Chinese | Vietnamese

 

Âu Châu Hoằng Pháp Ký

Do Tổng Hội Phật Giáo Pháp Giới,
Ban Ðại Học Pháp Giới Phật Giáo sao lục

Mục lục

Tựa

Hoằng Dương Phật Pháp -- Trách Vụ Chung Của Mọi Người

Đạo Phật và Hòa Bình Thế Giới

Để Ngừng Chiến Tranh Trước Hết Phải Ngừng Sự Đấu Tranh Trong Tâm Quý Vị

Tôi Muốn Nhận Lấy Các Nghiệp Tội Của Chúng Sanh

Thần Chú Đại Bi Thông Thiên Địa

Ý Nghĩa Của Sự Quy Y Vượt Ra Ngoài Ngôn Ngữ

Nghiệp Báo Sát Sanh Khó Tránh Được

Sự Tự Do Chân Thật Và Cuộc Sống Trường Thọ

 

Tựa

Năm 1990 trong khuôn khổ hoằng pháp và tham vấn lần thứ năm, phái đoàn Viện Ðại Học Pháp Giới Phật Giáo của Tổng Hội Pháp Giới Phật Giáo đã đi Âu Châu lần đầu tiên. Tháng 10 năm 1990 đã về đến Hoa Kỳ. Hành trình hoằng pháp kéo dài khoảng một tháng. Phái đoàn đã thăm viếng Anh Quốc, Bỉ, Ba Lan và Pháp, và tại những quốc gia này phái đoàn đã thành tâm mang giáo pháp và chân lý của Phật Ðà giảng giải cho quần chúng.

Không ngoài trọng trách kế thừa sứ mạng của Phật Ðà ngõ hầu chánh pháp có thể trụ thế lâu dài, trong chuyến viếng Âu Châu, Hòa Thượng đã kêu gọi Phật giáo Nam Tông và Bắc Tông nên đoàn kết thống nhất, đồng thời cũng nên tiếp nhận các tôn giáo khác. Ngài cũng nhắc nhở nên coi trọng vấn đề giáo dục vì chỉ có giáo dục mới là linh dược cứu nhơn cứu thế giới. Và để gánh vác sự nghiệp của Như Lai, Ngài mời các nhân tài có khả năng phiên dịch kinh điển đến Viện Phiên Dịch Kinh Ðiển Quốc Tế để cùng nhau phiên dịch Tam tạng kinh điển ra các ngôn ngữ thế giới hầu cho Phật pháp được thấm nhuần tươi mát vào tâm khảm mọi người, phổ nhiếp quần sanh.

Thệ nguyện hoằng dương Phật pháp thâm sâu, lòng từ bi và đức độ cao thâm của Hòa Thượng khiến ai ai cũng cảm kích và vô cùng mến phục. Ngài quán căn tánh và căn cơ chúng sanh để tùy duyên giảng dạy và thuyết pháp. Ngài đã mở trên hai mươi pháp hội diễn giảng và khai thị tại Âu Châu.

Nay, ban tu thư chúng tôi đang sao lục các bài giảng của Ngài để in thành sách dưới tựa đề "Âu Châu Hoằng Pháp Ký." Bồ Ðề Hải sẽ lần lượt đăng những bài giảng ấy.

 

Hoằng Dương Phật Pháp -- Trách Vụ Chung Của Mọi Người

(Khai Thị Tại Trung Tâm Phật Giáo Amaravati tại nước Anh ngày 6 tháng 10 năm 1990)

 

Bất cứ nơi nào tôi đặt chân đến thì đều giống như ở tại Vạn Phật Thánh Thành, chẳng có gì phân biệt, bởi vì chúng ta và Pháp Giới đều là một thể. Hôm nay, có được một cơ duyên rất khó gặp được đến nơi đây, lòng tôi rất hoan hỷ. Ðức Phật thuyết tất cả pháp vì để đối ứng lại với tất cả căn cơ của chúng sanh. Do đó bất luận Nam Tông hay Bắc Tông đều phải vì chúng sanh phát Bồ đề tâm, giúp cho mọi loài đều được liễu sanh thoát tử, ly khổ đắc lạc. Quý vị nên hiểu rõ ràng thế nào là Phật giáo chơn chánh, không nên nói rằng ông không thuộc Phật giáo chánh tông, còn tôi mới là Phật giáo chánh tông. Như vậy là cốt nhục tương tàn, chẳng có gì lợi ích cho Phật giáo cả. Do đó chúng ta nên khai thông tư tưởng Phật giáo Nam Tông và Bắc Tông để có thể đoàn kết dung-hợp thành một khối; hệ Nam Truyền không nên dồn hết xuống phía Nam, hệ Bắc Truyền cũng không nên chạy hết lên phía Bắc. Hai phái nên chọn một con đường giữa mà đi để hai phái cùng kết hợp lại bởi vì Nam Truyền hay Bắc Truyền đều là con của Phật, cháu của Phật, không nên mạnh anh anh làm, mạnh tôi tôi làm, chia bè kết phái, làm cho Phật giáo bị phân tán.

Lúc xuất gia tôi đã nghiên cứu tại sao giáo lý của Phật Ðà rất là viên mãn mà số người học Phật trên thế giới lại quá ít ỏi, nguyên nhân vì sao?

Sau khi nghiên cứu mới vỡ lẽ rằng kinh điển Phật giáo không được phiên dịch ra nhiều ngôn ngữ, do đó không thể phổ cập đến các quốc gia trên thế giới. Trái lại, Thánh kinh của đạo Thiên Chúa và đạo Gia-Tô đã được phiên dịch ra nhiều ngôn ngữ, nên mọi người trên thế giới đều có thể đọc và hiểu được. Do đó khi xuất gia, mặc dù chẳng biết ngoại ngữ nào cả, tôi đã phát nguyện mang kinh điển Phật giáo phiên dịch ra nhiều ngôn ngữ. Ðó là nguyện lực của tôi, nhưng mãi cho đến bây giờ ý nguyện đó vẫn chưa hoàn toàn thành tựu, và tôi vẫn tiếp tục đeo đuổi mục tiêu đó. Hy vọng các vị nào có cùng chí hướng, cùng nhau sát cánh với chúng tôi để hoàn thành công tác quan trọng này.

Do vậy, tại thành phố Burlingame (phía nam San Francisco) tôi đã thành lập một Viện Phiên Dịch Kinh Ðiển Quốc Tế, để làm công tác phiên dịch kinh điển. Tôi hy vọng bất luận tín đồ Nam Tông hay tín đồ Bắc Tông hãy cùng nhau hợp tác phiên dịch kinh điển Phật giáo ra nhiều ngôn ngữ. Ðây là một công tác rất quan trọng. Chúng ta chớ đừng tự mình chia rẽ lẫn nhau - Ðó chỉ làm cho làm lãng phí thời gian, lãng phí tinh thần, chẳng ích lợi chi cả. Thuở xưa, Phật độ chúng sanh đã từng thuyết pháp 49 năm, giảng kinh trên 300 hội, độ toàn là những tín đồ ngoại đạo, như Ma Ha Mục Kiền Liên, Xá Lợi Phất, Ma Ha Ca Diếp, v.v... Tuy là tín đồ ngoại đạo nhưng họ đã đến qui y Phật giáo. Là tín đồ Phật giáo tại sao chúng ta không thể bao dung lẫn nhau, khích lệ lẫn nhau để cầu tiến. Trái lại chúng ta dừng lại nửa đường để khích bác, chỉ trích lẫn nhau, ngươi phải ta sai, ta đúng ngươi quấy; có phải là cốt nhục tương tàn hay không?

Tôi chẳng biết ngoại ngữ nào cả, mà lại to gan dám đòi phiên dịch kinh điển, muốn mang kinh điển phiên dịch ra các ngôn ngữ trên thế giới. Với chỉ đơn thuần ý tưởng đó thôi, Phật cũng đã hoan hỷ rồi. Như tôi là người không biết ngoại ngữ mà muốn làm công việc đó, vậy thì những người biết ngoại ngữ càng cần phải thực sự nỗ lực thực hiện công tác này.

Ðương nhiên sự tu hành của mỗi người rất quan trọng. Nếu tu chứng quả thành đạo cố nhiên sẽ giúp ích Phật giáo rất nhiều, nhưng đó chỉ có tánh cách nhứt thời. Nếu chúng ta có thể mang kinh điển Phật giáo phiên dịch ra nhiều ngôn ngữ trên thế giới, đưa Phật pháp vào trong tâm khảm mọi người, thì đó mới là sự nghiệp vĩnh cửu. Hoằng dương Phật pháp là một nhiệm vụ rất quan trọng, nhưng đối với Phật giáo, phiên dịch kinh điển lại càng quan trọng hơn.

(Ghi chú của người biên soạn: Tháng 10 năm 1990 khi Hòa Thượng đến Ba Lan hoằng pháp lần đầu tiên có khoảng 50 người Ba Lan đến qui y Ngài. Sau đó họ thành lập một đoàn thể để phiên dịch kinh điển có chú giải ra tiếng Ba Lan. Họ đã hoàn tất phiên dịch và ấn hành quyển "Ðịa Tạng Kinh Thiển Thích", do Hòa Thượng giảng giải. Hiện thời họ đang tiến hành phiên dịch quyển "Lăng Nghiêm Kinh Thiển Thích" cũng do Ngài diễn giảng.)

 

 

Đạo Phật và Hòa Bình Thế Giới

Bài nói chuyện ngày 09 tháng 10 năm 1990 tại nhà hát Westminster, Luân Đôn, nước Anh.

Những gì người khác không muốn, chúng ta sẽ nhận; những gì người khác muốn, chúng ta sẽ không muốn. Đây chính thực là hòa bình..

 

Nam mô tát đát tha, Tô già đa da, A ra ha đế, Tam miệu tam bồ đề tỏa (3x).

(Là bốn câu đầu của Chú Lăng Nghiêm được trì tụng để quy y với tất cả chư Phật và Bồ tát trước khi thuyết pháp hay giảng kinh).

 

Kính thưa các vị lãnh đạo tôn giáo các nước, các vị thiện tri thức, các vị Đại Đức từ bi, Hôm nay chúng ta cùng nhau ngiên cứu về mối quan hệ giữa đạo Phật và nền hòa bình thế giới. Đạo Phật là hòa bình, và hòa bình là đạo Phật, hai bên không có sự xung đột. Những người học Phật pháp chính là đang học về hòa bình. Những người không học Phật pháp thì không thể hòa bình. Tại sao tôi nói như vậy? Những người học theo đạo Phật đều học Vô Tranh Tam muội. Vô Tranh - Không Tranh. Không Tranh nghĩa là hoàn toàn không còn một chút tranh chấp nào. Không tranh chính là những gì người khác không muốn, chúng ta sẽ nhận; những gì người khác muốn, chúng ta sẽ không muốn. Đây chính thực là hòa bình.

Tại sao người ta tranh? Tranh đến từ đâu? Tranh khởi đầu từ trong tâm của con người. Một khi quý vị tranh, thì quý vị không còn hòa bình. Nếu quý vị không tranh, thì sẽ có hòa bình. Hòa bình chính là khi không còn các sự đấu tranh nào nữa. Không có hòa bình có nghĩa là vẫn còn sự đấu tranh.

