi mà chúng ta đi đến khi chúng ta chết. Cõi Tịnh Độ là ngay đây. Hãy nhìn xem. Cõi Tịnh Độ ở ngay đây!

Có một câu nói trong Đạo Phật: “Đi, đứng, ngồi, và nằm, mọi chuyện đều là tu hành.” Quý vị phải nên nhiếp giữ tâm. Chúng ta đang xây đắp sự nhiếp tâm của mình. Đem tâm của quý vị tới khoảnh khắc này, tới ngay khoảnh khắc này, và rồi Phật tánh chân thật của quý vị sẽ hiển lộ. Chúng ta có thể thực hiện điều đó bằng cách niệm danh hiệu Phật: “Nam Mô A Di Đà Phật.” Đó là tất cả những gì quý vị nên nghe thấy và cảm nhận; thậm chí quý vị còn không nên nghĩ đến chữ “A Di Đà.” Vậy thì quý vị đang có tiến bộ.

Ra khỏi khoá tu này, chúng ta cũng phải nên xem cuộc sống hằng ngày của mình - khi chúng ta bước đi, khi chúng ta đi làm, khi chúng ta đến trường - như là việc tu hành. Tiếp tục bồi đắp xây dựng nhiếp tâm chánh niệm của quý vị. Không quan trọng quý vị đang làm gì, quý vị phải nên coi mỗi ngày như là một Khoá Tu Thiền - hoặc Khoá Tu Niệm Phật A Di Đà, hoặc Khoá Tu Niệm Quán Âm. Mỗi ngày chỉ là ngay bây giờ. Quý vị bồi đắp nhận thức của mình, “nhận thức-ngay bây giờ” của mình. Quý vị càng bồi đắp lên nhiều hơn nữa cái “nhận thức-ngay bây giờ” của mình, thì quý vị càng trở nên thức tỉnh - đó chính là cách quý vị khai mở trí tuệ chân chánh của mình. Sớm hay muộn gì trí tuệ chân chánh cũng sẽ bật ra từ quý vị, bởi vì tất cả chúng ta đều có trí tuệ chân chánh.

Khi Đức Phật thành đạo, ngài đã nói, “À! Mọi chúng sanh đều có cùng bản tánh - thật kỳ diệu!”. Đó chính là chân lý đầu tiên mà Đức Phật đã thuyết: “Tất cả mọi chúng sanh đều có Phật tánh.” Nhưng có lẽ ngài đã không nói theo cách đó. Ngài có lẽ đã nói, “Vạn vật đều có bản tánh thanh tịnh vi diệu này. Tất cả chúng ta đều chính là như thế.” Vậy nên đây chính là một trong những điều uyên thâm nhất về Phật Pháp.

Cho nên giờ đây chúng ta đang niệm mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút - và hy vọng rằng chúng ta thức tỉnh khi chúng ta làm vậy. Có lúc chúng ta thức tỉnh một chút, có lúc chúng ta thức tỉnh được nhiều. Chúng ta không muốn trở nên nản chí. Mỗi ngày đều là một ngày. Quý vị đối xử với ngày theo cách đó: coi ngày như là ngày duy nhất. Không có ngày hôm qua và không có ngày mai. Nó chỉ là bây giờ.

 

[NHỮNG CÂU HỎI CỦA ĐẠI CHÚNG]

Hỏi: Đây là lần đầu tiên con tham dự khoá tu niệm Phật. Thường thì Pháp môn của con là Thiền và nghiên cứu Kinh Điển. Bây giờ thì con đang gặp khá nhiều khó khăn khi niệm danh hiệu Phật. Vì sao mà niệm danh hiệu Phật lại khó khăn đến như vậy và con phải nên làm gì bây giờ?

Pháp Sư Hằng Lai: Nếu như quý vị đang làm điều gì đó mà nó thật là dễ dàng, thì tốt hơn hết quý vị nên xem lại việc đó với cách nhìn khác, có thể quý vị đang thực hiện gì đó không đúng. Hoà Thượng Tuyên Hoá đã từng nói với chúng ta, “Tu hành thật sự là khó, và đồng thời tu hành cũng thật sự là dễ.” Vậy nên, chúng ta đều cảm thấy có chút không thoải mái trong chuyện thực hiện những việc khác nhau. Ồ ! Đây là Pháp môn của tôi, Ồ, Kia là Pháp môn của tôi, Ồ ! Đây là Pháp môn của tôi. Chúng ta thậm chí còn không biết Pháp môn của mình là gì, thậm chí chúng ta còn chưa ở cảnh giới nhận biết đó. Quý vị bắt đầu biết được Pháp môn của quý vị là gì khi mà quý vị thật sự bắt đầu thức tỉnh.

Mọi người nghĩ rằng họ hiểu Pháp môn của họ là gì. Tôi đã từng nghĩ rằng Thiền là Pháp môn của mình. Sư Phụ đã nói, “Con chỉ việc làm theo đại chúng, và làm mọi thứ mà chúng ta đều làm. Chuyên chú nhiếp tâm chính là Pháp môn của quý vị. Hãy chuyên tâm. Bất kỳ thủ thuật nào cần thiết để cho con chuyên chú thâu nhiếp tâm, thì đó là Pháp môn của quý vị. Ngừng tưởng tượng sáng tác ra tất cả những chuyện vô nghĩa này đi.” Nhưng mà chúng ta sẽ lại nói, “À! Nếu tôi làm kiểu như này, hoặc tôi niệm cái kia, hoặc tôi soi nhìn vào cái nọ, rồi tôi thấy cái đó, thì cách thức đó phù hợp với tôi.” “Ồ thật vậy sao?” Sư Phụ đã từng cười chúng tôi và cho chúng tôi một câu trả lời dứt khoát “Không!” là bởi rằng chúng tôi đã quá bám chấp vào những cách thức làm như vậy.

Thực tế là, ở các tu viện của chúng ta, chúng ta thực hành tất cả năm tông phái (Thiền, Tịnh, Mật, Luật, và Giáo). Sư Phụ là một vị Tam Tạng14 pháp sư. Ngài là một vị Thầy nắm rõ tất cả năm tông phái của Phật Giáo. Ngài không những chỉ là một vị Thầy nắm rõ Thiền Tông hay Tịnh Độ Tông. Ngài đã nói rằng, “Căn bản là không có tông phái.” Và cũng cùng đạo lý đó trong sự tu hành của quý vị. Đừng quá bám chấp vào cái mà quý vị đang tu hành. Tôi sẽ thực hành bất cứ điều gì. Nếu là lễ lạy, thì được thôi. Nếu là tụng niệm, thì được thôi. Nếu là niệm A Di Đà, thì cũng được thôi. Tất cả đều được bởi vì nó đang giúp chúng ta xây dựng việc thâu nhiếp tâm mình. Đó mới là tu hành, là khi quý vị xây đắp việc thâu nhiếp tâm niệm của quý vị.

 

Hỏi: Khi con niệm danh hiệu Phật, đặc biệt là lúc con ngồi, thì con cảm thấy khí huyết lưu chuyển và nó làm cho vai với xương của con phát ra tiếng kêu rắc rắc. Khí cũng đi lên tới trên đầu con, và rồi nó làm con ngả người ra phía sau - nó có phần không thoải mái. Chuyện này xảy ra sau khi ngồi được một hoặc hai tiếng, và nó đã phiền nhiễu con trong một hoặc hai năm nay. Làm cách nào để con có thể cải thiện chuyện đó?

Pháp Sư Hằng Lai: Khi chúng ta lễ lạy hoặc tụng niệm, mọi thứ chúng ta làm, chúng ta đều đang tạo ra một loại khí nào đó, một loại năng lượng nào đó với cơ thể của chúng ta. Hoà Thượng Tuyên Hoá thường nói với chúng ta rằng khi chúng ta lễ lạy, chúng ta đang tạo ra khí ở trong bụng của mình mà khí đó đi đến tim của mình. Khi chúng ta đang ngồi Thiền, chúng ta cũng đang tạo ra khí. Có những câu chuyện về các bậc thầy, những vị mà có thể thực sự làm tan chảy tuyết bởi vì họ có thể tạo ra quá nhiều năng lượng chỉ đơn giản bằng việc ngồi.

Quý vị muốn biết về một trạng thái đặc thù liên quan đến cơ thể của chính quý vị? Tôi không có loại trí tuệ đó để nói cho quý vị. Tôi có thể nói với quý vị rằng quý vị nên cố gắng tuỳ thuận theo duyên; hãy lắng nghe chính mình. Nếu quý vị đang làm điều gì mà điều đó không thoải mái hoặc bất thường đối với quý vị, thì có lẽ hãy thay đổi nó và làm nó theo một cách khác. Đừng cứ tiếp tục như thế. Có lẽ cơ thể của quý vị đang cố nói điều gì đó cho quý vị. Về cơ bản thì, quý vị nên tuỳ thuận với cơ thể của quý vị, giống như quý vị nên tuỳ thuận với trời và đất.

 

Hỏi: Cái tư tưởng của việc tuỳ thuận với trời đất hoàn toàn hợp lý đối với con. Đồng thời thì con cũng có biết lời nhắn nhủ, “Con phải nhẫn chịu để đột phá.” Theo tư tưởng đó thì, mình phải làm những cái nào mà thực sự cảm thấy nó trái với tự nhiên, để nhẫn chịu được những gì khó khăn, để băng qua những chướng ngại. Con nghĩ là có một vài hướng dẫn trong Thiền đề cập đến việc chúng ta cần phải ngồi nhẫn chịu với nỗi đau trong chân mình ra sao, chỉ để có được cái thái độ tinh thần: “Tôi sẽ không nhúc nhích đâu bạn chân ơi, cho dù bạn có thể đứt rụng ra!” Nhưng mà rồi, dường như với con thì cách tiếp cận như thế đó có vẻ như không tuỳ thuận với trời đất.