Khi Đức Phật còn tại thế, lúc ấy là thời kỳ Chánh Pháp kiên cố. Sau khi Phật nhập niết bàn, lúc đó là thời kỳ Tượng Pháp kiên cố. Hiện nay chúng ta đang ở vào thời Mạt Pháp là thời ký Đấu Tranh kiên cố.

Do đó có câu kệ như sau:

Tranh là tâm hơn thua

Đi ngược lại với Đạo

Hay sanh ra bốn tướng

Làm sao được Tam-muội? (1)

Một khi quý vị bắt đầu tranh thì quý vị đi ngược với Đạo. "Hay sanh ra bốn tướng" Một khi quý vị tranh thì quý vị có ngã tướng, tướng về mình. Có cái tướng về mình thì cũng có tướng về Người (nhân tướng), có tướng về người tướng thì có tướng về chúng sanh (chúng sánh tướng), và có tường về chúng sanh thì cũng có tướng về thọ giả (thọ giả tướng). Do đó nói là sanh ra bốn tướng. "Làm sao được Tam-muội?" Khi cái tâm với bốn tướng phát sanh thì làm sao quý vị đắc chánh định chánh thọ?

Chúng ta học Phật pháp, hoặc học tôn giáo khác, học Pháp môn nào mà nếu còn tâm tranh thắng thì không có hòa bình, vẫn là tâm đấu tranh. Nên nói "Tranh là tâm hơn thua, Đi ngược lại với Đạo, Hay sanh ra bốn tướng, Làm sao được Tam-muội?".

Nếu tâm của quý vị còn tranh, làm sao quý vị có được sự lợi ích từ tôn giáo? Không những chẳng có lợi ích mà thật ra còn gây hại vì đối với người lại sanh một loại tâm nguy hại, làm nguy hiểm đến sanh mạng của người khác. Như vậy không phải là hòa bình. Nếu chúng ta muốn thế giới hòa bình, chúng ta đều bắt đầu bằng sự không tranh.

Cái tướng đầu tiên của bốn tướng là Ngã tướng. Cái ngã từ đâu mà phát sanh? Có câu kệ về Ngã như sau:

Khi ta chưa sinh, ta là ai?

Khi sinh ra rồi ta là ai?

Lớn lên thành người mới là ta?

Nhắm mắt mù mờ lại là ai? (2)

Những câu kệ trên đây nghiên cứu câu hỏi về cái Ngã này. Trước khi sanh vào thân này, tôi đã ở đâu? Tôi là ai? Rốt cuộc tôi là ai? Sau khi sanh, lúc còn nhỏ tôi vẫn không biết mình là ai. Tuy nhiên khi lớn lên và đã trưởng thành, tôi cảm thấy có một cái "Tôi".

Những bộ phận trong cơ thể chúng ta, tứ chi, xương cốt, cái đầu, bàn tay, bàn chân, mắt, tai, mũi, răng, lưỡi và toàn cái thân chúng ta vốn đều có tên gọi riêng, nhưng cái nào là "ngã". Quý vị tìm khắp trên toàn thân nhưng quý vị sẽ không tìm được cái "ngã" trong đó. Quý vị biết là có cái ngã nhưng quý vị không thể tìm được nó. Vậy thật ra ngã nó là cái gì? Khi quý vị nhắm mắt và chết, quý vị lúc ấy là ai? Cái "Ngã" là một cái gì mơ hồ, không rõ lắm. Tên gọi và thực tế không trùng hợp nhau. Quý vị không biết được cái gì là ngã, nhân, chúng sanh và thọ giả. Cho dù người ta không hiểu nhưng người ta vẫn muốn sống và không muốn chết. Họ vẫn muốn ăn và không muốn đói, vẫn muốn có áo mặc chứ không muốn lạnh, muốn ngủ chứ không muốn mệt. Tại sao vậy? Người ta thậm chí còn muốn làm chuyện xấu và tránh làm các điều thiện. Họ muốn bất hiếu thay vì hiếu thảo với cha mẹ. Ai dạy họ làm như vậy?

Nếu có cái "Tôi" thì tại sao cái "Tôi" không thể khiến mắt tôi không bị mờ, tai tôi không bị điếc, hay răng tôi không bị rụng? Thậm chí khi ta bịnh và sắp chết, tại sao cái "Tôi" không thể làm được điều gì? Nếu "Tôi" không phải là cái tên giả, vậy nó là gì? Có phải đây là sự hồ đồ mê mờ, không hiểu rõ? Nhưng Phật quả chính là sự hiểu rõ.

Lý do thế giới không có hòa bình là vì con người ngu si. Nếu muốn có hòa bình trên thế giới, con người phải có trí huệ và phải biết nhường nhịn thay vì tranh giành. Thí dụ như trong lịch sử Trung Hoa, vua Nghiêu truyền ngôi cho Thuấn, vua Thuấn truyền ngôi cho Vũ. Một vị vua tình nguyện nhường ngôi cho vị kế tiếp, các vị hoàng đế sẵn sàng giao vương quốc của họ cho người khác. Vì họ nhường và không tranh nên thời đó là thời của thái bình thịnh vượng. Nhường mà không tranh.

Các vị cổ đức có thể nhường cả đất nước cho người khác vì họ xem của cải tài sản bên ngoài như đôi dép rách. Xem quốc gia lãnh thổ như đôi dép rách không giá trị. Dù vậy họ vẫn muốn chăm lo đôi dép rách và họ muốn bảo vệ lãnh thổ, vì thế họ muốn tìm người xứng đáng với món quà. Vua Nghiêu đi khắp cả nước để tìm người hiền đức, một người không có lòng tham, một người nhà vua có thể tin tưởng giao phó cơ nghiệp quốc gia.

Vào thời đó ở Trung Hoa có hai vị thánh nhân là Sào Phủ và Hứa Do không có lòng tham. Sào Phủ không có nhà để ở, ông trú ngụ trên cây tương tự như chim sống trong tổ. Ông làm một tổ trên cây, vì vậy được gọi là Sào Phủ (Người ở tổ chim). Hứa Do là người giữ trâu, ông tự nuôi một con trâu và hằng ngày uống chút sữa trâu để sống.

Sào Phủ thì ngay đến một cái chén cũng không có. Có người cho ông một cái vỏ trái bầu có thể dùng để uống nước, nhưng khi treo nó trên cây và bị gió thổi va chạm vào thân cây tạo tiếng ồn chói tai, nên ông cũng không muốn giữ lấy nó nữa. Ông ưa dùng tay hứng nước để uống. Cuộc sống của ông thanh đạm như vậy, không có lòng tham. Hứa Do thì hằng ngày chỉ ăn rau cải dại và uống chút sữa, như thế là đủ rồi. Ông ta cũng chẳng có lòng tham.

Khi vua Nghiêu nghe kể về hai vị trên không tham và cũng không tranh với người, nhà vua muốn nhường quốc gia lại cho họ. Cho nên vua mới đi tìm Sào Phủ và nói về việc muốn nhường quốc gia lại cho Sào Phủ làm Hoàng đế. Nghe xong, Sào Phủ quay lưng chạy ra bờ sông để rửa sạch tai. Vì sao lại rửa tai? Vì ông cảm thấy những lời đề nghị của vua Nghiêu trao quốc gia lại cho mình đã làm dơ bẩn tai ông, nên ông muốn rửa sạch các lời nói dơ bẩn ấy.

Khi Hứa Do thấy Sào Phủ rửa tai bên bờ sông bèn hỏi: "Tại sao ông làm vậy? Tai ông bị gì vậy"? "

Sào Phủ đáp: "Vua Nghiêu thật không có gì tốt hơn để làm nên mới đến hỏi tôi là muốn nhường quốc gia thiên hạ cho tôi, kêu tôi làm Hoàng đế quản trị thiên hạ, tôi cảm thấy bẩn tai nên muốn rửa sạch tai". Hứa Do đang dẫn trâu đi uống nước nhưng sau khi nghe xong, ông lập tức dẫn trâu đi ngược dòng lên dòng nước phía trên để trâu uống nước.

"Tại sao ông dẫn trâu lên dòng nước phía trên?" Sào Phủ hỏi.

"Ông rửa tai bên bờ sông, như vậy nước bị dơ, tôi không thể để con trâu của tôi uống nước dơ được. Cho dù là trâu nhưng nó cũng không muốn uống nước dơ bẩn". Hứa Do đáp.

Quý vị nghĩ xem. Người xưa họ thanh cao như thế, không tranh như thế, không tham như thế. Nên khi có người muốn cho họ cả quốc gia, họ cũng không muốn nhận. Nhưng người ngày nay càng ngày càng xa rời chánh đạo, tất cả chỉ vì cái "Ngã". Ngã là gì? Chúng ta tự mình không hiểu được, thế nhưng ngày ngày chúng ta bám chấp vào nó khiến quên hết mọi việc. Chỉ vì cái chấp vào ngã khiến chúng ta không có trí huệ. Nếu quý vị có thể nhìn xuyên thấu cái ngã và buông xả nó đi thì quý vị sẽ được tự tại và sẽ không còn vấn đề nào nữa. Chỉ vì quý vị không thấu hiểu và buông bỏ nó được nên quý vị vẫn chưa được tự do tự tại. Thay vào đó, cái ngã nó hồ đồ, mê mờ, sống như kẻ say và chết như trong mộng. Khi quý vị thức dậy, quý vị chạy tới chạy lui - không biết chạy làm cái gì. Rồi sau khi làm xong chuyện, quý vị lại lên giường đi ngủ. Ăn cũng vậy. Quý vị ăn no xong bữa nay nhưng rồi ngày mai lại phải ăn nữa, cứ thế ngày qua ngày cho đến mấy chục năm, rồi hết. Ai biết cái ngã quý vị đi về đâu? Bản thân quý vị không biết ngã nó đi đâu, thế nhưng cái ngã giả tạo này khiến quý vị tìm đồ ngon để ăn, áo đẹp để mặc. Quý vị làm nô lệ cho cái ngã giả này, rối rít lo lắng khi nó đói, nó lạnh hay nó khát. Quý vị làm mọi cách cho nó khỏe mạnh nhưng khi đến lúc, thì nó cũng phải chết. Hãy nhìn xem! Suốt đời bận rộn quay cuồng, làm lụng mệt mỏi đến khi tai lãng, mắt mờ, tóc bạc răng long, chân yếu không đi được và chính mình cũng không biết làm gì. Vì quý vị không hiểu được cái "chân ngã", quý vị đã bị gạt. Khi tới lúc chết, quý vị không tự tại, không thể làm chủ được sự việc.

Chúng ta nên suy nghĩ lại. Từ bao ngàn năm nay, người ta sanh ra, chết đi, rồi tái sanh, cứ như thế và như thế. Con người sống cuộc sống bận rộn đời này sang đời khác. Trong bao ngàn năm này, chúng ta trôi theo vòng sanh tử, tử sanh. Chúng ta khóc và cười, cười và khóc. Có câu kệ rằng:

Cá nhảy ở trong nước;

Người ồn ở trên đời.

Không biết làm thiện đức,

Hao tâm tạo nghiệp tội.