Một vị Pháp Sư ở Vạn Phật Thánh Thành có lần đã kể câu chuyện về việc cô đã từng than phiền như thế nào với Hoà Thượng Tuyên Hoá về cơn đau lưng của cô ấy trong gần ba năm. Hoà Thượng dường như phớt lờ chuyện ấy. Nhưng rõ ràng là ngài đã không hề phớt lờ chuyện ấy; ngài đã đề nghị những việc khác. Một ngày nọ, vị sư cô ấy nhận thấy cơn đau đã biến mất. Nhưng vị sư cô ấy đã không làm bất kỳ điều gì đặc biệt. Vị sư cô ấy chỉ vui vẻ làm theo. Vị sư cô ấy chẳng thể giải thích nổi chuyện đó.

Con luôn thấy bản thân mình có phiền phức rắc rối quanh vấn đề này. Có người từng nói với con rằng, “Nếu sự tu hành của quý vị đang gây ra cho quý vị bất kỳ sự bất tiện khó chịu nào, thì quý vị đang làm sai bởi vì nên có niềm vui trong việc tu hành. Có một sự khác biệt giữa sự khó chịu gây ra bởi việc thực hành và niềm vui đến từ việc thực hành.” Bằng cách nào đó cuối cùng con cũng chợt hiểu ra, nhưng mà nhiều khi con lại thấy mình đang vật lộn với thế cân bằng này: Tuỳ thuận theo trời đất nghĩa là gì? Vượt xuyên thủng chướng ngại nghĩa là gì?

Pháp Sư Hằng Lai: Chúng ta thật sự thuận theo trời và đất một khi mà chúng ta thức tỉnh. Đó mới thật sự là tuỳ thuận theo trời đất. Vậy nên, bất cứ sự việc gì trước đó - thì đều là chúng ta chưa thật sự đến đó. Đó chính là tất cả về sự đột phá nghĩa là gì. Ôi, tôi không thuận theo trời đất đủ để mà đột phá được rồi. Sao quý vị biết? Quý vị thậm chí còn không biết thuận theo trời đất nghĩa là gì ngay từ đầu rồi. Quý vị phải vượt qua được cái “sự suy nghĩ nhiều” của quý vị. Shakespeare đã nói vậy đó. Chúng ta bị kiểm soát bởi sự suy tư quá nhiều. Nó giống như là bầu trời lúc nào cũng u ám. Chúng ta đã quen với nó, chúng ta cho rằng đó là thực tế.

Sơ Quả A La Hán, tức là người thực sự ở cảnh giới đầu tiên của sự giác ngộ, đã xa lìa bỏ lại đằng sau tất cả sự nhiễm ô. Điều này có nghĩa là người đó đã đột phá xuyên qua được và đã dừng được vọng tưởng của mình. Thật sự thì, tất cả suy tư nghĩ ngợi đều là vọng tưởng cả. Nhưng đối với chúng ta thì suy nghĩ nhị nguyên phân biệt đang diễn ra liên tục không ngừng, thậm chí với cả những suy nghĩ tốt đẹp. Nó giống như là “sự suy nghĩ làm mờ tâm trí” mà Shakespeare nói đến; ngay cả ông ấy còn có được trí tuệ để biết đến điều đó. Chúng ta bị ràng buộc quá nhiều bởi suy tư nghĩ ngợi. Chúng ta nghĩ rằng suy tư nghĩ ngợi là thật, nhưng nó lại là một trò đùa. Khi quý vị xuyên phá qua được điều đó và dừng được vọng tưởng, thì là quý vị nếm được mùi vị đầu tiên của sự giác ngộ, mùi vị đầu tiên của việc thật sự thuận theo trời đất. Quý vị bắt đầu cảm thấy cái khối sắt nặng trên vai, cái gánh nặng trên vai quý vị được nhấc đi khỏi vai - “Điều đó thật sự, thật sự vi diệu,” thường được mô tả như vậy đó.

Cái tâm giảo hoạt của chúng ta luôn luôn hoạt động. Tâm của chúng ta giống như là luật sư biện hộ: Nếu như tôi làm thế kia thì… nhưng nếu tôi làm thế này thì… nhưng, nhưng, nhưng… Nó đang liên tục giữ chúng ta trong một vòng luôn lặp lại của việc suy nghĩ, suy nghĩ, suy nghĩ. Chúng ta tu hành là để vượt qua được nó. Chúng ta tu hành là để dẹp bỏ chuyện đó, để ngừng nó lại, để xuyên thấu nó. Khi quý vị đắc được mùi vị đầu tiên của sự giác ngộ, quý vị không cần phải hỏi bất kỳ ai nữa, quý vị sẽ tự biết được thôi. Quý vị sẽ biết được, bởi vì tất cả chúng ta đều có Phật tánh này bên trong chúng ta. Đó chính là điều đầu tiên Đức Phật thuyết. Tất cả chúng ta đều có đại trí huệ bên trong mình, chúng ta chỉ cần đạt đến khai thác đại trí tuệ đó.

 

Ghi chú:

12. Một khoá tu, hay một thất, là một khoảng thời gian ấn định để tu tập miên mật, thường là kéo dài 7 ngày. Trong đoạn thời gian 7-ngày này, hành giả sẽ tập trung vào một Pháp tu nhất định. Trong trường hợp này, hành giả tu niệm danh hiệu của Phật A Di Đà.

13. Sư Phụ hay Shifu là một từ tiếng Hoa cho chữ "vị thầy" hay “thầy” và chính là cách mà các đệ tử đề cập đến vị thầy của họ.

14. “Tam tạng” là nghĩa đen của chữ Tripiṭika trong tiếng Phạn. Đây là đề cập đến ba tạng của kinh điển Phật Giáo: Sūtras (kinh), Vinaya (giới luật), và Abhidharma (phương pháp luận).

 

 

 

Những Gì Được Xem Là Tu Tập Tịnh Độ?

Tỳ Kheo Ni Hằng Trì

Những đoạn trích sau đây được lấy ra từ lớp học “Cơ Chế Của Sự Tu Tập” tại Vạn Phật Thánh Thành, ngày 16 tháng 09 năm 2015. Lớp học này được đồng giảng bởi Tỳ Kheo Ni Hằng Trì và Giáo sư Doug Powers. Chủ đề của buổi tối là tu tập Tịnh Độ. Trong những luận bàn của mình, Pháp Sư Hằng Trì dùng đến chú giải của một vị chú giải Trung Hoa nổi tiếng, là Đại Sư Ngẫu Ích (1599 - 1655).

 

 

Nền Tảng Của Tu Tập Tịnh Độ:

Một Sự Tự Tin Sâu Thẳm

Trong sự tu tập Tịnh Độ, việc đầu tiên chúng ta phải làm là tự mình tin vào chính bản thân mình.15 Đây cơ bản nghĩa là chúng ta thừa nhận rằng chúng ta có tiềm năng để thành Phật và rằng chúng ta có cái tâm mà chẳng phải là trái tim vật lý cũng chẳng phải là tư duy nhận thức. Chúng ta tin đến độ vượt ra khỏi thức thứ sáu và những xúc cảm của con tim - rằng chúng ta có một cái “chân tâm”. Chân tâm này không có khởi đầu, không có kết thúc, không có ranh giới. Cho nên, chúng ta phải tin vào tự bản thân mình và điều đó là không dễ dàng. Trong hệ phái Tiểu Thừa có một pháp tu được biết với tên gọi là metta - Tâm từ - thiền quán tâm từ. Quý vị đã bao giờ dụng pháp tu đó chưa? Điều đầu tiên quý vị phải làm chính là thương lấy bản thân mình. Điều đó có thể tốn một khoảng thời gian trước khi quý vị có thể tiến qua thương đến thực thể nào khác.

Vậy nên, quý vị phải có được niềm tin này, đức tin này trong quý vị, rằng mặc dù mình đần độn và hồ đồ, điên đảo, mê lầm, chỉ bằng một niệm chuyển đổi đơn giản của tâm là mình có thể được vãng sanh Tịnh Độ bởi vì tâm của mình có khả năng viên mãn của cõi Tịnh Độ. Cơ bản là, Đại Sư Ngẫu Ích nói rằng, bằng với cái tâm của mình, chúng ta tạo ra thế giới mà chúng ta đang ở trong này và tất cả những gì đi kèm với nó. Nếu như chúng ta có thể làm thế, thì sao mà chúng ta lại không thể tạo ra cõi Tịnh Độ? Đó căn bản chính là câu hỏi.

Trong Kinh Điển Tịnh Độ Tông cũng như trong Kinh Pháp Hoa có nói rằng ngay cả khi quý vị bị phân tâm, ngay cả khi quý vị không chú tâm, ngay cả khi quý vị đang niệm danh hiệu Phật trong khi quý vị đang lái xe và nghe tin tức cùng một lúc và có bốn người đang nói chuyện trong xe… ngay cả khi quý vị bị phân tán đến như thế, quý vị cũng gieo trồng được một hạt giống với việc quý vị niệm (danh hiệu Phật). Có sự khởi đầu của điều gì đó có thể nảy mầm bên trong bản thể của quý vị để có thể đến được cõi Tịnh Độ, để trở thành một vị Phật. Nếu chúng ta tập trung vào việc đó, ít nhất là thông qua những khoảng thời gian nhất định trong ngày, thì làm sao mà chúng ta không thể đạt được? Tất nhiên là chắc rằng chúng ta sẽ đến được nơi đó.