Dù bạc vàng như núi,

Nhắm mắt buông xuống hết,

Tay trắng gặp Diêm vương,

Hối tiếc nước mắt tuôn. (3)

Chỉ khi đó, giống như những tội phạm bị nhốt trong lao tù, quý vị mới hối hận chuyện mình đã làm, nhưng lúc ấy đã quá muộn. Tôi không rành Anh ngữ lắm nhưng tôi biết chữ "too late" (quá trễ).

Nước Anh là một nước rất văn minh, có trình độ văn hóa đứng hàng lãnh đạo trên thế giới. Tôi hy vọng nước Anh sẽ đưa văn hóa trí tuệ vào xã hội văn minh của mình và dùng nền văn hóa trí tuệ để hướng dẫn những người trên thế giới thiếu có trí huệ. Nếu ai ai cũng có trí huệ thì thế giới sẽ có hòa bình. Nếu con người ngu si thì sẽ không có hòa bình trên thế giới.

Điều kiện đầu tiên để có trí huệ là không sát sanh. Sát sanh là không có trí huệ, tại vì quý vị đoạt mạng của những sanh vật khác thì chúng sẽ tìm cách trả thù. Vì sự ngu si của chúng ta, chúng ta mê lầm, tạo nghiệp và thọ lãnh lấy quả báo. Nếu quý vị giết hại người khác thì họ cũng sẽ giết hại lại quý vị. Nếu quý vị ăn thịt chúng, chúng cũng sẽ ăn thịt quý vị.

Có một giáo sư sống ở Chùa Vạn Phật nghe nói về lợi ích của việc ăn chay. Ông ta nghe nói nếu ăn chay thì sẽ không tạo nghiệp với các chúng sanh nên không phải bị quả báo. Gia đình ông ăn chay và con ông cũng được dạy ăn chay. Ông ta giảng nguyên tắc sau cho con ông: "Nếu con ăn nhiều thịt heo, con kiếp sau sẽ thành heo. Nếu con ăn nhiều thịt bò, con sẽ thành loài bò, ăn nhiều thịt cừu thì sẽ thành con cừu. Nếu con không ăn thịt thì con sẽ không trở thành những súc vật trên, con ăn gì thì sẽ thành cái đó". Nhưng đứa bé không xem trọng lời giảng nghĩa của cha nó. Bé gái chỉ có 3 tuổi và hỏi lai: "Ba nói ăn thịt heo thành heo, ăn thịt bò thì thành bò, thịt cừu thì thành cừu, vậy nếu con ăn rau cải thì con không phải thành rau cải hay sao"? Người cha không biết trả lời làm sao bèn đem con gái và câu hỏi của bé gái đó đến hỏi tôi.

Tôi bảo, "Heo, bò, cừu đều có chân và nếu con muốn bắt giết chúng,chúng sẽ cố bỏ chạy. Khi con giết chúng, trong lòng chúng đầy thù hận và trong tương lai chúng nó sẽ kéo con xuống thành bọn chúng. Con cừu kéo con xuống thành cừu, con heo kéo con xuống thành heo và con bò kéo con xuống thành bò. Còn rau cải thì sao? Lúc con ăn chúng, chúng không có la hét, nhảy, hay mọc chân bỏ chạy đâu. Cho nên nếu con ăn rau cải, con có lẽ sẽ không thành loài rau đâu".

Trong tiếng Trung Hoa, chữ thịt - "Nhục" (肉) - gồm hai chữ "Nhân" (人) bên trong chữ "Khẩu" (口). Chữ "khẩu" lúc này thiếu một nét ở bên dưới, có nghĩa là cái miệng đang há ra để ăn người.

Trong chữ 'nhục"' (肉) gồm có hai người (人),

Người ở trong kéo người ở ngoài,

Chúng sanh lại ăn thịt chúng sanh,

Suy xét kỹ là người ăn người. (4)

Hai người trong chữ "nhục" (肉) (thịt) tượng trưng cho một người đang ăn và người kia đang bị ăn. Tôi nhớ có lần có người hỏi "Ăn chay có lợi ích gì? Không phải là giống như tự lừa dối mình để bị thiệt thòi hay sao"? Tôi đáp, "Quý vị có thể cảm thấy mình bị thiệt thòi trong lúc quý vị còn sống, nhưng quý vị sẽ không bị thiệt thòi sau khi chết. Nếu quý vị không ăn chay thì khi sống quý vị không bị thiệt thòi nhưng khi chết rồi thì sẽ bị. Một khi sổ sách tính xong thì quý vị phải trả nợ cho những gì mình thiếu". Dựa theo đạo lý trên, nếu chúng ta muốn hòa bình trên thế giới, chúng ta cần ngưng sát sanh và ăn thịt. Không sát sanh đích thật là hòa bình chân chánh. Nếu quý vị không giết kẻ khác, thì người khác sẽ không giết quý vị. Nếu quý vị không ăn thịt kẻ khác, thì kẻ khác sẽ không ăn thịt quý vị. Dù tôn giáo của chúng ta là tôn giáo nào, nếu tất cả chúng ta đều ăn chay, thì sẽ có hòa bình trên thế giới.

Một vài thập niên trước, khi tôi đến Đài Loan, dân chúng ở đó rất lo sợ về sự xâm lăng của Trung cộng. Cuộc sống họ như ngàn cân treo sợi tóc và mọi người đều hoang mang. Người ta muốn biết chừng nào Cộng sản Trung Hoa sẽ tấn công nên họ hỏi tôi, "Đài Loan sẽ ra sao?" Lúc đó có một người rất lo lắng về câu hỏi này, tại vì nếu tôi trả lời không thích đáng, tôi có thể sẽ vào tù. Vấn đề này rất là nhạy cảm, và nếu có ai phát biểu điều gì không đúng thì họ sẽ bị bắt, bị ghép tội là cộng sản và bị cho vào tù trên Đảo Xanh (Lục Đảo - Green Island).

Tôi nói với người đặt câu hỏi, "Nếu người dân Đài Loan ăn chay, niệm Phật và không sát sanh, thì Đài Loan sẽ tốt đẹp. Nhưng nếu người Đài Loan hay sát sanh, tạo nhiều ác nghiệp thì Đài Loan sẽ hư hoại. Nếu mọi người không làm các điều ác, luôn làm các việc thiện (5), nước Đài Loan sẽ vô sự, nhưng nếu quý vị làm nhiều các điều ác, không làm các việc thiện (6), Đài Loan sẽ bị nguy hiểm."

Những gì tôi nói hôm nay có thể có một chút đạo lý, hay có thể là không có chút đạo lý nào. Tôi hy vọng mọi người hãy dùng trí huệ của mình để tìm xem chân lý ở đâu. Có câu nói,

Nếu là Ðạo thì tiến tới,

Không phải là Ðạo thì thối lui!" (7) 

Tôi hy vọng tất cả quý vị

Chọn điều thiện để theo,

Sửa đổi điều bất thiện. (8)

Cuối cùng tôi chúc tất cả mọi người sức khỏe dồi dào, tinh thần an lạc, tất cả đều cát tường như ý. Chúc mọi người một đêm an lành!

 

 

Ghi chú của Ban Phiên Dịch Việt Ngữ VPTT:

(1) Nguyên văn Hoa ngữ:

爭是勝負心
與道相違背
便生四相心
由何得三昧

Tranh thị thắng phụ tâm
Dữ Đạo tương vi bối
Tiện sanh tứ tương tâm
Do hà đắc tam muội?

(2) Nguyên văn Hoa ngữ:

未曾生我誰是我
生我之時我是誰
長大成人方是我
合眼朦朧又是誰

Vị tằng sanh ngã thùy thị ngã
Sanh ngã chi thì ngã thị thùy
Trưởng đại thành nhân phương thị ngã
Hợp nhãn mông lông hựu thị thùy
?

(3) Nguyên văn Hoa ngữ:

魚在水裏躍
人在世上鬧
不知為善德
虧心把孽造
金銀堆成山
閉眼全都撂
空手見閻君
悔心把淚掉

Ngư tại thủy lý dược
Nhân tại thế thượng náo
Bất tri vi thiện đức
Khuy tâm bả nghiệt tạo
Kim ngân đôi thành san
Bế nhãn toàn đô lược
Không thủ kiến Diêm quân
Hối tâm bả lệ điệu.

(4) Nguyên văn Hoa ngữ:

肉字裏邊兩個人
裏邊罩著外邊人
眾生還吃眾生肉
仔細思量人吃人

Nhục tự lý biên lưỡng cá nhân
Lý biên tráo trứ ngoại biên nhân
Chúng sanh hoàn cật chúng sanh nhục
Tử tế tư lượng nhân cật nhân.

(5) Nguyên văn Hoa ngữ:

諸惡莫作,眾善奉行

Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành

(6) Nguyên văn Hoa ngữ:

諸惡多作,眾善不行
Chư ác đa tác, chúng thiện bất hành

(7) Nguyên văn Hoa ngữ:

是道則進, 非道則退

Thị đạo tắc tiến, Phi đạo tắc thối.

(8) Nguyên văn Hoa ngữ:

擇善而從, 不善而改

Trạch thiện nhi tòng,Bất thiện nhi cải.

 

Để Ngừng Chiến Tranh Trước Hết Phải Ngừng Sự Đấu Tranh Trong Tâm Quý Vị

Bài nói chuyện ngày 11 tháng mười năm 1990 tại London, nước Anh.

Sức mạnh nào có thể ngăn chận chiến tranh? Là sức mạnh của sự thành tâm. Trong từng ý nghĩ của chúng ta không nên có lòng hận thù.

 

Chiến tranh gây nên tổn thất về sanh mạng, tổn thất về tài sản và tổn thất về tinh thần; chiến tranh cũng làm tăng sự ô nhiễm môi trường. Mặc dù chúng ta chỉ là một phần rất nhỏ trong tổng số người đang sống trên thế giới nhưng “nhân định thắng thiên”. Với nhóm ít người của chúng ta, chúng ta muốn cầu nguyện với chư Phật và Bồ Tát ở mười phương để chấm dứt chiến tranh (chiến tranh Trung Đông – 1990). Nếu chúng ta có thể thành tâm 120 ngàn phần trăm với ước nguyện chấm dứt chiến tranh thì dù khó khăn chúng ta nhất định sẽ có đựơc cảm ứng, nhân định thắng thiên.

Bây giờ tôi sẽ nói từng câu, mọi người lập lại theo tôi: “Chúng con – Tuyên Hóa và các đệ tử- nguyện cầu Tận Hư Không, Biến Pháp Giới Quá Hiện Vị Lai Thập Phương Thường Trụ Tam Bảo- Phật Pháp Tăng- phát đại thệ nguyện hộ trì cho tất cả chúng sanh trên toàn thế giới., làm cho cuộc chiến tranh Trung Đông sẽ chấm dứt và tất cả chúng sanh sẽ sớm có được hòa bình an lạc. Chúng con nguyện đời đời kiếp kiếp đền đáp trọng ân của Tam Bảo. Với tất cả lòng thành kính chúng con hy vọng Tận Hư Không, Biến Pháp Giới Quá Hiện Vị lai Thường Trụ Tam Bảo -Phật Pháp Tăng- sẽ từ bi đáp ứng lời thỉnh cầu của chúng con.”