 

Tu Tập Tịnh Độ

Để tôi kể câu chuyện về một trong những vị sư, người mà đã ở đây được hai mươi tám năm và rồi đã trở lại đời sống cư sĩ. Vị ấy có rất nhiều sự tự hoài nghi về bản thân mình. Chính sự tự hoài nghi của thầy ấy rốt cuộc đã dẫn thầy đến hoàn tục. Nhưng mà thầy ấy là một vị sư tốt. Quý vị thấy đó, bước đầu tiên trong việc tu tập từ tâm - metta - chính là tin vào chính mình, là điều rất quan trọng.

Một lần nọ thầy ấy chuẩn bị đi Canada. Trước khi đi, thầy ấy hỏi rằng liệu thầy ấy có thể thực hiện một buổi sám hối. Thời đó, khi Sư Phụ tôi là Hoà Thượng Tuyên Hoá còn ở đó, quý vị có thể thực hiện điều được gọi là “Bạch chúng” [nghĩa đen theo tiếng Trung Hoa: “Bộc bạch với toàn thể đại chúng”]: Một lễ sám hối công khai. Quý vị biết như nào rồi đấy, chúng ta đều là người hùng trong giấc mơ của chính mình và có khuynh hướng chôn vùi tất cả những điều xấu xa vào tận bên trong rồi quên chúng đi. Nhưng điều xảy ra khi quý vị ở quanh người nào đó giống như Sư Phụ chúng tôi, Hoà Thượng Tuyên Hoá, thì chính là những điều xấu xa đó lại trồi lên lộ diện. Có thể là ngài lôi chúng ra, hoặc cũng có thể là ngài tạo ra một hoàn cảnh để mà chúng ta tự mình lôi chúng ra. Và rồi quý vị mắc kẹt với chúng: chúng có ở ngay đó. Và như thế chúng ta sẽ tiến đến điểm mà chúng ta muốn sám hối về chúng. Có lời dạy rằng quý vị có thể sám hối cho những sai lầm trong quá khứ và khi chúng được sám hối xong, chúng biến đi mất. Vậy nên đây là những gì mà thầy Hằng Tá muốn làm. Nhiều người trong chúng tôi đã làm điều đó. Bản thân tôi cũng đã làm vài lần: nó quả là một quãng thời gian nhiệm mầu. Quý vị phải được sự cho phép của Hoà Thượng, mặc dù ngài không cần thiết phải biết hết mọi thứ mà quý vị sẽ nói.

Vậy rồi đến thời khắc mà thầy Hằng Tá thực hiện lễ sám hối công khai của mình. Thầy ấy lại thể hiện cái kiểu tự hoài nghi thường lệ của mình. Như quý vị biết đó, “Tôi không tốt, chẳng ra gì cả; Tôi thật sự không thể…” Nhưng thầy ấy đã có dũng khí để nói to ra mọi thứ mà thầy đã làm sai. Bất cứ khi nào bắt đầu buổi lễ sám hối thế này, những người như chúng tôi ngồi chung quanh và lắng nghe, sẽ biết ngay từ câu đầu tiên rằng người nam hoặc người nữ này sẽ nói thẳng thật mọi chuyện như nó vốn dĩ như vậy, và điều đó sẽ chẳng hề dễ dàng. Nó không hề dễ dàng gì đối với người đó để nói ra và nó cũng chẳng hề dễ dàng gì đối với chúng tôi để lắng nghe - và ĐIỀU ĐÓ rất là nhiệm mầu. Khi tôi là nhân vật chính, khi chính mình là người làm việc đó… Ồ! Tôi thậm chí còn không thể mô tả được cảm giác ra sao khi trút bỏ được gánh nặng đó. Và còn một điều nữa chính là mọi người đều biết: mọi người đều biết về thứ xấu xa nhất của quý vị, điều mà đáng lẽ ra vợ chồng hoặc những người bạn tốt có mới có thể làm được, họ đáng lẽ ra phải có khả năng biết được những điều xấu xa nhất của quý vị và vẫn hỗ trợ cho quý vị. Nhưng trong buổi lễ sám hối công khai thì quý vị nói những điều đó ra với toàn thể đại chúng và nếu như mà quý vị thành thật và chân chánh, mọi người sẽ hỗ trợ cho quý vị.