Pháp Hội hôm nay vô cùng quan trọng, mọi người nên trân trọng tâm nguyện cứu độ thế gian. Mọi người nên xem mạng sống của tất cả chúng sanh quan trọng hơn cả tánh mạng của mình. Chúng ta nên phát tâm chấm dứt tất cả cuộc chiến tranh trên thế giới.

Muốn chấm dứt chiến tranh, chúng ta không thể phản đối chiến tranh, nếu phản đối chiến tranh thì trong lòng quý vị lại có một cuộc chiến tranh phát khởi. Một khi quý vị phản đối một người nào đó hay cuộc chiến nào đó thì quý vị đang khơi dậy một cuộc chiến trong tâm mình. Chúng ta muốn chấm dứt chiến tranh. Sức mạnh nào có thể ngăn chận chiến tranh? Là sức mạnh của sự thành tâm. Trong từng ý nghỉ của ta không nên có lòng sân hận Nếu trong tâm chúng ta không có hận thù thì thế giới sẽ bất một phần cừu hận. Lâu dần, cuối cùng thì tự nhiên không còn tậm thù hận, không còn kẻ thù nữa.

Cho nên trong đạo Phật không có quân đội, không có Thập Tự Quân, Bát Tự Quân hoặc các loại tương tự. Chúng ta đối với mọi người đều với lòng Từ Bi Hỷ Xả. Ngày nay, vì nghiệp tội của chúng sanh đã tạo ra đảng Cộng sản, đảng Cộng Hòa, đảng Dân Chủ … . Quý vị có đảng quý vị, anh ta có đảng của anh ấy. Những người cùng chung quan điểm hợp lại với nhau và chống những người khác quan điểm với họ. Nếu quý vị không theo họ thì họ xem quý vị là kẻ thù. Đaọ Phật thì không có đảng phái. Đaọ Phật không chống ai cả. Đạo Phật thương mọi người như chính bản thân và không thù hận ai. Và Vạn Phật Thánh Thành đề xướng sáu con đường sáng lạn (quang minh đạo lộ), cũng là sáu loại trí huệ, sáu chày hàng phục ma hay sáu loại kính chiếu yêu. Sáu loại này là gì? Thứ nhất là Không Tranh. Tại sao quý vị không nên tranh? Một khi quý vị tranh giành cái gì đó với một người muốn thứ đó thì người ấy sẽ tranh đấu với quý vị. Nhưng tôn chỉ chùa Vạn Phật là “Nếu người ta bỏ, tôi sẽ nhặt lấy nó. Nếu người ta muốn, tôi sẽ cho họ”. Chúng ta nhận lấy tất cả những gì người khác không muốn; những gì người khác muốn thì chúng ta sẽ không lấy. Vạn Phật Thành là như thế.

Đều thứ nhì là “Không Tham”. Chúng ta không tham những vật mà người khác đang mong muốn. Nếu quý vị có lòng tham thì quý vị sẽ thành ích kỷ. Nếu không tham lam thì đó mới thật là không ích kỷ. Không có lòng ích kỷ thì không cầu điềugì cả (vô sở cầu). Tại sao người ta đi khắp mọi nơi tìm cầu đủ thứ? Là vì lòng tham. Chúng ta muốn không cầu và không ích kỷ. Vậy thì điều thứ ba là “Không Cầu”. Điều thứ tư là Không Ích Kỷ và thứ năm là Không Tự Lợi. Điều thứ sáu là không nói dối. Tất cả đều có hiệu lực giống nhau. Tại sao người ta nói dối? Vì họ muốn bảo vệ lợi ích, quyền lợi của họ. Tại sao họ ích kỷ? Vì họ có cầu mong, có ham muốn, có tranh giành.

Nếu người ta không ích kỷ, không tự lợi, không cầu, không tranh và không có lòng tham thì người ta không cần nói dối và lường gạt kẻ khác như người ta có thể làm trong các thương vụ buôn bán. Nếu có đồ vật nào đó rõ ràng đáng giá 10 đồng, người bán cố bán cho quý vị với giá 100 đồng. Họ nói “Đây là giá thật rẻ, tôi chẳng có lời được đồng nào trong vụ này”. Ông ấy phải tìm cách để bán cho được. Vì chúng ta không tranh, không tham, không cầu, không ích kỷ và không tự lợi, chúng ta không có lý do gì để nói dối. Chúng ta trân quý mạng sống kẻ khác hơn cả tánh mạng của chúng ta. Cho nên, bây giờ khi quý vị đã quy y với tôi ngày hôm nay, tôi sẵng sàng nhận lấy các nghiệp tội của quý vị như là của tôi vậy. Tôi muốn làm như vậy vì tôi có đọc về các bậc cổ đức thánh hiền, họ đều nhận lấy lỗi của người khác nhưng không hề đổ lỗi mình cho người khác. Vua Thang đời nhà Thương nói Nếu trẫm có tội, xin đừng để lụy đến dân chúng vạn phương, nếu dân vạn phương có tội thì đó là tội của trẫm”.(1) Ông nói: Nếu tôi có tội, xin đừng để lụy đến trăm họ, nếu trăm họ có tội thì đều do một mình tôi tạo tội. Ông kêu nài với Ngọc Hòang, với Thượng Đế và có lẽ với Đức Phật, xin họ đừng thấy đó là lỗi của những thần dân của ông.

 

Ghi chú:

(1) Nguyên văn Hoa ngữ:

朕躬有罪,毋以萬方,萬方有罪,罪在朕躬

Trẫm cung hữu tội, vô dĩ vạn phương, vạn phương hữu tội, tội tại trẫm cung。

 

Tôi Muốn Nhận Lấy Các Nghiệp Tội Của Chúng Sanh

Bài nói chuyện ngày 11 tháng mười năm 1990 tại nhà hàng New World ở phố Tàu, London.

 

Hễ khi nào quý vị có thể sửa đổi những lổi lầm và cải thiện chính mình thì dẫu cho nghiệp tội của quý vị đã làm nghiêm trọng đến đâu, tôi sẽ sẵn sàng chịu trách nhiệm về những nghiệp tội này.

 

Bây giờ quý vị đã quy y với Tam Bảo, quý vị nên làm người Phật tử tốt. Quý vị nên tránh các điều ác và thực hành tất cả những điều lành (1). Làm tất cả những điều có lợi cho người khác, và tránh làm bất cứ điều gì gây tổn thương người khác. Nếu quý vị có thể làm như vậy, thì tôi sẽ chịu trách nhiệm cho tất cả các nghiệp tội và những sai lầm mà quý vị phạm phải trong quá khứ. Nhưng hãy nhớ chắc rằng quý vị không được phạm những tội lỗi hoặc sai lầm đó một lần nữa. Tất cả quý vị hiểu rõ không? Hễ khi nào quý vị có thể thay đổi những lỗi lầm của mình và cải thiện bản thân, thì bất luận các nghiệp tội của quý vị có nghiêm trọng như thế nào, tôi sẽ sẵn sàng chịu trách nhiệm về những nghiệp tội này. Các nghiệp tội quý vị đã làm trước đó là vì quý vị chưa nghiên cứu Phật pháp và không biết gì khác tốt hơn. Bây giờ quý vị đã quy y với Phật pháp, quý vị không nên tạo ra bất kỳ nghiệp tội nào nữa.

Tất cả các nghiệp tội trước đây của quý vị nhất định sẽ xem là của tôi, bởi vì tôi đã không dạy dỗ cho quý vị trước đây. Bây giờ quý vị đã quy y rồi, quý vị không được tạo thêm các nghiệp tội nữa. Quý vị nên làm tất cả các việc tốt, trong khi tránh làm những việc xấu. Quý vị có hiểu không? Nếu như quý vị lẽ ra phải đọa địa ngục vì quả báo của những nghiệp tội đã làm trước đây, thì tôi bảo đảm là quý vị sẽ không đọa xuống địa ngục. Nếu như quý vị lẽ ra phải chuyển làm ngạ quỷ, nhưng vì quý vị thật sự thay đổi, tôi sẵn lòng trở thành ngạ quỷ thay cho quý vị và nhận lấy quả báo dùm quý vị. Nếu như quý vị lẽ ra phải làm súc sanh vì nghiệp tội trong quá khứ của mình, nhưng quý vị làm những việc thiện và tránh làm các điều ác sau khi quy y, tôi sẵn sàng thay thế quý vị làm thú vật. Cho dù quý vị có phạm nghiệp tội gì trong quá khứ, tôi sẵn sàng chịu trách nhiệm về những nghiệp tội này.

Trong dân số to lớn trên toàn thế giới, chúng ta chỉ là một số ít người.Tuy nhiên, sức người có thể thay đổi hoàn cảnh (2). Chúng ta chỉ là một nhóm nhỏ ít người, chúng ta muốn cầu nguyện với chư Phật và Bồ tát ở khắp mười phương để chấm dứt mọi cuộc chiến tranh. Nếu chúng ta đem hết lòng thành ước nguyện chấm dứt chiến tranh, chắc chắn sẽ có cảm ứng.Vậy chúng ta hãy nên cùng nhau đem hết lòng cùng cầu nguyện.

 

Ghi chú:

(1) Nguyên văn Hoa ngữ:

惡莫作,眾善奉行

Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành.

(2) Nguyên văn Hoa ngữ:

人定勝天

Nhân định thắng thiên.

 

 

Thần Chú Đại Bi Thông Thiên Địa

 

持〈大悲咒〉,只要誠心念,不打妄語;一定有用

Trì Đại Bi Chú, chỉ cần thành tâm niệm, không nói vọng ngữ, nhất định hữu dụng

Hòa Thượng Tuyên Hóa
 

Kính Thưa các vị thiện tri thức!


Những người học Phật Pháp không nên có ý nghĩ tham lam hay tranh giành. Một số người là như thế đó khi họ càng học thì càng tranh giành; càng học lại càng trở nên tham lam hơn. Đây là chuyến viếng thăm đầu tiên của tôi đến nước Bỉ. Đa số những người trong thính chúng ở đây là người Việt Nam. Mặc dù có thể có một số khó khăn giao tiếp vì sự không đồng ngôn ngữ, nhưng mọi người rất có trật tự. Khi tôi đi đến Mã Lai và Đài Loan, có những Phật tử ở đó cứ mỗi hành động là thể hiện lòng tham và tranh giành của họ.

Do một số sự việc kỳ diệu xảy ra trong chuyến viếng thăm đầu tiên của tôi đến Mã Lai, tôi có thể thấy được mặt thật những người ở đó thực sự là như thế nào. Tôi đang nói về những chuyện kỳ diệu gì? Tại Mã lai có rất nhiều người là nạn nhân của tà thuật dùng bùa chú nguyền rủa hại người của các pháp sư ngoại đạo. Tôi nhớ có một người bị ảnh hưởng của tà thuật trong mười lăm năm. Mỗi ngày tà thuật này đưa ông ta đến tư tưởng muốn tự sát, nhưng một phần khác trong ông nói ông ta không được tự sát. Với một phần tâm trí của ông nói ông ta tự sát và một phần khác nói ông ta không được tự sát, mỗi ngày là một cuộc đấu tranh giữa sự sống và sự chết với ông.