Vậy nên, thầy Hằng Tá đã làm thế đó, thầy ấy đã nói ra với tất cả chúng tôi những thứ xấu xa nhất của thầy. Và rồi thầy nói như sau, kết luận của thầy là, “Cho nên tôi chẳng giỏi bất cứ cái gì khác, tôi sẽ tu tập Tịnh Độ.” Sư Phụ, Thầy của chúng tôi, hiếm khi khen ngợi bất kỳ ai. Tôi chỉ có được duy nhất một lời khen ngợi trong toàn bộ trang sử cuộc đời tôi với Sư Phụ. [Những tiếng cười vang từ thính chúng và một tiếng cười khúc khích từ Pháp Sư Hằng Trì.]

Tối đó, vị sư đó đã nhận về được lời khen ngợi cho mình. Tối hôm đó, Sư Phụ từ pháp toà trên cao mà ngài đang ngồi đã nói cho tất cả chúng tôi đều nghe thấy, “Thiện tai! Thiện tai! Thiện nam tử.” (Lành thay! Lành thay! Người thiện nam tử!). Tất cả chúng tôi ai ai cũng đều kinh ngạc. [Những tiếng cười vang] Chúng tôi chẳng mấy khi mà nghe được những lời đó. Sư Phụ ban cho một chút bình phẩm. Ngài nói, “Đối với những người cỡ tuổi như con, một người Mỹ trẻ tuổi, có khả năng nắm được điều này, tin Phật A Di Đà và tin vào bản thân mình và thực hành cách tu tập này: thì thật phi thường!”

Thầy Hằng Tả sau đó đã hỏi một câu rất hay, thầy nói, “Tu tập Tịnh Độ là những gì?” Rõ ràng, trì danh hiệu Phật A Di Đà chính là trọng tâm của tu tập Tịnh Độ. Đại Sư Ngẫu Ích đã dạy rằng đừng làm bất kỳ cái gì khác, chỉ có tập trung vào việc niệm danh hiệu Phật mà thôi. Nhưng mà thầy Hằng Tá đã hỏi, “Vậy còn Đại Bi Sám thì như thế nào? Có được tính vào luôn không?” “Có,” Sư Phụ nói, “bởi vì Quán Âm Bồ Tát ở bên phải của Phật A Di Đà trong cõi Tịnh Độ.” Thầy ấy hỏi tiếp, “Vậy còn Chú Đại Bi hoặc thậm chí là Chú Lăng Nghiêm thì như thế nào?” Thật sự thì, nếu như quý vị thâm nhập vào Chú Lăng Nghiêm, quý vị sẽ tìm thấy những câu chú liên quan đến Phật A Di Đà ở Tây Phương hết lần này đến lần khác. Phẩm Phổ Môn mà chúng ta tụng và lễ lạy trong suốt khoá thất Quán Âm cũng được tính là tu tập Tịnh Độ. Hoà Thượng đã xác nhận, từng cái từng cái một, rằng những việc đó có thể được xem là tu tập Tịnh Độ.

Thành thật mà nói với quý vị thì, tôi không phải là người trì danh hiệu Phật A Di Đà mọi lúc. Sự tu tập của tôi là trì chú và tham thiền. Khi tôi tham thiền, tôi dùng câu thoại đầu “Ai là kẻ niệm Phật?” Câu thoại đầu này đến từ đâu vậy? Đối với những ai trì danh hiệu Phật trong việc tu tập hằng ngày của mình, là quý vị đang niệm Phật đó. Có những người thực sự giỏi trong việc trì danh hiệu Phật mọi lúc, bất kể họ đang làm gì - quét dọn lối đi, ăn uống, ngủ nghỉ, nấu nướng; họ vẫn đang luôn luôn niệm danh hiệu Phật. Nhưng khi mà quý vị bước chân vào Thiền Đường, quý vị không làm vậy. Quý vị không ngồi ở đó và niệm “Nam Mô A Di Đà Phật, Nam Mô A Di Đà Phật, Nam Mô A Di Đà Phật” - quý vị không làm như vậy. Quý vị tự hỏi chính bản thân mình, “Ai niệm ‘Nam Mô A Di Đà Phật’?” Khi quý vị đang tu tập theo cách đó, là quý vị đang tìm cái ngã, cái vọng ngã. Đó chính là sự tu tập A Di Đà của tôi. Nó ngược lại với việc niệm danh hiệu; thay vào đó, nó cốt yếu ở việc tìm ra ai. Thật vậy, đó chính là cách mà tôi đã đang thực hành. Nhưng mà tôi cũng đã tụng biết bao nhiêu Phẩm Phổ Môn, lễ lạy biết bao nhiêu Đại Bi Sám, tụng không biết là bao nhiêu Chú Lăng Nghiêm và Chú Đại Bi. Nếu chúng ta chiếu theo việc Hoà Thượng giải đáp cho Hằng Tá ngày hôm đó - và chuyện đó là không thể xoá nhoà trong tâm trí tôi và có lẽ là đối với bất kỳ ai đã nghe được - thì tất cả việc đó đều được xem là tu tập Tịnh Độ.