Khi tôi đến Mã Lai, tôi tin rằng đó là ở thành phố Muar, có một người đã quỳ gối và cầu xin tôi để giúp ông ta thoát khỏi tà thuật. Ông vào khoảng năm mươi mấy tuổi. Khi tôi nghe lời yêu cầu của ông, tôi lấy cây gậy cong ngoằn ngoèo của tôi và đánh một gậy vào đầu ông ta. Đó là trong chuyến đi đầu tiên của tôi đến Mã Lai. Lúc đó tôi bị bệnh và hầu như không đủ sức để đi bộ. Nhìn thấy tôi đi rất chậm, ai đó đã cho tôi cây gậy đó dùng để đi bộ. Vì thế khi nghe về người bị tà thuật, tôi đã không vui nhặt cây gậy lên và đánh ông ta một gậy. Sau khi bị đánh, ông đứng dậy và chạy đi. Sau khi ông chạy mười mấy bước, ông đã ói mửa ra hàng ngàn con trùng không thể đếm được. Sau đó, ông ta khỏe lại.

Khi tin tức về sự việc này lan truyền ra, nhiều người đã đến để chờ tới lượt mình được đánh một gậy, nhưng tôi không có thời gian để đánh hết tất cả những người đó. Người này có một bệnh, và người kia có một bệnh khác. Phòng tôi tạm trú thì cách phòng vệ sinh vào khoảng một trăm bước. Mỗi ngày lối đi từ cửa phòng tôi đến phòng vệ sinh đầy người quỳ gối xếp hàng chờ đợi để yêu cầu được đánh. Về phần họ tôi không biết đó là thành tâm hay tham lam, nhưng họ bắt đầu xếp hàng tại cửa phòng tôi ngay từ sáng sớm. Khi tôi ra khỏi phòng mình để đi đến phòng vệ sinh thì không có chỗ cho tôi đi qua. Họ chặn đường và bao quanh tôi, và yêu cầu tôi đánh họ. Tôi không còn sự lựa chọn nào bèn đọc một "thần chú". Đó là thần chú đi nhà vệ sinh, như thế này, "Nếu quý vị không ra khỏi lối đi của tôi, tôi sẽ tiểu tiện ngay trên đầu của quý vị. Nếu quý vị không sợ bị phun nước tiểu, thì cứ quỳ tại chỗ của quý vị." Khi họ nghe như thế, cuối cùng họ đã mở ra một lối đi cho tôi đi qua. Mục đích của câu chuyện này là gì? Nó cho thấy rằng những Phật tử đó đã không hiểu Phật Pháp. Khi họ không tranh giành, thì họ lại tham lam. Họ không quan tâm đến cho dù người ta có thời gian hay không; họ sẽ chặn đường người ta và tranh giành để được đầu tiên. Họ đã tranh giành. Học Phật Pháp như thế thì không phải là hiểu Phật Pháp.

Học Phật Pháp, quý vị nên nhường người khác và lịch sự trong tất cả mọi việc. Đừng tranh giành với bất cứ ai. Vạn Phật Thánh Thành có sáu "kính chiếu yêu", và cái đầu tiên là không tranh. 

Khi tôi ở tại Mãn Châu [Đông Bắc của Trung Hoa], có lần có một dịch bệnh truyền nhiễm. Trong một gia đình mười một người, đã có mười ba người chết trong ba ngày. Làm thế nào mà như thế? Đó là vì có hai vị khách đến thăm khi dịch bệnh xảy ra, và do đó, cả gia đình mười một người người cùng với hai vị khách qua đời, trở thành tất cả mười ba người. Đã có người chết ở nhiều gia đình. Quan sát tình hình, tôi không chờ đợi được mời. Tôi đem theo một vài đệ tử, và chúng tôi đã tụng Chú Đại Bi cho cả làng. Sau đó các dịch bệnh giảm xuống. Và rồi nhiều người đã trở thành Phật tử. Họ quy y Tam Bảo và trở thành đệ tử của tôi.

Bất cứ ai thành tâm tụng Chú Đại Bi thì có thể có được cảm ứng. Có một cặp vợ chồng đã cãi nhau, người vợ đã cố tự tử bằng cách uống dung dịch kiềm. Ngay cả uống một ngụm dung dịch kiềm thường cũng có thể gây chết người, huống gì uống cả một tô đầy, nhưng bà ta uống loại được dùng để làm đậu hũ, cho nên không mạnh lắm. Sau khi bà ta uống dung dịch kiềm trong cơn tức giận, con trai của bà đã đến tìm tôi, vì tôi đang ở trong làng của họ vào lúc đó. Anh ta thực sự không biết liệu tôi có thể giúp được anh ta, nhưng trong trường hợp khẩn cấp anh sẵn sàng thử bất cứ điều gì. Vì anh không thể nghĩ đến một giải pháp nào tốt hơn, nên anh chạy đến tìm tôi, quỳ gối, và kể cho tôi những gì đã xảy ra. Anh cầu tôi cứu mẹ anh. Lúc đầu tôi đã từ chối, nhưng anh tiếp tục quỳ như thế đến hai mươi hay ba mươi phút. Thấy anh rất thành khẩn, tôi đã đến nhà của anh để tụng Chú Đại Bi. Khi tôi đến nhà của anh, đôi mắt của mẹ anh đã trợn ngược lên và các lòng trắng đã lộ ra; không còn thấy con ngươi. Bọt trắng tràn ra khỏi miệng của bà, và bà đã bất tỉnh. Dường như vô vọng. Tuy nhiên, tôi vẫn quyết định thử và tụng Chú Đại Bi. Trong lúc tôi tụng, dung dịch kiềm bắt đầu chảy ra khỏi miệng của bà. Bà tỉnh lại và ói ra tất cả dung dịch kiềm đã nuốt. Sau đó, bà được hồi phục.
 
Từ chuyện này, nên biết rằng nếu chúng ta thành tâm tụng Chú Đại Bi, chắc chắn có cảm ứng. Chú Đại Bi thông thiên địa, và có thể chữa khỏi tất cả 84.000 các loại bệnh trên thế gian. Nhưng người tụng chú phải thành tâm mới có cảm ứng. Họ cũng không được nói dối để có hiệu quả. Nếu quý vị luôn nói dối thì tụng Chú Đại Bi sẽ không có linh ứng gì.
 
Tôi nhớ tới một cô gái họ Vương từ thành phố Penang, Mã Lai. Trong kiếp quá khứ, cô đã săn bắn nhiều và đã giết chết nhiều sinh vật, và vì vậy, trong kiếp này cô đã bị câm. Cô đến để nghe giảng Kinh. Sau buổi giảng, tôi nói cô ấy thành tâm niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm và tụng Chú Đại Bi. Tất cả mọi người cũng tụng cho cô. Và rồi cô có thể nói và niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm.
 
Sáng hôm sau, có hơn một chục người yêu cầu tôi giúp người câm này và người câm kia để có lại khả năng nói năng. Có hơn một chục người, và như vậy thì không thế nào làm được. Nhưng các người cha của những người câm thì nói được, và họ nói, " Tối qua thầy đã giúp cô gái câm kia có lại khả năng nói; hôm nay thầy nên giúp những người này giống như vậy. Nếu thầy không giúp, chúng tôi sẽ chỉ trích thầy trên báo chí và kiện thầy tại tòa án." Quý vị thấy là vị Pháp Sư này đã tự đem đến cho mình bao nhiêu rắc rối, tất cả chỉ vì sự nóng lòng muốn giúp người khác! Nếu tôi không tự mình quan tâm đến một người câm, tôi sẽ không gặp tất cả những rắc rối này.

Tại Vancouver, Canada, có một nữ bác sĩ giải phẫu. Khi cô ấy đang học tại trường y khoa, người ta chế giễu cô, nói rằng, "Cô dám theo học y khoa sao? Tại trường y khoa, cô phải mổ xẻ tử thi người. Cô có dám và đủ can đảm để làm điều đó không?" Nghe thế, cô lập tức lấy một con dao, cắt một miếng thịt từ một xác chết, và ăn miếng thịt đó. Các bạn cùng lớp đều choáng váng và kêu lên rằng cô thực sự có can đảm, dám ăn thịt của một xác chết. Người phụ nữ này là một bác sĩ giải phẫu, và khả năng phẫu thuật của cô vừa nhanh nhẹn vừa chính xác. Tuy nhiên, con ma của cái tử thi bị cô ăn thịt thường quấy nhiễu cô trong giấc ngủ. Từ đâu đó cô nghe nói ma sợ tôi, và rằng nếu cô quy y với tôi thì cô sẽ được hồi phục.

Cô tìm cơ hội để quy y với tôi. Sau khi cô quy y, con ma không còn quấy nhiễu cô vào ban đêm nữa. Sau đó, cô bắt đầu giảng Phật Pháp. Bằng cách dùng tư cách là một bác sĩ của mình, cô ấy nói với mọi người là Phật Pháp rất uyển chuyển. Cô nói rằng tất cả mọi người có thể trở thành Phật mà không cần phải tu hành hoặc giữ giới luật, bởi vì tất cả mọi người vốn là Phật ngay từ lúc ban đầu. Cô nói không cần sống một cuộc sống kỷ luật về mặt đạo đức, do đó, cô hút thuốc và uống rượu. Cô đã đi khắp mọi nơi nói những điều đó, và cuối cùng cô bị quả báo. Cô bị ung thư. Cô được giải phẫu và nghĩ rằng đã được chữa khỏi, nhưng cô vẫn còn đau khủng khiếp. Cô cuối cùng đã có tất cả năm hoặc sáu lần giải phẫu. Các bác sĩ nói với cô rằng không còn hy vọng và cô sẽ chết.

Sau đó, cô gọi một người bạn ở Nữu Ước để giã từ. Cô kể với bạn cô lời các bác sĩ đã nói là cô sẽ chết và không thể chữa được, và rằng cô vẫn còn rất đau sau các cuộc giải phẫu. Bạn của cô, người không biết tôi một cách trực tiếp, đã viết cho tôi nói, "Bạn của con là một bác sĩ và là người hiểu Phật Pháp. Cô có bệnh ung thư. Nếu cô ấy bình phục, cô có thể cứu được những người khác. Cô có thể dùng hoàn cảnh của mình là một bác sĩ để truyền bá Phật Pháp, và sẽ giúp rất nhiều cho Phật giáo." Tôi viết thư trả lời và hỏi người đó là ai. Bạn của cô biết cô ấy đã quy y với tôi.

Tôi nhớ sau khi cô bị ung thư, cô đã đến gặp tôi ở Gia Nã Đại một lần. Khi tôi hỏi cô rằng cô có bị bệnh không thì cô đã chối. Cô đã không sẵn sàng chấp nhận chuyện đó. Sau đó tôi mắng cô. Tôi mắng cô đến nỗi cô không thể chịu được nữa. Khi cô đứng lên và định chạy đi, tôi tát vào mặt của cô và nói, "Ta đang đuổi đi con quỷ nhỏ! Con quỷ lớn quay lại! Chúng ta hãy xem con quỷ lớn này có thể làm gì!" Kỳ lạ thay, cái tát đó xua đuổi ung thư của cô đi. Việc này xảy ra ở Gia Nã Đại. Làm thế nào điều này có thể xảy ra? Bởi vì tôi đã không bao giờ nói dối. Nếu quý vị nói dối, thì làm gì cũng không linh ứng. Nếu không nói dối, tất cả mọi thứ đều linh ứng.

Đó là lý do tại sao tôi hy vọng tín đồ Phật giáo sẽ không tranh, không tham, không mong cầu, không ích kỷ, không tư lợi, và không nói dối. Điều này rất quan trọng!

 

 

Ý Nghĩa Của Sự Quy Y Vượt Ra Ngoài Ngôn Ngữ

Bài thuyết pháp ngày 18 tháng 10 năm 1990 tại Ba Lan.

 

Nếu muốn làm người Phật tử chân chính thì quý vị nhất định không tranh, không tham, không cầu, không ích kỷ, không tự lợi và không nói dối.

 

Sau khi quy y với tôi rồi, quý vị sẽ là người Phật tử thật hay giả? Nếu làm người Phật tử thật thì quý vị nhất định không tham, tranh, cầu, ích kỷ, tự lợi hay nói dối. Quý vị có làm được không? Nếu muốn làm người Phật tử thật thì quý vị phải theo sáu tông chỉ này. Tôi có lời nguyện là những ai quy y với tôi là phải thành Phật trước tôi.

Vì tôi vốn là người ngay thẳng nên tôi đã xúc phạm khá nhiều người. Không những loài người mà tôi cũng xúc phạm đến nhiều yêu ma quỷ quái. Cho nên tất cả quý vị nên cẩn thận. Nếu muốn làm đệ tử của tôi thì khi có ai phỉ báng tôi, quý vị phải lạy họ và cám ơn họ. Chúng ta không muốn thù địch với bất cứ ai. Trong đạo Phật không có ai là kẻ thù. Bất kỳ ai phỉ báng tôi đều là thiện tri thức của tôi. Tại sao họ nói xấu và chỉ trích tôi? Đó là vì họ muốn tôi tốt đẹp hơn. Họ muốn tôi tốt hơn hoàn thin hơn mọi người khác nên họ đến chỉ giáo cho tôi. Đó là cách quý vị nên đối xử với những người này.

Lý do thứ nhì là nhiều người nghĩ tôi có chút tài năng nên họ muốn khảo nghiệm thử xem tôi thực sự có bản lãnh không.

Lý do thứ ba người ta chỉ trích tôi là vì họ sợ đệ tử của họ tin theo tôi và ngưng không cúng dường họ nữa. Cho nên nếu tôi có thể gián tiếp giúp họ có thực phẩm thì điều đó cũng tốt. Tôi không cần phải tranh cãi, biện luận với họ. Quý vị tất cả có đồng ý với ba lý do tôi vừa nêu ra không? Nếu quý vị đồng ý thì đừng quên những lý do này.

Từ nhỏ tôi đã đi theo Sáu Con Đường Sáng (Lục Điều Quang Minh Đạo Lộ) là không tranh, không tham, không cầu, không ích kỷ, không tự lợi và không nói dối. Vì quý vị bây giờ đã quy y với tôi, tôi thật lòng nói cho quý vị nghe về sáu con đường quang minh này. Cho dù là bất cứ vật gì nếu có ai muốn nó, thì tôi sẽ không lấy. Nếu không ai muốn nhận nó thì tôi sẽ nhận. Tôi là như vậy, tất cả quý vị có thể làm giống vậy được không? Nếu được, tôi chúc mừng quý vị là người Phật tử tốt.

 

 

Nghiệp Báo Sát Sanh Khó Tránh Được

Bài thuyết pháp ngày 27 tháng Mười năm 1990 tại Grenoble, Pháp.

Sách "Dharma Talk in Europe", trang 289-291 

 

Nếu quý vị không tin nhân quả thì khi đến phiên quý vị đi thọ nghiệp, quý vị khó mà tránh được nghiệp cho dù có muốn tránh.

 

Các vị Thiện tri thức! Quả báo nghê gớm nhất trên thế gian là quả báo của sát sanh. Sáng nay một người đàn ông Việt Nam đem hai đứa con trai đến gặp tôi. Ông ấy nói hai người con của ông bị bệnh và nhờ tôi giúp đỡ để cuộc sống hai người con của ông được dễ dàng hơn. Khi thấy hai đứa nhỏ có chướng bệnh tâm thần, tôi hỏi ông ta có khi nào sát sanh không. Người mẹ của hai trẻ đáp là bà ta thì không có. Tuy nhiên sau một lúc nói chuyện, cha mẹ hai em cho biết là sau khi họ đốn một cái cây lớn trước nhà, họ nhìn thấy hai con rắn bò xuống lổ trống của nơi cây bị đốn. Hai người họ bèn đổ nuớc sôi xuống đó để giết hai con rắn. Sau khi đó một người con của họ tự nhốt mình lại trong phòng và trở nên điên khùng khi ra khỏi phòng vài ngày sau. Người con thứ hai cũng bị điên luôn. Cha mẹ hai em hy vọng tôi có thể giúp được điều gì đó về vấn đề này. Sự điên khùng của hai người con họ là do sát sanh mà ra. Quý vị thấy người đàn ông đó quá tàn nhẫn không? Ông ta hoàn toàn không có lòng từ bi. Ngay cả khi hai con rắn đã bò xuống hố, ông ấy vẫn muốn giết chúng bằng nước sôi. Hai con rắn đó vốn là anh em, cho nên sau khi chúng bị luộc bằng nước sôi đến chết, hai người anh em kia bị mất trí.

Quả báo nghiêm trọng nhất trên đời là quả báo của sát sanh. Quả báo sát sanh nặng hơn tất cả các nghiệp báo khác. Sát hại lẩn nhau để báo thù là chuyện bi thảm nhất trên thế gian, nó đã gây ra chiến tranh giửa các quốc gia, khiến người ta gây ra sát nghiệp càng lúc càng nặng nề hơn, chém giết nhau không ngừng nghỉ. Tôi có gặp một đứa bé sáu hay bảy tuổi ở thành phố Los Angeles, nó không biết nói và cũng không biết làm gì cả. Cha nó lúc nào cũng phải bồng nó. Đó là vì quả báo của đứa bé trong quá khứ đã đi săn quá nhiều. Kiếp trước nó đã giết chết một con tinh chuột trắng và bây giờ hồn ma của con tinh chuột trắng đó cứ gặm cắn vào cổ họng đứa bé khiến nó bị câm và đần độn. Đây là một tấm gương đương thời từ thành phố Los Angeles.

Có một người phụ nữ ở Hồng-Kông là cô Tạ, cô rất thích ăn tôm, cua và tôm hùm. Cô sanh ra một đứa bé trai bây giờ đã hơn mười tuổi nhưng nó chỉ biết bò ngang như là con cua vậy. Đây là một trường hợp của quả báo ngay trong đời này, là một thí dụ nói lên nghiệp báo sát sanh. Ở Mã Lai Á tôi có gặp một người câm. Ông này kiếp trước từng là một con gấu đen, ông không biết nói nhưng rất thông minh, lạy Phật và tu học theo Phật pháp nhưng do vì kiếp trước làm gấu đen nên hiện đời này không biết nói. Những nhân vật này đang thuyết pháp qua sự hiện diện của họ, nhưng người ta vẩn không tin và vẩn tiếp tục tạo thêm nghiệp sát. Họ không hiểu là thay vì sát sanh họ nên phóng sanh. Nếu ai ai cũng có thể giữ năm giới - không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối và không dùng chất say - thì thế giới chắc chắn sẽ hòa bình.

Câu chuyện kế tiếp xảy ra vào mùa hè năm 1953 ở Hồng Kông. Lúc đó tôi đang giảng kinh Địa Tạng tại Tịnh xá Chí Liên. Vị sư cô quản lý là Pháp sư Khoan Tuệ, đệ tử của Đại Lão Hòa Thượng Hư Vân. Trước khi xuất gia sư cô không biết chữ và làm việc nấu ăn, phụ giúp trong nhà cho người ta, nhiều lúc cô phải đi mua gà vịt về và phải tự mổ xẻ nấu nướng. Có lần cô ấy mua cua và chuẩn bị nấu cho ông chủ ăn. Khi đang chuẩn bị các món ăn, một con cua dùng cái càng kẹp mạnh vào ngón tay giữa của cô mà không chịu buông ra. Cô tức giận lấy dao chặt đứt càng cua và rồi đem cua nấu làm thức ăn đem lên bàn. Quý vị đoán xem chuyện gì xảy ra sau khi con cua bị ăn? Nơi ngón tay giữa chổ bị cua cắn, bỗng nhiên nổi lên một miếng thịt hình dáng như con cua và gây đau nhức ngày đêm không chịu nổi. Sau đó sư cô đến núi Phù Dung để lạy Đai Bi Thủy Sám. Sau bảy ngày lễ lạy, miếng thịt hình con cua nhỏ hơn một chút nhưng vẩn còn đau nhức. Khi tôi đang giảng kinh Địa Tạng, Pháp sư Khoan Tuệ đến nhờ tôi giải mối oan nghiệp này. Sau khi tôi cho con cua quy y, miếng thịt trên ngón tay của Sư Côi biến mất và không còn đau nhức nữa.

Nhân quả báo ứng không bao giờ sai trật dù chỉ là một tơ hào. Chúng ta thật nên cẩn thận để không nên sát sanh. Quý vị giết nó, nó giết quý vị và sự sát hại lẫn nhau không hề ngưng. Câu chuyện trên đây là trường hợp của việc thọ báo trong đời này, ai ai cũng có thể thấy. Khi thấy điều này, chúng ta phải nên tin nhân quả là có thật. Nếu quý vị không tin vào nhân quả, nghiệp báo, thì khi đến phiên quý vị thọ nghiệp, quý vị khó mà tránh được nghiệp cho dù có muốn tránh.

Điều quan trọng nhất hiện nay là trên thế gian hiện giờ đang có vô số loài quỷ nhỏ. Vì sao có rất nhiều quỷ nhỏ? Là vì có quá nhiều vụ phá thai. Những bào thai đó bị giết chết trước khi phát triển thành hình dáng con người. Lòng hận thù của các con quỷ nhỏ này thật sâu đậm cho nên giới luật không sát sanh và nên phóng sanh bao gồm cả việc không phá thai. Thật không dễ mà thoát khỏi các loài quỷ nhỏ này nên có câu là "Diêm Vương dễ gặp nhưng tiểu quỷ thì khó đối phó". Tất cả mọi người nên ghi nhớ điểm này. Hiện nay trên thế giới tại các quốc gia, có nhiều quỷ nhỏ (tiểu quỷ) hơn là quỷ lớn (đại quỷ) và có nhiều quỷ lớn (đại quỷ) hơn là quỷ già (lão quỷ). Vần đề thật là nghiêm trọng. Chúng ta nên biết tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, đều có thể thành Phật. Quý vị cũng nên biết tất cả chúng sanh đều có Bồ Tát tánh và đều có thể thành Bồ Tát. Tất cả chúng sanh đều có A La Hán tánh và có thể thành A La Hán. Tất cả chúng sanh đều có Duyên Giác tánh và có thể thành Duyên Giác. Tất cả chúng sanh đều có Thiên tánh và có thể sanh lên cõi trời. Tất cả chúng sanh đều có nhân tánh và có thể làm người. Tất cả chúng sanh đều có A-tu-la tánh và có thể thành A-tu-la. Tất cả chúng sanh đều có quỷ tánh, đều có thể thành quỷ. Nếu quý vị làm việc quỷ thì quý vị là quỷ. Nếu qúy vị cứ tiếp tục làm những việc của loài thú thì quý vị là thú vật. Tất cả chúng sanh đều có tánh của chúng sanh trong địa ngục. Nếu quý vị cứ trồng nhân vào địa ngục thì sớm muộn gì quý vị cũng đọa vào địa ngục. Bất kề trồng nhân gì, quý vị sẽ nhận lấy quả đó. Tuyệt đối không bao giờ sai sót.