 

Ghi chú:

15. Tịnh Độ là nơi mà Đức Phật và các chúng sanh ở đó. Đây là đang đề cập đến cõi Tịnh Độ Tây Phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà.

 

 

Tham Thiền Về “Tôi Là Ai?”

Tỳ Kheo Hằng Lai

Tỳ Kheo Hằng Lai nói chuyện tại Khoá tu Trại Phật Căn Mùa Hạ vào ngày 12 tháng 08 năm 2012.

 

 

Một trong những phương pháp của Thiền Tông chính là giữ chắc một đề mục thiền (Tiếng Hoa: thoại đầu). Thường thì đây là các câu nghi vấn. Câu phổ biến nhất chỉ đơn giản hỏi là “Ai?”

Hỏi: Thầy tham cứu đề mục thiền “Tôi là ai”? như thế nào? Thầy có quán chiếu nó bằng trí tính không?

Pháp Sư Hằng Lai: Khi quý vị nói từ ngữ “ta”, hoặc “tôi”, hoặc “tôi là ai?”, là quý vị bắt đầu nghĩ về câu hỏi đó, và nghe nó nực cười làm sao. Ai vừa mới hỏi câu đó? Tôi là ai? Ai nói câu đó? Ai?

Đó chính là ý nghĩa của việc “tham thoại đầu”. Nghĩa là “Ai vừa mới nói câu đó? Ai đang đặt câu hỏi?” Đó mới là cái mà quý vị đáng lẽ phải trụ vào tham cứu. Nó là một hiện tượng chập điện. Hai sợi dây điện này đang chập vào nhau. Tôi là ai? Ai vừa mới hỏi đó? Tôi là ai? Ai thốt ra cái tôi này? Đó mới là cái mà quý vị tư duy. Quý vị không được niệm câu hỏi nghi vấn này như là một câu thần chú. Thay vào đó, nó trở thành một thứ quan trọng luôn nằm trong đầu. Nếu quý vị có thành tựu thật sự ở trong Thiền Tông, thì cái này trở thành một câu nghi vấn quan trọng. Nó được gọi là “đại nghi.”

Điều này xảy đến với tôi một lần một cách tự nhiên ở ngoài biển. Tôi trước đó không biết chút gì về Phật Giáo, nhưng việc đó đã xảy ra. Đó chính là một mối đại nghi. Đúng hơn thì nó giống như là một tảng mây to lớn. Nó ập đến với tôi, và nó giống như một gánh nặng. Đó là cách mà tôi có thể mô tả nó. Nó như là gánh nặng khổng lồ trên đôi vai tôi. Toàn bộ chuyện này là gì? Tại sao tôi ở đây? Ai đang hỏi những câu này? Tôi là ai? Tôi đã không biết rằng mình đang dụng công làm việc với một thoại đầu, nhưng mà tôi đã làm vậy. Nhưng rồi nó càng lúc càng trở nên mãnh liệt hơn nữa và rồi nó ngừng bặt. Mỗi người có mỗi kinh nghiệm khác nhau, nhưng trong trường hợp của tôi thì toàn bộ mọi suy nghĩ của tôi ngừng lại trong một giây. Có lẽ là một phần triệu giây thì đúng hơn, nhưng nó có cảm giác như một quãng thời gian dài. Khoảnh khắc đó, tôi đã thấy được mọi thứ như chúng vốn thực chất là như vậy, không có bất kỳ suy nghĩ nào xen vào giữa.

Chúng ta chịu đau khổ từ ý nghĩ. Kinh văn có nói về sự hoan hỷ của ly cấu địa. Cấu nhiễm này chính là ý niệm của chúng ta - kể cả ý niệm thanh tịnh. Bất kỳ loại ý niệm nào - tốt, xấu, và đồi bại - đều chính là vọng niệm. Và bất luận là ý niệm của quý vị vi tế đến như nào, nó chẳng là gì so với khi ý niệm của quý vị ngừng lại, để mà thấy được sự tinh thuần của mọi thứ như chúng thực chất là như vậy. Và với tôi thì, không có màn pháo bông hay ánh sáng nào cả, tôi cũng đã không thấy Quán Âm Bồ Tát16 giáng thế từ trên tầng trời hoặc bất cứ điều gì như vậy. Tôi đang trong ca trực canh tàu, và tôi đang nhìn vào các ngôi sao, và chúng chỉ là “như thị, như thị”. Mọi thứ chỉ là sự vận hành mà nó đang là như vậy. Và đó là một sự giải toả gánh nặng thâm sâu. Tôi đã bật khóc. Đó thật sự là hoàn mỹ. Nó như thể ai đó dỡ cái đe sắt nặng khỏi đôi vai tôi. Thế là tôi chỉ thốt lên Ahhhh. Nó thật sự là hỷ lạc. Và tôi muốn chộp lấy những người trực cùng với tôi, lay họ và nói, “Này nhìn kìa! Nhìn kìa!”