 

Hỏi: Theo các học thuyết của Phật giáo Nguyên thủy, thân trung ấm (linh hồn hoặc thần thức sau khi lìa khỏi xác) thì ngay lập tức được tái sinh. Nhưng Kinh Đại thừa nói rằng có thể trải qua từ bảy ngày đến bốn mươi chín ngày thì mới đi đầu thai.

Trả lời: Thời gian cần thiết cho thân trung ấm được tái sinh thì không cố định. Một số thân trung ấm không nhất thiết sẽ được tái sinh dù cả sau nhiều đại kiếp, trong khi một số thân trung ấm khác có thể được tái sinh ngay lập tức. Điều này không cố định.

 

Hỏi: Con người từ đâu đến? Làm thế nào mà có nhiều người đến như vậy?

Trả lời: Con người đến từ đâu à? Khi con người chết đi, họ không thể được tái sinh thành người. Một số có thể trở thành gà, chó hoặc các động vật khác. Tất cả các chúng sanh được phân loại sinh ra từ thai sanh, từ noãn sanh, từ thấp sanh hoặc từ biến hóa sanh. Tùy theo nghiệp báo của họ, họ đi về phía đông hoặc phía tây. Điều này giống như một người đột nhiên đến nước Bỉ, và sau đó từ nước Bỉ đi đến nước Trung Hoa. Không có gì là cố định. Biết những vấn đề này không nhất thiết hữu ích cho sự tu hành.

 

Hỏi: Con thường cảm thấy bất an cả về thể chất lẫn tinh thần, ngồi cũng bất an, đứng cũng bất an. Con nên làm gì?

Trả lời: Thành tâm niệm Chú Đại Bi và Bồ tát Quán Thế Âm, và đừng nói dối.



Hỏi: Trong thiền, người ta tham cứu câu thoại đầu ”Niệm Phật là Ai?” “Ai đang niệm Phật?”. Chúng ta nên bắt đầu tham cứu như thế nào? Chúng ta nên dụng công như thế nào ?

Trả lời: Để tham cứu câu thoại đầu ”Niệm Phật là Ai?” “Ai đang niệm Phật?”, quý vị cần phải tham cứu khảo sát câu thoại đầu. Quý vị không hỏi mà cần tham cứu câu thoại đầu. Giống như dùng một mũi khoan để khoan một cái lỗ. Khi quý vị khoan xuyên qua được, thì quý vị sẽ thấu hiểu rõ ràng. Trước khi quý vị khoan xuyên qua, quý vị có thể hỏi về câu thoại đầu, nhưng quý vị không thấu hiểu rõ ràng. Đây là Pháp môn “Ngôn ngữ đạo đoạn. Tâm hành xứ diệt” (Dứt đường ngôn ngữ, Diệt chốn tâm hành). Có muốn nói ra cũng không diễn bày được. Những điều người khác nói với quý vị, đều chỉ là giả.

 

Hỏi: Khi ai đó la mắng con, có hai lý do có thể xảy ra. Một là con đã la mắng người đó trong kiếp trước, nên trong kiếp này người đó la mắng con. Hai là người đó đang gieo trồng một nhân xấu. Vậy con nên nghĩ về điều này như thế nào?

Trả lời: Quý vị có thể coi đó là quả báo của chính mình, nhưng quý vị không nên nghĩ người khác đang tạo một nhân xấu. Nếu quý vị nghĩ người khác đang tạo một nhân xấu, thì nhân xấu của quý vị sẽ tăng trưởng. Ngay cả khi người khác đang tạo một nhân xấu, cũng đừng nên nghĩ như thế. Nếu quý vị nghĩ người khác đang tạo một nhân xấu, thì chính quý vị đang tạo một nhân xấu, vì vậy đó không phải là một cách tốt để đối phó. Nếu không nghĩ như vậy, thì không có vấn đề gì.
 


Hỏi: Tụng Lục Tự Chân Ngôn (2) thì có vô lượng công đức và có một vị Bồ Tát thất địa (địa thứ bảy) trụ trong thân mình. Điều này có nghĩa là gì?

Trả lời: Không những có vô lượng công đức trong việc tụng Lục Tự Chân Ngôn mà cũng có vô lượng công đức trong việc không nói dối , có vô lượng công đức trong việc không tranh, có vô lượng công đức trong việc không tham, có vô lượng công đức trong việc không cầu, có vô lượng công đức trong việc không ích kỷ, và có vô lượng công đức trong việc không tự lợi. Tuy nhiên, mặc dù có công đức, ta không nên bám chấp vào việc có công đức. “Phàm những gì có tướng đều là hư vọng. Nếu thấy các tướng chẳng phải tướng tức thấy Như Lai.” [Kinh Kim Cang]. Tu đạo thì không nên bận tâm đến việc có bao nhiêu công đức. Nếu quý vị luôn luôn tính đếm công đức của mình, thì giống như tích trữ tiền trong ngân hang, càng tích trữ nhiều, thì càng có nhiều vọng tưởng. Tu hành thì chỉ tu hành. Nhiều công đức thì vẫn cần phải tu hành. Và nếu không có công đức thì càng cần phải tu hành nhiều hơn nữa. Tụng kinh trì chú là để thanh lọc tâm trí. Nếu làm trong tâm không có vọng tưởng, thì có công đức vô lượng. Không nóng tánh thì có công đức vô lượng. Không bao giờ tức giận, không bao giờ mất bình tĩnh, không tranh cãi hoặc đấu tranh với mọi người thì có công đức vô lượng.

 

Hỏi: Làm thế nào chúng ta có thể diệt trừ ba độc: tham, sân, si?

Trả lời: Những người đã xuất gia [tăng ni] đang làm công việc diệt trừ tham, sân, si mỗi ngày. Quý vị chưa xuất gia, mà lại hy vọng sẽ diệt trừ tham, sân, si cùng một lúc hay sao? Nếu quý vị thực sự muốn làm điều đó, quý vị có thể học giống như Cư Sĩ Bàng (Long Uẩn) đổ tất cả các châu báu quý giá trong nhà xuống biển. Quý vị có thể làm được điều đó không?
 


Hỏi: Một người độc thân có thể làm điều đó, nhưng một người có gia đình thì không thể. Làm thế nào mà đem đổ vật quý giá xuống biển lại là giúp người?

Trả lời: Quý vị nghi ngờ về việc Cư Sĩ Bàng (Long Uẩn) chng Đạo. Cư Sĩ Bàng (Long Uẩn) vô cùng ngu ngốc. Vì vậy mà ông ta có thể chng Đạo. Còn quý vị thì quá thông minh.
 

 

Ghi chú:

(1) Nguyên văn Hoa ngữ:

「言語道斷,心行處 滅」

“Ngôn ngữ đạo đoạn. Tâm hành xứ diệt”

 

(2) Lục Tự Chân Ngôn hay còn gọi là Chú Lục Tự Đại Minh (Lục Tự Đại Minh Chú) - Án Ma Ni Bát Mê Hồng.

 

Sự Tự Do Chân Thật Và Cuộc Sống Trường Thọ

Bài thuyết pháp ngày 28 tháng 10 năm 1990 tại Chùa Quán Âm, Paris, Pháp.

(Bài khai thị Genuine Freedom and Longevity  từ sách Dharma Talk in Europe, nguyên bản Hoa ngữ là bài khai thị 戒酒色財氣得自在 - Giới Tửu Sắc Tài Khí Đắc Tự Tại - từ sách 佛教新紀元 - Phật Giáo Tân Kỷ Nguyên)



Rượu, tình dục, tiền tài và lòng sân giận đã làm sa đọa vô số tín đồ Phật giáo

Rượu, tình, tiền, sân giận là bốn tường vây kín;

Làm nhiều người mê muội bị mắc kẹt bên trong.

Nếu ai có thể nhảy ra khỏi bức tường này,

Sẽ tận hưởng cuộc sống trường sanh bất lão. (1)


Bài kệ này nói về ngũ dục của thế gian là Tài, Sắc, Danh, Thực ,Thùy, là những thứ khiến cho con người bị điên đảo sống say, chết mộng, quá mê mờ không biết quay về.
Ngoài ra còn có “Rượu, tình, tiền và sân giận" (tửu, sắc, tài, khí). Những người thích rượu không ngừng nghĩ về việc uống rượu. Những người khao khát sắc dục luôn nghĩ về sắc dục. Những người thèm muốn sự giàu có luôn cố gắng nghĩ cách làm giàu. Những ai thích nóng giận thì luôn mất bình tĩnh trong mọi vấn đề dù lớn hay nhỏ. Bốn điều này giống như bốn bức tường vây kín người ta lại (tứ đổ tường), do đó nói: “Làm nhiều người mê muội bị mắc kẹt bên trong” . Không thể nào biết được có bao nhiêu người sống bên trong những bức tường đó. “Nếu ai có thể nhảy ra khỏi bức tường này” , nếu một người có thể kiềm chế không uống rượu, không tham sắc, không tham tiền, và không nóng giận, thì "sẽ tận hưởng cuộc sống trường sanh bất lão". Nếu quý vị không bị dao động bởi rượu, tình dục, tiền bạc, hay nóng giận, quý vị chắc chắn sẽ sống trường thọ.

Mặc dù đạo Phật dạy chúng ta không nên chấp vào tuổi thọ (vô thọ giả tướng), tuy nhiên nói về tuổi thọ thì cần nên không nóng giận, không uống rượu hay dùng các độc tố (ma túy), và cũng không ham mê tình dục hoặc tiền bạc, tài sản. Được như vậy thì xem như quý vị có thể kiểm soát được tuổi thọ của mình. Nếu quý vị muốn sống lâu hơn một chút, thì quý vị có thể sống lâu thêm một chút. Nếu quý vị không muốn sống quá già , thì quý vị có thể đi tái sanh bất kỳ lúc nào mình muốn. Quý vị tự do và tự tại. Đây thực sự là tự tại. Tự tại có nghĩa là quý vị luôn nắm quyền kiểm soát (tự tại), và không bị điều khác chi phối (tha tại). Thế nào là bị chi phối bởi thứ khác (tha tại)? Nếu quý vị luôn có những vọng tưởng, đó là bị thứ khác làm chủ (tha tại). Thế nào là tự tại. Nếu quý vị không có vọng tưởng, đó là tự mình làm chủ (tự tại). Nếu muốn trở thành Bồ Tát Quán Tự Tại [Quán Âm Bồ Tát], quý vị không được có vọng tưởng. Khi quý vị phá tan vọng tưởng và các chấp trước thì đó là tự làm chủ (tự tại); đó là Bồ Tát Quán Tự Tại. Đó cũng là “chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách." [Bát Nhã Tâm Kinh].

Rượu, sắc dục, tiền tài và sân giận đã làm sa đọa vô số Phật tử. Tài, sắc, danh, thực, thùy (tiền tài, sắc dục, danh vọng, ăn uống và ngủ nghỉ) cũng đã hủy hoại tương lai của vô số những người có tiềm năng thành chư thánh hiền. Tuy vậy con người vẫn chưa thức tỉnh. Họ vẫn tiếp tục lối sống say chết mộng, mê mờ không biết làm thế nào để quay lại. Thật là ngu si, thật là đáng thương hại! Đó là lý do tại sao khi còn trẻ, tôi coi Tài, sắc, danh, thực, thùy là cực kỳ ô uế, như phân hoặc bụi bẩn. Tôi coi rượu, sắc dục, tiền tài, và nóng giận như mọi thứ bên ngoài không liên quan gì với thân, tâm hoặc tính mạng của tôi. Tôi bắt đầu tìm kiếm một phương cách rời khỏi ngũ dục và nhảy ra ngoài bốn bức tường. Đó là lúc tôi quyết định xuất gia.

Sau khi xuất gia, tôi muốn giúp người, nên tôi đã dùng đến Chú Đại Bi, pháp Bốn Mươi Hai Thủ Nhãn (2) và Chú Lăng Nghiêm để cứu mạng người. Tôi đã cứu cho nhiều người nhưng khi làm việc đó tôi đã gây hấn với nhiều yêu ma quỷ quái. Một số yêu ma quỷ quái đến từ cõi trời, một số yêu ma quỷ quái từ cõi nhân gian, cũng có một số là thủy quái sống dưới nước. Tại vì tôi đã xúc phạm với khá nhiều các loài thiên ma ngoại đạo, các yêu tinh trên núi, thủy quái sông biển v.v. nên tôi suýt bị chết chìm khi có lần đi tàu từ Thiên Tân tới Thượng Hải. Tôi nhớ là chuyến đi thường chỉ kéo dài độ ba hay bốn ngày thôi (đó là cách đây 40 năm về trước.) Nhưng chuyến tàu tôi đi lần đó lênh đênh trên biển hơn nửa tháng. Tất cả thực phẩm và nước uống trên tàu hầu như đã cạn nhưng con tàu cứ chạy vòng tròn trên vùng biển đen mênh mông. Các máy móc trên tàu đều không hoạt động, và không có cách nào khác để đi đến bờ. Trên tàu có mấy trăm hành khách, ai cũng đều ói mửa. Khi con tàu chồm lên phía trước, mũi tàu vươn cao lên trời hàng mấy thước. Khi con tàu chúi xuống, nó rơi xuống cũng mấy thước, con tàu cứ chúi lên nhào xuống trên biển đen khiến nó gần như muốn lật. Vào thời điểm đó, niệm chú Đại Bi cũng không linh nghiệm và niệm chú Lăng Nghiêm cũng không linh nghiệm. Tôi nôn ói ra hết tất cả những gì trong bao tử và nằm liệt trên sàn tàu, không tài nào cử động được. Tôi biết con tàu không chạy đuợc vì các thủy quái đang chiến đấu với tôi, chúng muốn lật con tàu và nhấn chìm tôi. Tôi ói ra hết tất cả, ngay cả mật, và tôi kiệt sức. Lúc đó tôi nghĩ đến việc tự nhảy xuống biển để những người khác không bị liên lụy vì tôi. Nhưng tôi còn một niềm hy vọng: Tôi cầu nguyện với Quán Thế Âm Bồ Tát.

Tôi nói, "Bồ Tát Quán Âm, từ khi con ra đời con luôn muốn làm Phật sự. Nếu con có thể giúp ích cho Phật Pháp xin Ngài hãy vươn tay thánh làm dịu đi mặt biển và hướng dẫn con thuyền về đến Thượng Hải. Nếu Ngài không thể đưa bàn tay thánh cứu con, thì con sẽ nhảy xuống biển để mọi người không phải mất mạng vì con. Con sẵn sàng chấp nhận quả báo của mình.”

Khi tôi vừa cầu nguyện xong, thì quả nhiên sóng to gió lớn dịu xuống. Sau hơn mười bốn ngày chiếc tàu cuối cùng đã đến được Thượng Hải (3). Nếu còn lênh đênh trên biển thêm một vài ngày nữa, người ta đói quá rất có thể phải ăn thịt nhau và hậu quả thật không thể lường được . Đó là những thứ khó khăn phiền hà tôi trải qua khi can thiệp vào các vấn đề của người khác và cố gắng giúp đỡ họ. Từ đó trở đi, sau khi tôi đến Hương Cảng (Hồng Kông), tôi không dám can thiệp quá nhiều vào chuyện của kẻ khác. Ngay cả bây giờ tôi cũng không can dự quá nhiều. Nếu người ta bị bệnh và tôi có thể giúp cho họ thì tôi âm thầm giúp. Nếu tôi không thể giúp được, tôi cũng không thể làm gì hơn.

Bây giờ nghĩ lại thời tôi còn trẻ, tôi thấy mình không biết cách bảo vệ mình, và tôi không biết vũ trụ rộng lớn bao la như thế nào, nên tôi đã xúc phạm vô số sơn yêu thủy quái. Hôm nay tôi nói với quý vị điều này, hy vọng qúy vị sẽ không giống như tôi can thiệp vào các vấn đề của người khác quá nhiều.
 

 

Ghi chú của ban Phiên Dịch Việt Ngữ VPTT:

(1) Nguyên văn Hoa ngữ của bài kệ:

酒色財氣四堵牆

許多迷人裏邊藏

有人跳出牆兒外

就是長生不老王

Tửu sắc tài khí tứ đổ tường

Hứa đa mê nhân lí biên tàng

Hữu nhân khiêu xuất tường nhi ngoại

Tựu thị trường sanh bất lão vương.

 

(2) Pháp 42 Thủ Nhãn là Pháp Môn không được tuỳ tiện tự truyền hay tự học. Trong bài http://www.drbachinese.org/vbs/publish/469/vbs469p023.pdf http://www.dharmasite.net/VanChungNhatTamVanPhatThanh.htm có nhắc những lưu ý của Hòa Thượng: Thông báo được công bố ngày 16 tháng 8 năm 2006 của Văn Phòng Quản Trị Vạn Phật Thánh Thành: Bất cứ khi nào Hòa thượng Tuyên Hóa truyền pháp 42 Thủ Nhãn, Ngài luôn nhấn mạnh “Bất cứ ai truyền pháp này mà không có sự chấp thuận của tôi sẽ gặp ma chướng. (1). Trước khi nhập Niết bàn, Ngài đã đặc biệt huấn thị vị trụ trì của Vạn Phật Thánh Thành (Pháp sư Hằng Luật) như sau: “Đừng để pháp môn Tứ Thập Nhị Thủ Nhãn này diệt tận. Hãy tiếp tục truyền lại cho các thế hệ sau. Việc truyền pháp này phải được tiến hành trước tượng Bồ Tát Quan Thế Âm ngàn tay ngàn mắt (ở Phật Điện chính của Vạn Phật Thánh Thành)." (2)

(1) Nguyên văn Hoa ngữ: 「若未經我(老和尚)認可授權, 而私自傳授此法門者,將會有魔障發生。」- "Nhược vị kinh ngã (Lão Hoà Thượng) nhận khả thọ quyền, nhi tư tự truyền thọ thử pháp môn giả, tương hội hữu ma chướng phát sinh."

(2) Nguyên văn Hoa ngữ:「四十二手眼法門不要斷了,要繼續傳下去,要在(萬佛聖城)觀音殿的千手千眼觀世音菩薩像前傳。」- "Tứ thập nhị thủ nhãn pháp môn bất yếu đoạn liễu, yếu kế tục truyền hã khứ, yếu tại (Vạn Phật Thánh Thành) Quán Âm Điện đích Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát tượng tiền truyền. "

Ngoài ra trong bài http://www.dharmasite.net/ViSaoTungDocNgayAnMotBuaLuonMacAoGioi.htm có đề cập:

Nếu quý vị nghe người khác nói rằng họ trước đây từng sống ở Vạn Phật Thánh Thành và rằng Hòa Thượng đã truyền Pháp cho họ, rằng họ từng giữ chức vụ như thế này thế kia, rằng họ là một vị Thầy Thủ Tọa (đứng đầu), hoặc là Hòa Thượng đã truyền Bốn Mươi Hai Thủ Nhãn cho họ, quý vị đừng lưu tâm hay lắng nghe những điều này. Có thể rằng khi họ mới đến Vạn Phật Thánh Thành, Hòa Thượng đã để họ thuyết Pháp, nhưng quý vị phải hiểu rằng tất cả bốn chúng đệ tử đều phải học thuyết Pháp. Đó là một trong những quy củ của Vạn Phật Thánh Thành. Tuy nhiên, họ có lẽ không đề cập một lời nào về việc thế nào hay tại sao họ cuối cùng đã rời bỏ đi.

...
Thêm nữa, còn có Bốn Mươi Hai Thủ Nhãn. Hòa thượng đã nói với Thầy Phương Trượng của Vạn Phật Thánh Thành: "Con phải truyền Bốn Mươi Hai Thủ Nhãn cho các thế hệ kế tiếp tại trước tượng Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn trong Vạn Phật Điện tại Vạn Phật Thánh Thành." Có một số người nói: "Chúng tôi nên làm như thế nào ? Chúng tôi không thể đi đến Vạn Phật Thánh Thành bây giờ. Nếu như vậy chúng tôi không thể học Bốn Mươi Hai Thủ Nhãn hay sao ?" Tôi thật sự không thể trả lời câu hỏi này. Hòa Thượng không đề cập đến vấn đề này và các đệ tử cũng đã không hỏi về việc này.

 

(3) Ngài có làm bài “Kệ Nôn Mửa” (嘔吐頌 - Ẩu Thổ Tụng) để tường thuật lại cảnh hiểm nạn lúc bấy giờ:

http://www.drbachinese.org/online_reading/drba_others/vmsj/sj5-photos.htm

「嘔吐頌」:

結伴南行十四僧,

鬍子比丘沙彌青;
碧海接天天萬里,

黑波逐浪浪千重;
法降妖邪舟未覆,

輪承聖助嘔方寧;
喜抵滬海除饑渴,

武昌正覺寶螺鳴。

 

“Kệ Nôn Mửa” (Ẩu Thổ Tụng): http://dharmasite.net/SoLuocTSHTTH.htm#29

Kết bạn nam hành thập tứ tăng
Hồ tử trưởng lão, Sa di thanh
Bích hải tiếp thiên thiên vạn lý
Hắc ba trục lãng lãng thiên trùng
Pháp hàng yêu tà chu vị phúc
Luân phụng thánh trợ ẩu phương ninh
Hỷ chỉ Hỗ Hãi trừ cơ khát
Võ Xương Chánh Giác bảo loa minh.

Tạm dịch:

Kết bạn nam hành mười bốn Tăng

Trưởng lão râu dài, Sa di trẻ

Biển trời xanh biếc tiếp vạn dặm

Sóng đen lớp lớp lắm thiên trùng

Đối pháp hàng tà thuyền không ngã

Ân triêm thánh đức ói mửa ta

Mừng đến Hỗ Hải trừ đói khát

Võ Xương Chánh Giác bảo âm vang.

 

(Còn tiếp)