Rồi lần đầu tiên tôi bắt đầu cảm nhận được sự thất vọng thật sự mà các vị Phật và Bồ Tát cảm thấy. Các ngài không thể làm cho người ta thấy được điều đó. Các ngài phải dùng thiện xảo để khiến họ thấy được nó. Quý vị phải sử dụng phương tiện thiện xảo. Người ta phải tự mình đắc ngộ được điều này.

Ở trường hợp của tôi, do bởi tôi đã không có nền tảng gì cả, tâm tôi không trụ được như thế quá lâu. Tôi nghĩ trong vòng một tuần hoặc hơn, thì hầu hết mọi phương diện của kinh nghiệm đó đều bị chặn lại và trở về như cũ. Điều này khiến tôi lâm vào một cơn trầm cảm nặng bởi vì tôi đã có ngay đây đại hỷ lạc và sự giải toả gánh nặng, thế rồi bất thình lình tất cả vọng tưởng lại ùa về nữa, tâm tôi bị chúng bao phủ toàn bộ. Tôi thậm chí còn không thể đứng thẳng lưng nổi, tôi đã rất trầm cảm. Tôi đã lên tới đảo Majorca, một hòn đảo ngoài khơi Tây Ban Nha. Con tàu đã cập bến ở đó và khi tôi bước lên bờ, ở đó toàn là những món đồ bằng da được bày bán. Họ bán toàn là những cái áo khoác da - da, da, da khắp mọi nơi. Vậy nên, tôi nhìn chỉ toàn là thấy da của chúng sanh. Đó là tất cả những gì tôi có thể nhìn thấy. Và mùi hôi kinh khủng của các tấm da! Tôi thầm nghĩ, Ôi Thánh Thần ơi, con đang ở trong địa ngục. Cái gì đây? Điều này thật là kinh khủng. Và sau đó tôi đã tìm thấy một nhà thờ Công Giáo. Đạo Công Giáo tồn tại cả hàng ngàn năm ở Tây Ban Nha. Nó là một ngôi nhà thờ cũ kỹ, lâu đời. Tôi bước vào bên trong nhà thờ để nương trú nhằm tránh khỏi tất cả những tấm da ở khắp nơi này và tất cả những con người này. Khi tôi vào đến bên trong nhà thờ đó, nó rất là an tĩnh. Toàn là những người tu hành ở trong đó. Họ là những ai? Những bà lão. Họ đang tụng niệm cùng với chuỗi tràng hạt của họ. Và bởi vì họ đang tu hành, vậy nên họ đang thanh tịnh hoá. Họ không hề biết điều đó, nhưng mà họ đã đang tu hành một Pháp môn. Ở trong nhà thờ rất an tịnh. Tôi chỉ ở đó, và thật là tuyệt. Và rồi tôi đã quyết định, tôi phải tìm ai đó để giúp tôi bởi vì tôi chẳng biết làm gì với chuyện này. Tôi biết mình chẳng thể đi nói với một linh mục. Họ sẽ không có khả năng trả lời những câu hỏi này. Đó là lúc tôi bắt đầu có hứng thú với việc tìm kiếm một vị đạo sư hoặc gì đó tương tự. Tôi cần ai đó để giải thích điều gì đã xảy ra với tôi.

Khi quý vị có một trải nghiệm như vậy, thì mục tiêu quan tâm của quý vị chuyển đổi. Quý vị không còn hứng thú vào bất cứ thứ gì trên thế gian. Mọi thứ này, mọi thứ trên thế gian, đều là tầm thường. Tôi đã nhận ra rằng mọi thứ này đây, những thứ mà mọi người đều cho rằng rất là quan trọng - nó thật là vô nghĩa! Tôi biết rằng mình sẽ không bao giờ còn hứng thú với bất kỳ điều gì nữa, ngoài việc là tôi thật sự cần tìm ai đó để giúp tôi với câu hỏi trọng đại này, với chuyện lớn này đã xảy đến với tôi. Đó chính là hoàn cảnh của tôi.

 

Ghi chú:

16. Quán (Thế) Âm là một trong bốn vị Bồ Tát với tầm quan trọng vĩ đại nhất trong Phật Giáo Đại Thừa Trung Hoa. Được biết đến trong tiếng Phạn với tên là Avalokiteśvara, Quán Âm là vị Bồ Tát của sự Từ Bi.

 

(Còn tiếp)